View Full Version : Cơn cám dỗ đầu tiên
Cơn cám dỗ đầu tiên
1-
Các Bạn đừng vội liên kết đầu bài này với tựa đề một cuốn phim.
Đây chỉ là những tản mạn nhân mùa Chay, đúng hơn là những tản mạn nhân bài đọc Tin Mừng Chúa nhật thứ Nhất mùa Chay, nói về Chúa Giêsu chịu cám dỗ.
Thì cũng là cám dỗ. Nhưng ta thử bàn đến những chi tiết thú vị liên quan xa gần đến cuộc cám dỗ đầu tiên của nhân loại. Hy vọng chúng ta sẽ nhẩn nha thấy được nhiều điểm lý thú mà trước giờ, vì chưa có dịp đọc kỹ bản văn, chúng ta vô tình bỏ qua.
Có cần phải ghi lại đây toàn bộ thuật trình về cuộc cám dỗ và sa ngã không nhỉ ? Không phải là câu chuyện Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ trong vòng bảy ngày đâu. Mà là những câu kế tiếp, Stk 2:5- 3:18. Thuật trình này cổ xưa hơn đoạn đầu tiên kể chuyện tạo dựng trong vòng bảy ngày.
Tôi tin rằng các Bạn đã thuộc lòng câu chuyện. Nhưng nếu không chép lại toàn bộ, các Bạn lại sẽ bỏ sót những chi tiết thú vị mà thôi.
Nào mời các Bạn chịu khó một chút, một chút thôi nhé, đọc toàn bộ câu chuyện. Không lâu la gì. Chỉ mất một phút đồng hồ.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Chương 2
(5) Ngày ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm ra đất và trời, chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên mặt đất, chưa có đám cỏ ngoài đồng nào mọc lên, vì ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người để canh tác đất đai.
(6) Nhưng có một dòng nước từ đất trào lên và tưới khắp mặt đất.
(7) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.
(8 ) Rồi ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra.
(9) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.
(10) Một con sông từ Ê-đen chảy ra tưới khu vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh.
(11) Tên nhánh thứ nhất là Pi-sôn, nó bao quanh tất cả đất Kha-vi-la là nơi có vàng;
(12) vàng ở đất này tốt, tại đó có nhũ hương và đá ngọc.
(13) Tên nhánh thứ hai là Ghi-khôn; nhánh này bao quanh tất cả đất Cút.
(14) Tên nhánh thứ ba là Tích-ra; nhánh này chảy ở phía đông Át-sua. Còn nhánh thứ bốn là Êu-phơ-rát.
(15) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai.
(16) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn;
(17) nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết."
(18 ) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán: "Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó.
(19) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế.
(20) Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng.
(21) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào.
(22) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.
(23) Con người nói:
"Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!
Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra."
(24) Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.
(25) Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.
Chương 3
(1)Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?
(2) Người đàn bà nói với con rắn: "Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn.
(3) Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: "Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết."
(4) Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu!
(5) Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở
ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác."
(6) Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn.
(7) Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.
(8 ) Nghe thấy tiếng ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa.
(9) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu? "
(10) Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn."
(11) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? "
(12) Con người thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn."
(13) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế? " Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn."
(14) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán với con rắn:
"Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú.
Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi.
(15) Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."
(16) Với người đàn bà, Chúa phán:
"Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén;
ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con.
Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi."
(17) Với con người, Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: "Ngươi đừng ăn nó",
nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi;
ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi,
mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra.
(18 ) Ðất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng.
(19) Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn,
cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra.
Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
(20) Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.
(21) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ.
(22) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi."
(23) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra.
(24) Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh.
2-
Trước khi đi tiếp, chúng ta nên đọc lại phần Dẫn nhập trong bản dịch do qúy Cha trong nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ :
“Sách Sáng thế gồm hai phần rõ rệt. Phần từ chương 12 đến hết, trình bày các truyền thống về thuỷ tổ của dân Ít-ra-en và giải thích sự có mặt của họ trên đất Ai-cập.
Còn 11 chương đầu là một nỗ lực suy tư khởi đi từ kinh nghiệm tôn giáo của Ít-ra-en nhằm lý giải nguồn gốc vũ trụ và con người, nguồn gốc sự ác và ơn cứu độ. Ðây là một suy tư hoàn toàn tôn giáo, vận dụng các truyền thống tôn giáo của Ít-ra-en và của các dân tộc vùng Lưỡng Hà Ðịa nhằm diễn tả niềm tin rằng: Thiên Chúa mà Ít-ra-en thờ là Ðấng đã làm cho vũ trụ và con người xuất hiện; trong mọi loài thọ tạo, Thiên Chúa yêu thương và săn sóc con người hơn cả, dành cho con người một cuộc sống vượt trên tất cả.
Sự ác đã có mặt trong cuộc sống là do con người gây ra bởi sự từ chối vâng phục Ðấng Tạo Hoá và từ chối nhau. Nhưng Thiên Chúa đã hứa giải thoát con người. Thế là lịch sử cứu độ đã bắt đầu với lịch sử loài người. Kinh nghiệm của Ít-ra-en về tội lỗi và cứu độ đã được mở ra bao trùm cả nhân loại. Ðiều này phản ánh ý thức của Dân Chúa về lịch sử và sứ mạng của mình là làm chứng về Thiên Chúa và ơn cứu độ của Người trước mặt muôn dân, để muôn dân được biết Thiên Chúa và được cứu độ.
Ðiểm này là bước tiến quan trọng của mặc khải mà Dân Chúa đã nhận được chính vào thời lưu đày.”
NB: Những chữ in đậm là của người viết
Còn tiếp...
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (2)
Sau khi rào trước đón sau như thế, phải nói ngay là những chi tiết thú vị sau đây được kể lại không theo một thứ tự nào. Tản mạn mà.
Vậy thì ta bắt đầu:
1- Lời nói dối đầu tiên là của ... ?
Chúng ta thấy theo thứ tự trước tiên Chúa lấy bùn nặn ra con người, thổi hơi vào mũi, làm cho sống (câu 7). Rồi Ngài lập một khu vườn (câu 8 ). Ngài đặt con người vào trong đó (câu 8 ).
Kế tiếp Ngài cho mọc lên mọi thứ cây “trông thì đẹp, ăn thì ngon”. Giữa vườn, Ngài cho mọc hai cây: “cây trường sinh , và cây cho biết điều thiện ác” (câu 9).
Chúa truyền lệnh cho con người : "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết." (câu 16-17)
Sau đó Thiên Chúa mới tìm cho con người một người trợ tá bằng cách dựng nên muôn thú, để con người đặt tên, và tìm bạn (câu 18,19, 20).
Không có kết quả, Thiên Chúa cho con người ngủ say, rồi dựng nên người phụ nữ (câu 21).
Ngay sau đó, con rắn cám dỗ.
‘Nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?
Người đàn bà nói với con rắn: "Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: "Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết."
So sánh hai câu nói, của Thiên Chúa và của người đàn bà. Chúng ta thấy có chỗ sai. Sai không phải vì sót, nhưng vì thêm thắt vào, vì đặt điều.
Bà ấy thêm: “Không được đụng tới.”
Chúa nào có nói thế đâu !
Ở câu thứ 4, khi con rắn nói: “Chẳng chết chóc gì đâu” thì quả là con rắn nói...thật. Ít là ngay lúc đó. Vì ngay sau khi hai người ăn rồi, không có chuyện gì xảy ra cho bà ta hết. Bà không chết. Nên bà mới hái đưa cho chồng.
Chỉ sau khi chồng bà đã ăn, nghĩa là sau khi hai người đã cùng ăn, thì sự cố mới xảy ra. Không phải hai người lăn đùng ra chết. Nhưng “mắt họ mở ra”.
Nghĩa là tới câu thứ 4, trong khi con rắn nói ra sự thật lúc ấy, thì người phụ nữ đã nhắc lại sai lệnh truyền của Thiên Chúa, nghĩa là đã nói sai sự thật.
Nói sai sự thật, nếu không phải nói dối, thì là gì ?
Khổ nỗi, đó lại là câu nói đầu tiên của người phụ nữ.
Mở miệng ra là đã ...Oops! Xin lỗi các Bạn, Vạ mồm vạ miệng !
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (3)
...
Nhưng chúng ta có thể nói ra một lý do để minh oan cho các Bà, kẻo rồi các Bà buồn lòng.
Chúng ta thấy Thiên Chúa truyền lệnh cho người đàn ông. Lúc ấy người phụ nữ chưa được tạo dựng. Thế thì sau khi người đàn bà được tạo dựng thì, dĩ nhiên, người đàn ông đã có nhắc lại lệnh truyền của Chúa cho người đàn bà biết.
Và rất có thể ông đã nhắc lệnh truyền, nhưng ông đã thêm, đại khái như: “Chúa đã cấm rồi đó, Bà nhớ đừng có đụng vào nghe chưa !”
Ấy là nói thế cho các Bà hài lòng, chứ, đã không ghi lại trong Kinh Thánh thì ta cứ mặt chữ mà suy thôi !
Mà nói cho ngay, Bà nghe lệnh Chúa qua Ông, chứ không nghe trực tiếp. Qua miệng ông, lệnh của Thiên Chúa mà Bà coi như chỉ là lời ông dặn dò .
Nên, cũng là lỗi luật, nhưng không nghe lời Ông xem chừng nhẹ tội hơn không vâng phục Chúa. Có lẽ cũng vì thế cho nên sau khi Bà bất tuân mà giơ tay hái trái cây và ăn, không/chưa có gì xảy ra cả: chỉ không nghe lời chồng.
Con rắn hẳn cũng đủ ranh ma mà biết thế.
Chả vậy mà ngay đầu chương 3, Kinh thánh nhận xét: “Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng”. Nó biết Ông được tạo dựng “giống hình ảnh Thiên Chúa”. Nó biết không thể trực diện mà cám dỗ ông. Vì Ông được chúc phúc. Ông có đặc quyền đặt tên cho các thú vật kia mà.
Nó chỉ có thể đi đường tắt, qua ngã người đàn bà. Nó biết hễ làm cho người đàn bà ăn được trái bị cấm mà không hề hấn gì thì.. nó vui vẻ xoa tay chiến thắng rồi !
Nó sành tâm lý của Bà. Bà có thể lý luận rằng Chúa ra lệnh cho ông, chứ đâu có ra lệnh cho tôi! Bà không cảm thấy sức ép của lệnh cấm.
Mà dường như sự thể đúng là thế. Vì khi bà đã ăn rồi trái cây rồi, không hề có gì xảy ra cả. Cái khoảnh khắc bấp bênh từ lúc sau khi bà ăn đến lúc trước khi ông ăn, giá mà có chuyện gì xảy ra, hẳn cục diện thế giới đã đổi thay .
Ăn rồi, bà không chết, mà - rủi thay ! - mắt bà cũng chưa mở ra !
Con rắn đã chen vào và lợi dụng cái khoảnh khắc quý báu này .
Adam hẳn bắt đầu nghi ngờ hiệu lực của lời cấm. Tuy lời Thiên Chúa nghiêm cấm còn vang rõ trong đầu, nhưng Bà ăn rồi mà ... KHÔNG CÓ GÌ xảy ra cả ! Bà còn sống nhăn !
Hẳn là vì hồ nghi lời Thiên Chúa không hiệu nghiệm nên Adam mới dễ dàng thuận tình nghe lời Evà mà cùng ăn !
2-
Có đến những HAI cây đặc biệt ở giữa vườn: “ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.” (Stk 2:9)
Cái cây mang một tên gọi đặc biệt. Không chỉ đặc biệt mà có thể gọi là lạ kỳ “cây cho Biết điều Thiện điều Ác – the Tree of Knowledge of Good and Evil – l’arbre de la Connaissance du Bien et du Mal – lignum scientiae boni et mali ”
Nghe tên thôi thì ta có thể đoán rằng ai ăn trái của cây ấy sẽ biết được điều tốt điều xấu, hay có khả năng biện biệt tốt xấu.
