admin
05-03-2006, 09:00 AM
Thứ Tư, ngày 21/11/1979
10. Trong những chương đầu Sách Sáng Thế, Hôn nhân là đơn nhất và bất khả phân ly
Chúng ta nên nhớ rằng khi được hỏi về tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, Đức Kitô luôn luôn quy chiếu về điều có “từ thuở ban đầu”. Ngài trích dẫn những lời được ghi lại trong chương đầu tiên Sách Sáng Thế. Chính vì thế trong bài suy niệm hôm nay, chúng ta cố gắng thấu triệt ý nghĩa đặc biệt của những từ và những chương này.
Người ta tìm được ý nghĩa của tính đơn nhất nguyên thuỷ của con người, được Thiên Chúa tạo dựng “có nam có nữ” (đặc biệt dưới ánh sáng của đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)), nhờ việc hiểu biết con người trong toàn vẹn vốn liếng hữu thể của nó, nghĩa là, với tất cả sự phong phú của mầu nhiệm sáng tạo. Môn nhân loại học có chiều kích thần học đặt nền tảng trên đó. Tri thức này, nghĩa là việc khảo sát về căn tính nhân loại của con người ngay từ thuở ban đầu đã đơn độc “một mình”, phải luôn luôn đi qua tính kép đôi, nghĩa là sự “hiệp thông.”
Chúng ta hãy duyệt lại đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10): “Con người nói: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra." Qua ánh sáng của đoạn văn này, chúng ta hiểu rằng tri thức của con người phải xuyên qua nam và nữ. Đấy là hai “hiện thân” của cùng một nỗi đơn độc siêu hình trước Thiên Chúa và thế giới. Là nam và là nữ là hai cách để “là thân xác” mà đồng thời lại là con người. Chúng bổ túc cho nhau. Nam và nữ là hai chiều kích hỗ tương để tự biết về mình và tự xác định, và đồng thời là hai cách thế hỗ tương để ý thức về ý nghĩa của thân xác.
Như đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) cho thấy, theo một nghĩa nào đó, người nữ nhận ra mình là nữ khi có sự hiện diện của người nam, còn người nam được khẳng định thông qua người nữ. Theo một nghĩa nào đó, phái tính là “thành tố làm nên nhân vị” (chứ không phải chỉ là một “thuộc tính của nhân vị”), cho nên nói một cách chính xác chức năng của phái tính là chứng tỏ rằng thật là sâu nhiệm biết bao, con người, với hết cả nỗi đơn độc tinh thần, với tính cách độc nhất không bị trùng lặp của nhân vị, được cấu thành nhờ bởi thân xác là nam hoặc là nữ. Sự hiện diện của yếu tố nữ, bên cạnh yếu tố nam và cùng chung với yếu tố nam, nói lên sự sung mãn của con người trong toàn khắp viễn cảnh lịch sử mình, bao gồm cả lịch sử cứu chuộc. Toàn bộ giáo huấn về đơn nhất tính này đã được trình bày từ nguyên thuỷ trong Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10).
Tính đơn nhất mà Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) diễn tả là - "cả hai thành [một xương] một thịt” - được diễn đạt và thực hiện cách rõ ràng trong hành vi vợ chồng. Cái công thức Kinh Thánh cực kỳ cô đọng và đơn giản này cho biết rằng phái tính -nữ và nam- là nét đặc trưng của con người -người nam và người nữ- cho phép họ, khi cả hai “thành [một xương] một thịt”, đặt trọn nhân tính của họ tuỳ thuộc vào lời chúc phúc sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên toàn thể văn mạch của công thức ngắn gọn này không cho phép chúng ta dừng lại trên bề mặt của phái tính của con người. Điều này không cho phép chúng ta nói về thân xác và phái tính ở bên ngoài chiều kích trọn vẹn của con người và của sự “hiệp thông các nhân vị”. Ngay từ lúc ban đầu, nó buộc chúng ta phải nhận ra sự trọn vẹn và sự sâu nhiệm đặc trưng của tính đơn nhất mà người nam và người nữ phải cấu thành dưới ánh sáng mạc khải của thân xác.
