PDA

View Full Version : Phần I. Bài 10. Từ đầu Sách Sáng Thế, Hôn nhân là đơn nhất và bất khả phân ly


admin
05-03-2006, 09:00 AM
Thứ Tư, ngày 21/11/1979

10. Trong những chương đầu Sách Sáng Thế, Hôn nhân là đơn nhất và bất khả phân ly

Chúng ta nên nhớ rằng khi được hỏi về tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, Đức Kitô luôn luôn quy chiếu về điều có “từ thuở ban đầu”. Ngài trích dẫn những lời được ghi lại trong chương đầu tiên Sách Sáng Thế. Chính vì thế trong bài suy niệm hôm nay, chúng ta cố gắng thấu triệt ý nghĩa đặc biệt của những từ và những chương này.

Người ta tìm được ý nghĩa của tính đơn nhất nguyên thuỷ của con người, được Thiên Chúa tạo dựng “có nam có nữ” (đặc biệt dưới ánh sáng của đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)), nhờ việc hiểu biết con người trong toàn vẹn vốn liếng hữu thể của nó, nghĩa là, với tất cả sự phong phú của mầu nhiệm sáng tạo. Môn nhân loại học có chiều kích thần học đặt nền tảng trên đó. Tri thức này, nghĩa là việc khảo sát về căn tính nhân loại của con người ngay từ thuở ban đầu đã đơn độc “một mình”, phải luôn luôn đi qua tính kép đôi, nghĩa là sự “hiệp thông.”

Chúng ta hãy duyệt lại đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10): “Con người nói: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra." Qua ánh sáng của đoạn văn này, chúng ta hiểu rằng tri thức của con người phải xuyên qua nam và nữ. Đấy là hai “hiện thân” của cùng một nỗi đơn độc siêu hình trước Thiên Chúa và thế giới. Là nam và là nữ là hai cách để “là thân xác” mà đồng thời lại là con người. Chúng bổ túc cho nhau. Nam và nữ là hai chiều kích hỗ tương để tự biết về mình và tự xác định, và đồng thời là hai cách thế hỗ tương để ý thức về ý nghĩa của thân xác.

Như đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) cho thấy, theo một nghĩa nào đó, người nữ nhận ra mình là nữ khi có sự hiện diện của người nam, còn người nam được khẳng định thông qua người nữ. Theo một nghĩa nào đó, phái tính là “thành tố làm nên nhân vị” (chứ không phải chỉ là một “thuộc tính của nhân vị”), cho nên nói một cách chính xác chức năng của phái tính là chứng tỏ rằng thật là sâu nhiệm biết bao, con người, với hết cả nỗi đơn độc tinh thần, với tính cách độc nhất không bị trùng lặp của nhân vị, được cấu thành nhờ bởi thân xác là nam hoặc là nữ. Sự hiện diện của yếu tố nữ, bên cạnh yếu tố nam và cùng chung với yếu tố nam, nói lên sự sung mãn của con người trong toàn khắp viễn cảnh lịch sử mình, bao gồm cả lịch sử cứu chuộc. Toàn bộ giáo huấn về đơn nhất tính này đã được trình bày từ nguyên thuỷ trong Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10).

Tính đơn nhất mà Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) diễn tả là - "cả hai thành [một xương] một thịt” - được diễn đạt và thực hiện cách rõ ràng trong hành vi vợ chồng. Cái công thức Kinh Thánh cực kỳ cô đọng và đơn giản này cho biết rằng phái tính -nữ và nam- là nét đặc trưng của con người -người nam và người nữ- cho phép họ, khi cả hai “thành [một xương] một thịt”, đặt trọn nhân tính của họ tuỳ thuộc vào lời chúc phúc sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên toàn thể văn mạch của công thức ngắn gọn này không cho phép chúng ta dừng lại trên bề mặt của phái tính của con người. Điều này không cho phép chúng ta nói về thân xác và phái tính ở bên ngoài chiều kích trọn vẹn của con người và của sự “hiệp thông các nhân vị”. Ngay từ lúc ban đầu, nó buộc chúng ta phải nhận ra sự trọn vẹn và sự sâu nhiệm đặc trưng của tính đơn nhất mà người nam và người nữ phải cấu thành dưới ánh sáng mạc khải của thân xác.