Nếu tên cây nói lên điều ấy thì tại sao Thiên Chúa lại cấm con người ăn trái của nó ? Chẳng lẽ “biết tốt biết xấu” là điều không tốt đẹp, và phải cấm, à ?
Nhưng bằng vào hình phạt hai ông bà phải gánh chịu sau khi ăn trái cây, thì chuyện ăn trái cây là một điều chẳng tốt đẹp gì, chỉ mang lại toàn hậu qủa xấu. Và dường như Chúa không muốn hai ông bà biết điều tốt xấu.
Có vậy mới cấm, có vậy mới phạt nặng.
Chẳng lẽ Chúa chỉ bày ra đấy để thử lòng con người, trắc nghiệm về một điều gì đó. Ví dụ như để xem con người có tuân lệnh Ngài không ?
Nếu chỉ để thử thách chuyện có vâng lời hay không, thì việc thử thách bằng chuyện cấm ăn một trái cây có vẻ không được tự nhiên cho lắm. Tại sao lại không cấm vượt hàng rào, đi ra khỏi vườn Địa Đàng mà xem thế giới bên ngoài đó như thế nào, chẳng hạn.
Nhưng ta có thể đẩy lý luận lùi xa thêm bước nữa.
Ta có thể hỏi, thế thì trước khi ăn trái cây, hai ông bà đã có biết tốt xấu chưa ?
Cái ĐẸP thì hẳn hai ông bà biết rồi. Mọi trái cây trong vườn Eden đều “trông thì đẹp, ăn thì ngon”
Không chỉ thế, mà cả điều CHÂN và THIỆN, hai ông bà đã biết vì trước khi giơ tay hái trái ăn, “Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt (MỸ), và đáng quý (THIỆN) vì làm cho mình được tinh khôn (CHÂN).”
Vậy đã biết Chân, Thiện, Mỹ thì chuyện ăn trái cây ấy chẳng thêm gì mới mẻ cho hai ông bà cả.
Thế thì sao ? Càng suy luận càng thấy rối rắm, và có điều gì đó lấn cấn, phải không các Bạn ?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (4)
À ! Hay là hai ông bà muốn biết XẤU là gì ?
Ông bà muốn biết cái “nữa” kia của sự hiểu biết, cái XẤU, cái mà chúng ta gọi là sự DỮ, sự ÁC, mà trước giờ chưa từng biết, cái knowledge of EVIL, cái connaissance du MAL , scientia MALI ?
Sau mỗi ngày tạo nên vũ trụ thế giới và mọi sự trong đó, Thiên Chúa luôn luôn xoa tay mà nói: “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.” Trong vườn Địa Đàng, mọi sự mọi chuyện đều là tốt đẹp. Bà Evà là điều tốt đẹp. Hằng ngày dạo chơi trong vườn cùng với Thiên Chúa trong cơn gió mát ban chiều là tốt đẹp !
Còn thế nào là “biết điều xấu” thì hai ông bà chưa từng.
Phải chăng hái trái cây ăn là một thử nghiệm cho biết thế nào là XẤU ?
Có thể lắm .
Nhưng có điều sau khi hai ông bà ăn trái cây thì bị phạt. Mà sự thường thì không biết thì không bị phạt! Vậy thì Thiên Chúa không thể phạt hai ông bà nếu ông bà không biết rằng không vâng lời Thiên Chúa là xấu !
Như thế trước khi ăn trái cây cho biết tốt xấu, thì hai ông bà đã biết tốt là gì và xấu là gì, rồi ! Ít ra hai ông bà đã biết rằng vâng lời Thiên Chúa khi Ngài đã có lệnh cấm không được ăn trái cây, là tốt. Và không vâng lời Ngài, là xấu.
Nhưng nếu đã thế, thì gọi tên cây là “ cây cho biết điều Tốt điều Xấu” là vô dụng, vì lẽ hai ông bà đã biết Tốt và Xấu. Con rắn không thể cám dỗ nhờ tính tò mò, hay do tính hiếu tri của con người được nữa !
Vậy thì có cái gì đó mâu thuẫn chăng ?
Ta lại có thể tiếp tục lý luận như sau:
Hay là trước khi có cái cây trong vườn Địa đàng, thì những khái niệm tốt xấu mang một ý nghĩa nào khác ?
Hay là như đã từng góp ý :
Hai ông bà muốn ăn trái cây ấy, vì hai ông bà muốn tự quyền ấn định điều nào là tốt và điều nào là xấu.
Tốt xấu là gì thì hai ông bà biết rồi. Điều nào tốt điều nào xấu, thì hai ông bà được cho biết như thế. Cây cho biết điều Thiện điều Ác, là cây cho khả năng ấn định điều nào là Thiện và điều nào là Ác .
Hai ông bà được dựng nên có tự do, có ý muốn và có lương tâm. Trong lương tâm ấy hai ông bà thấy có luật tự nhiên ghi sẵn điều nào tốt điều nào xấu. Ví dụ ăn cắp là xấu, giết người là xấu ...
Luật đã có sẵn, in sẵn. Hai ông bà phải theo .
Bây giờ, hai ông bà muốn có quyền lập pháp. Hai ông bà muốn luật lệ là phải do tự mình ấn định. Con rắn khéo léo thay đổi cách hành văn: “sẽ nên như các vị thần”. Ý nó muốn nói nên như các nhà dân biểu trong hạ nghị viện đang làm ra luật.
Mà nói cho ngay, con cháu hai ông bà qua bao đời vẫn hoài làm cách mạng để dành cái quyền lập pháp ấy. Lấy chỉ một ví dụ : Người ta la to: Pro choice ! Giết thai nhi không phải là tội ! đó là quyền của người mẹ tự chọn!
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (5)
http://gpnt.net/images/camdo.jpg
3-
Cây trường sinh
Bây giờ trở lại giữa vườn, chúng ta thấy còn một cây khác: “Cây trường sinh - with the tree of life in the middle of the garden - et l'arbre de vie au milieu du jardin, -lignum etiam vitae in medio paradisi”
Thú thật với các Bạn, từ nhỏ học giáo lý cho đến ngày nay, tôi ít để ý đến cái cây này. Tuy nó nằm ngay ở giữa vườn và... chưa có ai đụng tới!
Điều thú vị là khi đuổi Adong Evà ra khỏi vườn, Thiên Chúa mới nêu cây trường sinh này ra như một lý do: “Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi,” chứ trước đó, Thiên Chúa không hề cấm Adong ăn trái cây trường sinh này, phải không? Các Bạn đọc kỹ lại thuật trình mà xem.
Nhưng càng kỳ lạ hơn nữa là, nếu sau khi con người ăn trái cấm , Thiên Chúa sợ loài người “sống mãi”, sống trường thọ, thì tại sao trước kia, Ngài không ra lệnh cấm ăn trái cây này, như Ngài từng cấm ăn trái “cây cho biết điều Thiện điều Ác”?
Rồi khi ta đọc lại :
“ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.” (câu 9)
Cứ theo mạch văn, và xét theo cả cách ngắt câu của bản dịch, thì chỉ có “cây trường sinh” là nằm “giữa vườn”, còn “cây cho biết điều Thiện điều Ác” nằm ở đâu trong vườn thì thuật trình không xác định.
Thế thì có lạ không: Cây thì nằm ngay giữa vườn. Thiên Chúa không nói gì với Adong về cây này. Con rắn cũng chẳng cám dỗ để ăn trái của cây này, thì chúng ta bâng khuâng tự hỏi không biết Adong Eva có biết là có cây này không nữa?
Thêm một chi tiết khiến chúng ta do dự là, không biết con người có lẫn lộn giữa hai cây không?
Tại sao chúng ta lại hỏi thế?
Khi tuần tự nhìn lại diễn biến các sự kiện, chúng ta thấy: Thiên Chúa cho “mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.”
Vậy là hai cây. Rõ ràng. Và cây trường sinh là cây ở giữa vườn.
Thiên Chúa chỉ cấm ăn trái cây “cho biết điều Thiện điều Ác.” vì Chúa nói : “Nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn.”
Con rắn bâng quơ hỏi: “Có thật Thiên Chúa bảo: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?""
Bà Evà trả lời: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: "Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết."
Này bà Eva ơi, bà có nói lộn không đấy ? Cây ở giữa vườn là “cây trường sinh” mà. Chúa cấm là cấm ăn trái “cây cho biết điều thiện điều ác” cơ!
Phải chăng đã có một sự lầm lẫn chết người?
Lại cũng cần ghi nhận rằng trong phần đối thoại này, bà chỉ nêu ra vị trí của cây, mà không nêu tên của nó: “trái của cây ở giữa vườn” (c. 3). Còn con rắn thì nói: “Nếu ông bà ăn trái đó, ông bà sẽ “biết điều tốt và điều xấu.”" Nghĩa là con rắn cũng không nêu ra tên của cây, nhưng lại vạch ra hiệu quả của nó.
Thêm một câu hỏi đặt ra là, nếu Thiên Chúa không có lệnh rõ ràng cấm ăn trái cây trường sinh, thì liệu Thiên Chúa có muốn con người ăn nó hay không?
Không nói gì hết về cái cây. Mà cũng chẳng cấm ăn trái, lại để nó mọc giữa vườn, thì chúng ta có quyền rụt rè đưa ra kết luận rằng: Thiên Chúa, cách nào đó, quả tình muốn cho con người thưởng thức trái cây trường sinh.
Biết đâu, Ngài cố ý im lặng để con người, lúc nào đó vẩn vơ dạo chơi khắp vườn và thử nếm hết mọi trái cây, thì hẳn con người đã ăn được trái cây trường sinh này rồi!
Nhưng đó là tình hình trước kia.
Sau “sự cố - accident” thì mọi chuyện khác hẳn. Xin các Bạn hiểu chữ “accident” theo nguyên ngữ la tinh, accident do động từ: “accido, accidit, accidi, accessus sum, accidere” - "xảy ra”.
Sau khi “sự kiện xảy ra – accident” thì mọi chuyện đổi thay. Thiên Chúa xếp đặt mọi chuyện sao cho con người không thể ăn trái cây trường sinh được nữa: Con người bị đuổi ra khỏi vườn, và Thiên Chúa đặt hai thiên thần làm “nhân viên an ninh khu vực” – “thần hộ giá” cầm gươm sáng mà “canh giữ đường đến cây trường sinh” để con người khỏi có thể trở lại mà ăn trái của cây.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (6)
Thêm một điều lấn cấn khác mời các Bạn suy nghĩ dùm :
Trước khi hai ông bà ăn trái cấm thì hai ông bà bất tử, hay là đã mang phận chết trong mình rồi ?
Tại sao nhà cháu lại lẩn thẩn hỏi thế: Là vì khi ra lệnh cấm, Thiên Chúa cho biết: “ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” Câu lệnh không cho biết là ăn trái cây thì chết ngay lập tức. Hay chỉ là “sẽ phải chết”, nghĩa là trở thành phải chết?
Vậy trước khi ăn và nếu không ăn, thì con người không phải chết ?
Tưởng là vậy, nhưng không phải vậy!
Vì sau này, khi đuổi hai ông bà ra khỏi vườn, Thiên Chúa nói “đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi.” Nghĩa là trước giờ, hai ông bà đã mang phận phải chết rồi.
Dường như hai câu đối nghịch nhau, hay là hiệu quả của chúng triệt tiêu lẫn nhau !
Ngoại trừ trường hợp: Con người vốn trường sinh, ăn trái cây cấm, thì phận người trở thành phải chết. Nếu ăn được trái cây trường sinh, thì sẽ được trường sinh trở lại !
4-
Bây giờ chúng ta xét tới một nhân vật đóng vai trò quan trọng trong thuật trình và trong cả lịch sử nhân loại.
Dĩ nhiên trong câu chuyện Stk này, mà các nhà chú giải Kinh Thánh thường đặt tên cho là “tầm nguyên luận – etiologie” này, Thiên Chúa là nhân vật chính và chính diện. Hai “con người” cũng thế.
