PDA

View Full Version : Phần I. Bài 11. Ý nghĩa những kinh nghiệm nguyên thuỷ nơi con người


admin
08-03-2006, 04:01 PM
Thứ Tư, ngày 12 tháng 12 năm 1979


11. Ý nghĩa những kinh nghiệm nguyên thuỷ nơi con người

Việc phân tích những chương đầu Sách Sáng Thế thúc đẩy chúng ta, theo một cách nào đó, tái tạo những yếu tố làm nên kinh nghiệm nguyên thuỷ của con người. Theo chiều hướng này, đặc điểm của bản văn thuộc truyền thống Giavê biến kinh nghiệm này thành một nguồn tài nguyên đặc biệt. Khi nói về những kinh nghiệm nguyên thuỷ của con người chúng ta không nghĩ tới khoảng cách biệt của chúng trong thời gian cho bằng ý nghĩa căn bản của chúng. Điều quan trọng không phải là những kinh nghiệm này thuộc về thời tiền sử của con người (thuộc về thời “tiền sử thần học”), nhưng là chúng luôn luôn nằm ở cội nguồn của mọi kinh nghiệm con người. Chúng lẫn lộn trong những chuyện bình thường của đời sống đến độ chúng ta thường thường không nhận ra tính cách đặc biệt của chúng.

Dựa trên những phân tích đã được thực hiện cho tới bây giờ, chúng ta nhận ra rằng điều mà ban đầu chúng ta gọi là “mặc khải về thân xác” giúp chúng ta cách nào đó khám phá ra khía cạnh lạ thường của điều bình thường. Điều này có thể được vì việc mặc khải (mặc khải đầu tiên, được truyền thống Giavê bày tỏ trong Sáng Thế 2,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:3&FontSize=Txt10), rồi sau đó trong chương 1 Sách Sáng Thế (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1&FontSize=Txt10)) cũng xét đến chính những kinh nghiệm đầu tiên này. Nơi những kinh nghiệm này, nét tuyệt đối độc đáo của con người –là nam là nữ - , xét như là con người, nghĩa là qua thân xác của con người, được biểu lộ ra hầu như hoàn toàn. Như chúng ta khám phá thấy trong bản văn Kinh Thánh được trích dẫn, kinh nghiệm của con người về thân xác mình chắc chắn nằm ở ngưỡng cửa của toàn bộ kinh nghiệm “trong lịch sử” xảy ra sau đó. Tuy nhiên, kinh nghiệm này cũng nằm ở bình diện hữu thể luận sâu đến mức con người không cảm nhận được nó trong đời sống thường nhật. Sự thể là thế, cả khi, một cách nào đó, con người đồng thời vừa giả thiết nó vừa quy định nó như là một phần trong tiến trình tạo nên hình ảnh của chính mình

Nếu không có những suy tư dẫn nhập này, người ta sẽ không thể xác định được ý nghĩa của tình trạng trần truồng nguyên thuỷ và không phân tích được câu Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) được ghi lại như sau: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.” Thoạt nhìn, việc truyền thống Giavê đưa chi tiết có vẻ chỉ là thứ yếu này vào câu chuyện kể về việc sáng tạo con người, dường như là một điều không thích hợp hay đặt sái chỗ. Người ta có thể nghĩ rằng câu văn được trích dẫn không thể so sánh ngang hàng với những gì đã được bàn đến trong những câu trước đó, và như thế, nó vượt ra ngoài ngữ cảnh. Nhưng nhận xét này không còn đứng vững khi phân tích sâu xa hơn. Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) trình bày một trong những yếu tố chính của mạc khải nguyên thuỷ. Câu này cũng quan trọng không kém những câu khác như St 2,20 và 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:20,23&FontSize=Txt10) vốn đã khiến chúng ta có thể xác định ý nghĩa của sự cô đơn và duy nhất tính nguyên thuỷ của con người. Tình trạng trần truồng nguyên thuỷ, thêm vào hai tính chất này như một thành tố thứ ba, đã được nhấn mạnh rõ ràng trong mạch văn. Trong bản phác thảo nhân loại học của Kinh Thánh, không có gì là phụ thuộc, mà ngược lại, đấy chính là chìa khoá để hiểu được tường tận và trọn vẹn.