Lối diễn tả viễn cảnh với những lời: “người đàn ông sẽ gắn bó với vợ mình” thân mật đến độ “cả hai nên [một xương] một thịt” nhắc chúng ta nhớ lại điều bản văn Kinh Thánh trước đây đã nói về sự hiệp nhất trong bản tính nhân loại. Sự hiệp nhất này liên kết người nữ và người nam trong chính mầu nhiệm sáng tạo. Những lời của Sách Sáng Thế 2,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:13&FontSize=Txt10) mà chúng ta vừa phân tích, minh định tư tưởng này cách đặc biệt. Người nam và người nữ, khi kết hợp với nhau (trong hành vi vợ chồng) mật thiết đến độ trở nên “[một xương] một thịt”, có thể nói, mỗi lần một cách khác nhau, họ tái khám phá mầu nhiệm sáng tạo. Bằng cách này, họ quay trở về lại việc kết hợp trong nhân tính [từ thuở ban đầu ấy] (“xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”). Sự kết hợp này giúp họ nhận ra nhau, và cũng giống như lần đầu tiên ấy, cho phép họ gọi tên nhau.

Điều này có nghĩa là làm hồi tưởng lại, theo một nghĩa nào đó, giá trị trinh nguyên tinh khôi của con người, phát sinh từ huyền nhiệm của sự đơn độc con người khi đứng trước Thiên Chúa, và giữa thế giới. Sự kiện họ trở nên “[một xương] một thịt” là một mối giây liên kết bền chặt Thiên Chúa đã thiết lập. Qua mối liên kết này, họ khám phá ra nhân tính riêng của họ cả trong tính đơn nhất nguyên thuỷ lẫn trong tính kép đôi của sự lôi cuốn nhau lạ lùng.

Tuy nhiên, phái tính còn là một điều gì hơn là năng lực huyền bí của thân xác con người, mà hầu như chỉ hành động theo bản năng. Ở tầm mức con người và trong tương quan hỗ tương giữa các nhân vị, phái tính biểu hiện cố gắng luôn mới vượt quá cái giới hạn của nỗi đơn độc đã khắc ghi trong cơ cấu thân thể và ấn định ý nghĩa nguyên thuỷ của thân xác con người. Sự vượt quá này luôn luôn bao hàm cách nào đó rằng con người chấp nhận làm của riêng mình nỗi đơn độc của cái “mình” thứ hai.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

Do đó, điều này gắn liền với sự chọn lựa. Chính công thức trong Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) cho thấy con người, được dựng nên có nam có nữ, là được tạo dựng để hiệp nhất với nhau. Công thức ấy cũng cho thấy rằng chính sự hiệp nhất này, qua đó họ trở nên “một xương một thịt”, ngay từ ban đầu đã có một tính cách hiệp nhất do chọn lựa mà có. Chúng ta đọc thấy: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình.” Nếu “tự bản tính” con người phụ thuộc vào cha mẹ, thì đàng khác nhờ việc truyền sinh, người đó đã chọn lựa gắn kết với vợ mình (hay với chồng mình).

Bản văn Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) định nghĩa đặc tính này của mối giây ràng buộc hôn nhân trong tương quan với người nam và người nữ đầu tiên, đồng thời trong viễn cảnh của tương lai con người trên trái đất. Vì thế, lúc sinh thời, Đức Kitô nại đến bản văn này như để đánh nổi lên sự bình đẵng cho thời đại của Người. Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, và cùng nhau tạo thành một hiệp thông các nhân vị, người nam đầu tiên và người nữ đầu tiên phải làm thành một bước khởi đầu và mẫu mực cho hiệp thông nơi mọi người nam và nữ, để vào bất cứ thời nào, nam nữ đều hiệp nhất với nhau mật thiết đến độ thành [một xương] một thịt.

