PDA

View Full Version : Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ


KaTy
04-03-2006, 06:51 AM
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ



Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa.

Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.

Sau khi ông Gio-an bị nộp, Ðức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: "Thời kỳ đã mãn, và Triều Ðại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng."

(Mc 1:12-15)



1-

Bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất mùa Chay trong ba năm A,B,C đều là thuật trình Chúa Giêus chịu ma quỷ cám dỗ.

Cả ba thuật trình, Mt 4:1-11, Lc 4:1-13 và bốn câu Mc mà chúng ta nghe hôm nay đều ghi lại việc Chúa chịu cám dỗ xảy ra liền ngay sau biến cố Chúa chịu phép rửa của Gioan.

Có điều thánh Marcô dùng một chữ rất mạnh: “Thần khí liền đẩy ekballei) Người vào hoang địa .”(câu 12) Trong khi Matthêu và Luca dùng chữ nhẹ nhàng hơn : “hướng dẫn – anago và ago: “Ðức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.” (Mt 4:1) “Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ.” (Lc 4:2)

Miêu tả việc “cám dỗ”, cả ba vị đều dùng chữ “peirazo”. Động từ này có hai nghĩa : 1- cám dỗ , 2- thử thách hay trắc nghiệm

Vậy thì cám dỗ hay thử thách, trắc nghiệm ?

Trong cuộc thử thách, người đưa ra cuộc trắc nghiệm không có chủ đích làm cho kẻ bị trắc nghiệm phải rớt hay thua cuộc, nhưng cố ý muốn biết người đó có khả năng gì, đến mức nào ?

Ngược lại cơn cám dỗ có chủ đích làm cho kẻ trong cuộc bị thua chước.

Trong bản Bảy Mươi (LXX) bằng tiếng Hy lạp, từ này thường được dùng để miêu tả việc Thiên Chúa thử thách con người

Thiên Chúa thử thách Abraham : “Sau các việc đó, Thiên Chúa thử lòng ông Áp-ra-ham. Người gọi ông: "Áp-ra-ham! " Ông thưa: "Dạ, con đây! " (Stk 22:1) bằng cách yêu cầu ông tế sinh con trai mình .

Khi Thiên Chúa cho mưa manna từ trời rơi xuống, Ngài dặn dân Do thái chỉ nên dự trữ đủ số lượng cần dùng từng ngày thôi: “ÐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không.” (Xh 16:4)

Mục đích Thiên Chúa thự thách được nói rõ trong Đệ Nhị Luật chương 13 câu 4: “Vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không.”



Một từ khác gần giống với peirazo là ekpeirazo : được sự dụng trong câu Đệ Nhị Luật 8:2 : “Anh (em) phải nhớ lại tất cả con đường mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã dẫn anh (em) đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc (eremos), để bắt anh (em) phải cùng cực; như vậy Người thử tháchanh (em) cho biết lòng dạ anh (em), xem anh (em) có giữ các mệnh lệnh của Người hay không.”

Trong câu này, chúng ta gặp lại danh từ “eremos, sa mạc” y hệt như trong thuật trình Chúa chịu cám dỗ hôm nay. Cho ta thấy một liên quan rõ nét giữa đoạn Đệ nhị luật 8:1-10 với cuộc thử thách. Hơn nữa Chúa đã trích dẫn Đnl 8:3 để đáp trả lại chước cám dỗ biến đá thành bánh ăn: “Người đã bắt anh (em) phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh (em) ăn man-na là của ăn anh (em) chưa từng biết và cha ông anh (em) cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh (em) nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Ðức Chúa phán ra.”



Thầy thử thách, trắc nghiệm học trò không phải đế đánh rớt, nhưng là để biết thực lực của trò. Dĩ nhiên đó cũng là chủ đích của Thiên Chúa. Nhưng Satan thì khác. Ma quỷ có mục đích riêng trong những cuộc cám dỗ. Chúng cám dỗ để chúng ta sa ngã.