Yếu tố này của bản văn Kinh Thánh cổ góp phần đặc biệt không thể bỏ sót cho nền thần học về thân xác. Những suy tư tiếp sau sẽ khẳng định điều này. Nhưng trước khi bàn đến, tôi muốn nêu lên rằng bản văn của Sách Sáng Thế 2,25 đòi hỏi rõ ràng rằng những suy tư về thần học thân xác phải có liên quan với chiều kích của tư cách chủ thể nhân vị con người. Vì sự ý thức về ý nghĩa của thân xác triển nở trong chính chủ thể tính này. Câu Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) nói điều ấy lên một cách trực tiếp hơn nhiều chỗ khác trong bản văn thuộc truyền thống Giavê này, mà chúng ta xác định như là bản ghi chép đầu tiên về ý thức con người.

Khi nói rằng những con người đầu tiên, cả nam lẫn nữ, “đều trần truồng” mà “không xấu hổ”, câu văn này chắc chắn diễn tả tình trạng của ý thức nơi họ, đúng hơn, kinh nghiệm về thân xác của nhau. Nó miêu tả cái kinh nghiệm nơi người nam về phái nữ được biểu lộ khi thân xác trần truồng, và đảo lại, cái kinh nghiệm tương tự của người nữ về phái nam. Khi nói rằng: “họ không xấu hổ,” tác giả cố gắng hết khả năng trình bày kinh nghiệm hỗ tương về thân xác cho thật chính xác. Có thể nói mức chính xác này phản ánh kinh nghiệm cơ bản của một người “thông thường” và theo nghĩa tiền khoa học. Nhưng như thế cũng tương hợp với những đòi hỏi của khoa nhân loại học và cách riêng của khoa nhân loại học đương thời, thường quy về những cái gọi là kinh nghiệm cơ bản, ví dụ như “kinh nghiệm xấu hổ.”[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)

Khi nói đến tính chính xác của câu chuyện, trong mức độ tác giả của bản văn theo truyền thống Giavê có được, chúng ta thấy cần phải cân nhắc đến những cấp độ kinh nghiệm của con người lịch sử dưới sức nặng của di sản tội lỗi. Tuy nhiên những cấp độ này khởi đầu tuần tự từ tình trạng trong trắng nguyên thuỷ. Chúng ta đã thấy rằng, khi quy chiếu về “thuở ban đầu” (mà chúng ta đã tuần tự khảo sát dưới nhiều ngữ cảnh), Đức Kitô đã gián tiếp nói đến sự liên tục và tương quan giữa hai tình trạng. Điều này cho phép chúng ta băng ngược trở lại qua lằn ranh phân cách giữa tình trạng của con người đã mang tội trong lịch sử và tình trạng trong trắng nguyên thuỷ. Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) cho thấy sự cần thiết phải vượt qua lằn ranh ấy.

Câu này, cùng với ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ hàm ngụ trong đó, nằm trong ngữ cảnh của câu chuyện thuộc truyền thống Giavê. Sau đó một vài câu, chính tác giả đã viết: “Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.” (St 3,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:7&FontSize=Txt10)) Trạng từ “bấy giờ” nói lên một thời điểm mới và một hoàn cảnh mới theo sau việc xé bỏ giao ước đầu tiên. Đó là hoàn cảnh sau vụ thất bại trong cuộc thử thách gắn liền với cây biết lành biết dữ. Đồng thời cuộc thử thách này là cuộc trắc nghiệm đầu tiên về “lòng vâng phục,” nghĩa là, biết lắng nghe Lời Chúa với trọn vẹn sự thật và đón nhận tình yêu, đúng theo tất cả những gì mà Ý Đấng Sáng tạo đòi hỏi. Thời điểm mới hay hoàn cảnh mới này cũng hàm ngụ một kinh nghiệm về thân xác với nội dung mới và một phẩm chất mới, nên không còn có thể nói “họ đều trần truồng mà không xấu hổ” được nữa. Ở đây, xấu hổ không chỉ là một kinh nghiệm nguyên thuỷ, mà còn là một kinh nghiệm “giới hạn”.