Thân xác, qua nam tính hay nữ tính của riêng mình, ngay từ ban đầu, đã giúp cả hai tìm được chính mình trong hiệp thông các nhân vị, nay là thành tố cấu tạo nên sự hiệp nhất giữa họ khi họ thành chồng thành vợ. Tuy nhiên sự kiện này xảy ra qua việc chọn nhau. Việc chọn này thiết lập nên giao ước hôn nhân giữa hai con người,[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) mà nay đã trở thành một thịt chỉ trên nền tảng giao ước ấy mà thôi.

Điều này tương hợp với cơ cấu của sự đơn độc nơi con người, và cụ thể là tương hợp với nỗi “cô đơn kép”. Xét như là cách biểu lộ việc tự xác định, việc lựa chọn dựa trên nền tảng của tự ý thức. Chỉ dựa vào nền tảng của cái cơ cấu đặc biệt này của con người mà con người “là thân xác”, và qua thân xác, cũng là nam hoặc là nữ. Khi cả hai hợp nhất với nhau mật thiết đến độ thành một xương thịt, sự kết hiệp hôn nhân của họ giả thiết họ đã có một ý thức trưởng thành về thân xác mình. Quả vậy, giao ước hôn nhân mang nơi mình một ý thức đặc biệt về ý nghĩa của thân xác ấy trong việc trao cho nhau chính nhân vị mình.

Cũng trong ý nghĩa này, câu Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) là câu văn mở ra nhiều viễn cảnh. Nó chứng tỏ rằng trong mỗi khi người nam và người nữ kết hiệp vợ chồng với nhau, thì cái ý thức nguyên thuỷ về ý nghĩa mang tính hợp nhất của thân xác trong nam tính hay nữ tính lại được tái khám phá. Đồng thời bản văn Kinh Thánh cho thấy rằng mỗi một cuộc hiệp nhất ấy, cách nào đó, làm mới lại nét huyền nhiệm của việc tạo dựng trong trọn vẹn chiều sâu và sinh lực nguyên thuỷ. “Được rút ra từ người nam” như là “thịt bởi thịt” người nam, người nữ sau đó, như là người vợ và qua mẫu tính, trở thành mẹ của chúng sinh (x. St 3,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:20&FontSize=Txt10)), vì mẫu tính của người nữ cũng bắt nguồn từ người nam. Sinh sản bắt nguồn từ tạo dựng, và theo một nghĩa nào đó, lần nào cũng tự tạo ra sự huyền nhiệm của mình.

Một suy tư đặc biệt sẽ dành cho đề tài “tri thức và sinh sản”. Trong đó, sẽ cần phải nại đến những yếu tố khác nữa của bản văn Kinh Thánh. Việc phân tích chúng tôi đã đưa ra cho đến nay về ý nghĩa của tính đơn nhất nguyên thuỷ, cho thấy như thế nào mà sự hiệp nhất giữa nam và nữ, vốn gắn liền với mầu nhiệm sáng tạo, “ngay từ ban đầu” cũng đã được đưa ra như một quyết tâm mà mọi thời phải thực hiện cho bằng được.

-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1)“Liên kết mật thiết của đời sống hôn nhân và tình yêu đã được Đấng Tạo Hoá thiết lập và ấn định bằng luật của Ngài, và bắt nguồn trong giao ước hôn nhân do sự ưng thuận cá nhân không thể thay đổi” (MV, 48 (http://gpnt.net/thuvien/gaudium/gs_05.htm)).

Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
18-08-2009, 05:13 PM
X

GIÁ TRỊ CỦA HÔN NHÂN ĐƠN NHẤT VÀ BẤT KHẢ PHÂN LY
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CÁC CHƯƠNG ĐẦU SÁCH SÁNG THẾ

1. Chúng ta nhớ rằng Đức Kitô, khi bị chất vấn về sự đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, đã quy chiếu về điều vốn có «từ thuở ban đầu». Người đã trích dẫn những lời ghi trong những chương đầu của sách Sáng thế. Bởi thế trong bài suy tư hôm nay chúng ta thử đào sâu ý nghĩa đặc biệt của những lời này và những chương này.