Nhân vật thứ tư chúng ta muốn tản mạn hôm nay, đó là con rắn!
Trình thuật nhắc tới con rắn cách đột ngột. “Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng” . Không giới thiệu xa gần. Không “lý lịch trích ngang”. Và nói tới nó là nói ngay tới cái cá tính của nó: “xảo quyệt”.
Một con rắn lạ lùng, biết nói!
Một con rắn “biết nói” thì chẳng giống con rắn tý nào, phải không?
Nhưng điều thú vị là trình thuật kể chuyện làm sao mà, khi con rắn nói, nó không hề làm chúng ta ngạc nhiên hay e dè. Chúng ta đã thế, mà bà Evà cũng thế. Bà không hề kiêng dè một chút nào khi nghe con rắn mở miệng và ... nói.
Chúng ta thử tưởng tượng con rắn nuôi trong sở thú đột nhiên nói với ta: “Bonjour Mademoiselle – Good morning, Ma’am – Buenos dias, Señorita - Cô cứ ăn trái này đi, Chẳng chết đâu mà sợ!” Chúng ta hoảng và kinh hãi lắm.
Vậy không làm cho người ta ngạc nhiên gây nên e dè. Đó là xảo quyệt thành công đầu tiên của con rắn.
Trong Kinh Thánh có một con vật khác cũng biết nói: con lừa cái của tiên tri Balaam (Ds 22,22-30) Nhưng khi nó nói thì tiên tri Balaam phải ngạc nhiên!
Không những biết nói, mà con rắn còn biết... đi!
Bởi vì đến cuối thuật trình, từ khi bị chúc dữ, con rắn “phải bò bằng bụng” và ăn “bụi đất”! Thế nên trước lúc đó, con rắn biết đi là điều đương nhiên. Và dĩ nhiên thức ăn của nó hẳn là ngon lành huê dạng hơn bùn đất!
Sự thông minh của con rắn thì đến Kinh Thánh cũng phải lưu ý: “Nó xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng!”
Biết đi đứng, biết ăn nói, lại ranh ma ranh mãnh. Nó giống người... dễ sợ! Xin hiểu theo cả hai nghĩa.
Thế thì ta có quyền lẩn thẩn tự hỏi: Vậy ra con rắn là con rắn hay kẻ nào đó đội lốt hiện hình?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (7)
5-
Cuộc cám dỗ xảy ra bất chợt.
Không rào trước đón sau, không nhập đề lung khởi, không có miếng trầu là đầu câu chuyện.
Khi muốn bà Eva ăn trái cây bị cấm, nó không hề quảng cáo về trái cây, không hề miêu tả trái ấy đẹp như thế nào, ngon như thế nào, rẻ như thế nào.
Vậy mà đến cuối cùng thì chính người đàn bà thấy in hệt như thế: “Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý.”
Quả là tuyệt chiêu !
Nó cũng không mặc quần áo hở hang để tiếp thị về trái cây. Nó tuyệt đối không hề nói tới chính cái trái cây định mệnh đó.
Con rắn quá tinh ma để mở miệng nói mà như nói trống không, nói bâng quơ.
Nó nói, nguyên văn tiếng Do thái như sau : “"af ki amar elokim lo tochlu mikol etz hagan".
Các bản văn dịch thường là:
'Có thật Thiên Chúa bảo: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không? - Alors, Dieu a dit: Vous ne mangerez pas de tous les arbres du jardin ? - Did God really tell you not to eat from any of the trees in the garden?' (Genesis, 3:1).
Khổ nỗi đấy không phải là bản dịch chính xác của nguyên văn Do thái.
Cái tuyệt diệu nằm ở hai chữ đầu: ’af kí...” mà bản Bible de Jerusalem dịch bằng: “Alors - Vậy ra...”
Nghe ra như là câu nói của con rắn bị đứt đoạn, thiếu mất vài chữ phía trước.
“Af ki” diễn tả một khẳng định, nêu ra cách bâng quơ, bởi vì ai cũng coi đó như là điều hiển nhiên.
Chúng ta tìm thấy nhiều cách dùng tương tự trong câu nói như:
1Sm 14:30, ông Gionathan nhận xét về vua cha Saul: “Giả như hôm nay dân đã được ăn phần chiến lợi phẩm tìm thấy nơi quân thù, thì có phải là đòn giáng xuống người Phi-li-tinh đã mạnh hơn không?”
câu 1V 8:27, Vua Salomon cầu trước nhan Chúa: “Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng ? Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây! .”
Rabbi David Fohrman đề nghị lối dịch "Even if God said do not eat from any of the trees of the garden... Cả trong trường hợp mà Thiên Chúa cấm ăn mọi trái cây trong vườn ...”
“Af ki” không phải là từ để bắt đầu câu hỏi, nên câu con rắn nói không phải là câu hỏi. Con rắn muốn gợi chuyện, nhưng lại muốn dấu kín ý định đó.
Chúng ta có thể mường tượng là con rắn ở đâu đấy đã theo dõi và biết những gì diễn ra trước đó như là một kẻ quan sát vô hình và vô tình.
Nó bâng quơ lên tiếng: “Vậy ra Thiên Chúa cấm ăn hết mọi trái cây trong vườn.... - Af ki amar elokim lo tochlu mikol etz hagan”.
Thế thôi. Rồi nó bỏ lững. Câu nói của nó tưởng như thiếu mất đoạn cuối.
Bản văn ghi thiếu chăng ? Phần cuối câu nói bị mất theo thời gian chăng?
Không đâu. Nó nói sự thật. Nó nhắc lại lệnh Thiên Chúa cấm. Nó chỉ nhận định. “Vậy ra Thiên Chúa cấm ăn hết mọi trái cây trong vườn. - Af ki amar elokim lo tochlu mikol etz hagan”.
Đừng vội khen con rắn ngoan hiền nói lên lời nhận định.
Cái ma mãnh đầu tiên là nó tráo trở lệnh truyền của Thiên Chúa.
Thiên Chúa chỉ nói “Hết mọi trái cây trong vườn, người cứ ăn.” (câu 2,16)
Trong miệng con rắn, câu này biến thành: “Vậy ra Thiên Chúa cấm ăn hết mọi trái cây trong vườn...” (câu 3,1)
Láo quá đi chứ. Thiên Chúa đâu có cấm đoán.
Thậm chí Ngài còn nhấn mạnh “ngươi cứ ăn”, và dùng điệp ngữ ’âkol to’kêl để ra lệnh: “Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn”.
Toàn bộ tinh thần câu văn (ít ra cho đến chỗ này) đều là tích cực, và tốt đẹp.
Vậy mà con rắn vẽ ra một Thiên Chúa như một người khắc nghiệt chuyên cấm đoán: “Vậy ra Thiên Chúa cấm ăn hết mọi trái cây trong vườn...”
Thiên Chúa có cấm, nhưng chỉ cấm ăn một loại trái: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái cây...thì ngươi không được ăn...”
Nghĩa là “được ăn hết mọi trái, trừ một”.
Con rắn đi từ một tương đương toán học và luận lý: “Được ăn hết mọi trái, trừ một trái” cũng tương đương với “không được ăn hết mọi trái” để chuyển sang “cấm ăn hết mọi trái.”
“All but one” có nghĩa là “not all”.
Chuyện ăn thì không bị cấm. Chỉ giới hạn về số lượng trái được ăn.
Con ranh ma kia lý luận: “Vì không được ăn hết mọi trái” nên có nghĩa là “Chúa cấm ăn mọi trái cây.”
Đó là một nguỵ biện, chuyển cái negation từ predicat sang sujet.
Thiên Chúa rộng rãi ban ân huệ: “Hết mọi trái cây, ngươi cứ ăn, trừ một trái.” Vậy mà con rắn bi quan, chỉ nhìn thấy chấm đen trên miếng lụa trắng tinh, mà nói “Vậy ra cả miếng vải đều không trắng - Vậy ra Thiên Chúa cấm ăn hết mọi trái cây”.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (8)
Cái ranh ma thứ hai là nó cố ý ngừng, không nói hết điều mình muốn nói mà để bà Evà – và chúng ta – tỏ ra vẻ ta đây thông minh mà hiểu tiếp mà đặt thành nghi vấn: “Vậy ra Thiên Chúa cấm ăn hết mọi trái cây trong vườn... Thì sao nào? So what? Alors quoi?”
Người phụ nữ không trả lời con rắn, vì con rắn không hỏi. Nó chỉ bâng quơ nhận định. Nàng chỉ góp lời với con rắn.
Không những nàng góp lời, mà chừng như nàng muốn “chỉnh” lại lời con rắn nói. Chỉnh lại cho đúng.
Nàng nói: "Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn.(3) Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: "Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết."
Nàng điều chỉnh lại cái nhận định của con rắn, bằng cách lập lại mệnh lệnh.
Thử so sánh câu lệnh truyền của Thiên Chúa đã từng nói và câu lập lại của nàng, chúng ta thấy:
TC: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn
Eva: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn.
TC “nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác,
Eva “Còn trái trên cây ở giữa vườn,
TC : thì ngươi không được ăn,
Eva: Thiên Chúa đã bảo: "Các ngươi không được ăn,
TC ....
Eva: (thêm) không được động tới
TC: “vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết."
Eva: “kẻo phải chết.”
Chúng ta thấy gì?
a-
Ngay câu đầu. “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn Thiên Chúa nói rất tích cực, rất tình cảm. Không những Ngài cho ăn "hết mọi trái" mà giọng nói còn mang vẻ khuyến khích con người ăn nữa: "ngươi cứ ăn".
Qua miệng người đàn bà, câu nói trở thành miễn cưỡng:
“Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn.
Nàng không nhấn mạnh đến số lượng. Nàng bỏ mất "hết mọi".
Nàng không thấy sự hăng hái khuyến khích của Thiên Chúa.
Nàng chỉ thấy tình trạng "xin-cho" :"chúng tôi được ăn.
b-
Khi nhắc lại việc mình được “ăn hết mọi trái” thì nàng không nhắc đến Thiên Chúa. Nàng chỉ nói: “Trái các cây trong vườn thì chúng tôi được ăn”
Nhưng khi nhắc lại việc cấm ăn một trái, thì nàng lại kể thêm tên Thiên Chúa vào, “Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: "Các ngươi không được ăn”.
Nàng đã biểu lộ thái độ của nàng. Cho ăn hết mọi trái thì không nhắc đến tên ân nhân để tỏ lòng biết ơn. Khi cấm ăn một trái thì nêu tên ra, chừng như để đổ cho Thiên Chúa là kẻ cấm đoán!
Ta thấy được sự bực dọc, hậm hực được dấu vụng về qua cái bĩu môi của nàng.
c-
Người phụ nữ thêm một câu, “không được động tới”. Chừng như hờn dỗi mà nói thêm vào.
d-
Nàng đã sửa đổi câu cuối. Từ một câu khẳng định – affirmative: “chắc chắn - ki - ngươi sẽ phải chết,” nàng chuyển thành một câu can ngăn: “kẻo phải chết.- pén-temutún”.
Cái chết như là một cái gì đáng kinh hoàng, cần phải tránh, như trong Kinh Cầu chúng ta thường đọc: “Kẻo phải thần khí mất mùa giặc dã ... Kẻo phải nạn tai đất động ... Kẻo phải chết khốn nạn đời đời ...”
Nhưng cái lập lờ mấu chốt nằm ở chữ này, chữ “kẻo phải- pén-temutún”.
Khi chúng ta đọc lời kinh cầu “Kẻo phải thần khí mất mùa giặc dã”, nghĩa là, trong tương lai bấp bênh có thể có chiến tranh và có thể không, có thể có nạn dịch và có thể không, fifty-fifty, thì ta “xin đừng có chiến tranh, đừng có nạn dịch.” Ta xin cho được cái nữa không có những tai hoạ ấy.