Sự khác biệt trong lối diễn tả giữa hai câu Sách Sáng Thế 2,25 và 3,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25 ; St 3:7&FontSize=Txt10) là đáng kể - trường hợp thứ nhất: “Cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau,” trường hợp sau: “họ thấy mình trần truồng.” Có phải điều đó có nghĩa là: “Họ không biết rằng họ trần truồng” hay họ không nhận ra được sự trần truồng của thân xác người kia? Sự thay đổi ý nghĩa đáng kể này do bản văn Kinh Thánh ghi nhận về kinh nghiệm xấu hổ (mà Sách Sáng Thế nhắc lại, đặc biệt ở các câu 3,10-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:10-12&FontSize=Txt10)) xảy ra ở mức độ sâu xa hơn là những gì đơn thuần dùng mắt thấy được.

Phân tích so sánh giữa Sách Sáng Thế 2,25 và Sách Sáng Thế chương 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25 ; St 3&FontSize=Txt10) đưa đến kết luận đương nhiên rằng đây không phải là vấn đề đi từ “không biết” sang “biết”, mà đúng hơn nó liên hệ đến việc thay đổi tận căn ý nghĩa của sự trần truồng của người nữ trước mắt người nam và của người nam trước mắt người nữ. Nó xuất phát từ lương tâm họ, như hoa trái của cây biết lành biết dữ: “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? "(St 3,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:11&FontSize=Txt10)).

Sự thay đổi này trực tiếp liên quan đến kinh nghiệm về ý nghĩa của thân xác mình trước Đấng Tạo Hoá và các loài thụ tạo. Sau đó, con người nói lên điều khẳng định ấy: “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn." (St 3,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:10&FontSize=Txt10)) Sự thay đổi này, vốn được truyền thống Giavê diễn tả chính xác và đầy kịch tính, đã liên quan trực tiếp - và có lẽ trực tiếp hết mức có thể - đến mối tương quan giữa người nam-người nữ, phái nữ-phái nam.

Chúng ta sẽ phải trở lại lần nữa để phân tích sự thay đổi nơi con người ở các phần khác trong những suy tư sau này. Giờ đây, khi đã đến ranh giới xuyên qua khung cảnh “thuở ban đầu” mà Đức Kitô quy chiếu về, chúng ta phải tự hỏi liệu có thể bằng cách nào đó tái tạo ý nghĩa nguyên thuỷ của sự trần truồng không. Trong Sách Sáng Thế, sự trần truồng làm thành ngữ cảnh trực tiếp của giáo lý về sự đơn nhất của bản tính loài người là nam và là nữ. Điều này xem ra có thể được, nếu chúng ta chọn điểm mốc là cái kinh nghiệm xấu hổ, mà bản văn Kinh Thánh cổ đã trình bày rõ ràng như một kinh nghiệm “giới hạn”. Chúng ta sẽ cố gắng tái tạo nó trong nhũng bài suy niệm sau này.

----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Xem thêm, ví dụ : M. Scheler, Über Scham und Schamgefühl (Halle: 1914); Fr. Sawicki, Fenomenologia wstydliwosci (Phenomenology of shame) (Krakow: 1949); và cũng xem K. Wojtyla, Milosc i odpowiedzialnosc (Krakow: 1962), các trang. 165-185; (Love and Responsibilty [New York: 1981], chương "The Metaphysics of Shame."


Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ

admin
18-08-2009, 05:16 PM
XI

Ý NGHĨA NHỮNG KINH NGHIỆM NGUYÊN THỦY CỦA CON NGƯỜI

1. Có thể nói rằng khi phân tích các chương đầu sách Sáng thế chúng ta thấy mình phải xây dựng lại theo một nghĩa nào đó những yếu tố cấu thành kinh nghiệm nguyên thủy của con người. Theo chiều hướng đó, bản văn yahvit là một nguồn đặc thù bởi đặc tính của nó. Nói về những kinh nghiệm nhân bản nguyên thủy, chúng ta nghĩ đến ý nghĩa nền tảng của chúng hơn là khía cạnh thời gian xa xưa. Bởi thế điều quan trọng không phải là những kinh nghiệm ấy thuộc về thời tiền sử của con người ( một thứ “tiền sử thần học”), nhưng chúng luôn nằm ở cội rễ của mọi kinh nghiệm nhân bản. Điều này vẫn đúng cả khi trong cuộc sống hằng ngày của con người, người ta không để ý nhiều đến những kinh nghiệm cơ bản này. Thật vậy, những kinh nghiệm nguyên thủy này được đan dệt sâu vào trong cuộc sống hằng ngày đến nỗi cách chung ta không nhận ra tính đặc biệt của chúng. Trên cơ sở những gì đã được phân tích cho tới bây giờ, chúng ta đã có thể nhận thấy điều mà chúng ta ngay từ đầu gọi là «mạc khải của thân xác» một cách nào đó giúp ta khám phá ra sự lạ thường của cái bình thường. Điều đó là có thể bởi vì mạc khải (mạc khải ban đầu được diễn tả trước tiên trong trình thuật yahvit St 2-3, sau đó trong St 1) xét đến chính những kinh nghiệm nguyên thủy ấy, trong đó gần như hiện ra đầy đủ sự độc đáo tuyệt đối của người nam cũng như nữ: xét như là con người, nghĩa là, nhờ thân xác của mình. Kinh nghiệm về thân xác, như chúng ta khám phá trong các bản văn kinh thánh đã được trích dẫn, hẳn là nằm ở ngưỡng cửa của mọi kinh nghiệm “lịch sử” sau đó. Tuy nhiên, kinh nghiệm ấy xem ra cũng dựa trên một chiều sâu hữu thể[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=453#_ftn1) đến độ con người không nhận biết nó trong đời sống thường nhật của mình, dẫu rằng cách nào đó, nó được giả thiết và mặc nhiên công nhận như là thành phần của tiến trình hình thành nên hình ảnh của chính mình.

2. Thiếu suy tư dẫn nhập đó ta không thể xác định được ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy cũng như phân tích đoạn St 2,25 như sau: «Bấy giờ cả hai, con người và vợ mình, đều trần truồng, nhưng họ không cảm thấy xấu hổ». Thoạt tiên, truyền thống yahvit đưa chi tiết có vẻ thứ yếu này vào trong trình thuật tạo dựng con người khiến ta có cảm tưởng như đó là một việc không thích hợp hay không đúng chỗ. Người ta có thể nghĩ rằng đoạn văn được trích dẫn không so sánh được với những gì đã được bàn đến trong những câu trước đó, và theo nghĩa nào đó nó vượt quá ngữ cảnh. Nhưng nhận định này không còn đứng vững khi phân tích sâu xa hơn. Thật vậy, St 2,25 là một trong những yếu tổ chủ chốt của mạc khải nguyên thủy, cũng quan trọng như những đoạn Sáng thế khác (2,20 và 2,23), là những đoạn đã giúp ta biết ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thủy và sự hợp nhất nguyên thủy của con người. Ngoài những điều này, ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy, như yếu tố thứ ba được nêu bật trong ngữ cảnh. Điều này trong phác thảo kinh thánh đầu tiên của khoa nhân học không phải là cái gì tùy phụ. Nhưng trái lại, nó chính là chìa khóa để hiểu được đầy đủ và tường tận.