Lối diễn tả viễn cảnh với những lời: “người đàn ông sẽ gắn bó với vợ mình” thân mật đến độ “cả hai nên [một xương] một thịt” nhắc chúng ta nhớ lại điều bản văn Kinh Thánh trước đây đã nói về sự hiệp nhất trong bản tính nhân loại. Sự hiệp nhất này liên kết người nữ và người nam trong chính mầu nhiệm sáng tạo. Những lời của Sách Sáng Thế 2,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:13&FontSize=Txt10) mà chúng ta vừa phân tích, minh định tư tưởng này cách đặc biệt. Người nam và người nữ, khi kết hợp với nhau (trong hành vi vợ chồng) mật thiết đến độ trở nên “[một xương] một thịt”, có thể nói, mỗi lần một cách khác nhau, họ tái khám phá mầu nhiệm sáng tạo. Bằng cách này, họ quay trở về lại việc kết hợp trong nhân tính [từ thuở ban đầu ấy] (“xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”). Sự kết hợp này giúp họ nhận ra nhau, và cũng giống như lần đầu tiên ấy, cho phép họ gọi tên nhau.
Điều này có nghĩa là làm hồi tưởng lại, theo một nghĩa nào đó, giá trị trinh nguyên tinh khôi của con người, phát sinh từ huyền nhiệm của sự đơn độc con người khi đứng trước Thiên Chúa, và giữa thế giới. Sự kiện họ trở nên “[một xương] một thịt” là một mối giây liên kết bền chặt Thiên Chúa đã thiết lập. Qua mối liên kết này, họ khám phá ra nhân tính riêng của họ cả trong tính đơn nhất nguyên thuỷ lẫn trong tính kép đôi của sự lôi cuốn nhau lạ lùng.
Tuy nhiên, phái tính còn là một điều gì hơn là năng lực huyền bí của thân xác con người, mà hầu như chỉ hành động theo bản năng. Ở tầm mức con người và trong tương quan hỗ tương giữa các nhân vị, phái tính biểu hiện cố gắng luôn mới vượt quá cái giới hạn của nỗi đơn độc đã khắc ghi trong cơ cấu thân thể và ấn định ý nghĩa nguyên thuỷ của thân xác con người. Sự vượt quá này luôn luôn bao hàm cách nào đó rằng con người chấp nhận làm của riêng mình nỗi đơn độc của cái “mình” thứ hai.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Do đó, điều này gắn liền với sự chọn lựa. Chính công thức trong Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) cho thấy con người, được dựng nên có nam có nữ, là được tạo dựng để hiệp nhất với nhau. Công thức ấy cũng cho thấy rằng chính sự hiệp nhất này, qua đó họ trở nên “một xương một thịt”, ngay từ ban đầu đã có một tính cách hiệp nhất do chọn lựa mà có. Chúng ta đọc thấy: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình.” Nếu “tự bản tính” con người phụ thuộc vào cha mẹ, thì đàng khác nhờ việc truyền sinh, người đó đã chọn lựa gắn kết với vợ mình (hay với chồng mình).
Bản văn Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) định nghĩa đặc tính này của mối giây ràng buộc hôn nhân trong tương quan với người nam và người nữ đầu tiên, đồng thời trong viễn cảnh của tương lai con người trên trái đất. Vì thế, lúc sinh thời, Đức Kitô nại đến bản văn này như để đánh nổi lên sự bình đẵng cho thời đại của Người. Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, và cùng nhau tạo thành một hiệp thông các nhân vị, người nam đầu tiên và người nữ đầu tiên phải làm thành một bước khởi đầu và mẫu mực cho hiệp thông nơi mọi người nam và nữ, để vào bất cứ thời nào, nam nữ đều hiệp nhất với nhau mật thiết đến độ thành [một xương] một thịt.
Thân xác, qua nam tính hay nữ tính của riêng mình, ngay từ ban đầu, đã giúp cả hai tìm được chính mình trong hiệp thông các nhân vị, nay là thành tố cấu tạo nên sự hiệp nhất giữa họ khi họ thành chồng thành vợ. Tuy nhiên sự kiện này xảy ra qua việc chọn nhau. Việc chọn này thiết lập nên giao ước hôn nhân giữa hai con người,[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) mà nay đã trở thành một thịt chỉ trên nền tảng giao ước ấy mà thôi.
Điều này tương hợp với cơ cấu của sự đơn độc nơi con người, và cụ thể là tương hợp với nỗi “cô đơn kép”. Xét như là cách biểu lộ việc tự xác định, việc lựa chọn dựa trên nền tảng của tự ý thức. Chỉ dựa vào nền tảng của cái cơ cấu đặc biệt này của con người mà con người “là thân xác”, và qua thân xác, cũng là nam hoặc là nữ. Khi cả hai hợp nhất với nhau mật thiết đến độ thành một xương thịt, sự kết hiệp hôn nhân của họ giả thiết họ đã có một ý thức trưởng thành về thân xác mình. Quả vậy, giao ước hôn nhân mang nơi mình một ý thức đặc biệt về ý nghĩa của thân xác ấy trong việc trao cho nhau chính nhân vị mình.