Như thế từ chân lý Thiên Chúa khẳng định “chắc chắn ngươi sẽ phải chết”, người phụ nữ tỏ dấu nghi hoặc khi nói “kẻo phải chết”. Cái chết hậu quả, với nàng, không còn chắc chắn - certain mà chỉ là “hầu chắc – more or less likely – plus ou moins probable.”
Nàng đã cho con rắn một cơ hội bằng vàng. Hay ta có thể nói con rắn đi guốc trong bụng nàng.
Cái bẫy mà con rắn đoán nàng sẽ rơi vào, bây giờ mới trở thành hiện thực.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (9)
....
Cái bẫy mà con rắn đoán nàng sẽ rơi vào, bây giờ mới trở thành hiện thực.
Con rắn khẳng định ngay: “Chẳng chết chóc gì đâu !”.
Từ đầu cho đến lúc này, mà ngay cả lúc này, nó chưa hề nói ngược lại một điều gì với người đàn bà. Nó không chỉ luôn đồng ý mà, liến láu hơn, nó còn nói theo ý người đàn bà.
Nó khẳng định mạnh mẽ thêm cho thành chắc chắc điều mà nàng đang nghi hoặc: ăn trái bị cấm mà không chết: “Chẳng chết chóc gì đâu!”.
Bà đã từng “momg mỏi” là thế mà, khi nói “kẻo phải chết...”
Bây giờ con rắn dùng lại từ “ki” để nói tiếp: “ Nhưng -ki- Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác."
Lẽ ra phải dịch là “Chính vì Thiên Chúa biết ...”
Nó chuyển sự chú ý sang môt chi tiết mới. Nói giơ ngón tay chỉ vào Thiên Chúa: “Chính vì Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó ...”
Nó ngầm mách cho bà biết rằng, Thiên Chúa biết điều mà bà chưa biết! “Tuy bà giống hình ảnh Ngài thật đấy nhưng bà còn thua Ngài, Ngài biết hơn bà...”
Ghê gớm và quỷ quyệt hơn, nó quy trách Thiên Chúa dấu diếm con người một điều gì, và ganh tỵ với con người. Nó ngầm ý: Thiên Chúa sợ con người “nên như những vị thần biết điều thiện điều ác”.
Nó không huỵch toẹt nói điều này ra. Nó chỉ ngầm ý. Rồi chờ con người sử dụng suy đoán để nghĩ ra.
Cái kinh khủng hơn nằm ở chỗ, con rắn chỉ nói lên sự thật khi nói câu này: “Ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác." (câu 5).
Vì sau này, sau khi con người ăn trái cây, chính Thiên Chúa cũng khẳng định y như thế: ‘Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác.” (câu 22).
Bên trên, bên bề mặt của tảng băng sơn, nó chỉ nói toàn những điều thật.
Nhưng nó lại không nói hết những điều thật. Một trong những điều thật nó không cho con người biết là “mắt sẽ mở ra”.
Khi cấm ăn trái cây, Thiên Chúa không nói ăn vào thì mắt sẽ mở ra, mà chỉ cho biết ăn vào thì sẽ chết! (câu 2,17)
Khi lập lại lệnh cấm, bà cũng chỉ nói "Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết." Bà không hề nói “ăn vào mắt sẽ mở ra” (câu 3,3).
Vậy thì hẳn con người không hề biết chuyện này!
Chi tiết “mắt sẽ mở ra” là do chính miệng con rắn đề cập đến đầu tiên ở câu 5: “Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác."
Lần đầu tiên con rắn bắt đầu nói thêm.
Nó nói thêm để gây tò mò? Hay để thông tri thêm tin tức về cái hậu quả khi ăn trái cây bị cấm ăn?
Con rắn tốt bụng đến thế sao? Chả nhẽ nó muốn cho con người biết thêm những hệ quả trầm trọng khi ăn trái cây bị cấm, để con người ngừng tay hái, tránh cái “cây quỷ ám” như tránh tà?
Không! Nó vẫn chỉ dùng một chiến thuật.
Nó không cho biết mắt sẽ mở ra mà thấy được thêm những gì?
Thêm một số những kiến thức mà trước kia chưa có? Biết thêm được điều tốt điều xấu? Những điều này con người biết rồi mà, như chúng ta nói trên đây!
Mắt sẽ mở ra để biết hổ ngươi? À, mà có khi đấy!
Ngay trước khi con rắn xuất hiện, nghĩa là trước cơn cám dỗ, thuật trình nhấn mạnh: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.” (câu 25).
Hay là mắt sẽ mở ra để biết/ý thức mình trần truồng?
Khi sa ngã, chúng ta đọc thấy, “Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng - Alors leurs yeux à tous deux s'ouvrirent et ils connurent qu'ils étaient nus - Then the eyes of both of them were opened, and they realized that they were naked - Et aperti sunt oculi amborum. Cumque cognovissent esse se nudos,”
Nhưng hai mệnh đề trên độc lập, nối nhau bằng một liên tự “và” hầu chắc là để kể lại hai chuyện độc lập. Câu văn không nói: “Bấy giờ mắt hai người mở ra để/nên/mà thấy mình trần truồng” Bản Vulgata còn cẩn thận chấm một chấm giữa hai câu.
Chao ôi, con người có thân thể vốn trần truồng, cam tâm lỗi điều lệnh cấm, chỉ để biết rằng mình trần truồng, thì quả là một cú lừa bịp rẻ tiền.
Bằng vào những vụng về, lúng túng của hai ông bà như lấy lá cây làm khố che, đi trốn, sợ hãi... thì dường như mắt mở ra chỉ để thấy mình trần truồng thật.
Mà cho dù việc mắt mở ra không chắc để cho thấy mình trần truồng, nhưng ít ra việc nhận thức mình trần truồng là hệ quả đầu tiên và tức khắc của việc ăn trái cây bị cấm.
Có điều Thiên Chúa lại hỏi: “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng?” Ngài không hỏi “Chuyện gì”, hay “Cái gì”, hay “Điều gì” mà Ngài hỏi “Ai...?”
Ngài hỏi ai là tên bày đầu.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (10)
8-
Ai là tên bày đầu?
Từ khoá thứ nhất chính là từ Do thái chỉ con rắn.
Tiếng Do thái gọi “con rắn” là “naw- khawsh”. Từ này lại mang nghĩa “kẻ sáng chói, kẻ mang vẻ rực rỡ”.
Vì thế, trong nguyên bản Do thái câu đầu chương ba ta có thể đọc như sau:
(1) Naw-khawsh là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra.
Ta có thể dịch thành:
(1) Kẻ sáng chói là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra.
Từ đầu bài tới giờ, chúng ta vẫn giữ nguyên cách dịch “naw-khawsh" là “con rắn”. Bây giờ chúng ta thử chuyển sang dùng lối dịch này để xem có thể trả lời cho câu hỏi của Thiên Chúa được không?
"naw-khawsh" lại cùng gốc với từ "nay-khash có nghĩa "cám dỗ, mê hoặc".
Nhân vật này là ai mà đồng hoá hay đội lốt con rắn để “nay- khash, trù ẻo, mê hoặc” người phụ nữ?
Chúng ta không có thêm chi tiết nào để hiểu thêm lối chơi chữ thứ nhất này.
Từ khóa thứ hai, biết đâu, có thể giúp ta trả lời cho câu hỏi trên là từ “arom”.
Tiếng Do thái “arom” vừa có nghĩa “trần truồng”, vừa có nghĩa “xảo quyệt”.
Thế mới là thú vị.
Bây giờ ta thử thay thế từ này vào chỗ của nó trong mạch văn, chúng ta thấy gì?
(25) Con người và vợ mình, cả hai đều arom mà không xấu hổ trước mặt nhau.(1) Rắn là loài arom nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra."
Hai ông bà “arom”, mà con rắn ...cũng “arom”.
Từ "arom" đầu tiên mang nghĩa trần truồng, vì có cảm giác xấu hổ đi sau giúp ta hiểu theo nghĩa đó. Vậy nếu ta cũng dịch và hiểu từ “arom” sau là trần truồng thì câu văn sẽ là:
(25) Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.(1) Rắn là loài trần truồng nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra.
Trình thuật bằng tiếng Do thái đã dùng đi dùng lại từ arom theo nghĩa trần truồng. Đến khi miêu tả con rắn thì trình thuật chơi chữ, bằng cách áp dụng cả hai nghĩa arom vào cho con rắn.
Một lối chơi chữ tài tình và đầy hàm ngụ.
Bản văn bây giờ thành: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.(1) Rắn là loài trần truồng/xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng”.
Một kỹ thuật văn chương hay một lối chơi chữ đầy biểu tượng?
Mà nghĩ cho cùng, hai chữ “trần truồng - xảo quyệt” lại có liên hệ với nhau. Hai từ ấy đối chọi nhau.
Người trần truồng, không quần áo che, thì không giấu diếm được gì. Mình có ra sao, người khác thấy ngay được vậy.
Còn kẻ xảo quyệt thì mưu mô. Ăn, nói, làm bất cứ gì thì đều núp/che sau/dưới một cái vỏ bọc ngoài gọi là chiêu bài! Người khác không thấy được con người thật của kẻ xảo quyệt.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (11)
9-
“Anh ở đâu ...ớ, ơ, ờ,... Anh ở đâu?”
(6) Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn."
Đây mới là cao điểm của bi kịch. Trước giờ chỉ là lời qua tiếng lại, đối đáp, hỏi thưa, đưa đẩy và bán... nước bọt!
Trong câu này chúng ta chỉ gặp toàn là những động từ chỉ hành động: “thấy”, “ăn”, “trông”, “đẹp mắt”, “đáng quý”, “làm cho được”, “hái”, “ăn”, “đưa cho” , “đang ở đó”, “ăn”.
Ngót nghét mười động từ, mà ba lần là động từ “ăn”.
Nguyên tội xảy ra, nhanh, gọn, và trong... im lặng. Eva không hề nói một tiếng nào, khi bứt trái, khi ăn trái, khi đưa cho Ađam ăn. Ađam cầm lấy trái, ăn, cũng không hề nói tiếng nào !
Toàn bộ lịch sử thân phận con người bị thay đổi trầm trọng được Kinh Thánh miêu tả chỉ trong hai câu ngắn ngủi.
Diễn tiến bắt đầu từ nơi người đàn bà, từ trong nội tâm bà.
Trước hết “bà thấy trái cây đó ăn thì ngon”. Có chủ quan không kia chứ?
Vì khi Thiên Chúa cho mọc mọi cây trong vườn, Ngài cho chúng ta thấy rằng hết mọi trái cây trong vườn đều “trông thì đẹp ăn thì ngon” (câu 19) chứ đâu riêng gì trái cây cấm mới “trông đẹp ăn ngon”? Kinh thánh không hề miêu tả trái cấm nom đẹp hơn hay khi ăn thì ngon hơn những trái khác!
Đúng là của đáng tội. Thật là chả bõ công!
“Và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn.” May ra điều này chính là động lực khiến bà Eva ăn trái.
Các bản dịch không thông nhất khi miêu tả cái động lực này. Các bản Vulgata, Pháp và Anh đều dùng chữ “desirabile – desirable” “đáng ao ước” sát nghĩa hơn là “đáng quý” và “desiderabile esset lignum ad intellegendum, để hiểu biết” (bản Vulgata), “désirable pour acquérir le discernement = để biết suy xét” (Bible de Jerusalem), “desirable for gaining wisdom = để được khôn ngoan” ( Bản New American Bible)
Vậy khi bà nhìn trái cây mà thấy thế, thì mục đích bà ăn trái để được gì? Để “mắt mở ra”, như con rắn hứa?
Hay để “nên như các vị thần”, nghĩa là trở thành thần linh, như con rắn đã nói (câu 5) và sau được chính Thiên Chúa xác nhận (câu 22)?
Hoặc chỉ để “biết điều Thiện điều Ác”, như tên của cây cho biết?