Ngoài chổ này, Marcô còn dùng từ peirazo để miêu tả những tra vấn với chủ đích xấu, như

việc người Pharisêu đòi một dấu lạ từ trời: “Những người Pharisêu kéo ra và bắt đầu tranh luận với Ðức Giêsu, họ đòi Người một dấu lạ từ trời để thử Người.”(Mc 8:11)

cật vấn về ly dị: “Có mấy người Pharisêu đến gần Ðức Giêsu và hỏi rằng: "Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không ?" Họ hỏi thế là để thử Người.” (Mc 10:2)

Cùng với những người ủng hộ Hêrođê, họ tra vấn về việc có nên nộp thuế hay không: “Nhưng Ðức Giêsu biết họ giả hình, nên Người nói: "Tại sao các người lại thử tôi? Ðem một quan tiền cho tôi coi !" (Mc 12:15)


Nhưng chúng ta nên lưu ý tới chi tiết thú vị này. Dù đến từ nguyên do nào cơn cám dỗ hay thử thách hoàn toàn không thể buộc chúng ta làm điều gì : Cám dỗ không phải là cưỡng bức. Con rắn trong vườn Điạ đàng không thể ép bà Eva ăn trái cây bị cấm. Ma qủy trong thuật trình này không thể ép Đức Giêsu chống lại Thiên Chúa. Người bị cám dỗ vẫn còn ý chí của mình.

Cám dỗ chỉ là cố gắng, dĩ nhiên bằng mọi cách, thuyết phục ai đó làm điều xấu, nghĩa là xúi họ làm điều gì, thay đổi ý muốn để họ đồng tình làm diều xấy. Nghĩa là sa chước.


2-
Trình thuật về cuộc cám dỗ của Chúa Giêsu, dưới ngòi viết của Marcô, rất ngắn gọn và đơn giản. Tất cả các biến cố trong 40 ngày chỉ được ghi lại vỏn vẹn trong hai câu “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.”

Nhưng chỉ trong hai câu ngắn ngủi ấy Marcô đã kể ra bốn vai chính trong câu chuyện: Thánh Thần, Sa tan, dã thú, và thiên sứ.


Thần khí

Marcô có 33 lần dùng danh từ “thần khí = pneuma, spirit, breath”. Sáu nơi chỉ rõ về Thánh thần. Ba nơi nói về hồn vía trong con người. Còn 14 chỗ nói về thần ô uế.

1-Chúa Giêsu sẽ rửa tội trong Thánh Thần: “Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần". (Mc 1:8 )

2-Thần khí ngự xuống trên Đức Giêsu sau khi Ngài chịu phép Rửa: “Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình.” (Mc 1:10)

3-“Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa.” (Mc 1:12)

4-Nói phạm đến Thánh Thần không hề được tha: “Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời". Ðó là vì họ đã nói "ông ấy bị thần ô uế ám.”

5-Thánh Thần soi sáng cho Vua Đavít: “Chính vua Ðavít được Thánh Thần soi sáng đã nói: Ðức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con.” (Mc 12:36)


6-Thánh Thần sẽ nói qua chúng ta khi chúng ta bị bắt bớ: "Khi người ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều ấy: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần nói.” (Mc 13:11)

Như thế, trong Tin mừng Marcô, công việc của Thánh Thần, ngoài việc đẩy Chúa Giêsu vào hoang điạ để ma quỷ cám dỗ, Ngài còn nói qua Vua Đavid và qua các tín hữu theo Chúa, nghĩa là chúng ta, khi chúng ta bị bắt bớ.

Khi nói qua Davit, Ngài ban lời của Vua có được sức mạnh và thẩm quyền. Khi nói qua chúng ta lúc chúng ta bị bắt bớ, Ngài biến đổi chuyện “hung” thành “cát”, như gia tăng đức tin chúng ta, và giúp chúng ta trong việc “làm chứng” cho Chúa.



http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
KaTy

KaTy
04-03-2006, 06:53 AM
Satan

"Satan" đến từ động từ gốc Do thái “S.T.N” có nghĩa là "chống đối, đương cự".

Tên gọi “Satan” có nghĩa là "kẻ thù" Trong Cựu Ước Satan là một nhân vật dưới trần, nhưng trong các đoạn

“Xa-tan đứng lên chống Ít-ra-en và xúi giục vua Ða-vít thống kê dân số Ít-ra-en.” (1Sb 21:1)

“Vậy một ngày kia, các con cái Thiên Chúa đến trình diện ÐỨC CHÚA; Xa-tan cũng đến trong đám họ. Bấy giờ ÐỨC CHÚA phán với Xa-tan: "Ngươi từ đâu tới? " Xa-tan thưa với ÐỨC CHÚA: "Rảo quanh cõi đất và lang thang khắp đó đây." (G 1-2)

“Người lại cho tôi thấy thượng tế Giê-su-a đang đứng trước mặt thần sứ của ÐỨC CHÚA; còn Xa-tan đứng bên phải ông để tố cáo ông.” (Dcr 3:1)

Satan lại là một nhân vật ở trên trời và có riêng tên goi là Satan.