Cũng trong ý nghĩa này, câu Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) là câu văn mở ra nhiều viễn cảnh. Nó chứng tỏ rằng trong mỗi khi người nam và người nữ kết hiệp vợ chồng với nhau, thì cái ý thức nguyên thuỷ về ý nghĩa mang tính hợp nhất của thân xác trong nam tính hay nữ tính lại được tái khám phá. Đồng thời bản văn Kinh Thánh cho thấy rằng mỗi một cuộc hiệp nhất ấy, cách nào đó, làm mới lại nét huyền nhiệm của việc tạo dựng trong trọn vẹn chiều sâu và sinh lực nguyên thuỷ. “Được rút ra từ người nam” như là “thịt bởi thịt” người nam, người nữ sau đó, như là người vợ và qua mẫu tính, trở thành mẹ của chúng sinh (x. St 3,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:20&FontSize=Txt10)), vì mẫu tính của người nữ cũng bắt nguồn từ người nam. Sinh sản bắt nguồn từ tạo dựng, và theo một nghĩa nào đó, lần nào cũng tự tạo ra sự huyền nhiệm của mình.
Một suy tư đặc biệt sẽ dành cho đề tài “tri thức và sinh sản”. Trong đó, sẽ cần phải nại đến những yếu tố khác nữa của bản văn Kinh Thánh. Việc phân tích chúng tôi đã đưa ra cho đến nay về ý nghĩa của tính đơn nhất nguyên thuỷ, cho thấy như thế nào mà sự hiệp nhất giữa nam và nữ, vốn gắn liền với mầu nhiệm sáng tạo, “ngay từ ban đầu” cũng đã được đưa ra như một quyết tâm mà mọi thời phải thực hiện cho bằng được.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1)“Liên kết mật thiết của đời sống hôn nhân và tình yêu đã được Đấng Tạo Hoá thiết lập và ấn định bằng luật của Ngài, và bắt nguồn trong giao ước hôn nhân do sự ưng thuận cá nhân không thể thay đổi” (MV, 48 (http://gpnt.net/thuvien/gaudium/gs_05.htm)).
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
10. Trong những chương đầu Sách Sáng Thế, Hôn nhân là đơn nhất và bất khả phân ly
Chúng ta nên nhớ rằng khi được hỏi về tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, Đức Kitô luôn luôn quy chiếu về điều có “từ thuở ban đầu”. Ngài trích dẫn những lời được ghi lại trong chương đầu tiên Sách Sáng Thế. Chính vì thế trong bài suy niệm hôm nay, chúng ta cố gắng thấu triệt ý nghĩa đặc biệt của những từ và những chương này.
Người ta tìm được ý nghĩa của tính đơn nhất nguyên thuỷ của con người, được Thiên Chúa tạo dựng “có nam có nữ” (đặc biệt dưới ánh sáng của đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)), nhờ việc hiểu biết con người trong toàn vẹn vốn liếng hữu thể của nó, nghĩa là, với tất cả sự phong phú của mầu nhiệm sáng tạo. Môn nhân loại học có chiều kích thần học đặt nền tảng trên đó. Tri thức này, nghĩa là việc khảo sát về căn tính nhân loại của con người ngay từ thuở ban đầu đã đơn độc “một mình”, phải luôn luôn đi qua tính kép đôi, nghĩa là sự “hiệp thông.”
Chúng ta hãy duyệt lại đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10): “Con người nói: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra." Qua ánh sáng của đoạn văn này, chúng ta hiểu rằng tri thức của con người phải xuyên qua nam và nữ. Đấy là hai “hiện thân” của cùng một nỗi đơn độc siêu hình trước Thiên Chúa và thế giới. Là nam và là nữ là hai cách để “là thân xác” mà đồng thời lại là con người. Chúng bổ túc cho nhau. Nam và nữ là hai chiều kích hỗ tương để tự biết về mình và tự xác định, và đồng thời là hai cách thế hỗ tương để ý thức về ý nghĩa của thân xác.