Khi thuật trình ghi lại cái mục tiêu khi bà ăn trái cấm, thì không phải vì những mục tiêu ấy.
Quả thật bà Eva... cận thị mà! Con rắn nêu cho bà thấy đủ thứ hiệu quả cao xa, vậy mà khi bà định hái trái ăn, bà muốn ăn nó chỉ vì nó “làm cho mình được tinh khôn.”
Mà điều đó hoàn toàn do bà nghĩ ra thế. Không hề có ai nói cho bà biết ăn trái đó sẽ “làm cho bà tinh khôn”!
Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn.
Thêm một chi tiết thú vị chúng ta cần dừng lại:
Sau khi tung ra câu cuối cùng: “mắt sẽ mở ra”, con rắn biến mất, theo nghĩa không còn được nhắc đến cho mãi đến khi bị đem ra nghe tuyên án.
Con rắn đi mất rồi. Người đàn ông mới được nhắc đến.
Trời ơi ông ơi, nãy giờ ông đi đâu? Ông có ở đó để mà chứng kiến bà nhà nói chuyện với “kẻ sáng láng” không?
Hẳn là ông có ở bên bà. Vì trình thuật cho biết bà chỉ cần hái rồi đưa cho ông. Bản văn nói: “đưa cho cả chồng đang ở đó với mình”.
“Ông đang ở đó”? Ông ở đó mà “làm vì” à? Mà sao ông không lên tiếng, góp ý, can ngăn?
Người đàn ông ở bên vợ, hoàn toàn im lặng, đưa gì ăn nấy, trời ạ!
Chẳng lẽ căn bệnh trầm kha “sợ v...” đã bắt đầu từ thời nguyên thuỷ, từ trong vườn Địa đàng?
Nói “lạc đề” một chút cho vui cửa vui nhà, chứ, sự kiện người đàn ông vẫn đang ở đó, bên bà, chứng kiến mọi diễn tiến từ đầu đến cuối, mà không hề được trình thuật nhắc tới, và chính ông cũng không lên tiếng, khiến cho chúng ta không thể không thắc mắc.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Ôn lại thứ tự các biến cố trong thuật trình, chúng ta thấy có thêm điều bất ổn:
Sau khi dựng nên con người (câu 7), Thiên Chúa dựng nên vườn Eden (câu 8). Ngài cho mọc hai cây đặt biệt, rồi đặt con người vào vườn,“để cày cấy và canh giữ đất đai.” (câu 15) Sau đó ra lệnh cấm ăn trái !
Dường như tới lúc này Thiên Chúa mới chợt nghĩ ra rằng, có một điều đó chưa ổn. Còn thiếu một điều quan trọng! “Con người ở một mình thì không tốt.”
Lần đầu tiên chúng ta “nghe” Thiên Chúa suy nghĩ “lớn tiếng” và nhận ra một điều “không tốt” trong công trình sáng tạo, trong khi dựng nên vũ trụ vạn vật, cuối mỗi ngày, Thiên Chúa đều hài lòng với chính mình: “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.”
Người đàn bà quan trọng và đặc biệt đến thế sao?
Khi thấy ra thiếu sót ấy, và chỉ lúc bấy giờ, Thiên Chúa mới lui cui “lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời,” cố ý cho con người tìm ra “người bạn đường và bạn đời” trong đám thú vật ấy, gồm cả “bestias agri - dã thú đồng hoang” và chim trời.
Tội nghiệp Ngài, sao Ngài thương con người côi cút thế? Cứ nghĩ tới cảnh Ngài cặm cụi nặn từng con thú bằng đất, để mong con người kiếm được "người trợ tá tương xứng", thì mới hiểu rõ sự quan trọng của bí tích Hôn Nhân sau này!
Lần đầu tiên và duy nhất trong Sáng thế ký dùng chữ “dã thú”. Tiếng Do thái là “chayat hasadeh - dã thú đồng hoang” Cùng một từ được dùng trong câu: “Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi chayat hasadeh - dã thú đồng hoang - bestias agri”.
Vừa đặt tên cho các loài thú, con người tham dự vào công trình sáng tạo, vừa nhân đó mong tìm “người trợ tá” trong số các... “dã thú đồng hoang và chim trời”!
Hẳn là Thiên Chúa quá biết con người sẽ không tìm được người trợ tá tương xứng. Biết thế nhưng trình thuật theo truyền thống J (Giavê) này vẫn nhẫn nại kể ra để trình bày cho chúng ta thấy vai trò quan trọng của người phụ nữ.
Mà người phụ nữ quan trọng thiệt.
Như nhà cháu đã từng nêu rõ, khi dựng nên người đàn ông, Thiên Chúa lấy bùn đất dùng tay “nặn” thành. "Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người” (câu 7).
Khi dựng nên thú vật, Thiên Chúa cũng lấy bùn đất dùng tay “nặn” thành. “Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời”.
Vậy mà khi tạo dựng người phụ nữ, Ngài nhọc công hơn, Ngài phải cho người đàn ông ngủ mê mệt, “rút một cái xương sườn” rồi “xây dựng -build -aedificavit- construit ” nên người đàn bà.
Khi tạo dựng con người và muông thú, Thiên Chúa là thợ thủ công: “dùng tay nặn.” Khi tạo dựng người phụ nữ, Thiên Chúa là kiến trúc sư: “Ngài kiến tạo người đàn bà”.
Chưa hết, Ngài còn “dẫn người đàn bà đến với con người”. Một cách giới thiệu quà tặng trịnh trọng và cao quý.
Thảo nào mà con người chẳng sung sướng reo lên:
"Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!"
Như thế tới lúc này, con người có nam có nữ, có đàn ông đàn bà, người nam đã có “người trợ lực tương xứng”, thì phải chăng cuộc tạo dựng mới thật sự là trọn phần thập toàn?
Vậy mà chưa! Chúng ta còn phải lưu ý tới chi tiết này cho công bình.
Bởi vì cho đến lúc này, người phụ nữ được miêu tả với đầy vẻ quan trọng. Đàn ông và muông thú đều “cùng một duộc” với nhau, vì đều cùng chung một chất liệu tạo thành như nhau: “bùn đất.”
Chỉ có người đàn bà được làm ra từ “thịt xương con người.”
Nhưng các bà khoan vội “lên mặt”. Thuật trình Sáng thế ký không hề mang vẻ khinh chê phụ nữ cũng chẳng đề cao phụ nữ quá đáng như chúng ta tưởng đâu.
Sau khi người đàn bà được Thiên Chúa dẫn tới cho người đàn ông thì người đàn ông đặt tên cho người đàn bà. Như thế này: “Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra."
Có khác gì với việc này “ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế. (20) Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú” ?
Tuy có được tạo dựng cách đặc biệt thì người phụ nữ vẫn được người đàn ông “đặt tên” cho, như muôn loài thú khác!
Tới đây thì nhà cháu chợt nghĩ tới điều kinh khủng này.
Khi con người đặt tên cho muông thú, và tìm người trợ lực trong số các muông thú, thì đã có con rắn trong số đó. Lúc đó chưa có người đàn bà. Mà con rắn - hay là kẻ sáng láng – lại biết đi đứng, biết ăn nói giảo hoạt. Nhất là nó lại “còn hơn cả thông minh”. Nó xảo quyệt, tinh ranh nhất trong muông thú hiện có.
Thế sao con người lại không chọn nó làm người trợ lực?
Chúng ta nên nhớ trước giờ chúng ta chưa hề thấy trình thuật nói đến động cơ nào mà con rắn- kẻ sáng láng cám dỗ con người!
Phải chăng con rắn ghen tức vì điều này, cho nên nó mới cám dỗ con người, “cho bõ ghét”?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (12)
10-
Hay nó trả thù, vì con người đã không thèm đếm xỉa gì tới “thế giới các loài vật” như chúng: “con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng”, nên nó nhắm vào tính cao ngạo của con người, xúi con người tranh vào thế giới các thần linh: “nên như các vị thần”?
Nghĩa là nó muốn nói: “Được rồi, ông tuởng mình “ngon” lắm hở? Ông tưởng mình “được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa” là ngon sao? Rồi ông vênh mặt, chỉ nhìn chúng tôi chưa bằng nữa con mắt! Hãy đợi đấy! Tôi sẽ nhắc cho ông nhớ rằng ông chỉ là ... là... là bùn đất như chúng tôi mà thôi. Tôi sẽ làm cho ông arom. Mà chưa chắc ông arom bằng tôi!”
Nó muốn “mở con mắt linh hồn và xác ra” cho con người thấy rằng họ cũng chỉ là một thành phần trong thế giới động vật!
Đấy chỉ là những giả thiết. Cũng như những miếng bánh vẽ con rắn đã từng khuyến dụ người đàn bà: “nên như các vị thần”.
Sự thật trần trụi sau khi ăn trái cấm là:
(7) Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.
(8 ) Nghe thấy tiếng ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa.
Mắt mở ra không biết điều gì mới, điều gì hơn trước, nhưng chỉ biết điều trước giờ vẫn đã có: “mình trần truồng”.
Trước kia: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.”
Bây giờ : “(7) Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.”
Đúng ra, cứ theo sát diễn tiến của trình thuật chúng ta thấy, NGAY SAU KHI ăn, họ không (chưa) chết. Ngay sau khi bà ăn, hoàn toàn chưa hề có chút thay đổi nào xảy ra! Bà chưa “thấy”, chưa nhận ra mình trần truồng.
Chỉ sau khi ông ăn rồi, “mắt hai người mở ra”, để “thấy” hay “biết thêm” là "họ thấy mình trần truồng”.
Điều thú vị là ngay lúc này, bản văn không dùng chữ “xấu hổ” hay “hổ ngươi.”
Mà nói cho ngay, đọc tiếp những câu sau, chúng ta cũng không thấy bản văn dùng chữ: “xấu hổ”.
Bản văn chỉ miêu tả cảm giác của hai người là: “thấy mình trần truồng”, “lấy lá che thân”, “trốn vào giữa cây cối”: Chúng ta nên đọc lại đoạn văn này:
(8) Nghe thấy tiếng ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa.
(9) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu?"
(10) Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn."
(11) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?"
Họ miêu tả tình hình trong nội tâm và cảm giác của họ khi trả lời câu thắc mắc của Thiên Chúa.
"Thiên Chúa hỏi: "Ngươi ở đâu?"
Họ trả lời: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn."
Không hề có chữ “xấu hổ”. Nhất là không hề có chữ “tội” hay “phạm tội” ở đây.
Họ chỉ có thêm cảm giác “sợ hãi Thiên Chúa”. Sợ hãi vì trần truồng. Và họ biết thêm việc... đi trốn.
Trước kia họ vẫn “trần truồng”, vẫn tồng ngồng như thế mà hằng ngày đi dạo và chuyện trò cùng Thiên Chúa trong cơn gió nhẹ. Và đó là điều rất bình thường, tự nhiên và tốt đẹp.
Nghĩa là: lẽ ra phải như thế.
Vậy chúng ta có thể rụt rè mà kết luận rằng, phải chăng tình trạng “trần truồng mà không hổ ngươi”, việc chuyện trò thân mật diện đối diện với Thiên Chúa, và cả sự kiện phải phân vân khi chọn lựa giữa điều đúng điều sai, điều tốt điều xấu, chính là tình trạng tốt đẹp ban đầu trong vườn Eden?
Trong vườn Eden, không chỉ có hoàn toàn điều tốt, mà bao gồm cả những điều “lẽ ra cùng phải tốt” như cuộc thử thách mà ta đang bàn, nghĩa là có cả tự do, suy xét, biện biệt, khôn ngoan, để con người tuỳ ý lựa chọn trong tinh thần trách nhiệm, điều tốt cũng như điều xấu! Chúng ta đừng quên có con rắn nữa.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (13)
11 -
Trình thuật miêu tả Thiên Chúa có vẻ ngạc nhiên, khi hôm ấy, bỗng dưng không gặp con người ở nơi và vào lúc thường ngày vẫn gặp nhau:
"Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu?"
Chẳng lẽ Thiên Chúa không biết con người ở đâu trong vườn?
Con người trốn không kỹ và không xa lắm, vì họ còn “nghe tiếng Chúa”:
(10) Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn."
Như thế chúng ta lại có thể lẩn thẩn hỏi tiếp:
Đương lúc xảy ra cơn cám dỗ, lúc bà giơ tay hái trái, ăn trái, và hái đưa cho ông, Thiên Chúa ở đâu?
Thiên Chúa mà có mặt lúc đó, hẳn khó mà con người đành lòng bất tuân. Và con rắn cũng khó mà nói ngang nói ngược!
Dường như Ngài lánh mặt, để con người được hoàn toàn tự do trong hành xử, trong quyết định của mình.
Mà cả ngày nay cũng thế, nếu lúc nào chúng ta cũng thấy Thiên Chúa kè kè bên mình, chúng ta hẳn sẽ bực tức: “Không còn tự do nữa!”
Sao Ngài không chặn tay con người lại nhỉ? Hay là chỉ cần “đằng hắng” một tiếng?
Ồ, Thiên Chúa là Cha nhân lành, chứ không phải là giám thị.
Khi Ngài là Cha, và rất “sư phạm trong nhẫn nại” chờ đợi con mình trưởng thành trong tự do, không can thiệp vào nội bộ đời sống của con, không lén kiểm duyệt đọc thư của con, thì vườn Địa đàng mới là gia đình, mới là Khu Vườn Hạnh Phúc.
Khi Ngài là giám thị, thì Eden trở thành nhà tù, và đứa con sẽ không bao giờ trưởng thành được.
Ngài lánh mặt nhưng Thiên Chúa không quên hay bỏ rơi con người. Ngài vẫn “gọi con người và hỏi: Ngươi ở đâu?”
Chúng ta thử đọc lại hai câu văn:
”Vocavitque Dominus Deus Adam et dixit ei: “Ubi es?”. (Vulgata)
“Yahvé Dieu appela l'homme : Où es-tu ? dit-il.”: (BJ)
Bản Vulgata cho ta thấy một chi tiết thú vị rõ hơn bản Bible de Jerusalem :
Khi hỏi “Ngươi ở đâu” bản Vulgata cho thấy Thiên Chúa gọi con người “vocavit Dominus Deus Adam” rồi mới hỏi con người: “et dixit ei “Ubi es ?”
Nghĩa là sau khi tìm gặp được lại con người, định vị được con người đang núp/ở đâu rồi, Thiên Chúa mới hỏi “Ubi es ?”: Bản thân ngươi đang ở đâu vậy? Thân xác ngươi Ta gặp đây, nhưng chính ngươi, căn tính của ngươi, cái ipséité của ngươi, thì ở đâu rồi?
Quả là tuyệt diệu chứ, phải không?
12 -
Trình thuật không nói Thiên Chúa giận lên, to tiếng hay bực bội, mà chỉ đều đều kể tiếp rằng:
(11) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?"
Ngài đã biết chuyện, nhưng vẫn hỏi để xem con người có đủ can đảm nói ra điều mình đã làm. Ngài muốn nghe chính miệng con người tự thú: “Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?"
Ngài hỏi hai câu cùng một lúc.
1-"Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng?”
2- “Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?”
Khi hỏi như thế là Ngài phân biệt hai sự việc: “biết trần truồng” và “ăn trái cây mà Ngài đã cấm.”
Điều thú vị là Ngài vẫn không nói tên của cây ấy ra! Ngài chỉ nói tên đó ra một lần duy nhất khi ra lệnh cấm. Còn từ đó về sau, cả con rắn, cả người đàn bà, và bây giờ chính Thiên Chúa, chẳng ai nhắc còn đến tên cây ấy!
Trong những câu đối thoại kế tiếp, con người và vợ mình không hề trả lời cho câu hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng?”. Cho đến nay vẫn không có ai trả lời câu này!
Con người chỉ trả lời câu hỏi thứ hai của Thiên Chúa: “Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?”.
Trong câu hỏi, Ngài nhắc lại lệnh cấm. Vì quả thực Ngài chỉ nói lệnh cấm cho người đàn ông, khi người đàn bà chưa được tạo dựng.
Đây là câu hỏi thuộc loại “Có phải... không ?” nghĩa là câu hỏi chỉ cần trả lời “có” hay “không”, “yes” or “no”, “oui” ou “non”.
Vậy mà con người tráo trở, ghép hai câu thành một “Ai đã cho ngươi ... ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn?” mà trả lời như sau: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn."
Con người bắt đầu biết tráo trở từ khi nào vậy nhỉ? Đã lây nhiễm cái “arom - xảo quyệt” của con rắn rồi sao? Chúa hỏi một đàng, con người trả lời một nẻo!
Khi Thiên Chúa dẫn người đàn bà đến, để ban cho làm “người trợ giúp tương xứng”, con người hân hoan reo vui: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” Nhưng quên mất... cám ơn Thiên Chúa.
Không hề nói lời cám ơn, rồi ngậm tăm im lặng, ăn trái. Cho đến khi hỏi tra hỏi, lại liến láu trả lời quàng xiêng!
Tệ hơn thế nữa, trầm trọng hơn thế nữa là khác.
Khi trả lời: “Người đàn bà Ngài cho ở với con” con người muốn hàm ngụ: “Tại Chúa cả đấy nhé! Ai biểu Ngài đem bà ấy cho con làm chi!” Đổ lỗi cho Thiên Chúa.
Nói tiếp “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy”: Đổ lỗi cho người đàn bà!
“nên con ăn” Cuối câu mới trả lời thẳng vào vấn đề. Vậy là hèn. Ít ra là chưa trưởng thành!
Quả là con rắn thành công khi cho con người thấy rằng con người cũng chỉ là bùn đất hèn mạt.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (14)
...
Thiên Chúa tiếp tục, quay sang người đàn bà:
(13) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế? "
Ngài hỏi người đàn ông hai điều. Ngài chỉ hỏi người đàn bà một điều: “Ngươi đã làm gì thế?”.
Chúa không hỏi “Ngươi có ăn không ?” Mà chỉ hỏi “Ngươi đã làm gì ?”.
Bà cũng liến láu quàng xiên, không trả lời vào câu Thiên Chúa đã hỏi, mà trả lời câu khác.
Bà lấp liếm vì không kể hết những điều bà đã làm, như tranh luận với con rắn chẳng hạn, hay không kể hết ra 11 động từ miêu tả những hành động bà đã làm trên kia mà chỉ “thống kê” có mỗi một việc: “ăn”.
Mà lại không cho biết ăn trái cây bị cấm!
Cả việc “ăn”, cũng là do con rắn “lừa” cho ăn, chứ không tự ý chủ xướng.
"Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn."
Quả là bà đã nói không thật. Con rắn có lừa bà là lừa chuyện khác, chứ không phải nó lừa để bà ăn trái.
Con rắn đã nói như sau: “Chẳng chết chóc gì đâu!” Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác."
Như chúng ta đã ghi nhận trước kia, tất cả những điều con rắn nói, CHO TỚI LÚC ĐÓ, tất cả đều đúng:
1- “Chẳng chết chóc gì đâu!” Hai ông bà vẫn còn sống nhăn!
2- “Mắt hai ông bà sẽ mở ra”. Mắt hai ông bà mở ra thiệt!
3- “ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” Thiên Chúa xác định điều này: "ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác.” (câu 22)
Trong câu miêu tả:
"Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn."
không hề nhắc đến con rắn, hay có một chi tiết nào cho chúng ta thấy vì con rắn xúi, hay vì con rắn lừa bà... Chính bà “thấy nó đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn” nên mới hái trái ăn.
Chuyện rắn lừa bà là một chuyện. Còn chuyện chính bà thấy, muốn, và tự ý hái trái ăn thì bà không chịu nhận.
Chính bà nói dối Thiên Chúa thì có!
Người đàn ông được hỏi hai câu, người đàn bà được hỏi một câu. Đến khi tra vấn con rắn, Thiên Chúa không hỏi câu nào! Con rắn cũng không nói lại lời nào, dù trước kia nó biết nói!
(14) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán với con rắn:
"Mi đã làm điều đó,"
“Mi đã làm điều đó” Nó không còn ai để đổ lỗi. Lại thêm các ngón tay đều chỉ về nó.
Thật ra nó chẳng thèm đổ lỗi. Nó trân tráo trong sự lừa dối của nó.
Dường như sau nói câu cuối với người đàn bà, nó hài lòng với sự xảo quyệt của nó. Nó hài lòng vì trả thù con người chẳng chịu chấp nhận nó làm người trợ lực tương xứng? Hay nó trân tráo vì cả dám đương cự nói ngược lại điều Thiên Chúa đã nói: “Chẳng chết chóc gì đâu!” ? Nào ai biết mục đích nó nó đạt là gì.
Dường như bây giơ nó cam lòng chấp nhận hình phạt.
13-
“Nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi.”
Chính vì thế mà bản văn được các nhà chú giải thường gọi dưới tên “thể văn tầm nguyên luận”: Giải thích tình trạng hiện tại: Ngày nay con rắn không chân phải bò bằng bụng là vì ngày xưa nó đã bị án phạt từ trong vườn địa đàng.
Người phụ nữ bị phạt không lấy gì làm nặng lắm: Vì không chịu thêm một hình phạt nào. Chỉ là những sinh hoạt thường ngày theo phận nữ giới, nhưng từ nay có thêm mức đau đớn và khổ cực kèm theo mà thôi:
(16) Với người đàn bà, Chúa phán:
"Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén;
ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con.
Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi."
Chi tiết thú vị nhất trong lời tuyên phạt cho người đàn bà là bà phải chịu thêm một điều: “Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi."
Trước kia thì bà nói ông nghe. Bà hái trái đưa cho thì ông chỉ im lặng mà ăn. “Vâng lời mà không biện bác”, Hình như ông chơi hướng đạo làm “Sói con” nghe lời Akela.
Bây giờ thì “nó sẽ thống trị ngươi”. Cánh đàn ông có quyền hy vọng.
Với con người, câu tuyên phạt có vẻ dài hơn.
(17) Với con người, Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: "Ngươi đừng ăn nó",
nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi;
ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi,
mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra.
(18 ) Ðất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng.
(19) Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn,
cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra.
Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
Chúng ta thấy có gì đặc biệt trong lời tuyên phạt này?
1-Thiên Chúa không kể tội ông nghe lời con rắn. Nhưng chỉ kể tội “Vì ngươi đã nghe lời vợ !”
2- Ngài chỉ nhắc lại lời nghiêm cấm với ông, mà không đả động gì tới chuyện này khi tuyên phạt người đàn bà. Vì Ngài chỉ đích thân ra lệnh cấm cho ông thôi: “ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: "Ngươi đừng ăn nó",
3- Những cực nhọc kế tiếp chỉ là thêm vào những công tác mà con người vốn thường nhật phải làm. Trước kia có canh tác, trồng trọt, giữ vườn, nay vẫn cứ làm những công chuyện ấy. Có điều nhọc nhằn hơn mà thôi.
4- Đất đai bị hậu quả theo tội con người: “đất đai bị nguyền rủa vì ngươi;... (18 ) Ðất đai sẽ trổ sinh gai góc”.
5- Ngài nhấn mạnh hai lần phận người phải chết, không còn là trường sinh.
“cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra.
Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
Chúng ta cần phải lưu ý tới chi tiết này: Khi tạo dựng con người, hẳn con người không biết mình từ đâu ra. Sau đó, Thiên Chúa không hề nói cho con người biết con người được tạo dựng từ chất liệu gì. Lúc Thiên Chúa nặn nên muông thú, con người không có mặt tại “xưởng làm việc” của Thiên Chúa.
Lúc dựng nên người đàn bà, con người đang ngủ mê. Như thế, con người hoàn toàn không biết thân mình do từ chất liệu nào.