3. Hiển nhiên, chính yếu tố này của bản văn kinh thánh cổ đóng góp đặc biệt cho thần học về thân xác, và là yếu tố tuyệt đối không thể bị bỏ qua. Những phân tích về sau sẽ xác nhận điều đó. Nhưng trước khi bàn đến, tôi xin phép nêu một nhận xét rằng chính đoạn St 2,25 đòi hỏi minh nhiên phải nối kết những suy tư về thần học thân xác với chiều kích chủ thể tính của nhân vị. Thật vậy, chính trong chủ thể tính này mà ý thức về ý nghĩa của thân xác được triển nở. Đoạn St 2,25 nói về điều ấy cách trực tiếp hơn những đoạn khác của bản văn yahvit, vốn được xác định như ghi chép đầu tiên của ý thức con người. Khi nói những con người đầu tiên, cả nam lẫn nữ, «đều trần truồng» mà «không cảm thấy xấu hổ», đoạn văn ấy chắc chắn mô tả tình trạng ý thức của họ, đúng hơn, kinh nghiệm về thân xác của nhau. Nghĩa là nó biểu lộ cái kinh nghiệm của người đàn ông về người phụ nữ bộc lộ mình nơi thân xác trần truồng, và tương tự ngược lại, cái kinh nghiệm về đàn ông của người đàn bà. Khi khẳng định«họ không cảm thấy xấu hổ», tác giả cố mô tả kinh nghiệm về thân xác ấy của nhau với mức chính xác cao nhất. Có thể nói mức chính xác này phản chiếu một kinh nghiệm cơ bản của con người theo nghĩa “thông thường” và tiền khoa học, nhưng nó cũng tương hợp với những đòi hỏi của khoa nhân học và nhất là nhân học hiện nay, vốn sẵn sàng tham khảo cái được gọi là những kinh nghiệm chiều sâu, như kinh nghiệm về sự xấu hổ [1].

4. Nói đến tính chính xác của trình thuật ở đây, trong mức khả năng của tác giả bản văn yahvit có được, chúng ta thấy cần phải xem xét những cấp độ của kinh nghiệm của con người “lịch sử”, là kẻ vốn mang trong mình di sản tội lỗi. Nhưng những kinh nghiệm ấy, xét về phương pháp luận, lại xuất phát từ chính tình trạng vô tội nguyên thủy. Trước đây chúng ta đã thấy rằng khi qui chiếu đến «thuở ban đầu» (mà chúng ta đã lần lượt phân tích qua các ngữ cảnh) Đức Kitô đã gián tiếp nói đến tính liên tục và kết nối giữa hai tình trạng ấy, như thể Người cho phép ta được băng qua thềm biên giới theo chiều ngược trở lại từ tình trạng tội lỗi “lịch sử” của con người lên đến tình trạng trong trắng nguyên thủy. Chính đoạn St 2,25 đòi hỏi cách riêng phải vượt tuyến. Ta dễ nhận thấy đoạn văn này, với ý nghĩa về sự trần truồng nguyên thủy nội tại trong đó, được đặt trong toàn thể ngữ cảnh của trình thuật yahvit như thế nào. Thật vậy, sau đó vài đoạn, cũng chính tác giả ấy viết: «Bấy giờ mắt của cả hai người mở ra và họ thấy mình trần truồng; họ kết lá vả làm khố che thân» (St 3,7). Trạng từ «bấy giờ» nói lên một thời điểm mới và một hoàn cảnh mới, hệ quả của sự bẻ gãy Giao ước thứ nhất. Đó là hoàn cảnh sau khi con người bị sa chước cám dỗ về cây biết thiện biết ác, cũng đồng thời là thử thách đầu tiên về “đức vâng phục”, nghĩa là biết nghe Lời Chúa trong tất cả sự thật của Lời ấy và đón nhận Tình Yêu, đúng theo tất cả những gì Thánh Ý Đấng Tạo Dựng đòi hỏi. Thời điểm mới hay hoàn cảnh mới này cũng hàm ẩn một nội dung mới và một phẩm chất mới của kinh nghiệm thân xác, người ta không còn có thể nói «họ trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ». Bởi thế, sự xấu hổ không chỉ là một kinh nghiệm nguyên thủy, nhưng còn là một kinh nghiệm “giới hạn”.

5. Sự khác biệt về cách thức diễn tả giữa hai đoạn St 2,25 và St 3,7 rất có ý nghĩa. Trường hợp trước: «họ trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ»; trường hợp sau: «họ thấy mình trần truồng». Phải chăng điều đó muốn nói rằng trong thuở ban đầu «họ đã không nhận thấy mình trần truồng»? rằng họ đã không biết và không thấy sự trần truồng thân xác của nhau? Sự biến đổi quan trọng mà bản văn kinh thánh ghi nhận về kinh nghiệm xấu hổ (sách Sáng thế vẫn còn nói tới, nhất là ở 3,10-12), xảy ra ở một bình diện sâu hơn bình diện của thị giác thuần túy. Việc phân tích đối chiếu giữa St 2,25 và St 3 đưa tới kết luận đương nhiên rằng vấn đề ở đây không phải là chuyến biến từ “không biết” sang “biết”, nhưng là một thay đổi triệt để về ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy của người phụ nữ đứng trước người đàn ông và người đàn ông đứng trước người phụ nữ. Nó hiện lên từ tâm thức của họ, như hoa trái của cây biết thiện biết ác: «Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?» (St 3,11). Sự thay đổi này liên quan trực tiếp đến kinh nghiệm về ý nghĩa của thân xác mình trước mặt Đấng Tạo Hóa và các loài thọ tạo. Sau đó, con người đã xác nhận điều ấy: «Tôi nghe tiếng bước chân của Ngài trong vườn và tôi sợ, vì tôi trần truồng, nên tôi lẩn trốn» (St 3,10). Nhưng cách đặc biệt, sự thay đổi ấy (bản văn yahvit đã mô tả cô đọng và đầy kịch tính) liên hệ trực tiếp đến tương quan giữa người đàn ông và người đàn bà, giữa phái nam và phái nữ.

6. Trong những phần khác của suy tư về sau này chúng ta sẽ còn phải trở lại phân tích sự thay đổi này. Giờ đây, khi đã đạt đến biên giới của cái «thuở ban đầu» mà Đức Kitô đã qui chiếu, chúng ta phải tự hỏi liệu có thể bằng cách nào đó tái tạo lại ý nghĩa nguyên thủy của sự trần truồng không, là điều mà trong sách Sáng thế vốn làm nên bối cảnh trực tiếp của giáo lí về sự hợp nhất của con người xét như là nam và là nữ. Điều ấy xem ra có thể được, nếu chúng ta lấy kinh nghiệm xấu hổ như điểm qui chiếu vì trong bản văn kinh thánh cổ kinh nghiệm ấy đã được trình bày rõ ràng như một kinh nghiệm “giới hạn”.

Chúng ta sẽ cố tái tạo lại ý nghĩa ấy trong những bài suy niệm sau này.

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
--------------
[1] X. ví dụ như M. Scheler, Über Scham und Schamgefühl, Halle 1914; Fr. Sawicki, Fenomenologia wstydliwosci [Hiện tượng luận về sự xấu hổ], Kraków 1949; và cả K. Woityla, Milośc i odpowiedzialność, Kraków 1962, tt. 165-185 (bản dịch tiếng Ý Amoree responsabilità, Roma 1978<SUP>2</SUP> , tt. 161-178).

<HR align=left width="33%" SIZE=1>
[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=453#_ftnref1) Chiều sâu hữu thế đó thuộc yếu tố cấu thành bản tính của con người.

http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=453 (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=453)