Như đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) cho thấy, theo một nghĩa nào đó, người nữ nhận ra mình là nữ khi có sự hiện diện của người nam, còn người nam được khẳng định thông qua người nữ. Theo một nghĩa nào đó, phái tính là “thành tố làm nên nhân vị” (chứ không phải chỉ là một “thuộc tính của nhân vị”), cho nên nói một cách chính xác chức năng của phái tính là chứng tỏ rằng thật là sâu nhiệm biết bao, con người, với hết cả nỗi đơn độc tinh thần, với tính cách độc nhất không bị trùng lặp của nhân vị, được cấu thành nhờ bởi thân xác là nam hoặc là nữ. Sự hiện diện của yếu tố nữ, bên cạnh yếu tố nam và cùng chung với yếu tố nam, nói lên sự sung mãn của con người trong toàn khắp viễn cảnh lịch sử mình, bao gồm cả lịch sử cứu chuộc. Toàn bộ giáo huấn về đơn nhất tính này đã được trình bày từ nguyên thuỷ trong Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10).
Tính đơn nhất mà Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) diễn tả là - "cả hai thành [một xương] một thịt” - được diễn đạt và thực hiện cách rõ ràng trong hành vi vợ chồng. Cái công thức Kinh Thánh cực kỳ cô đọng và đơn giản này cho biết rằng phái tính -nữ và nam- là nét đặc trưng của con người -người nam và người nữ- cho phép họ, khi cả hai “thành [một xương] một thịt”, đặt trọn nhân tính của họ tuỳ thuộc vào lời chúc phúc sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên toàn thể văn mạch của công thức ngắn gọn này không cho phép chúng ta dừng lại trên bề mặt của phái tính của con người. Điều này không cho phép chúng ta nói về thân xác và phái tính ở bên ngoài chiều kích trọn vẹn của con người và của sự “hiệp thông các nhân vị”. Ngay từ lúc ban đầu, nó buộc chúng ta phải nhận ra sự trọn vẹn và sự sâu nhiệm đặc trưng của tính đơn nhất mà người nam và người nữ phải cấu thành dưới ánh sáng mạc khải của thân xác.
Lối diễn tả viễn cảnh với những lời: “người đàn ông sẽ gắn bó với vợ mình” thân mật đến độ “cả hai nên [một xương] một thịt” nhắc chúng ta nhớ lại điều bản văn Kinh Thánh trước đây đã nói về sự hiệp nhất trong bản tính nhân loại. Sự hiệp nhất này liên kết người nữ và người nam trong chính mầu nhiệm sáng tạo. Những lời của Sách Sáng Thế 2,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:13&FontSize=Txt10) mà chúng ta vừa phân tích, minh định tư tưởng này cách đặc biệt. Người nam và người nữ, khi kết hợp với nhau (trong hành vi vợ chồng) mật thiết đến độ trở nên “[một xương] một thịt”, có thể nói, mỗi lần một cách khác nhau, họ tái khám phá mầu nhiệm sáng tạo. Bằng cách này, họ quay trở về lại việc kết hợp trong nhân tính [từ thuở ban đầu ấy] (“xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”). Sự kết hợp này giúp họ nhận ra nhau, và cũng giống như lần đầu tiên ấy, cho phép họ gọi tên nhau.
Điều này có nghĩa là làm hồi tưởng lại, theo một nghĩa nào đó, giá trị trinh nguyên tinh khôi của con người, phát sinh từ huyền nhiệm của sự đơn độc con người khi đứng trước Thiên Chúa, và giữa thế giới. Sự kiện họ trở nên “[một xương] một thịt” là một mối giây liên kết bền chặt Thiên Chúa đã thiết lập. Qua mối liên kết này, họ khám phá ra nhân tính riêng của họ cả trong tính đơn nhất nguyên thuỷ lẫn trong tính kép đôi của sự lôi cuốn nhau lạ lùng.
Tuy nhiên, phái tính còn là một điều gì hơn là năng lực huyền bí của thân xác con người, mà hầu như chỉ hành động theo bản năng. Ở tầm mức con người và trong tương quan hỗ tương giữa các nhân vị, phái tính biểu hiện cố gắng luôn mới vượt quá cái giới hạn của nỗi đơn độc đã khắc ghi trong cơ cấu thân thể và ấn định ý nghĩa nguyên thuỷ của thân xác con người. Sự vượt quá này luôn luôn bao hàm cách nào đó rằng con người chấp nhận làm của riêng mình nỗi đơn độc của cái “mình” thứ hai.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Do đó, điều này gắn liền với sự chọn lựa. Chính công thức trong Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) cho thấy con người, được dựng nên có nam có nữ, là được tạo dựng để hiệp nhất với nhau. Công thức ấy cũng cho thấy rằng chính sự hiệp nhất này, qua đó họ trở nên “một xương một thịt”, ngay từ ban đầu đã có một tính cách hiệp nhất do chọn lựa mà có. Chúng ta đọc thấy: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình.” Nếu “tự bản tính” con người phụ thuộc vào cha mẹ, thì đàng khác nhờ việc truyền sinh, người đó đã chọn lựa gắn kết với vợ mình (hay với chồng mình).