Mãi đến lúc này, sau khi sa ngã, Thiên Chúa cho con người biết. Ngài lập lại hai lần: “vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (15)
14-
Rồi bỗng dưng trình thuật dường như... lạc đề, khi ghi thêm một câu không ăn nhập gì với việc Thiên Chúa đang tuyên án phạt. Hay chính câu này kể lại một việc mà con người muốn làm để chấm dứt cho nhanh việc Thiên Chúa kêu án?
(20) Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.
Ơ kìa, con người đã đặt tên cho vợ rồi mà! Ở câu 23 chúng ta đã từng đọc thấy (23) Con người nói: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra."?
Không, lần đầu, khi Thiên Chúa mang món quà đến, con người gọi món quà “biết đi” ấy, là... “là đàn bà”, là “người - nữ -ishshah”. Còn con người, lúc bấy giờ, là “người – nam - ish”.
Lúc bấy giờ con người mới chỉ đặt tên “loại” cho đàn bà. Con người gọi đàn bà là “con người giống cái - a female man – a wo-man – “homme feminin”!
Còn ở câu 20 đây, sau khi sa ngã, con người mới đặt tên riêng cho “người - nữ -ishshah"” đó, và tên riêng ấy là Evà - Chavvah. Bộ gốc của Chavvah, là do từ chavah(חוה), gồm ba chữ cái “chet (ח)”, “vav (ו)”, và “hei (ה)”, có nghĩa là "thở". Hay có thể do từ chayah , có nghĩa là "sống".
Bộ gốc chavah Do thái cho thuật trình một cơ hội để “chơi chữ” ở đây: “Con người đặt tên cho vợ là Chavah, vì bà là mẹ của chavah- chúng sinh (“mọi loài có hơi thở- chavah- và có sự sống-chavah -”)”.
Sau khi sa ngã người phụ nữ mới được đặt tên riêng cho, nghĩa là mới có giấy khai sinh, và do người đàn ông đặt cho. “Con người giống cái” ấy bây giờ mang tên là “Nguyễn thị Evà”. Tên ấy do người đàn ông đặt cho.
Riêng người đàn ông, tận lúc này, vẫn chưa có tên riêng!
Bằng vào vị trí xem ra lạc lõng của câu 20 chúng ta lại thấy ra được một điều thú vị!
Nếu đặt song song các câu 2,23.25 (màu xanh) và 3,20.21 (màu đỏ) chúng ta thấy gì?
(23) Con người nói:”Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra."
(25) Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.
và
(20) Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.
(21) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ.
Trước lúc ăn trái, đặt tên xong, cả hai trần truồng mà không xấu hổ
Sau khi ăn trái, gọi tên nhau, Thiên Chúa phải đích thân ngồi khâu vá từng đường kim mũi chỉ cho hai ông bà mỗi người một bộ quần áo da.
Không chỉ may thôi, mà còn đích thân mặc áo cho con người! Có ai trong chúng ta còn nhớ lần cuối cùng đích thân bố mẹ mặc áo cho chúng ta khi nào nhỉ?
Thiên Chúa vẫn rất mực âu yếm và thương con người. Ngài không hề chép miệng than vắn thở dài, lấy làm tiếc bất cứ điều gì. Chén nước đã đổ, bình ngọc quý đã vỡ, Ngài không tiếc quá khứ, mà chỉ nhìn về tương lai.
Ấy là chúng ta cố ý chưa đề cập tới tới câu 3,15: (15) Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó" mà chúng ta đã thoáng thấy lòng tận tụy của Thiên Chúa dành cho con người khi Ngài đích thân may và mặc áo cho con người.
Không phải loại áo thường, Ngài còn dùng thứ hàng “xịn” nhất! Khi mắc cở chạy trốn con người chỉ biết lấy lá che thân. Còn bây giờ Thiên Chúa may áo bằng da thú cho con người.
Chúng ta đã sơ lược xét qua những chi tiết thú vị trong thuật trình này, vẫn còn một điều thấp thoáng trong đầu mà chưa có câu trả lời:
Thế thì con rắn cám dỗ bà Evà chuyện gì?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (16)
15-
Thế thì con rắn cám dỗ bà Evà chuyện gì?
Xét lại trọn vẹn trình thuật, từ đầu đến cuối, con rắn chỉ nói có hai câu
(1) Nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?"
(Lẽ ra câu này phải dịch như sau: “Vậy ra Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn...! - Af ki amar elokim lo tochlu mikol etz hagan”).
(4) Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu! (5) Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở
ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác."
Nó có thẳng thừng xúi: “Bà hãy ăn trái cây bị cấm đi” không? - Không!
Nó có nói “Thiên Chúa nói xạo không”? - Không!
Nó có nói: “Hãy hái trái đưa cho ông ăn luôn” không? - Không!
Nó có nói “Trái cây ấy ngon lắm, đẹp lắm, đáng thích ăn” không? - Không!
Nó có lải nhãi lập đi lập lại một công thức như các quảng cáo trên radio hay TV? - Không!
Nó có treo bảng hiệu đèn neon nhấp nháy chung quanh cây bị cấm, in bằng chữ to, rằng” “Tha hồ ăn. Miễn phí - It’s for Free - All you can eat for free” không? - Không!
Rõ ràng chúng ta biết chắc mục đích con rắn cám dỗ là để con người ăn trái cây mà Chúa đã cấm. Vậy mà nó hoàn toàn hành xử khác với những chiêu thức khuyến mãi ngày nay.
Dường như câu mấu chốt của công việc huyễn hoặc là câu nói: “Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra...”
Đây là câu nói rất thật. Thiên Chúa, con rắn, hai ông bà, và chúng ta ngày nay, đều biết rằng: “ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra...”
Mắt mở ra để thấy mình... bị lừa!
Mà quả vậy, khi bị Thiên Chúa tra hỏi, người đàn bà trả lời: “Con rắn đã lừa dối con.” (câu 3,13). Con rắn, lúc ấy, đang ở đó. Nó nghe thấy lời buộc tội. Nó không nói lại lời nào. Nó chấp nhận rằng đúng thế nó đã lừa dối người đàn bà!
Bà tưởng rằng mắt mở ra để thấy điều mình nghĩ rằng, tưởng rằng, ao ước rằng sẽ thấy. Nhưng mở ra mắt ra lại chẳng thấy điều ấy, mà chỉ thấy mình trần truồng!
Động cơ nào khiến bà đã làm chuyện mà con rắn muốn bà làm?
Khi nói lời đầu tiên, con rắn dùng hai động từ: “Vậy ra Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn...!”
Con rắn không cám dỗ chuyện “ăn”, Không! Nó nhấn mạnh đến chuyện Thiên Chúa “bảo”.
Nếu chúng ta chuyển sự chú ý vào động từ thứ nhất này, thì điều con rắn nhấn mạnh khi nói lời đầu tiên, là “Vậy ra Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn...!"
Nó muốn gợi lên điều này: “Ừ, thì Thiên Chúa bảo các người là không được ăn trái cây, nhưng mà các người có thực là muốn ăn nó không? Thiên Chúa bảo thì bảo thế, quan trọng các ngươi có muốn hay là không kìa!”
Thiên Chúa ra lệnh bằng lời nói: “Thiên Chúa bảo” Nhưng con người có “ăn lời” Ngài không, hay lại nghe theo chủ quan của mình, nghe theo lòng ham muốn của mình, nghĩa là nghe theo chính mình!
Lòng ao ước nơi con người được con rắn đánh thức và kích thích. Thiên Chúa nói/bảo thì ta nghe lời đã đành. Nhưng còn cái lòng ao ước, cái ham muốn, cái “desire” trong lòng ta, đó cũng là do Thiên Chúa đặt sâu nơi ta, cũng là ý của Thiên Chúa nói, phải không nào? Ta cũng nên nghe lắm chứ?
Sự thật e rằng quả đúng như thế. Chúng ta đọc lại câu quan trọng này:
(6) Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn.”
Câu nguyên ngữ Do thái có hơi khác biệt một chút: “venechmad ha'etz lehaskil” Còn có thể dịch thành: “đáng ao ước để chiêm ngưỡng - the tree was desirable to contemplate.” (Genesis 3,6).
Mức lôi cuốn của trái cây cấm càng ngày càng tăng:
“ăn thì ngon- wattere' ha'ishshah ki tob ha`es”: Chúng ta để ý thấy trong nguyên ngữ Do thái, trình thật dùng chữ “tob = tốt đẹp!”: “ ăn thì tốt!”. Từ này, trước giờ chỉ có mình Thiên Chúa dùng. Ngài dùng sau mỗi ngày sáng tạo: "Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.- wayyar' ki tob - and he saw that it was good".
Chính Người đàn bà "thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn” nghĩa là người đàn bà đã hành xử như các thần linh biết tốt biết xấu: “wayyar' ki tob”!
Vậy thì có cần trở nên như các thần linh nữa không? Khi mà con người đã nhận định “thấy... là tốt” như Thiên Chúa?
Khi nghe lời Thiên Chúa bảo, con người nhận Ngài là thần linh của mình.
Khi không nghe lời Thiên Chúa nữa, mà nghe theo chính mình, nghe theo cái lòng ao ước nổi lên trong mình, thì loài thụ tạo ấy đã tự đặt mình ngang hàng các thần linh, “trở nên một trong các thần linh”. Mình nghe lời mình, đặt MÌNH ngang hàng thần linh để vâng theo. Như thế không còn và không cần tuân phục Thiên Chúa nữa.
Cái chua xót đớn đau là lời hứa hão “nên như các thần linh” của con rắn là dư thừa! Con người đã được như thế rồi: Vì khi tạo dựng, Thiên Chúa đã tự nhủ “Thiên Chúa phán: 'Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất'." (St 1,26).
Điều chua chát nữa là con người đành đoạn bất tuân Thiên Chúa theo lời xúi của một thụ tạo, chứ không nghe lời “Thiên Chúa bảo”? Như con rắn đã “bâng quơ” nhắc khéo?
Ngoài miệng thì “bâng quơ”, nhưng trong bụng nó thì mai mỉa: “Vậy ra Thiên Chúa bảo các ngươi!”
“Để coi ta đây bảo các người có nghe không?” Ý nó thầm nói.
Sau khi ăn trái, con người tội nghiệp chỉ biết than thở: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy”. Quả là món quà chẳng ra gì!
Thiên Chúa vụng về đến thế sao? Người mà Thiên Chúa tưởng là “người trợ tá tương xứng”, mà Ngài đã nhọc công “kiến tạo nên - build up”, từ xương thịt sẵn có, hiển nhiên là cao quý hơn bùn đất, vậy mà nàng là “đầu mối tội” cho con. Nàng đưa, con không cầm lấy mà được sao?
Chẳng lẽ con rắn đã trả thù được cái tự ái của nó, vì bị con người “lấy khinh làm thường”, không coi nó ra gì?
Con người cùng một lúc thua luôn hai mặt trận: không nghe lời, mà ăn trái cấm. Hay nói đúng hơn, bằng thái độ ăn, con người tỏ ra bất tuân Thiên Chúa.
Nghĩ cho cùng, bất tuân chỉ để được điều mà mình vốn vẫn có, bất tuân chỉ để mở mắt ra thấy mình bị.... lừa!
Đúng là con lừa chứ không phải là con người!
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (17)
16-
Bây giờ đến lúc chúng ta dừng một chút ở câu 15 nổi tiếng.
Mời các Bạn đọc lại một lần:
(15) Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống (zar’ah) mi và dòng giống người ấy (zar’ah); dòng giống (hu) đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi (atah), sẽ cắn vào gót nó."
Ngay từ cao điểm chiến thắng của con rắn, đồng thời cũng là tận cùng thê thảm của kiếp người sau khi sa ngã, Đấng Sáng Thế loan báo sự Cứu Thế.
Ngài loan báo một cuộc chiến “không khoang nhượng” bắt đầu, ngay bây giờ giữa người phụ nữ và con rắn: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà.”
Thiên Chúa mà “gây mối thù” thì hẳn mối thù không phải là “tầm thường”. Hẳn sẽ là kinh khiếp, và kéo dài dường như vô tận, vì lan sang tận dòng giống hai bên: “giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy”.
Bắt đầu là chiến thắng của con rắn.
Nhưng kết thúc ngã ngũ như thế nào?
Chúng ta xem tiếp các bản dịch khác:
“Je mettrai une hostilité entre toi et la femme, entre ton lignage et le sien. Il t'écrasera la tête et tu l'atteindras au talon.” (BJ)
“Inimicitias ponam inter te et mulierem
et semen tuum et semen illius;
ipsum conteret caput tuum,
et tu conteres calcaneum eius”. (Vulgata)
“I will put enmity between you and the woman, and between your offspring and hers; He will strike at your head, while you strike at his heel." (NAB)
"I will put enmity between you (atah) and the woman, and between your zer'ah (seed) and her zer'ah (seed); He (hu) shall crush your (atah) head and you (atah) shall bruise his (hu)heel” (Từ nguyên văn Do thái).
Xin trích dẫn ra đây nhiều bản dịch khác nhau để chúng ta thấy được rằng thay một chữ dùng, ý nghĩa bản văn xem chừng thay đổi nhiều.
Bản NAB chỉ dùng cùng một động từ cho hai bên “strike- đánh vào, tấn công vào”. Tuy cũng chỉ dùng một động từ, nhưng bản Vulgata dùng động từ rất mạnh “contero, conteres, contrivi, contritus sum, conterere” có nghĩa là “nghiền nát, đạp choẹt, làm tiêu tan, đập, xé vụn ...” để nói đến cuộc tương tranh một mất một còn.
Bản Bible de Jerusalem, cho ta hai động từ khác nhau “ecraser, nghiền nát” còn động từ kia chỉ là “atteindre, phạm tới được”.
Còn bản Do thái cho ta hai động từ khác nhau rõ rệt về cường độ. Một bên “crush, nghiền nát”. Còn bên kia chỉ “bruise, làm trầy trụa”!
Nhưng chiến thắng thuộc bên nào thì đã rõ. Một bên nghiền nát cái đầu. Con rắn mà bị nát đầu thì tử vong. Còn con người bị phạm đến gót chân chỉ là ngoại thương.
Ngay trong thảm kịch đầu tiên này, Thiên Chúa không tiên báo thời điểm nào thì đầu rắn sẽ bị đạp dập, Nhưng con rắn hiểu nó cần phải tranh thủ. Thiên Chúa cho biết cuộc xung khắc sẽ kéo dài qua dòng dõi hai bên, nên nó phải tiếp tục ra sức cám dỗ mãi từng người con người cháu một trong dòng giống người nữ.
Trong lời tiên báo này, thuật trình không minh định chính xác một người hay toàn thể dòng giống nói chung, sẽ đạp dập đầu con rắn.
Đọc lại câu 3,15 chúng ta thấy:
" and between your zer'ah (seed) and her zer'ah (seed); He (hu) shall crush your (atah) head and you (atah) shall bruise his (hu) heel”.
(15) Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi (zar’ah), và dòng giống người ấy (zar’ah, her seed); dòng giống (he, hu) đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi (atah, you), sẽ cắn vào gót nó."
Hu và atah lại mang hai nghĩa có thể số ít mà cũng có thể số nhiều, nghĩa là “hu” tương đương với “It/he/they – Il/Ils”, và “atah” tương đương với “you”.
Từ Do thái zar’ah, có nhiều nghĩa, tùy nghĩa này mà nó hàm ngụ một hay nhiều người:
1- Mầm sống trong hột giống, gặp 27 lần, ví dụ St 1,11.
2- Mùa gieo hạt, gặp 2 lần, ví dụ St 8,22
3- Ngũ cốc, gặp 11 lần, ví dụ St 47,24
4- Hậu duệ, dòng giống, gặp 182 lần, ví dụ St 7,3
5- Mầm sống, gặp 8 lần, ví dụ Lv 15,32
Câu chú giải trong NAB cho rằng đúng ra, zer’ah là dòng giống người phụ nữ, nên hàm ngụ nhiều người. Nên nghĩa phải dịch là “họ sẽ đạp đầu ngươi và ngươi sẽ phạm đến gót chân họ”.
Nhưng câu chú giải còn cho biết thêm rằng, lời tiên báo này không chỉ đề cập đến sự kình địch giữa loài rắn và loài người, mà con rắn sau này được coi như là Satan (Kn 2,24; Ga 8,44; Kh 12,9; 20,2), nên lời tiên báo này còn là lời tiên báo về Đấng Cứu Thế, đệ nhất hậu duệ của người phụ nữ.
Con rắn, không thèm bận tâm với ý nghĩa số nhiều hay số ít của từ “zer’ah”, nó tấn công tất cả mọi người hậu duệ của người phụ nữ đầu tiên ấy. Cho chắc ăn.
Nó muốn chiến thắng một lần nữa, trong suốt lịch sử còn lại của loài người.
Cho nên, là con người, đừng hòng một ai được miễn chước cám dỗ.
Chính Chúa Giêsu sau này, vì cũng được sinh ra từ người nữ, nên cũng phải kinh qua nhiều cuộc cám dỗ. “Sau khi tìm đủ chước cám dỗ, ma quỷ rút lui, để chờ dịp khác.” (Lc 4,13)
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Cơn cám dỗ đầu tiên (18 )
17-
Thế là hai ông bà “ra riêng”, ra ở riêng.
Trong phần cuối của thuật trình chỉ có một câu nói: Không biết Thiên Chúa tự suy nghĩ to tiếng? hay Ngài nói với ai khác nữa: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta” Một chữ “chúng ta” khó hiểu. Ai là “us, nous” với Thiên Chúa lúc bấy giờ?
(21) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ.
(22) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi."
(23) ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra.
(24) Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh.
Khi Thiên Chúa suy nghĩ to tiếng: “Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác" -Et ait Dominus Deus: “Ecce homo factus est quasi unus ex nobis, ut sciat bonum et malum; - Yahvé Dieu dit : Voilà que l'homme est devenu comme l'un de nous, pour connaître le bien et le mal ! -LORD God said: "See! The man has become like one of us, knowing what is good and what is bad!”
các Bạn có nghe ra được nét châm biếm trong ý nghĩ của Thiên Chúa không? Bản dịch tiếng Anh thêm hai dấu chấm than, nhấn mạnh được tình ý của Thiên Chúa nhắm thẳng vào cái kiêu căng hão huyền của con người:
"See! The man has become like one of us, knowing what is good and what is bad! –Thấy chưa kià ! con người nay nên như một trong chúng ta, biết được điều tốt điều xấu!”
Hẳn hai ông bà, ngượng nghịu trong bộ áo da, chắc là phải hổ ngươi mà thẹn chín người khi nghe câu này. Làm sao còn dám ngẳng mặt lên mà nhìn được trời cao đất dày nhỉ!
Hơn nữa điều thua thiệt lớn nữa là Thiên Chúa tiếp tục cho biết: “Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi."
Thế có nghĩa là “ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra. (24) Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh.”
Chúng ta không thể không chạnh lòng nhớ đến ý thơ Hoàng Hạc, mà Tản Đà đã thoáng dịch trong bài Tống Biệt:
"Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi
Đá mòn, rêu nhạt
Nước chảy, huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ đây xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi ."
Dẫu có vấn vương ngoảnh mặt nhìn lại cây trường sinh mà ao ước, thì đã có hai thiên thần cherubim cầm gương sáng chói và xoáy canh giữ!
Lại một lần nữa Thiên Chúa nhắc lại cội nguồn con người: con người bị đuổi ra khỏi vườn Địa đàng “để cày cấy đất đai, từ đó con người được sinh ra .”
Canh giữ đường đến cây trường sinh là hai thiên thần mang tên loài là “cherub”, tên Do thái là כרוב.
Suốt cuốn Kinh thánh, tên “cherub” chỉ được nhắc đến hai lần: một lần ở đây (St 3,24) và lần thứ hai trong sách Xuất hành (25,18.20): “Ngươi sẽ làm một cái nắp xá tội bằng vàng ròng, dài một thước hai, rộng bảy tấc rưỡi.18 Ngươi sẽ làm hai tượng thần hộ giá bằng vàng gò, ngươi sẽ làm các tượng ấy ở hai đầu nắp.19 Ngươi sẽ làm một tượng ở đầu này, một tượng ở đầu kia; ngươi sẽ làm các tượng thần hộ giá gắn liền với nắp, ở hai đầu.20 Các tượng thần hộ giá có cánh giương lên và phủ trên nắp. Hai tượng đối diện với nhau, cùng cúi mặt xuống nắp.21 Ngươi sẽ đậy nắp xá tội trên Hòm Bia, và ngươi sẽ đặt vào đó Chứng Ước mà Ta sẽ ban cho ngươi.22 Ở đó Ta sẽ gặp gỡ ngươi. Từ trên nắp, giữa hai tượng thần hộ giá đặt trên Hòm Bia Chứng Ước, Ta sẽ nói với ngươi tất cả những gì Ta truyền cho ngươi để ngươi nói lại cho con cái Ít-ra-en.”
Lần đầu để canh giữ đường đến cây trường sinh.
Lần sau để che khuất sự hiện diện của Thiên Chúa ở trần gian này: Trên nắp Hòm Bia có tượng hai vị cherubs bằng vàng, cánh giang rộng che phủ Mười giới răn. Vị trí giữa hai vị là nơi Thiên Chúa truyền đạt cho Môse những điều Ngài cần nói với con cái Israel.
Điều lý thú chúng ta thấy là ban đầu, các cherubim ngăn chặn đường đến cây sự sống. Còn sau này đối với dân Dothái, các cherubim lại giới thiệu cây sự sống ấy cho Do thái, theo sách Châm Ngôn 3,18 : “18 Khôn ngoan chính là cây sự sống, đối với người nào nắm được khôn ngoan. Giữ được khôn ngoan quả là hạnh phúc.”
Đôi lời bạt:
Chúng ta vừa tản mạn đôi điều về cuộc cám dỗ đầu tiên, đồng thời cũng là cuộc sa ngã đầu tiên của nhân loại.
Như các Bạn để ý thấy, chúng ta không hề trích dẫn hay nhờ các bản văn khác trong Kinh Thánh Cựu và Tân, để soi sáng bản văn này. Lý do duy nhất là chúng ta muốn đọc bản văn một cách “ngây thơ”, như một câu chuyện tự nó. Và xem các tình tiết trong đó được cấu kết với nhau như thế nào.
Chúng ta cũng không “đọc” bản văn theo từng chủ đề, mà cứ tuần tự tản mạn câu trước câu sau.
Rất có thể mai mốt đọc lại, chúng ta lại khám phá thêm những chi tiết lý thú khác nữa. Đó là “Lời Hằng Sống” mà.
Đọc như thế mới chỉ là cách tiếp xúc đầu tiên với bản văn.
Bước kế tiếp, chúng ta nên:
1- Đọc lại trình thuật, và soi sáng trình thuật này bằng những câu, những đoạn khác có liên quan xa gần đến những chữ, những câu trong trình thuật. Nhờ thế chúng ta mới hiểu thêm, rõ hơn và đúng hơn điều trình thuật muốn nói.
2- Đọc các bài chú giải của những học giả Kinh thánh nổi tiếng và có uy tín. Nhất là đọc những chú giải do Huấn quyền Giáo hội nói về trình thuật ấy. Như thế chúng ta được soi sáng thêm những chân lý mà tự lực cá nhân chúng ta chẳng tài nào hiểu thấu vì sở học hèn kém.
Càng đọc nhiều, chúng ta mới thấy thích thú với Lời Chúa, bởi “vô tri” thì “bất mộ”.
Xin các Bạn miễn chấp, nếu nhà cháu “không nên nết” mà “dông dài” quá đáng.
Chỉ mong “lời quê chắp nhặt” ...
KaTy
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.