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac10.jpgNgười ta thấy được ý nghĩa của sự hợp nhất nguyên thủy của con người (nhất là dưới ánh sáng của đoạn sách St 2,23) - là loài đã được Chúa tạo dựng có nam có nữ - nhờ việc hiểu biết con người trong toàn thể gia sản hữu thể được phú ban, nghĩa là trong tất cả sự phong phú của mầu nhiệm tạo dựng vốn nằm ở nền tảng của nhân học thần học. Để tìm hiểu con người, để nhận biết căn tính của con người, kẻ «cô đơn» từ thuở ban đầu, ta cần phải đi qua lưỡng thể tính (dualità), tìm hiểu về sự «hiệp thông».

Ta hãy nhớ lại đoạn sách St 2,23 : «Bấy giờ con người nói : “Này đây, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút ra từ đàn ông”». Đoạn văn này cho ta thấy rằng để hiểu con người cần phải đi qua giới tính (nam và nữ). Người nam và người nữ như là hai «hiện thân» của cùng một nỗi đơn độc siêu hình, đơn độc trước Thiên Chúa và trước thế giới. Đó như là hai cách thức của «thân xác» và đồng thời cũng là hai cách thức làm người bổ túc cho nhau, như là hai chiều kích tương hỗ của sự tự biết mình và tự xác định mình và, đồng thời như là hai cách thế hỗ tương để ý thức về ý nghĩa của thân xác. Như đoạn St 2,23 đã cho thấy, theo một nghĩa nào đó, người nữ nhận ra chính mình khi đứng trước người nam, còn người nam được khẳng định mình nhờ người nữ. Chính chức năng của giới tính, vốn là «yếu tố làm nên nhân vị» (chứ không chỉ là «thuộc tính của nhân vị») theo một nghĩa nào đó, cho thấy con người sâu thẳm là dường nào, làm người với tất cả nỗi đơn độc tinh thần của mình, với một ngôi vị tính độc nhất vô song, được cấu thành nhờ thân xác là «nam» hay là «nữ». Sự hiện diện của yếu tố người nữ bên cạnh người nam, và cùng với người nam, có ý nghĩa là làm cho con người nên phong phú trong toàn thể viễn tượng lịch sử của mình, gồm cả trong đó là lịch sử cứu độ. Toàn bộ giáo huấn về sự hợp nhất này tự nguyên thủy vốn đã được diễn tả trong St 2,23.

2. Sự hợp nhất St 2,24 nói tới («cả hai sẽ nên một xương một thịt») hẳn là được diễn tả và thực hiện qua hành vi vợ chồng. Công thức kinh thánh hết sức cô đọng và đơn giản ấy cho thấy giới tính của con người (nam và nữ) như là đặc tính giúp họ, khi «nên một xương một thịt», đặt toàn thể nhân tính của mình dưới sự chúc lành sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên, toàn thể ngữ cảnh của công thức ngắn ngủi này không cho phép chúng ta dừng lại ở bề mặt của giới tính con người, không cho phép chúng ta nói về thân xác và giới tính ở bên ngoài chiều kích đầy đủ của con người, bên ngoài «sự hiệp thông các ngôi vị», nhưng buộc chúng ta phải nhận biết chính sự viên mãn và chiều sâu của sự kết hợp này, điều mà người đàn ông và người đàn bà phải thực hiện dưới ánh sáng của mạc khải thân xác.

Bởi thế, trước hết lối diễn tả hướng đến một viễn cảnh, như sau đây: «người đàn ông ... sẽ gắn bó với vợ mình» cách thân mật đến mức «cả hai nên một xương một thịt», luôn khiến ta quay về với điều mà bản văn kinh thánh trước đây nói về sự kết hợp trong nhân tính, liên kết người đàn bà với người đàn ông trong chính mầu nhiệm sáng tạo. Những lời của đoạn St 2,23 mà chúng ta vừa phân tích đã giải thích ý niệm này một cách đặc biệt. Khi kết hợp với nhau qua hành vi vợ chồng mật thiết đến độ trở nên “một xương một thịt”, có thể nói rằng người đàn ông và người đàn bà tái khám phá, mỗi lần mỗi cách khác nhau, mầu nhiệm sáng tạo. Như thế, họ trở về hợp nhất trong nhân tính («xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi»), và điều đó khiến họ nhận ra nhau và, như lần đầu đầu tiên, họ gọi tên nhau. Điều này nói lên rằng, theo một nghĩa nào đó, họ sống trở lại giá trị trinh nguyên thuở ban đầu của con người, vốn xuất hiện từ mầu nhiệm sự đơn độc của con người đứng trước Thiên Chúa và giữa lòng thế giới. Sự kiện họ trở nên “một xương một thịt” là sợi dây liên kết bền chặt mà Đấng Tạo Hóa đã thiết lập, nhờ đó họ khám phá ra nhân tính riêng của mình, cả trong sự thống nhất nguyên thủy của nhân tính ấy lẫn trong tình trạng nhị phân nhưng hấp dẫn nhau cách kỳ diệu. Thế nhưng, giới tính còn là điều gì hơn nữa chứ không chỉ là mãnh lực bí nhiệm của xác thân con người hoạt động gần như theo bản năng. Trên bình diện con người và trong mối quan hệ giữa các nhân vị, giới tính biểu hiện một nỗ lực của con người luôn muốn vượt qua cách mới mẻ cái giới hạn của sự đơn độc vốn được ghi dấu trong thân xác con người và xác định ý nghĩa ban đầu của nó. Ngay trong sự vượt qua ấy luôn bao hàm sự đảm nhận cách nào đó nỗi cô đơn của thân xác của cái “tự ngã” thứ hai như là của mình.

3. Điều đó gắn liền với sự chọn lựa. Chính công thức trong đoạn St 2,24 cho thấy không những con người (nam và nữ) đã được tạo dựng để hợp nhất, mà còn cho thấy rằng chính sự hợp nhất này (nhờ đó họ trở nên một xác thịt) ngay tự ban đầu có một đặc tính là họ gắn kết với nhau bởi chọn lựa. Quả thật chúng ta đọc thấy: «người đàn ông lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình». Con người về mặt “tự nhiên” thuộc về cha mẹ mình qua đường truyền sinh, nhưng lại «gắn bó» với vợ (hay với chồng) mình bởi sự chọn lựa. Đoạn văn St 2,24 xác định đặc tính đó của dây liên kết vợ chồng khi nói tới người đàn ông và người đàn bà đầu tiên, thế nhưng cũng đồng thời ám chỉ đến viễn cảnh toàn thể tương lai loài người trên trái đất này. Bởi thế, vào thời của Người, Đức Kitô sẽ qui chiếu tới bản văn này, bản văn cũng có tính thời sự không kém vào thời đại của Người. Được tác tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, xét vì họ tạo nên một sự hiệp thông ngã vị đích thực, người nam và người nữ đầu tiên phải là khởi đầu và là mẫu mực cho tất cả mọi người đàn ông và đàn bà thuộc mọi thời đại kết hợp với nhau thân mật nên «một xương một thịt». Thân xác con người nhờ giới tính nam và nữ như thế, ngay từ thuở ban đầu đã giúp cả hai người (như «trợ tá tương xứng» của nhau) khám phá lại chính bản thân trong sự hiệp thông ngã vị, và cũng thân xác ấy, cách riêng trở thành yếu tố cấu thành cho sự gắn bó của họ, khi họ trở nên vợ chồng. Nhưng điều ấy có được thực hiện là nhờ họ đã chọn lựa nhau. Chính sự chọn lựa tự do đó mới tạo lập nên khế ước hôn nhân giữa hai con người [1], mà nay chỉ trên nền tảng ấy đã trở nên “một xác thịt”.