Bản văn Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) định nghĩa đặc tính này của mối giây ràng buộc hôn nhân trong tương quan với người nam và người nữ đầu tiên, đồng thời trong viễn cảnh của tương lai con người trên trái đất. Vì thế, lúc sinh thời, Đức Kitô nại đến bản văn này như để đánh nổi lên sự bình đẵng cho thời đại của Người. Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, và cùng nhau tạo thành một hiệp thông các nhân vị, người nam đầu tiên và người nữ đầu tiên phải làm thành một bước khởi đầu và mẫu mực cho hiệp thông nơi mọi người nam và nữ, để vào bất cứ thời nào, nam nữ đều hiệp nhất với nhau mật thiết đến độ thành [một xương] một thịt.
Thân xác, qua nam tính hay nữ tính của riêng mình, ngay từ ban đầu, đã giúp cả hai tìm được chính mình trong hiệp thông các nhân vị, nay là thành tố cấu tạo nên sự hiệp nhất giữa họ khi họ thành chồng thành vợ. Tuy nhiên sự kiện này xảy ra qua việc chọn nhau. Việc chọn này thiết lập nên giao ước hôn nhân giữa hai con người,[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) mà nay đã trở thành một thịt chỉ trên nền tảng giao ước ấy mà thôi.
Điều này tương hợp với cơ cấu của sự đơn độc nơi con người, và cụ thể là tương hợp với nỗi “cô đơn kép”. Xét như là cách biểu lộ việc tự xác định, việc lựa chọn dựa trên nền tảng của tự ý thức. Chỉ dựa vào nền tảng của cái cơ cấu đặc biệt này của con người mà con người “là thân xác”, và qua thân xác, cũng là nam hoặc là nữ. Khi cả hai hợp nhất với nhau mật thiết đến độ thành một xương thịt, sự kết hiệp hôn nhân của họ giả thiết họ đã có một ý thức trưởng thành về thân xác mình. Quả vậy, giao ước hôn nhân mang nơi mình một ý thức đặc biệt về ý nghĩa của thân xác ấy trong việc trao cho nhau chính nhân vị mình.
Cũng trong ý nghĩa này, câu Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) là câu văn mở ra nhiều viễn cảnh. Nó chứng tỏ rằng trong mỗi khi người nam và người nữ kết hiệp vợ chồng với nhau, thì cái ý thức nguyên thuỷ về ý nghĩa mang tính hợp nhất của thân xác trong nam tính hay nữ tính lại được tái khám phá. Đồng thời bản văn Kinh Thánh cho thấy rằng mỗi một cuộc hiệp nhất ấy, cách nào đó, làm mới lại nét huyền nhiệm của việc tạo dựng trong trọn vẹn chiều sâu và sinh lực nguyên thuỷ. “Được rút ra từ người nam” như là “thịt bởi thịt” người nam, người nữ sau đó, như là người vợ và qua mẫu tính, trở thành mẹ của chúng sinh (x. St 3,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:20&FontSize=Txt10)), vì mẫu tính của người nữ cũng bắt nguồn từ người nam. Sinh sản bắt nguồn từ tạo dựng, và theo một nghĩa nào đó, lần nào cũng tự tạo ra sự huyền nhiệm của mình.
Một suy tư đặc biệt sẽ dành cho đề tài “tri thức và sinh sản”. Trong đó, sẽ cần phải nại đến những yếu tố khác nữa của bản văn Kinh Thánh. Việc phân tích chúng tôi đã đưa ra cho đến nay về ý nghĩa của tính đơn nhất nguyên thuỷ, cho thấy như thế nào mà sự hiệp nhất giữa nam và nữ, vốn gắn liền với mầu nhiệm sáng tạo, “ngay từ ban đầu” cũng đã được đưa ra như một quyết tâm mà mọi thời phải thực hiện cho bằng được.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1)“Liên kết mật thiết của đời sống hôn nhân và tình yêu đã được Đấng Tạo Hoá thiết lập và ấn định bằng luật của Ngài, và bắt nguồn trong giao ước hôn nhân do sự ưng thuận cá nhân không thể thay đổi” (MV, 48 (http://gpnt.net/thuvien/gaudium/gs_05.htm)).
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif