PDA

View Full Version : Vua Salomon


KaTy
08-03-2006, 07:09 AM
VUA SALOMON (1)

Nếu bất chợt có ai hỏi chúng ta biết gì về vua Salomon trong Kinh Thánh, đa số chúng ta chỉ biết ông là người được Thiên Chúa ban cho ơn khôn ngoan đặc biệt. Nhiều người nhớ được giai thoại ông giải quyết nghi án tìm ra được mẹ ruột của đứa trẻ bằng cách dọa chặt đôi đứa bé. Mọi người còn nhớ ông là người xây Đền Thờ Giêrusalem đầu tiên. Ông là vị vua đã đưa quốc gia Do thái vào một thời kỳ vàng son nhất trong lịch sử đất nước, thời hoàng kim. Nữ Hoàng Saba đã nghe biết và tới thăm.

Nhưng sự thật như thế nào? Những hệ lụy sau khi Salomon qua đời buộc chúng ta tự hỏi: "Thật sự Salomon có phải là một vị vua vĩ đại như người ta thường nghĩ không?"




Vua Salomon trong Kinh Thánh được vang danh vì sự khôn ngoan, giầu có và các trước tác của mình.

Ông lên làm vua vào khoảng 967 trước Công Nguyên. Quốc gia Do thái của ông, lúc đó, trải dài từ ven sông Euhrates trên miền Bắc, vùng Lưỡng Hà, xuống đến tận vùng cực Bắc của Ai Cập, phía Nam.

Hầu hết những điều nói về ông được ghi lại trong hai cuốn: Sách Các Vua, quyển Một và Sách Sử Ký, cuốn Hai.


1- Salomon kiên quyết tranh ngôi

Chúng ta hãy theo dõi sát cuộc tranh ngôi ngay từ đầu sách các Vua cuốn một, trước hết để thấy cá tính của Salomon nổi bật lên như thế nào, và dường như ngay từ lúc này, sự khôn ngoan của Salomon đã bắt đầu tỏ lộ.

Ngay câu đầu của sách các Vua, Kinh Thánh cho ta thấy tình cảnh của vua Đavit: “Vua Đa-vít đã già nua, tuổi tác; áo mặc bao nhiêu cũng không đủ ấm.” (1Vua 1, 1)

Liền đó Kinh Thánh ghi lại phương thế các bề tôi nghĩ ra để sưởi ấm cho Vua, một phương thế mà họ tin rằng sẽ hữu hiệu: “Các bề tôi của vua mới thưa vua rằng: "Xin được tìm cho đức vua, chúa thượng của hạ thần một cô trinh nữ, để nàng túc trực bên ngài và săn sóc cho ngài; có nàng nằm trong lòng ngài, ngài sẽ cảm thấy ấm." Vậy họ đã tìm khắp nơi trong toàn cõi Ítraen để kiếm một thiếu nữ trẻ đẹp, và họ đã gặp cô Avisác, người Sunêm. Họ dẫn nàng vào chầu vua. Đó là một thiếu nữ cực kỳ xinh đẹp; thế là nàng trở thành người săn sóc và hầu hạ vua; nhưng vua vẫn để nàng trinh nguyên.” (1Vua 1,1-5)


[Chú thích: Các Bác ôi, làm Vua mà được như thế thì hèn chi từ cổ chí kim ai cũng muốn làm vua. Chỗ in đậm là của nhà cháu. Để nhấn mạnh. Có điều đọc đến chi tiết in đậm cuối cùng, nhà cháu thấy KinhThánh chẳng hề kiêng nể một ai mà cứ thẳng thắng trình bày sự thật phũ phàng của bất cứ ai đã luống tuổi. Có được gì đâu mà ! ]


Như thế “cái lò sưởi” Avisac xinh đẹp đã thành sủng thiếp của vua Đavit.

Salomon là con của Đavít và bà Bathsheba. Ông không phải là con trưởng, ông là người con thứ mười của Đavít. Nhưng Đavit đã hứa với Bathsheba rằng Salomon sẽ kế vị mình.

Khi Adonijah tự tuyên bố mình là vua: “Còn hoàng tử Ađônigia, con của bà Khácghít, thì tự xưng vương mà rằng: "Ta sẽ làm vua! " Chàng sắm xe, ngựa, và kiếm được năm mươi người chạy đàng trước mình.” (1 Vua 1:5) bà Bathsheba và tiên tri Nathan lập kế hoạch để đem Salomon lên ngôi báu (xem 1Vua 1, 11-27)


Tên Adonijah có nghĩa là “Chúa của tôi là Adonai”. Ông là người con thứ tư của Đavít (xem 2 Sam 3,4), nhưng sau khi Amnon và Absalom chết, thì xem ra ông là người kế vị. Ông được sự ủng hộ của Gioab và tư tế Abiathar.

Ngay khi nghe tin Adonijah đang rình rang tiếm quyền, Đavít truyền cho gia nhân mang cậu Solomon, lúc đó đang rất trẻ tuổi, tới suối Gihon để các Tư tế phong vương cho cậu.

Sau đó dưới sự, điều động của một bộ tham mưu gồm “tư tế Xađốc, ngôn sứ Nathan, ông Bơnagiahu con ông Giơhôgiađa, cùng với quân Cơrêthi và Pơlêthi đi xuống, họ để hoàng tử Salômôn cỡi con la cái của vua Đavít và đưa hoàng tử xuống Ghikhôn. Tư tế Xađốc lấy sừng đựng dầu từ Nhà Lều và xức cho Salômôn. Người ta đã rúc tù và; toàn dân hô: "Vua Sa-lô-môn muôn năm! " Toàn dân tiến lên theo sau vua. Dân chúng thổi sáo và reo vui đến nỗi đất cũng chuyển động vì tiếng hò la của họ.” (1Vua 1:38 – 40)

Ngay lập tức hoàng tử Adonijah thấy mình đã thất thế: “Bấy giờ tất cả những người được Ađônigiahu mời đều run sợ; họ đứng lên, bỏ đi, mỗi người một ngả. Còn Ađônigiahu, vì sợ Salômôn, đã đứng lên đi bám chặt lấy góc bàn thờ.” (I Vua 1, 49-51)

Bàn thờ người Do thái dùng để sát tế là một đống đá xếp vuông vức, mặt trên bằng phẳng như một cái mặt bàn. Bốn góc bàn có bốn cục đá nhô cao như bốn cái sừng. Tế đàn là nơi thánh đối với người Do thái. Chổ đó chỉ để giết các tế sinh, không thể là chổ để giết người. Đố máu một người tại tế đàn đồng nghĩa với việc giết người đó để tế cho Thiên Chúa. Đó là điều Thiên Chúa cấm người Do thái.

Vì thế Adonijah xuống nước, tự nhận mình chỉ là phận “tôi tớ” của Salomon, và bám lấy góc bàn thờ để mong thoát chết !

sword_009
11-04-2008, 08:23 PM
ok tiếp tục đi chú, hay lắm. mình đang cần sách về ông vua solomon này chú có ebook thì gửi cho mình nhé phamminhloc_1988@yahoo.com.vn

KaTy
12-04-2008, 08:38 AM
Người ta báo tin cho Salômôn rằng: "Này Ađônigiahu sợ vua Salômôn, nên đã bám chặt lấy góc bàn thờ mà nói: "Hôm nay xin vua Salômôn thề hứa với tôi là người sẽ không dùng gươm giết tôi tớ người."(1 Vua 1,52)

Salomon biết rõ toan tính của Adonijah, Ông còn biết rõ con ngươì cùng tâm tính của Adonijah nên ông đã đi một thế cờ cao hơn nhiều nước.

Salômôn nói: "Nếu ông ấy là người lương thiện, thì không một sợi tóc nào trên đầu ông sẽ rơi xuống đất; còn nếu người ta phát giác ông có tội, thì ông sẽ phải chết." Rồi vua Salômôn truyền đưa ông xuống khỏi bàn thờ; ông đến sấp mình trước vua Salômôn, và Salômôn bảo ông: "Về nhà ngươi đi! " (1 Vua 1,52-53)

Ra điều là tha chết, nhưng thật sự Solomon không tha. Ông chỉ ra án treo: "Nếu ông ấy là người lương thiện, thì không một sợi tóc nào trên đầu ông sẽ rơi xuống đất; còn nếu người ta phát giác ông có tội, thì ông sẽ phải chết."

Salomon biết chắc kết cục rồi sẽ như thế nào. Nhưng hiện thời rõ ràng ai cũng thấy ông là người quảng đại khi cư xử như thế. Nhất là các anh em khác của ông.

Quả thế, khi Vua Đavit vừa mới qua đời, Adonijah đã tự kết án mình: “Ông Ađônigiahu, con bà Khácghít, đến gặp bà Bát Seva, mẹ vua Salômôn; bà hỏi ông: "Anh đến nói chuyện bình an chứ? " Ông thưa: "Bình an."Ông nói tiếp: "Tôi có việc muốn thưa với bà." Bà đáp: "Anh cứ nói." Ông nói: "Hẳn bà cũng biết là vương quyền phải thuộc về tôi; và toàn thể Ítraen đều hướng về tôi, trông chờ tôi làm vua. Nhưng vương quyền ấy đã xoay chiều và thuộc về em tôi, vì ĐỨC CHÚA đã muốn như thế. Vậy bây giờ tôi chỉ có một điều xin bà, bà đừng ngoảnh mặt đi." Bà bảo ông: "Anh cứ nói." Ông liền nói: "Xin bà nói với vua Salômôn -vì người không ngoảnh mặt từ chối bà đâu- xin người ban cho tôi nàng Avisác, người Sunêm, làm vợ." Bà Bát Seva nói: "Được, tôi sẽ thưa với vua hộ anh." (1 Vua 2:12-18 )

Adonijah đã công nhận quyền làm vua nay đã thuộc về Salomon. Ít là miệng ông đã nói thế. Nhưng khi ông tỏ ý muốn nàng hầu Avisac của tiên đế Đavit, ông đã không giấu nổi cái toan tính trong đầu.

Trong văn hóa Cận Đông cũng như Á Đông, việc chiếm hậu cung của một vị vua đồng nghĩa với việc cho mình de facto là Vua hoặc chính mình xúc phạm tới tiên đế. Xem thêm Đệ Nhị Luật 27 câu 20 : “Đáng nguyền rủa thay kẻ nằm với vợ của cha mình, vì nó xâm phạm đến quyền làm chồng của cha mình! Toàn dân sẽ thưa: A-men! “

Qua toan tính này của Adonijah, chúng ta có thể kết luận rằng ông đã tỏ ra không xứng với vai trò lãnh đạo trong cương vị làm Vua. Ông đã vụng về đánh giá Salomon quá thấp. Ông quá thảm hại khi không biết rõ Salomon, cho rằng khi xin nàng hầu Avisac, Salomon không nhận ra hậu ý của mình.

Tệ hơn nữa, ông đã không làm chủ được tình cảm của mình, khi vua cha Đavít chưa xanh cỏ mồ, ông đã muốn chiếm nàng hầu của Cha.

Điều đó Salomon đã đoán trước từ lâu và đang nhẫn nại chờ.

Và kết cục là :Vua Salômôn trả lời và nói với mẹ: "Sao mẹ lại xin nàng Avisác, người Sunêm, cho Ađônigiahu? Mẹ xin cho anh ấy vương quyền luôn đi, vì anh ấy là anh con mà, và đã có tư tế Épgiatha cũng như Giôáp, con Xơrugia, ủng hộ." Rồi vua Salômôn lấy danh ĐỨC CHÚA mà thề: "Xin Thiên Chúa phạt ta thế này và thế kia nữa, nếu Ađônigiahu không mất mạng vì câu nói đó! " Vậy bây giờ, có ĐỨC CHÚA hằng sống! Đấng đã làm cho ta được vững, và đặt ta trên ngai Đavít phụ vương ta, Người cũng đã tạo lập cho ta một triều đại như Người đã phán, ta thề rằng ngay hôm nay Ađônigiahu sẽ phải chết! " Đoạn vua Salômôn sai ông Bơnagiahu, con ông Giơhôgiađa, đi hạ sát ông Ađônigiahu và ông này đã chết.” (1 Vua 2, 22-25)

Như thế cuộc tranh quyền này cho chúng ta thấy được cái motif thường lập lại trong Kinh Thánh. Đó là phế trưởng mà lập thứ. Chúng ta còn nhớ chuyện Isaac thế chổ Ishmael, Jacob thay cho Esau, Ephraim thay cho Manasseh, và Đavít thay cho các anh của mình.

Đúng hơn trình thuật theo nguồn Yavít này muốn vin vào đó như là lý do cắt nghĩa tại sao Thiên Chúa Yahweh lại chọn Salomon mà không chọn Adonijah.

Sau đó ít lâu Gioab, người đã từng ủng hộ Adonijah lên làm vua, cũng bị hành quyết. Còn Abiathar, vị tư tế đứng về phe Adonijah, bị phát lưu đến Anathoth.

Chuyện Salomon đày Abiathar đến Anathoth còn liên quan đến việc tranh chấp giữa hai gia đình tư tế Abiathar và Zadok. Ai cùng muốn tranh quyền giữ vai trò tư tế tại Giêrusalem. Đó là một thế lực mạnh, có ảnh hưởng nhiều khi lên cả ngai vua. Lúc bấy giờ muốn đường đường chính chính lên ngôi vua cần có tư tế xức dầu phong vương.

Sau khi đã triệt hạ các đối thủ, hoặc bằng đày ải hoặc bằng án tử, Kinh Thánh cho biết, từ đó trở đi: “Vương quyền của ông thật là vững chắc" và “Vua Sa-lô-môn nắm vững vương quyền trong tay" (1 Vua 2,46).

KaTy
12-04-2008, 08:40 AM
Vua SALOMON (2)


2- Dễ có mấy tay


Trước khi đọc tiếp Kinh Thánh để thêm cái nhìn mới về Salomon, chúng ta có thể nhận ra một vài chi tiết khá thú vị bên cạnh những biến cố tranh chấp quyền thế vị. Dĩ nhiên chúng ta chỉ có thể suy đoán chúng giữa hai hàng chữ.

Tiên tri Nathan gọi Salomon dưới tên Jedidiah, có nghĩa là “được YHWH yêu thương” Còn ở sách Sử Ký, cuốn Một, chương 22 , câu 8-9 “Nhưng có lời ĐỨC CHÚA phán với cha rằng: "Ngươi đã đổ máu quá nhiều và đã nhiều phen giao chiến, nên sẽ không được xây nhà kính danh Ta. Trước mặt Ta, ngươi quả đã làm cho đất thấm đầy những máu. Này, đứa con ngươi đã sinh ra đó, nó sẽ là người của bình an, và Ta sẽ cho nó được bình an tư bề, không bị thù địch quấy nhiễu. Vì thế nó mới mang tên là Sa-lô-môn. Suốt cuộc đời nó, Ta sẽ ban cho Ít-ra-en được an cư lạc nghiệp.“ hàm ý rằng YHWH tỏ cho Davít biết tên của con mình sẽ là Salomon, nghĩa là “hoà bình”.

Hai điều này dường như ngụ ý cho thấy triều đại của Salomon sẽ là triều đại hoà bình và thuận lợi dưới mắt Thiên Chúa.

Nhưng để được bình an như thế, những ngày đầu lên ngôi, máu đã đổ trong những cuộc tranh chấp và thanh toán nợ cũ. Bà BathSheba, mẹ của Salomon đóng một vai trò không nhỏ trong việc đưa con mình lên ngôi.

Chi tiết tiên tri Nathan và bà mẹ Bath-sheba toa rập nhau để can thiệp cùng với Vua Đavít đưa Solomon lên ngôi, cho thấy hai người rất thân cận với nhau. Nathan can thiệp vào việc triều chính đã đành, mà bà Bathsheba cùng năng nổ không kém.

Adonaijah đã vụng về khi tiếm ngôi. Lúc vị vua già Đavít đang nằm liệt trên giường, Adonaijah không muốn thể thức xức dầu phong vương, mà chỉ muốn tự xưng vương. Để cho công việc được thuận tiện Ông không mời hết các vị tai mắt trong triều. Ông chỉ mời những ai ông thấy đồng tình với ông. Ông bỏ qua không mời Nathan, và dĩ nhiên bỏ qua Salomon. Theo phe ông, được hơn năm mươi người. Điều lấm liếp đó khiến cho Nathan nghi ngờ.

Lập tức hai người, tiên tri Nathan và bà BathSheba, cùng nhau lên kế hoạch làm sao cho Đavít nhanh chóng nhường ngôi cho Salomon. Dù trong lúc dầu sôi lửa bỏng - Adonaijah và những người đi theo, lúc đó đang ăn mừng chiến thắng, - nếu chậm chân, không những Salomon không lên được ngôi vua mà cái mạng mình cũng khó có thể giữ được, hai người vẫn đưa ra được một kế hoạch khôn ngoan. Không hấp tấp nhưng nhịp nhàng ăn khớp với nhau và hiệu qủa.

Trước hết Bà “Bát Seva vào chầu vua tại ngự phòng.” Rồi khi “Bà còn đang trình bày với vua, thì ngôn sứ Na-than đến. Người ta báo tin cho vua hay có ngôn sứ Na-than đến.”(1 Vua 1:15, 22, 23)

Đó là chiến thuật “chúng khẩu đồng từ, sư ông cũng chết.”

Lập tức kế hoạch có hiệu qủa: “Vua Đa-vít lên tiếng nói: "Mời Bát Seva vào cho ta." Bà vào chầu vua và đứng trước mặt vua. Bấy giờ vua thề và nói: "Ta thề nhân danh ĐỨC CHÚA, Đấng đã giải thoát ta khỏi mọi cơn quẫn bách: đúng như ta đã thề với ái khanh nhân danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ítraen, rằng Salômôn của ái khanh sẽ làm vua kế vị ta; chính nó sẽ ngự trên ngai ta, thay thế ta, và ngay hôm nay ta sẽ thi hành như thế. “ (1 Vua 1:28-31)

Sau này khi đã lên ngôi, Salomon rất nghe lời Mẹ và kính trọng Mẹ mình. Chắc vì đã thấy rõ nhờ công lao của Mẹ mà mình được ngồi trên ngôi vua. Khi Bà tới yêu cầu Salomon dùm cho Adonaijah được “nàng Avisác, người Sunêm, làm vợ”, chúng ta thấy Salomon rất cung kính với Mẹ mình. Vua sấp mình chào Bà và cho ngồi ngang hàng: “Bà Bát Se-va vào yết kiến vua Sa-lô-môn để thưa chuyện với vua giúp A-đô-ni-gia-hu. Vua đứng lên, ra đón và sấp mình chào bà; đoạn vua ngồi trên ngai, đồng thời cũng truyền đặt một ngai cho bà thái hậu, bà ngồi bên hữu vua. Bà nói: "Có một điều nhỏ mọn mẹ xin với con; con đừng ngoảnh mặt đi." Vua nói với bà: "Thưa mẹ, mẹ cứ xin, vì con sẽ không ngoảnh mặt từ chối mẹ." (1Vua 2:19,20 )


Chúng tôi còn dám đưa ra giả thuyết, biết đâu cái chuyện tắm trong buổi chiều tà của Bà không phải hoàn toàn là vô tình.

Chúng ta hãy ôn lại quá khứ một chút :

“Lúc xuân về, thời mà các vua ra quân, vua Đavít sai ông Giôáp đi, cùng với các bề tôi của vua và toàn thể Ítraen. Họ giết hại con cái Ammon và vây hãm Rápba. Còn vua Đavít thì ở lại Giêrusalem.

Vào một buổi chiều, vua Đa-vít từ trên giường trỗi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời. Vua Đavít sai người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói: "Đó chính là bà Bát Seva, con gái ông Êliam, vợ ông Urigia người Khết." Vua Đavít sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm với nàng; khi ấy nàng mới thanh tẩy sau thời kỳ ô uế. Rồi nàng trở về nhà. Người đàn bà thụ thai. Nàng sai người đến báo tin cho vua Đa-vít rằng: "Tôi có thai." (2 Samuel 11:2-5)

Kinh Thánh ghi rõ thời gian: “Mùa xuân”. Thật rất hiếm thấy trong Kinh Thánh có chỗ nào ghi rõ thời điểm như thế. Kể ra chuyện tội lỗi tày trời, tội nặng gian dâm có cả giết người, mà kể rất là chi tiết và thơ mộng. “Lúc xuân về.” Chỉ ba chữ ngắn gọn, mà nói lên rất nhiều điều. Ít ai lại không nghĩ ngay đến “Tình xuân phơi phới.” Quả là “có vậy nó mới ra vầy.”

Từ sân thượng của đền vua, Đavít thấy bà đang tắm.

Thật khó mà nói rằng bà không hề biết người ngoài có thể thấy chổ bà tắm. Bà là vợ tướng quân, nhà sát cung Vua. Nhà cửa tại Giêrusalem san sát nhau, thì hẳn bà phải nhìn thấy sân thượng nhà người . Lúc Đavit kêu bà tới cung, thì hẳn bà phải biết cái gì rồi sẽ xảy ra. Hơn nữa, Đavit khó có thể làm gì Bà nếu bà hết sức chống cự. Càng suy nghĩ thì càng phải kết luận “tại anh tại ả tại cả đôi đàng”.

Mà nếu thế bà đã có một toan tính rất xa cho tương lai của Bà. Hy sinh đời chồng cho tương lai của con và cái ghế hoàng hậu của mình. Hay cho một điều gì đó, ai mà biết !

Cho nên sau khi đứa con đầu chết đi, khi có đứa thứ hai là Salomon, bà đã không bỏ lỡ cơ hội nào để vun quén cho tương lai của mình và của Salomon.

Salomon đã khôn khéo sẵn, lại có bà mẹ nhìn xa thấy rộng, chắc chắn Adonijah sẽ thua. Mà đúng thế, Adonijah thua cuộc cũng chỉ vì không có sự giúp sức của bà mẹ biết viễn kiến như BathSebah này.

KaTy
12-04-2008, 08:41 AM
Ngoài việc loại trừ Adonaijah và đày biệt xứ Abiathar. Salomon còn loại trừ hai tên tuổi khác là tướng Gioab và Shimei.

Khi được tin số phận thảm thương của Adonaijah và Abiathar, Gioab chạy vào ôm bàn thờ, để mong được tha mạng. Nhưng Salomon vẫn sai thủ hạ thân tín Banaiah thi hành nhiệm vụ sát thủ.

Gioab là người đã giết hai tướng Ne và Amaxa của Đavít. Ông là tướng Tổng tham mưu: “Ông Giô-áp chỉ huy toàn thể quân đội Ít-ra-en.” (2 Sam 20, 23)

Nhưng chức vụ này đã không giữ được mạng ông. Đavit đã nhờ tay Salomon để trả oán: "Con cũng đã biết Giô-áp, con của Xơ-ru-gia, đã làm gì cho cha, nó đã làm gì cho hai người chỉ huy quân đội Ít-ra-en là Áp-ne, con của Ne, và A-ma-xa, con của Gie-the; nó đã giết họ. Như thế trong thời bình nó đã đổ máu người như trong thời chiến, làm cho đai lưng và giầy nó mang vấy máu chiến tranh. Con sẽ đối xử theo sự khôn ngoan của con, và đừng để cho đầu bạc của nó xuống âm phủ bình an.” (1 Vua 2,5-7)

Còn Shemei là người đã nhục mạ Vua Đavít (2 Sam 16, 5-9): “Khi vua Đa-vít đến Ba-khu-rim thì kìa có một người từ đó đi ra. Y thuộc cùng một thị tộc với nhà Sa-un, và tên là Sim-y, con ông Ghê-ra. Y vừa đi ra vừa nguyền rủa. Y ném đá vào vua Đa-vít và tất cả bề tôi vua, mặc dầu có toàn thể quân đội và toàn thể các dũng sĩ ở bên phải và bên trái vua. Sim-y nói thế này trong lời nguyền rủa của y: "Cút đi, cút đi, tên khát máu, thằng vô lại! ĐỨC CHÚA đã đổ xuống đầu mày tất cả máu của nhà Sa-un, người đã bị mày chiếm ngôi, và ĐỨC CHÚA đã trao vương quyền vào tay Áp-sa-lôm, con mày. Và này, mày phải tai hoạ, vì mày là tên khát máu! "


Tuy sau này Shemei đã xin lỗi Đavit, nhưng trước khi chết, Đavit đã nhắn nhủ Salomon phải thanh toán món nợ này : "Và này con, còn vụ Sim-y, con của Ghê-ra, người Ben-gia-min, thuộc Ba-khu-rim. Nó đã chửi rủa cha thậm tệ hôm cha đến Ma-kha-na-gim; nhưng rồi nó lại xuống đón gặp cha ở sông Gio-đan, và cha đã nhân danh ĐỨC CHÚA mà thề với nó rằng: "Ta sẽ không dùng gươm giết ngươi. Nhưng con, con đừng để nó vô can, bởi vì con là người khôn ngoan, và biết phải xử với nó như thế nào để bắt nó xuống âm phủ với đầu bạc vấy máu." (1 Vua 2: 8-9)

Dường như bản văn Kinh Thánh đổ trách nhiệm lên đầu Đavít về vụ giết Gioab và Shemei là cố ý là để hình ảnh về Salomon được trong sáng hơn. Nhất là có thể để hợp với tính cách sáng suốt trong việc chính trị của Salomon.

Dù sao chăng nữa, đem những người thân tín của mình vào những chức vụ quan yếu trong chính quyền là điều khôn ngoan tối thiểu của những nhà làm chính trị. Hay ít ra đó là điều các nhà chính trị cẩn thận thường làm. Tướng thân tín Benaiah thay chổ của Gioab, Tư tế Zadok người nhà thay thế Abiathar: ” Bấy giờ ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa, đi lên, hạ sát, rồi chôn ông Giô-áp tại nhà ông này trong sa mạc. Vua đặt ông Bơ-na-gia-hu con ông Giơ-hô-gia-đa thay thế ông Giô-áp đứng đầu quân đội và tư tế Xa-đốc thay thế ông Ép-gia-tha.” (1 Vua 2:34-35)

Các con của Nathan được nắm giữ những chức vụ then chốt: “A-dác-gia-hu, con của Na-than, chỉ huy các trưởng vùng. Da-vút, con tư tế Na-than, làm cố vấn của vua.” (1 Vua 4.5)

Chính sách “thêm vây thêm cánh” này, rất tương hợp với đường lối sau này của Salomon khi ông liên kết với các thị quốc Tyrô và Sidon qua các liên minh, hay liên kết với Aicập qua ngã hôn nhân.

Như thế việc triệt hạ các kẻ nội thù của Salomon tưởng cũng là điều không quá đáng.

KaTy
12-04-2008, 08:43 AM
Vua SALOMON (3)

3- Thương mại phồn vinh

Những thành tựu mà Solomon có được phần lớn là nhờ công của vua cha Đavit. Đavit đã chế ngự được hầu hết các lân bang, nên hầu như 40 năm trị vì của Salomon không có binh đao. Đavit đặt tên con mình là Solomon, do từ nguyên “Shlomo”, có nghĩa là “hoà bình”, có thể vì tiên kiến được tương lai của con, hay ít ra, đặt hy vọng vào thời trị vì trong yên bình của con.

Đoạn 2 Samuel 8:1-18 cho ta thấy Đavit đã gây ảnh hưởng trên một vùng rất rộng lớn: mãi tới vùng đồng bằng của dân Amalech và tận núi Ginbôa. Vì một người dân ở vùng này đã giết Vua Saul và đến báo với Đavit về cuộc thảm sát . Nếu không có thiện cảm với Đavít thì ít ra họ cũng phải kiêng dè uy danh ông mà ra tay giết Saul dùm ông.

Nhưng chính đoạn sách các Vua, quyển 1, chương 4 nhấn mạnh tới nét huy hoàng của Salomon :

7 ) "Các trưởng vùng này, mỗi người một tháng, cống hiến lương thực cho vua Sa-lô-môn và cho tất cả những người được lui tới bàn ăn của vua Sa-lô-môn, họ không để cho vua phải thiếu gì. (8 Lúa mạch và rơm rạ cho ngựa tải đồ và ngựa trận, nơi nào có nhu cầu, họ cũng phải cung cấp, theo mức quy định cho mỗi người. (2) Thực phẩm cung cấp cho vua Sa-lô-môn mỗi ngày là: sáu trăm thùng tinh bột, một ngàn hai trăm thùng bột thường, (3) mười con bò thịt và hai mươi con bò nuôi, một trăm con cừu, không kể nai, linh dương, sơn dương và chim gáy béo để ăn thịt. (4) Vì vua thống trị khắp Vùng bên kia Sông Cả, từ Típ-xác đến Ga-da, thống trị hết, các vua bên kia Sông Cả, và vua sống bình an với mọi vùng ranh giới chung quanh. (5) Giu-đa và Ít-ra-en được an cư, mỗi người dưới cây nho và cây vả của mình, từ Đan tới Bơ-e Se-va trong suốt thời vua Sa-lô-môn cai trị."

Như thế, đế quốc Assyria bên bờ sông Euprates, Dân Hitít ờ bờ Halys, và người Ai cập bên bờ sông Nil từng làm mưa làm gió suốt bao thế kỷ trước đây trong Cựu Ước, nay không còn được thế. So với vinh quang đang khởi sắc của Solomon, họ là những vì sao lặn muộn vào lúc bình minh.


Trùng hợp với chi tiết này, khoa khảo cổ cho chúng ta thấy rằng từ những năm 1100 cho đến 900 trước TC, các đế chế ấy không còn là những trung tâm quyền lực. Vì thế, Solomon mới cai trị Do thái với tất cả uy danh có được do sự khôn ngoan Thiên Chúa ban cho ông.

“Xin ban cho tôi tớ Chúa đây, một tâm hồn biết lắng nghe, để cai trị dân Chúa và phân biệt phải trái; chẳng vậy, nào ai có đủ sức cai trị dân Chúa, một dân quan trọng như thế? " Chúa hài lòng vì vua Sa-lô-môn đã xin điều đó. Thiên Chúa phán với vua: "Bởi vì ngươi đã xin điều đó, ngươi đã không xin cho được sống lâu, hay được của cải, cũng không xin cho kẻ thù ngươi phải chết, nhưng đã xin cho được tài phân biệt để xét xử, thì này, Ta làm theo như lời ngươi: Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước ngươi, chẳng một ai sánh bằng, và sau ngươi, cũng chẳng có ai bì kịp. Cả điều ngươi không xin, Ta cũng sẽ ban cho ngươi: giàu có, vinh quang, đến nỗi suốt đời ngươi không có ai trong các vua được như ngươi." (1 Vua 3, 9-13)

Salomon chỉ mang quân đi đánh mỗi một thị quốc, đó là Hamath, bên bờ sông Orontes, vùng cực bắc của đất nước Do thái. Ông cần phải đánh để giữ yên vùng biên giới ấy, giúp cho việc buôn bán và trao đổi hàng hoá được thuận lợi. Ông đã chiến thắng và thiết lập các phố chợ và kho lẫm của mình tại đó: “Vua Sa-lô-môn đến Kha-mát Xô-va và chiếm lấy nơi ấy.4 Vua tái thiết Tát-mo trong sa mạc và tất cả các thành có kho dự trữ vua đã lập trong vùng Kha-mát.5 Vua xây lại Bết Khô-rôn Thượng và Bết Khô-rôn Hạ. Đó là những thành có tường luỹ kiên cố, cổng đóng then cài.” (2 Sử Biên 8:3-4)

Còn Vua Rezon ở Damas (1 Vua 11:23-25): “Thiên Chúa còn xui khiến cho vua có một địch thủ là Rơdôn, con của Engiađa, người đã bỏ chủ mình là Hađátede, vua Xôva mà trốn. Một số người tụ họp bên ông và ông trở thành đầu đảng. Vì vua Đavít muốn tiêu diệt họ, nên ông đến Đamát cư ngụ tại đó và làm vua ở Đa-mát. Ông thù nghịch với Ítraen suốt thời vua Salômôn.)" và Vua Hadad người Edomit (1Vua 11, 14-22):” ĐỨC CHÚA xui khiến cho có một người chống lại vua Salômôn: đó là Hađát người Êđôm, thuộc hoàng tộc Êđôm. Khi vua Đa-vít đã đánh bại Êđôm và ông Giôáp chỉ huy quân đội lên chôn cất các tử thi, thì ông tàn sát mọi đàn ông con trai ở Êđôm. Quả vậy, ông Giôáp cùng toàn thể Ítraen đã ở lại đấy sáu tháng cho tới khi tiêu diệt hoàn toàn mọi đàn ông con trai ở Êđôm. Bấy giờ, Hađát cùng với mấy người Êđôm trong số các tôi tớ của cha mình đã chạy trốn được sang Ai-cập,” Cả hai, tuy là kẻ thù của Salomon, nhưng đều không đủ mạnh như Hamath để tạo thành một nguy hiểm cho việc thương mại của Salomon.

Để canh chừng Damas phía bắc, Salomon đã củng cố thành Hazor, nằm án ngữ vùng thượng lưu sông Giodan, nơi giao lưu qua lại giữa Đông và Tây. Salomon còn xây dựng các pháo đài cho các kỵ sĩ và chiến xa của mình ở vùng Liban: “Đây là dịch vụ dân công vua Sa-lô-môn đã đặt ra để xây Đền Thờ ĐỨC CHÚA, cung điện của mình, công trình Milô, tường thành Giêrusalem, Khaxo, Mơghítđô và Ghede. Pharaô vua Aicập đã tiến quân chiếm Ghede, thiêu huỷ thành và sát hại dân Canaan cư ngụ ở đó; rồi vua tặng làm của hồi môn cho ái nữ là phu nhân của vua Salômôn. Vua Salômôn xây dựng lại Ghede và Bết Khôrôn Hạ, rồi Baalát và Tama ở sa mạc, trong xứ, và tất cả các thành làm kho dự trữ mà vua Salômôn sẵn có, các thành giữ xe trận, các thành nuôi ngựa và tất cả những gì vua Salômôn muốn xây cất ở Giêrusalem, ở Libăng và trong toàn lãnh thổ thuộc quyền vua” ( 1 Vua 9:15-19)

KaTy
12-04-2008, 08:49 AM
Trong đoạn này cũng nhắc tới việc Salomon xây dựng lại Ghêde và BếtKhôrôn Hạ, là để canh giữ và bảo vệ đường vận chuyển quặng đồng từ hải cảng ở Biển Đỏ chuyển lên.

Ngoài những căng thẳng kể trên tương giao giữa Salomon và các vua lân bang đều tốt đẹp, khiến cho việc thương mại và trao đổi hàng hoá của Salomon được thuận lợi.


Ông kết thân và liên minh chặt chẽ với Tyrô, một thị quốc phồn thịnh và là hải cảng phía Tây, Tyrô đã giúp vận chuyển gỗ và cung cấp cho Salomon những tay thợ nấu, đúc, và khắc đồng rất giỏi.

Giao kết chặt chẽ hơn là giao kết qua ngã hôn nhân với công chúa Aicập: “Sa-lô-môn thành con rể của Pha-ra-ô vua Ai-cập, vì đã cưới công chúa vua Ai-cập, và đưa nàng về Thành của Đa-vít, cho đến khi hoàn thành việc xây cất cung điện của ông” (1 Vua 3,1)

Pharaô tặng con rể Salomon thành Gezer, của ngươì Canaan, nằm ở một vị trí chiến lược ở vùng đồng bằng duyên hải phía nam. Thị quốc này đã từng chống lại Pharaô, đã bị hạ và bỏ hoang: “Pha-ra-ô vua Ai-cập đã tiến quân chiếm Ghe-de, thiêu huỷ thành và sát hại dân Ca-na-an cư ngụ ở đó; rồi vua tặng làm của hồi môn cho ái nữ là phu nhân của vua Sa-lô-môn. Vua Sa-lô-môn xây dựng lại Ghe-de và Bết Khô-rôn Hạ,” (1 Vua 9,16)


Có thể nói được là chính sách sống chung hoà bình giúp rất nhiều cho sự thạnh vượng của quốc gia Israel. Salomon lợi dụng tình trạng hoà bình này để đẩy mạnh ngành ngoại thương. Ông triệt để theo đúng câu châm ngôn “phi thương bất phú”. Mọi nơi đều gọi ông là “Vua thương gia vĩ đại của Israel”.

Từ vùng Lưỡng hà địa phía bắc cho đến vùng bán đảo Ả Rập phía Nam, từ Tadmor ở Palmyra, phía đông, cho đến bờ Biển Đỏ phía Tây, các đoàn thương khách của Salomon nhộn nhịp: “Vua tái thiết Tát-mo trong sa mạc và tất cả các thành có kho dự trữ vua đã lập trong vùng Kha-mát .” (2 Sử Biên 8 :4)

Chúng ta nên nhớ Palmyra nằm bên bờ sa mạc phiá tây của Syria, là giao điểm quan trọng của hai con đường thương mãi nổi tiếng: một đường trao đổi hàng hoá giữa miền Viễn Đông và Ấn Độ với Vịnh Ba Tư. Còn đường kia là con đường Tơ Lụa nối Âu Châu và Trung hoa.

Nhờ việc thuần hoá lạc đà đã trở thành thông dụng từ thế kỷ 12 trước CN, các vùng sa mạc chung quanh Palestine không còn là một chướng ngại lớn. Các đoàn khách thương chỉ cần mất hai hay ba ngày đường là đã có thể gặp các ốc đảo . Chính ông đã thiết lập một ốc đảo, cách Damascus 140 dặm về phía Đông Bắc: “Vua Sa-lô-môn xây dựng lại Ghe-de và Bết Khô-rôn Hạ, rồi Ba-a-lát và Ta-ma ở sa mạc, trong xứ” (1 Vua 9:18 )

Nhờ vươn tay kiểm soát các ngõ giao thương như thế thì khỏi cần phải đoán, chúng ta cũng biết của cải tuôn về kho hoàng gia sẽ dồi dào như thể nào. Không chỉ vàng bạc, tơ luạ, hay châu báu, mà còn có cả quặng đồng và gỗ quý. Những thứ này Salomon đã dùng để xây cất và trang trí cho Đền Thờ.

Tài thương mãi của Salomon càng tỏ hiện hơn qua việc buôn bán ngựa và xe ngựa của ông. Đây là một món hàng rất phồn thịnh và mang lại nhiều lợi nhuận. Chúng ta hãy nghe Kinh Thánh kể lại việc này: “Vua Sa-lô-môn tập trung xe và ngựa, xe có một ngàn bốn trăm cỗ, và ngựa có mười hai ngàn con. Vua để chúng ở các thành có xe, bên cạnh vua tại Giê-ru-sa-lem. Vua đã làm cho bạc ở Giê-ru-sa-lem ra thường như sỏi đá, còn bá hương thì nhiều như sung ở miền Sơ-phê-la. Ngựa của vua Sa-lô-môn được nhập từ Ai-cập và Cơ-vê. Các thương gia của vua đến tận Cơ-vê mua ngựa theo đúng giá. Một chiếc xe bán ra từ Ai-cập là sáu trăm se-ken bạc, và một con ngựa là một trăm năm mươi. Đối với tất cả các vua Khết và các vua A-ram, nhờ các thương gia làm trung gian mua vào, thì cũng thế.” (1Vua 10,26-29)

Nhờ chi tiết này, chúng ta thấy các thương gia của Salomon mua ngựa từ Ai cập và Cơvê. “Kue” hay “Qwh” là Cilicia, vùng nằm ở chân rặng Taurus miền Tiểu Á, tức là Thổ nhĩ kỳ ngày nay. Như thế, Salomon là người trung gian bán ngựa độc quyền giữa Ai cập và Tiểu Á. Mua tận gốc bán tận ngọn - “cho các vua Khết và Aram” - theo đúng giá: “một chiếc xe bán ra từ Ai-cập là sáu trăm se-ken bạc, và một con ngựa là một trăm năm mươi.”

Không chỉ buôn ngựa bán xe, mà ông còn trữ cho mình một số lượng đáng kể các phương tiện rất-hữu-ích-cho-chiến-tranh này. “Vua Sa-lô-môn tập trung xe và ngựa, xe có một ngàn bốn trăm cỗ, và ngựa có mười hai ngàn con. Vua để chúng ở các thành có xe, bên cạnh vua tại Giê-ru-sa-lem.” (1 Vua 10,26).

Nhìn vào số lượng phương tiện hùng hậu như thế, các lân quốc, dù có muốn gây chiến, hẳn phải e dè, tự lượng sức, so sánh hơn thiệt mà kiêng nể hay chùng bước.

Ông thiết lập hẳn những thành riêng biệt để tập trung, nuôi, chăm sóc đoàn xa mã này. Đó là các thành Giêrusalem, Hazor, Mêgiddo and Gezer (1 Vua 9:15-19: “Đây là dịch vụ dân công vua Sa-lô-môn đã đặt ra để xây Đền Thờ ĐỨC CHÚA, cung điện của mình, công trình Mi-lô, tường thành Giê-ru-sa-lem, Kha-xo, Mơ-ghít-đô và Ghe-de.”)

Sau này những công trình khảo cổ đã khai quật được những dấu tích thời Salomon tại những thành kể trên. Nhất là tại Milô, có những chuồng ngựa rộng, chứa được 450 con và đủ chổ để xếp bốn, năm chục chiến xa.

Còn về sự giàu sang của vua Sa-lô-môn, thì khỏi phải kể ra đây, chúng ta hãy nghe chính Kinh Thánh thuật lại (xem thêm 2 Sb 9:13 -24) :

“Số vàng vua Sa-lô-môn thu nhập hàng năm là hai mươi ngàn ký, không kể vàng do khách vãng lai, do các thương gia, do tất cả các vua Ả-rập và các quan thái thú trong nước đem nộp. Vua Sa-lô-môn làm hai trăm chiếc thuẫn lớn bằng vàng gò; mỗi chiếc thuẫn phải dùng tới sáu ký vàng. Vua còn làm ba trăm chiếc thuẫn nhỏ bằng vàng gò; mỗi chiếc mất một ký rưỡi vàng. Và vua đặt các thuẫn ấy trong Cung Rừng Li-băng. Vua lại làm một cái ngai lớn bằng ngà và dát vàng ròng rất tinh vi. Ngai có sáu cấp, phần trên của lưng ngai thì tròn; hai bên chỗ ngồi có tay tựa, đứng sát tay tựa là hai con sư tử, và mười hai con sư tử đứng trên sáu cấp ở hai bên. Chẳng vương quốc nào làm được như thế.

Tất cả các chén để uống của vua Sa-lô-môn đều bằng vàng, và tất cả các vật dụng trong Cung Rừng Li-băng cũng bằng vàng ròng. Không có bạc, vì thời vua Sa-lô-môn bạc không có giá trị gì cả. Quả vậy, vua Sa-lô-môn có một đoàn tàu biển đi Tác-sít, cùng với đoàn tàu của vua Khi-ram; và cứ ba năm một lần, đoàn tàu Tác-sít đến, mang theo vàng, bạc, ngà, khỉ và công. Vua Sa-lô-môn là người trổi vượt hơn tất cả các đế vương trên mặt đất về sự giàu có và khôn ngoan. Thiên hạ ai nấy đều mong diện kiến vua Sa-lô-môn để được nghe sự khôn ngoan mà Thiên Chúa đã ban cho vua. Mỗi vị đều mang lễ vật: đồ bạc, đồ vàng, y phục, vũ khí, hương liệu, ngựa và lừa. Cứ thế từ năm này qua năm khác.” (1 Vua 10:14-25)

KaTy
12-04-2008, 08:51 AM
Vua SALOMON (4)

4- Salomon khôn ngoan

Trước khi qua đời, Đavid đã nhắn nhủ Solomon, bấy giờ chừng 18 tuổi, kế vị mình làm vua đất nước Israel, với những lời lẽ như sau: ”Ta đã đi trọn đường đời. Vậy con phải kiên cường mạnh mẽ, và tỏ ra mình đã là một người đàn ông trưởng thành, và nhận lãnh trách nhiệm Chúa trao mà đi theo đường lối của Người, giữ những huấn lệnh, giới răn và những điều Người phán bảo. Như đã được viết trong Luật của Môsê. Có như thế, con sẽ được thịnh trị trong mọi điều con làm và mọi hướng con đi.” (1 Vua 2:2-3)

Đó là lời chúc phúc cổ điển mà mọi trẻ trai Do thái ngày nay vẫn còn nghe được vào ngày Bar Mitzvah của mình. Nó nhắc lại quy luật căn bản đã hướng dẫn toàn thể dân Do Thái từ ngày Thiên Chúa trao ban Lề Luật trên Núi Sinai: Muốn được thịnh vượng phải tuân thủ Giới luật.

Chỉ ít lâu sau khi được xức dầu phong vương. Thiên Chúa hiện ra với Solomon trong giấc mộng. Ngài đề nghị ông xin Ngài một hồng ân cho mình. Solomon trả lời: “Con chỉ là một đứa trẻ nít... Vậy xin Ngài ban cho tôi tớ Ngài khôn ngoan hiểu biết để phân xử Dân Ngài ...”

Lời yêu cầu đó đẹp lòng Thiên Chúa. Nên Ngài phán với cậu thanh niên Solomon : ”Vì con không xin được giầu có hay vinh quang, nhưng chỉ xin điều ích lợi cho toàn dân, vậy Ta sẽ ban cho con không những một trí khôn linh tuệ vô tiền khoáng hậu ... mà còn cho con giầu có và vinh quang chưa có vua chúa nào sánh bằng.” (1 Vua 3:7-13)

Sinh năm 848 trước Công Nguyên, Solomon chết năm 796 lúc 52 tuổi, làm vua được 40 năm. Đó là những năm huy hoàng nhất của quốc gia Do thái non trẻ. Ông được biết tới như là "chacham mi’kol ha’adam - người thông minh nhất trong loài người“.

Kinh thánh kể rằng vua chúa khắp mặt đất tới để nghe sự khôn ngoan của ông, không chỉ là khôn ngoan thông suốt về những điều trong Kinh Thánh, nhưng còn về những kiến thức trần đời và khoa học khác: ”Danh tiếng Vua vang ra khắp các lân bang. Vua soạn ra 3000 dụ ngôn và 1005 bài thơ. Vua bàn đến các loài thảo mộc, từ cây hưong bá xứ Liban cho đến cây hương thảo mọc leo ven tường. Ngài cùng bàn đến các loài thú vật, chim chóc, bò sát và cá biển. Nhiều người từ nhiều dân nước đến để nghe sự khôn ngoan của Solomon, cũng như các vua chúa tứ phương đã đến vì nghe biết về sự khôn ngoan của Ngài ”(1Vua 5:11-14).

Ở đây không nhắm bàn đến sự khôn ngoan của vua Salomon, nên xin được lướt qua vấn đề này.

KaTy
12-04-2008, 08:53 AM
Vua SALOMON (5)

5- Salomon xây Đền thờ

Công trình huy hoàng nhất trong đời vua Salomon là xây dựng Đền thờ cho Thiên Chúa, một đền thờ mà vua cha, Đavit, hồi sinh thời đã ao ước mà không toại nguyện.

Như chúng ta đã biết, vua Đavit đã rước Hòm đựng tấm Bia ghi Thập Điều lên ngọn đồi Morah, là đồi Giêrusalem. Nhưng vì ông là dân chinh chiến, tay đã nhuốm máu quân thù, nên Thiên Chúa không cho phép ông xây Đền Thờ. Ông đã trối công trình này lại cho con ông.

Kinh Thánh đã dành nhiều chương để miêu tả chi tiết công trình xây dựng Đền Thờ tại Giêrusalem. Đây là một công trình quan trọng nhất trong đời sống xã hội và tôn giáo của dân tộc Do thái. Vì Đền Thờ là giao điểm, nơi Thiên Chúa gặp Dân của Người. Toàn bộ Đền Thờ, từ trong ra ngoài, trên trần dưới nền, chỗ nào cũng dát vàng. Ngoài ra còn có những cấu trúc làm bằng đồng, như các cây cột, cái hồ nước được gọi là “Biển” bằng đồng.

Khi Đền thờ hoàn thành, vua Salomon cung hiến Đền Thờ như sau: ”Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng? Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây! Lạy ÐỨC CHÚA, Thiên Chúa của con! Xin đoái đến lời tôi tớ Chúa cầu xin khẩn nguyện, mà lắng nghe tiếng kêu cầu của tôi tớ Ngài dâng trước tôn nhan hôm nay. Xin Ngài để mắt nhìn đến ngôi nhà này đêm ngày, nhìn đến nơi này, vì Ngài đã phán "Danh Ta sẽ ở đấy"; xin Ngài lắng nghe lời nguyện tôi tớ Ngài dâng ở nơi đây." (1 Vua 8:27-29)

Đó là cao điểm của lịch sử Do thái. Mọi người đồng tâm hiệp lực với Vua. Các lân bang phải kiêng nể Do thái. Họ phải cử những phái đoàn đến để học hỏi hay vấn ý nơi người Do thái. Khắp nơi chỉ thấy hòa bình an lạc.


Nhưng thời hoàng kim này kéo dài được bao lâu ?

KaTy
12-04-2008, 08:58 AM
Vua SALOMON (6)


6- Salomon và dân công


Nếu đọc giữa hai hàng chữ, chúng ta sẽ thấy rằng chính vì tính chất đồ sộ của công trình xây cất, và cũng chính vì cái hào nhoáng của hoàng cung Salomon, khiến cho thời hoàng kim trở thành mau lụi tàn.

Những chi tiết cần lưu tâm:

Khi kể về những bữa ăn hàng ngày của hoàng cung, Kinh Thánh ghi rõ: “Thực phẩm cung cấp cho vua Sa-lô-môn mỗi ngày là: sáu trăm thùng tinh bột, một ngàn hai trăm thùng bột thường, (3) mười con bò thịt và hai mươi con bò nuôi, một trăm con cừu, không kể nai, linh dương, sơn dương và chim gáy béo để ăn thịt." ( 1Vua 4,8-10)


Đơn vị đo lường mà bản văn Kinh Thánh gọi là “thùng” ở đây, đó là “kor”, một đơn vị để lường đồ khô, có dung lượng bằng 391 lít hay 103 gallons (Mỹ).

Sáu trăm “kor”, mỗi kor gần 400 lít, nghĩa là 240000 lít tinh bột. Thêm 480000 lít bột thường. Ba chục con bò, một trăm con cừu.

Gom góp tài sản để xây Đền thờ, Salomon phải tìm tài vật từ trong công khố hay từ ngành ngoại thương. Ông mua đi bán lại ngựa và xe ngựa để gây vốn (xem 2 Sử Ký 1,14-17).

Lập đội thương thuyền để buôn bán ở xa : “Ngoài ra, vua Sa-lô-môn còn trang bị một đoàn tàu tại E-xi-ôn Ghe-ve, gần Ê-lát, bên bờ Biển Sậy trong đất Ê-đôm.27 Vua Khi-ram phái tới đoàn tàu các tôi tớ của mình là những thủy thủ thạo nghề biển, cùng với các tôi tớ của vua Sa-lô-môn.28 Họ đi Ô-phia, mang vàng về và nộp cho vua Sa-lô-môn, tất cả là mười hai tấn.” (1 Vua 9,26 ,xem thêm 2 SB 8,17-18 )

Do thái không có đủ đá quý, vàng, gỗ hay nhân công cần thiết cho việc xây cất, ông đến với vua của thị quốc Tyrô là Hiram để trao đổi: Salomon cung cấp lúa mì, lúa mạch, rượu và dầu ăn, để đổi lấy gỗ và thợ khéo tay.

Đây là điều Kinh Thánh cho biết: “Rồi vua Khiram sai người đến nói với vua Salômôn: "Tôi đã nghe biết điều ngài sai sứ giả đến nói với tôi. Tôi sẽ thi hành mọi ước muốn của ngài về gỗ bá hương và gỗ trắc. Bề tôi của tôi sẽ đưa những thứ đó từ Libăng xuống biển; tôi sẽ đóng bè ngoài biển, chở tới chỗ ngài yêu cầu, ở đấy tôi sẽ phá bè và ngài sẽ lấy đi. Còn ngài, xin cũng thực hiện điều tôi ước muốn, là cung cấp thực phẩm cho triều đình tôi." Thế là vua Khiram cung cấp cho vua Salômôn tất cả gỗ bá hương và gỗ trắc như vua Salômôn muốn. Và vua Salômôn trao cho vua Khiram bốn trăm ngàn thùng lúa miến làm lương thực cho triều đình của vua này, với bốn mươi ngàn thùng dầu nguyên chất. Vua Salômôn cung cấp cho vua Khi-ram như thế hằng năm.” (1 Vua 5,22-25)

Qua đó chúng ta biết được rằng gỗ được thả bè dọc theo bờ biển từ rừng Liban, phía bắc của Tyrô, xuống đến phía nam, khoảng bờ biển Jaffa, ngang tầm với Giêsusalem. Từ đó phải kéo gỗ lên cao nguyên Giêrusalem. Khoảng cách chừng 40 dặm (60 cây số).


Ngoài gỗ bá hương, Salomon còn dùng gỗ trắc (câu 22). Ngày nay, vùng rừng Liban vẫn còn gỗ bá hương (cedar) nhưng không nhiều như xưa kia. Tiên tri Ezekiel (27,5) còn cho biết người dân Tyrô đã dùng cây gỗ này để làm cột buồm cho những thương thuyền của họ. Người Assyri và các dân tộc lân bang đều dùng gỗ này khiến cho lượng gỗ càng ngày càng hiếm dần.

Nhưng Salomon dùng phương tiện nào để kéo gỗ ? Sức ngựa hay sức người ? Nếu chúng ta để ý rằng ngựa và xe là hàng hóa buôn qua bán lại, thì hầu chắc Salomon đã dùng sức người để chuyển vận gỗ từ bờ biển lên Giêrusalem.

Đúng vậy, Salomon đã dùng 10000 nhân công hàng tháng để chuyển những súc gỗ bá hương dài chừng 150 bộ (50 thước) từ khoảng cách và địa thế giống như từ bãi biển Ninh Chữ lên Đơn Dương !

Kinh Thánh cho chúng ta giải đáp :
”Vua Salômôn ra lệnh cho toàn thể Ítraen đi dân công: có ba mươi ngàn người đi dân công. Vua sai họ thay phiên nhau đi Libăng mỗi tháng mười ngàn người, họ ở Libăng một tháng, rồi ở nhà hai tháng. Ông Ađôniram đặc trách dân công. Vua Salômôn có bảy mươi ngàn phu khuân vác và tám mươi ngàn thợ đục đá trong núi, không kể những người chỉ huy do các trưởng vùng của vua Salômôn đặt phụ trách công việc; số người này là ba ngàn ba trăm người: họ điều khiển dân chúng tiến hành công việc Vua ra lệnh phải đẽo những phiến đá lớn, đá lựa riêng để xây nền móng Đền thờ, được đục đẽo vuông vắn. Thợ nề của vua Salômôn cùng với thợ nề của vua Khiram và những người Gơvan đẽo và chuẩn bị sẵn sàng gỗ đá để xây Đền Thờ." (1 Vua, 5,27–32)

Chỉ một câu ngắn ngủi chúng ta không thể bỏ qua : "Vua Sa-lô-môn ra lệnh cho toàn thể Ítraen đi dân công: có ba mươi ngàn người đi dân công.” Toàn thể mọi người phải đi lao động. Tuy nói “toàn thể mọi người,” chúng ta cùng phải hiểu rằng đây chỉ là những thanh niên trai tráng đang sức tuổi lao động.

Đọc thêm sách Sử Ký cuốn 2, chương 2, câu 1, chúng ta biết thêm: “Vua Salômôn đã lên danh sách bảy mươi ngàn phu khuân vác, tám mươi ngàn thợ đá trên núi và ba ngàn sáu trăm đốc công.” và câu 16-17 : “Vua Salômôn làm sổ thống kê các ngoại kiều cư ngụ trên đất Ítraen, theo thống kê phụ vương Đavít đã làm, tất cả được một trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm người. Trong số này, vua đặt bảy mươi ngàn làm phu khuân vác, tám mươi ngàn làm thợ đá trên núi và ba ngàn sáu trăm làm đốc công để điều động dân chúng làm việc.”

Như thế Salomon có hơn 150 ngàn nhân công “ăn cơm nhà vác ngà voi”. Trong số đó chỉ có 10 000 nhân công luân phiên nhau đi làm một tháng, ở nhà hai tháng. Ở nhà, lúc bấy giờ chỉ có các bà, trẻ em và người già.

KaTy
12-04-2008, 09:00 AM
Cứ như thế suốt 20 năm. Bẩy năm xây Đền Thờ và 13 năm xây cung vua ! “Vua Salômôn ra lệnh xây một ngôi nhà kính danh ĐỨC CHÚA và xây hoàng cung cho mình.” (2 Sử Biên 1, 18). “Vua Salômôn xây dựng cung điện của mình mất mười ba năm mới xong.” (1 Vua 5,7) “Trong hai mươi năm vua Salômôn xây hai ngôi nhà, là Đền Thờ ĐỨC CHÚA và cung điện nhà vua.” (1 Vua 9,10)

Chúng ta thử nghĩ điều đó ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế của từng người dân? Chúng ta đã có ví dụ của thời thanh niên đi lao động xhcn sau 75.

Dân chúng có “hân hoan”, “ vui vẻ” lắm không khi phải trường kỳ lao động như thế ?

Trước hết chính Bộ trưởng Lao động của Salomon âm mưu đảo chánh !

Ở đây dùng chữ “Bộ trưởng Lao động” cho hợp thời nay, và cho “oai”, chứ, thật ra, phải gọi ông này là Tổng công trình sư ! “Ông Giarópam là con ông Nơvát, người Épraim, thuộc Xơrêđa; bà Xơrua mẹ ông là một quả phụ. Ông đã từng phục vụ vua Salômôn, nhưng lại nổi dậy chống vua. Chuyện ông nổi dậy chống vua như sau: Bấy giờ Giarópam là người có khả năng. Vua Salômôn thấy chàng trai ấy đảm đang công việc, thì đặt chàng phụ trách toàn thể dân công nhà Giuse.” (1 Vua 11,26-28)


Chi tiết này cho ta thấy đối với môt người chỉ sống ở thành thị như Salomon, thì tình hình dân chúng phân chia thành “chi họ” như xã hội Do thái lúc bấy giờ, không thích hợp với một đế chế. Ông phân vùng đất nước lại thành từng khu để tiện việc hành chính và đóng thuế. Đứng đầu mỗi vùng, ông đặt người thân cận của ông điều hành mọi việc, giống như Quan Tỉnh trưởng hiện thời :

“Vua Salômôn có mười hai trưởng vùng trên toàn cõi Ítraen. Họ cống hiến lương thực cho vua và triều đình, hằng năm mỗi người cống hiến một tháng.

Đây là danh sách họ:
Con ông Khua trong vùng núi Épraim.
Con ông Đeke, ở Macát, Saanvim, Bết Semét và Êlôn cho đến Bết Khanan.
Con ông Khexét tại Arúpbốt; Xôkhô và tất cả miền Khêphe cũng thuộc quyền ông.
Con ông Avinađáp coi tất cả cao nguyên vùng Đo. Vợ ông là công chúa Taphát, ái nữ của vua Salômôn.
Ông Baana, con ông Akhilút coi Tanác, Mơghítđô đến tận bên kia Giócmơam và tất cả Bết San gần Xácthan, bên dưới Gítrơen từ Bết San cho đến Avên Mơkhôla.
Con ông Gheve tại Ramốt Galaát; ông coi các thôn làng của ông Giaia con ông Mơnase nằm trong miền Galaát, và vùng đất Ácgốp tại Basan, tất cả là sáu mươi thành lớn có tường vây và then cài bằng đồng.
Ông Akhinađáp, con ông Ítđô, ở Makhanagim.
Ông Akhimaát tại Náptali; ông cũng cưới công chúa Baxơmát, ái nữ của vua Salômôn làm vợ.
Ông Baana, con ông Khusai, ở Ase và Bơalốt.
Ông Giơhôsaphát, con ông Paruác, ở Ítxakha.
Ông Simy, con ông Êla, ở Bengiamin.
Ông Gheve, con ông Uri, trong đất Galaát, đất của Xikhôn vua dân Emôri và Ốc vua Basan.
Và trong xứ chỉ có một trưởng vùng.” (1 Vua 4,7-19)

Nghĩa là hệ thống “chi họ” không còn. Quyền uy không thuộc về toàn bộ chi tộc mà giờ đây, tụ vào chỉ mỗi một người – đích thân nhà Vua. Phân chia thành từng vùng như thế, tinh thần chi tộc không còn gắn bó với nhau. Vua dễ dàng cai trị .

Nhưng các người trước kia vốn thuộc các chi tộc ở vùng phiá Bắc của đất nước, giờ đây thấy những người đầu tỉnh đều là người thuộc hai tộc miền Nam, cùng chi tộc với nhà vua. Như thế, họ cảm thấy bị bóc lột. Tinh thần chia rẽ bắt đầu phát lộ.

Đồng thời gánh nặng thuế má bắt đầu ảnh hưởng nặng nề trên người nghèo ở vùng quê: “Các trưởng vùng này, mỗi người một tháng, cống hiến lương thực cho vua Salômôn và cho tất cả những người được lui tới bàn ăn của vua Salômôn, họ không để cho vua phải thiếu gì. Lúa mạch và rơm rạ cho ngựa tải đồ và ngựa trận, nơi nào có nhu cầu, họ cũng phải cung cấp, theo mức quy định cho mỗi người.” ( 1Vua 4,20-21)

Gánh nặng dân công và thuế má ấy, sau này, khi Salomon vừa mới mất, con ông là Rơkhápam chuẩn bị lên ngôi, dân chúng đã cử phái đoàn tới bày tỏ ý kiến, xin “bớt gánh nặng khổ dịch và ách nặng nề”:

“Rơkhápam đi Sikhem, vì toàn thể Ítraen tụ họp ở Sikhem để tôn ông lên làm vua. Lúc ấy Gia-róp-am con ông Nơ-vát nghe biết chuyện ấy, -ông còn đang ở bên Ai-cập vì ông đã trốn vua Sa-lô-môn sang đó- ông liền bỏ Ai-cập trở về. Người ta cho mời ông Gia-róp-am. Ông và toàn thể cộng đoàn Ít-ra-en tới. Họ thưa với Rơ-kháp-am rằng: "Phụ vương ngài đã bắt chúng tôi mang một cái ách quá nặng. Bây giờ nếu ngài giảm bớt khổ dịch và ách nặng nề phụ vương đã đặt trên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục dịch ngài.” (1 Vua 12, 1-5)

Như thế lý do rạn nứt và suy sụp đã bắt đầu từ lúc Salomon đương quyền.

Điều trớ trêu là tất cả những khốn khổ này, tiên tri Samuel đã cảnh báo trước đó tám chín chục năm, khi dân Do thái nằng nặc đòi cho được một vị vua như các dân khác:

“Ông Sa-mu-en nói lại mọi lời của ĐỨC CHÚA cho dân bấy giờ đang xin ông một vua. Ông nói: "Đây là quyền hành của nhà vua sẽ cai trị anh em. Các con trai anh em, ông sẽ bắt mà cắt đặt vào việc trông coi xe và ngựa của ông, và chúng sẽ chạy đàng trước xe của ông.

Ông sẽ đặt chúng làm người chỉ huy một ngàn và chỉ huy năm mươi, sẽ bắt chúng cày đất cho ông, gặt lúa cho ông, chế tạo vũ khí cho ông và dụng cụ cho xe của ông.

Các con gái anh em, ông sẽ bắt vào làm thợ chế nước hoa, nấu ăn và làm bánh. Đồng ruộng, vườn nho, vườn cây ô-liu tốt nhất của anh em, ông sẽ lấy mà cho bề tôi của ông.

Lúa thóc và vườn nho của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân mà cho các thái giám và bề tôi của ông.

Các tôi tớ nam nữ, các người trai tráng khá nhất của anh em, các con lừa của anh em, ông sẽ bắt mà dùng vào việc của ông.

Chiên dê của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân. Còn chính anh em sẽ làm nô lệ cho ông.

Ngày ấy, anh em sẽ kêu than vì vua của anh em mà anh em đã chọn cho mình, nhưng ngày ấy ĐỨC CHÚA sẽ không đáp lời anh em." (1 Sam 8,10-17)

KaTy
12-04-2008, 09:05 AM
Vua SALOMON (7)


7- Salomon và các bà vợ


Salomon đã phạm một lỗi lầm lớn: Ông có quá nhiều vợ. Kinh Thánh ghi lại rằng ông có đến 700 bà vợ và 300 nàng hầu.

Chúng ta phải trở về thời của sách Đệ nhị luật để biết được ý nghĩ của dân chúng đối với vua của mình.

Xem Đnl 17,16-17: “Chỉ có điều là vua ấy không được có nhiều ngựa, và không được đưa dân trở về Ai-cập để có nhiều ngựa, vì ĐỨC CHÚA đã phán với anh em: "Các ngươi không được trở lại con đường ấy nữa! " Vua ấy cũng không được có nhiều vợ, kẻo tâm hồn bị lầm lạc. Vua cũng không được có quá nhiều vàng bạc. “

Tất cả những điều này Salomon đều có hết !

Vua Đavit chỉ có 6 bà. Như thế Salomon quả là hơi quá đà. Thời ấy có hai lý do dẫn đến việc có nhiều vợ. Một là để có con nối dõi truyền ngôi. Hai là để có thêm liên minh chính trị hay quân sự qua việc cưới vợ.

Vào thời Salomon, vùng Cận Đông chỉ có các thị quốc. Mỗi thành phố là một quốc gia ! Thế thì chẳng thiếu gì việc các thị quốc chung quanh Do thái gả công chúa cho ngài Salomon nổi tiếng là khôn ngoan kia để cầu thân và làm hoà. Danh tiếng Vua Salomon không chỉ vang dội chung quanh vùng Cận Đông, mà còn lan tới tận Nam Phi Châu, tới vùng Saba xứ Ethiopia xa xôi!

Chuyện Salomon có nhiều vợ thì không có gì đáng nói.

Có điều các bà vợ ngoại quốc ấy vẫn không cải đạo, mà vẫn giữ tôn giáo cũ của mình, và đem theo các tượng thần của tôn giáo mình vào tận Giêrussalem.

Sách 1Vua 11:3-8 cáo tội Salomon như sau: “Vua có bảy trăm bà vợ chính thức và ba trăm cung phi. Và các bà ấy làm cho lòng vua ra hư hỏng. Quả vậy, khi vua Salômôn về già, các bà vợ của vua đã làm cho lòng vua ngả theo các thần ngoại; lòng vua không còn chung thủy với ĐỨC CHÚA Thiên Chúa của vua, như lòng phụ vương Đavít nữa. Vua Salômôn đi theo nữ thần Áttôrét của dân Xiđôn, theo thần Mincôm ghê tởm của dân Ammon. Như thế, vua Salômôn làm điều dữ trái mắt ĐỨC CHÚA, chứ không theo ĐỨC CHÚA trọn vẹn như phụ vương Đavít. Bấy giờ vua Salômôn xây trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi cao cho thần Cơmốt ghê tởm của dân Môáp, cho thần Môléc ghê tởm của con cái Ammon. Vua làm như thế với tất cả các bà vợ ngoại đạo của vua; họ đốt hương và sát tế kính các thần của họ.”


Qua đó, chúng ta thấy được gì ? Thời trị vì của Salomon hẳn phải chịu nhiều trương lực: Vừa phải trung thành với niềm tin vào Thiên Chúa của tổ tiên và trung thành giữ lề luật tiền nhân, vừa phải chống lại những ảnh hưởng ngoại lai đương nhiên bộc phát do sức lớn mạnh của quốc gia trong vùng Cận Đông. Đó là một thách thức từ trước đến giờ dân Do thái chưa hề gặp.

Salomon xây cho bà vợ gốc Ai cập một cung điện (1 Vua 7,8) rồi xây luôn cho bà một đền thờ để bà thờ thần của Bà (1 Vua 11, 7-8 ).

Đến lúc này chúng ta lại thấy một chi tiết thú vị. Khi cưới Công chúa Ai cập, và làm rể Pharaôn, thì đừng tưởng Pharaôn sẽ là một liên minh đắc lực giúp Salomon. Cuộc liên minh này không chỉ là một thất bại mà là còn nguyên nhân đưa đến sụp đổ cho Salomon.

Như chúng ta đã nói ở phần trên : Pharaôn tặng con rể Salomon thành Gezer, của người Canaan, nằm ở một vị trí chiến lược ở vùng đồng bằng duyên hải phía nam. Thị quốc này đã từng chống lại Pharaô, đã bị hạ và bỏ hoang: “Pha-ra-ô vua Ai-cập đã tiến quân chiếm Ghe-de, thiêu huỷ thành và sát hại dân Ca-na-an cư ngụ ở đó; rồi vua tặng làm của hồi môn cho ái nữ là phu nhân của vua Sa-lô-môn. Vua Sa-lô-môn xây dựng lại Ghe-de và Bết Khô-rôn Hạ,” ( 1 Vua 9,16)


Hẳn Pharaôn chẳng tử tế và yêu quý Salomon là mấy, khi cho chàng rể quý một thành đã bị “thiêu rụi và bỏ hoang” - Pharaôn đã “thiêu huỷ thành và sát hại dân Ca-na-an cư ngụ ở đó” - đến nỗi Salomon không thể cho dân cư vào đó ở, mà chỉ biến nó thành pháo đài trấn đóng miền biên ải phía Nam Do thái.

Sau này, khi những người chống đối Salomon chạy lánh sang Ai cập, bố vợ chẳng hề giúp Salomon bắt lại những kẻ thù ấy, mà còn cho họ tạm dung.

Như tổng công trình sư “Giarópam, con ông Nơvát ...-ông còn đang ở bên Ai-cập vì ông đã trốn vua Sa-lô-môn sang đó”

Như Hađát: “ĐỨC CHÚA xui khiến cho có một người chống lại vua Sa-lô-môn: đó là Ha-đát người Ê-đôm, thuộc hoàng tộc Ê-đôm....Bấy giờ, Ha-đát cùng với mấy người Ê-đôm trong số các tôi tớ của cha mình đã chạy trốn được sang Ai-cập, vì lúc đó Ha-đát là một thiếu niên. Chúng rời Ma-đi-an và tới Pa-ran; từ Pa-ran chúng lấy một số người đi theo mình xuống Ai-cập, vào chầu Pha-ra-ô vua Ai-cập; vua này cung cấp cho chúng nhà ở, bảo đảm lương thực và cho chúng cả đất đai nữa. Ha-đát rất được lòng Pha-ra-ô, nên vua gả em gái vợ mình cho ông, tức là em gái bà Tác-pơ-nết hay là Bà Hoàng.” ( 1Vua 11, 14-18 )

Do thái dầu sao vẫn là nhược tiểu so với Ai cập lúc đó. Nét huy hoàng của Salomon vẫn chưa đủ để Cairô kiêng dè hay úy kỵ. Khi cho các đổi thủ Salomon tạm trú, Ai cập còn nuôi tham vọng sâu xa, mà dù khôn ngoan, Salomon vẫn không sao làm chủ được tình hình.


Kinh thánh kể tội Vua Salomon khi về già : “ Và các bà ấy làm cho lòng vua ra hư hỏng. Quả vậy, khi vua Sa-lô-môn về già, các bà vợ của vua đã làm cho lòng vua ngả theo các thần ngoại; lòng vua không còn chung thủy với ĐỨC CHÚA Thiên Chúa của vua, như lòng phụ vương Đa-vít nữa.5 Vua Sa-lô-môn đi theo nữ thần Át-tô-rét của dân Xi-đôn, theo thần Min-côm ghê tởm của dân Am-mon. Như thế, vua Sa-lô-môn làm điều dữ trái mắt ĐỨC CHÚA, chứ không theo ĐỨC CHÚA trọn vẹn như phụ vương Đa-vít. Bấy giờ vua Sa-lô-môn xây trên núi đối diện với Giê-ru-sa-lem một nơi cao cho thần Cơ-mốt ghê tởm của dân Mô-áp, cho thần Mô-léc ghê tởm của con cái Am-mon. Vua làm như thế với tất cả các bà vợ ngoại đạo của vua; họ đốt hương và sát tế kính các thần của họ.”(1 Vua 11, 3-8)

Không những toàn thể dân chúng nổi dậy chống vua (1 Vua 12,3), mà cả Thiên Chúa cũng nổi giận : “ĐỨC CHÚA nổi giận với vua Sa-lô-môn, vì lòng vua rời xa ĐỨC CHÚA,” (1 Vua 11,9).

Như thế sự thống nhất 12 chi tộc Do thái chỉ kéo dài được hai thế hệ, thời Đavít và Salomon. Ngay sau khi ông mất, đất nước phân đôi thành hai vương quốc, Bắc, với mười chi tộc, và Nam, với hai chi tộc. Chi tiết này khiến chúng ta thấy rằng Salomon vẫn không phải là vị Vua lớn đem lại thịnh vượng lâu dài cho Do thái, hay khiến cho Dothái trở thành cường quốc bền vững. Nét huy hoàng của Do thái lụm tắt ngay theo ông.


Kết :

Nếu chỉ đọc mười chương đầu của sách các Vua quyển Một, chúng ta thấy Salomon là một trong các vị vua huy hoàng bậc nhất thế gian. Nhưng từ chương 11 trở đi, nghĩa là vào cuối đời, thì Salomon, nếu không “là” ông vua tệ nhất, thì cũng là “một trong những vị vua tệ nhất” của lịch sử Do thái.