4. Điều đó tương ứng với cấu trúc của sự đơn độc của con người, cụ thể là tương ứng với hai con người cô đơn. Chọn lựa, như là một biểu lộ sự tự khẳng định mình, đặt nền tảng trên cấu trúc ấy, nghĩa là trên cơ sở của sự tự ý thức về mình. Chỉ trên cơ sở của cấu trúc riêng của con người, con người là «thân xác» và nhờ đó cũng là người nam và là người nữ. Khi cả hai người kết hợp với nhau cách thân mật đến mức trở nên «một xương một thịt», hôn phối ấy giả thiết họ đã có một ý thức trưởng thành về thân xác. Thật vậy, hôn phối tự nó bao hàm một ý thức đặc thù về ý nghĩa của thân xác nơi việc các ngôi vị (con người) hiến thân cho nhau. Theo nghĩa này, câu St 2,24 còn mở ra viễn cảnh rộng lớn hơn. Thật vậy, đoạn văn ấy cho thấy rằng mỗi khi người đàn ông với người đàn bà kết hợp vợ chồng với nhau, chính ý thức nguyên thủy ấy về ý nghĩa hợp hôn (unitivo) của thân xác với nam tính và nữ tính của nó lại được khám phá. Như thế, bản văn kinh thánh cũng đồng thời cho thấy rằng trong mỗi kết hợp vợ chồng như thế, mầu nhiệm tạo dựng, theo cách nào đó, được thực hiện cách mới mẻ trong toàn bộ chiều sâu nguyên thủy và sức sống của nó. Người phụ nữ «được rút ra tự người nam» là «thịt bởi thịt người nam» và sau đó trở thành «vợ» và nhờ mẫu tính của mình trở thành mẹ của chúng sinh (x. St 3,20), vì mẫu tính của người nữ cũng có nguồn gốc nơi người nam. Truyền sinh bắt nguồn từ tạo dựng, và cứ mỗi lần như thế, theo nghĩa nào đó, mầu nhiệm tạo dựng lại được hiển lộ.

5. Một suy tư đặc biệt: «nhận thức và sinh sản» sẽ được dành cho đề tài này. Trong đó chúng ta còn cần phải tham khảo những yếu tố khác nữa của bản văn kinh thánh. Cho tới nay chúng ta đã phân tích ý nghĩa sự hợp nhất vợ chồng nguyên thủy và thấy rằng một cách nào đó (trong ý định) «tự ban đầu» sự kết hợp nên một giữa người đàn ông và người đàn bà như thế, là điều vốn gắn kết với mầu nhiệm tạo dựng, là một dấn thân (cam kết) đi vào viễn tượng toàn thể tương lai về sau.

-----

[1] «Cộng đoàn với đời sống chung thân mật và tình yêu vợ chồng được Tạo Hóa thiết lập và ban những định luật riêng; cộng đoàn ấy được xây dựng do khế ước hôn nhân, nghĩa là dựa trên sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại» (GS 48). Đây là một định nghĩa của hôn nhân đáng lưu ý: a) cốt yếu là một đời sống chung và với một tình yêu đặc biệt; b) tùy theo Luật Chúa là Đấng sáng tạo hôn nhân; c) bắt đầu từ khi hai người, nam và nữ, công khai tuyên bố lời ưng thuận. Đối tượng của sự ưng thuận ấy là chính con người, hai con người tự hiến cho nhau và đón nhận nhau. Hai người, chứ không phải chỉ là quyền trên thân xác mà thôi (như, theo Giáo Luật cũ 1917 khoản 1081 đoạn 2, Thông điệp Casti Connubi của đức Piô XI đã xác nhận : x. AAS 22 (1930), 541 ; Dz 3701 / 2225). Hai người sẽ nên một về mọi phương diện (tâm-sinh lí, xã hội, đạo đức) Kết quả là một tổ chức vững chắc không phải tự ý riêng nhưng theo ý định của Thiên Chúa . Tổ chức này có nhiều mục đích (x. GS 50b) và mưu ích không những cho đôi bên mà còn cho gia đình và xã hội nữa.

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch

http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=453 (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=453)