Trong bản Hy Lạp Bảy Mươi, từ Do thái “satan” được dịch thành “diabolos, kẻ vu khống, tên xấu xa”

Tin Mừng Marco không hề dùng từ “diabolos” nhưng năm lần sử dụng từ “Satan” :

1- Satan thử thách Chúa trong sa mạc: “Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ.” (1:13)

2- Chúa Giêsu hỏi : " Xa-tan làm sao trừ Xa-tan được?" (3:23)

3- Và trả lời: " Vậy Xa-tan mà chống Xa-tan, Xa-tan mà tự chia rẽ, thì không thể tồn tại, nhưng đã tận số" (3:26)

4- Trong phần cắt nghĩa dụ ngôn ngưòi gieo giống, Satan đến lấy mất hạt giống gieo rơi trên đường “Những kẻ ở bên vệ đường, nơi lời đã gieo xuống, là những kẻ vừa nghe thì Xa-tan liền đến cất lời đã gieo nơi họ.” (4:15)

5- Chúa Giêsu quở trách Phêrô: "Người trách ông Phê-rô: "Xa-tan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." (8:33)


Như thế, qua ngòi viết của Marcô, "Satan" là một kẻ không có đầu óc hay tư tưởng của Thiên Chúa, dư đủ thông minh để biết cách không tự chia rẽ, biết cách phá nhân loại bằng cách cướp đi Lời Thiên Chúa trong lòng tín hữu.




Dã thú

Chi tiết thú vị ở đây là từ “therion – dã thú” chỉ được dùng một lần duy nhất ở đây trong cả bốn cuốn Tin Mừng. Marcô nhắc đến “thú hoang” hay “thú dữ” trong trình thuật Chúa Giêsu chịu cám dỗ .

Trong sách Tông đồ công vụ 28:4-5, therion dùng để gọi con rắn độc đã cắn Phaolô: “Ông Phao-lô vơ được một mớ cành khô và đang bỏ vào lửa, thì một con rắn độc bị nóng bò ra, cuốn vào tay ông. Người địa phương thấy con vật lủng lẳng ở tay ông thì bảo nhau: "Chắc chắn người này là một tên sát nhân: hắn vừa được cứu khỏi chết dưới biển, nhưng Thần Công Lý đã không để cho sống."

Còn trong sách Khải Huyền, “con thú” ám chỉ đế quốc Rôma, được tôn thờ như một vị thần .

Các nhà chú giải thường dùng hình ảnh mà Isaia 11:2-9 miêu tả vị minh quân thuộc dòng dõi Davít, trong cảnh thái bình an hoà, để cắt nghĩa tại sao Marcô lại nhắc đến “dã thú” trong trình thuật này :

“ Từ gốc tổ Gie-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ,
từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non.

(2) Thần khí ÐỨC CHÚA sẽ ngự trên vị này:
thần khí khôn ngoan và minh mẫn,
thần khí mưu lược và dũng mãnh,
thần khí hiểu biết và kính sợ ÐỨC CHÚA.
...
(6) Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ.
Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau,
một cậu bé sẽ chăn dắt chúng.

(7) Bò cái kết thân cùng gấu cái,
con của chúng nằm chung một chỗ,
sư tử cũng ăn rơm như bò.

(8 ) Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục,
trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang.”




Thiên thần

Nếu xét các dã thú như một hung lực đối kháng, gây khó dễ cho Chúa Giêsu, chỉ hòng chực cắn xé, thì các thiên thần được nhắc đến như những người phục vụ Ngài, cung cấp bữa ăn ăn nuôi Ngài.

Trong tiếng Hylạp, aggelos, và Do thái, mal’ak, cả hai từ đều có nghĩa “sứ giả”. Ngoài chỗ này, Marcô còn dùng từ này ở năm chỗ khác :


1- Ngay câu thứ hai, Marcô trích dẫn Malachi 3:1: “Trong sách ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con” (Mc1:2).

2- Các sứ giả sẽ quây quần chung quanh Ngài: “Giữa thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, ai hổ thẹn vì tôi và những lời tôi dạy, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn vì kẻ ấy, khi Người ngự đến cùng với các thánh thiên thần, trong vinh quang của Cha Người." (Mc 8:38 )

3- Ngài sẽ sai các sứ giả khi Người trở lại trong vinh quang của Cha: “Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.” (Mc 13:27).

4- Nhưng lúc đó là lúc nào, chẳng một ai hay biết: "Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.” (Mc 13:32).

5- Người chết sống lại sẽ như các sứ thần: “Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời.” (Mc 12:25).

Trong tất các các công tác được kể đến trên đây, lúc Chúa Giêsu chịu cám dỗ, các thiên thần chỉ có một nhiệm vụ: hầu hạ - minister .

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

KaTy
04-03-2006, 06:53 AM
Kết

a-

Chúa Giêsu chịu ma quỷ cám dỗ, nhưng lại bị Thánh Thần “đuổi, đẩy” vào sa mạc.

Chúng ta cứ ngỡ sau khi chịu phép Rửa, sau khi thấy trời bị “xé ra” và vinh quang thân phận Ngài được tỏ lộ, “Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con." (Mc 1:10-11) chúng ta cứ ngỡ Ngài sẽ bắt đầu thảnh thơi ra đi rao giảng ngay, hay ít ra được các thiên thần hầu hạ cơm nước !

Nhưng không. Sự khắc nghiệt và đột ngột khiến chúng ta chưng hửng và lạ kỳ: Trong cả bốn Tin Mừng, ngay sau khi chịu phép rửa, Ngài vào ngay hoang mạc để chịu cám dỗ.

Không có luật trừ cho Con Thiên Chúa. Khi nhập thể, Ngài phải chấp nhận những cam go của phận người. Phép rửa như là nghi thức trao sứ mạng. Cuộc cám dỗ là để củng cố, tăng thêm tính kiên cường, đào sâu kinh nghiệm đức tin.

Qua kinh nghiệm lịch sử của mình, sa mạc là nơi Israel chịu nhiều lần tinh luyện và thử thách.

Israel đã thua chước cám dỗ. Nhưng Đức Giêsu thì không.


b-

Marcô trình bày ngắn gọn việc Chúa chịu cám dỗ. Nói cho ngay, sách Tin Mừng theo Marcô đã được chép ra trước tiên, chỉ nêu sự kiện lên, mà không miêu tả rõ cơn cám dỗ thành ba đợt như sau này trong Matthêu và Luca.

Marcô không bận tâm đến chuyện Chúa đã thắng các cơn cám dỗ. Hệt như là đối với Marcô, chuyện Chúa chiến thắng vượt qua 40 ngày cám dỗ trong hoang mạc là điều tự nhiên.

Nhưng cũng vì chính sự ngắn gọn này kích thích chúng ta suy nghĩ:
Chúa Giêsu, khi nhập thể, Ngài mang thân phận người như chúng ta, nghĩa là “trở nên giống chúng ta mọi đàng” (Dt 2:17), “ngoại trừ tội lỗi” ( Dt 4:15).

“Giống chúng ta mọi đàng.” Thánh Lêô Cả cũng đã đề ra công thức totus in nostris = “hoàn toàn trong (bản tính) chúng ta”, và nhận định là: “Nếu Ngài không đồng thời vừa là Thiên Chúa vừa là con người, và trong cả hai (bản tính) vừa là duy nhất vừa là thực sự, thì không thể nào làm Ðấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người được.” ( Xem Epistola Ad Flavianum, 3 (năm 449), DS 293.

Thánh Tôma Aquinô đã viết rất đúng: “Ðiều thích hợp là Con Thiên Chúa phải mặc lấy xác thịt khả dĩ sống qua thân phận yếu đuối của người phàm.”

Rồi ngài đưa ra những lý do để giải thích:

1) vì mục đích của việc nhập thể là cứu rỗi loài người khỏi tội lỗi, nên Ngài mặc lấy hậu quả của tội lỗi;

2) để nhờ đó, việc tin vào mầu nhiệm nhập thể được dễ dàng hơn;

3) để nêu gương kiên nhẫn cho loài người. Hơn nữa, theo thánh nhân, những yếu đuối ấy là hậu quả tất yếu của nhân tính mà Ngài nhận lấy, chứ không phải vì lòng dủ thương mà Ngài muốn như thế. (Xem Summa theologica III.14.1, sed contra.

Ít khi chúng ta đẩy suy tư cho đến cùng cực: Liệu Ngài có xao xuyến, chao đảo trong cơn cám dỗ ? Nghĩa là liệu “Ngài có thể có tội” được không ?

Phần này nhà cháu trích dẫn từ khảo luận “Kytô học” của Cha giáo Filipe Gomez:

Truyền thống công giáo hoàn toàn nhất trí về chân lý Chúa Giêsu không hề có tội.

Công đồng Canxêđôn (năm 451) đã trích dẫn Dt 4:15 (x. DS 301).

Công đồng Tôlêđô, nhóm họp tại Tây ban nha (năm 675) tuyên tín rằng: “Chúng tôi tin... Ngôi Hai đã mặc lấy từ Ðức thánh Trinh Nữ Maria vô nhiễm, con người thật, vô tội... để giải phóng loài người” (DS 533).

Công đồng Conxtăntinốp II (năm 680-681) đã trích dẫn lời của Grêgôriô Nadiăndô nói là: “Vì ý muốn của Ngài là ý muốn của Ðấng Cứu Thế, nên không hề trái nghịch với Thiên Chúa, thậm chí còn được trọn vẹn thần hóa nữa” (DS 556).

Công đồng chung Phirenxê (Firenze,1439-1445) khẳng định rằng Ðức Giêsu Kitô “được thụ thai, sinh ra và chết vô tội” (DS 1347).


Ðã rõ là thế, nhưng thần học còn muốn đào sâu để biết: tình trạng vô tội này mang tính “luân lý” hay tính “siêu hình học.” Nói cách khác: đó là một tình trạng cứ sự (de facto) hay tất yếu cứ lý (de jure), tức nhất thiết phải là như vậy?

Nếu nói đó chỉ là một tình trạng cứ sự mà thôi, thì có nghĩa là: thực sự Ngài không phạm tội, nhưng đã có thể phạm tội;

nếu nói là tình trạng cứ lý, thì có nghĩa là Ngài không thể phạm tội.

Nói chung, đa số các thần học gia tin lành (Tillich, Robinson,...) giữ lập trường cho rằng trong thực tế, Ðức Giêsu không phạm tội, tuy nhiên, trên nguyên tắc, Ngài đã có thể phạm tội;

Lý do là vì Ngài có tự do, và tự do được các tác giả này định nghĩa là khả năng chọn lựa giữa thiện và ác.

Vậy, theo họ, nếu Ðức Giêsu đã không phạm tội thì chỉ là vì Ngài không muốn.


Còn thần học công giáo thì bao giờ cũng hiểu rằng Ðức Kitô không có thể phạm tội.

Lý do là vì tội quy chiếu về bản ngã (ngôi vị). Nếu Ðức Giêsu phạm tội tức là phá hại mối quan hệ giữa mình và Ngôi Cha; trong khi đó chính mối quan hệ này cấu tạo nên bản ngã Ðức Giêsu (Ngôi Hai);

Thế nên, sẽ là một mâu thuẫn nội tại – tức không thể nào có được – sự việc Ðức Giêsu có một hành vi trái nghịch với Chúa Cha, bởi đó là hành vi trái nghịch với chính mình và phá hủy chính mình Ngài.

Ðức Giêsu là con người thật; nhưng tội lỗi không thuộc về bản tính con người; trái lại, con người hoàn hảo là con người đức hạnh.

Nhưng làm sao Ðức Giêsu có tự do thật, nếu không có thể phạm tội?

Vấn đề ở đây là phải xác định cho rõ về khái niệm “tự do.” Thường chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng thánh Âugutinô về tội lỗi và ân sủng, nên khi quan niệm về “tự do,” anh em tin lành cho đó là khả năng chọn lựa.

Thực ra, đó chỉ là một dạng tự do, một cách biểu hiện của tự do. Sâu xa hơn, tự do là khả năng tự quyết, tự mình quyết định lấy, chứ không do ảnh hưởng của một sự thúc đẩy, của một xung năng nào khác, hoặc từ ngoài hoặc từ trong chính mình.

Ba Ngôi trong Thiên Chúa tất hoàn toàn tự do, mà vẫn không có thể phạm tội: đành là thế; nhưng còn có trường hợp khác: các phúc nhân trên trời cũng hoàn toàn tự do, mà vẫn không phạm tội được nữa.

Thực ra, tự do là khả năng chọn lựa điều tốt; và một khi đã nhận rõ cái gì là tốt thì không thể không chọn điều tốt để đi chọn cái xấu.

Lý tưởng của người tự do là quy hướng về với “chân, thiện, mỹ” (Thiên Chúa), quyết tâm đến độ không gì có thể lung lạc làm cho tách ngả ra một lối khác được.