admin
08-03-2006, 04:01 PM
Thứ Tư, ngày 12 tháng 12 năm 1979
11. Ý nghĩa những kinh nghiệm nguyên thuỷ nơi con người
Việc phân tích những chương đầu Sách Sáng Thế thúc đẩy chúng ta, theo một cách nào đó, tái tạo những yếu tố làm nên kinh nghiệm nguyên thuỷ của con người. Theo chiều hướng này, đặc điểm của bản văn thuộc truyền thống Giavê biến kinh nghiệm này thành một nguồn tài nguyên đặc biệt. Khi nói về những kinh nghiệm nguyên thuỷ của con người chúng ta không nghĩ tới khoảng cách biệt của chúng trong thời gian cho bằng ý nghĩa căn bản của chúng. Điều quan trọng không phải là những kinh nghiệm này thuộc về thời tiền sử của con người (thuộc về thời “tiền sử thần học”), nhưng là chúng luôn luôn nằm ở cội nguồn của mọi kinh nghiệm con người. Chúng lẫn lộn trong những chuyện bình thường của đời sống đến độ chúng ta thường thường không nhận ra tính cách đặc biệt của chúng.
Dựa trên những phân tích đã được thực hiện cho tới bây giờ, chúng ta nhận ra rằng điều mà ban đầu chúng ta gọi là “mặc khải về thân xác” giúp chúng ta cách nào đó khám phá ra khía cạnh lạ thường của điều bình thường. Điều này có thể được vì việc mặc khải (mặc khải đầu tiên, được truyền thống Giavê bày tỏ trong Sáng Thế 2,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:3&FontSize=Txt10), rồi sau đó trong chương 1 Sách Sáng Thế (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1&FontSize=Txt10)) cũng xét đến chính những kinh nghiệm đầu tiên này. Nơi những kinh nghiệm này, nét tuyệt đối độc đáo của con người –là nam là nữ - , xét như là con người, nghĩa là qua thân xác của con người, được biểu lộ ra hầu như hoàn toàn. Như chúng ta khám phá thấy trong bản văn Kinh Thánh được trích dẫn, kinh nghiệm của con người về thân xác mình chắc chắn nằm ở ngưỡng cửa của toàn bộ kinh nghiệm “trong lịch sử” xảy ra sau đó. Tuy nhiên, kinh nghiệm này cũng nằm ở bình diện hữu thể luận sâu đến mức con người không cảm nhận được nó trong đời sống thường nhật. Sự thể là thế, cả khi, một cách nào đó, con người đồng thời vừa giả thiết nó vừa quy định nó như là một phần trong tiến trình tạo nên hình ảnh của chính mình
Nếu không có những suy tư dẫn nhập này, người ta sẽ không thể xác định được ý nghĩa của tình trạng trần truồng nguyên thuỷ và không phân tích được câu Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) được ghi lại như sau: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.” Thoạt nhìn, việc truyền thống Giavê đưa chi tiết có vẻ chỉ là thứ yếu này vào câu chuyện kể về việc sáng tạo con người, dường như là một điều không thích hợp hay đặt sái chỗ. Người ta có thể nghĩ rằng câu văn được trích dẫn không thể so sánh ngang hàng với những gì đã được bàn đến trong những câu trước đó, và như thế, nó vượt ra ngoài ngữ cảnh. Nhưng nhận xét này không còn đứng vững khi phân tích sâu xa hơn. Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) trình bày một trong những yếu tố chính của mạc khải nguyên thuỷ. Câu này cũng quan trọng không kém những câu khác như St 2,20 và 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:20,23&FontSize=Txt10) vốn đã khiến chúng ta có thể xác định ý nghĩa của sự cô đơn và duy nhất tính nguyên thuỷ của con người. Tình trạng trần truồng nguyên thuỷ, thêm vào hai tính chất này như một thành tố thứ ba, đã được nhấn mạnh rõ ràng trong mạch văn. Trong bản phác thảo nhân loại học của Kinh Thánh, không có gì là phụ thuộc, mà ngược lại, đấy chính là chìa khoá để hiểu được tường tận và trọn vẹn.
Yếu tố này của bản văn Kinh Thánh cổ góp phần đặc biệt không thể bỏ sót cho nền thần học về thân xác. Những suy tư tiếp sau sẽ khẳng định điều này. Nhưng trước khi bàn đến, tôi muốn nêu lên rằng bản văn của Sách Sáng Thế 2,25 đòi hỏi rõ ràng rằng những suy tư về thần học thân xác phải có liên quan với chiều kích của tư cách chủ thể nhân vị con người. Vì sự ý thức về ý nghĩa của thân xác triển nở trong chính chủ thể tính này. Câu Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) nói điều ấy lên một cách trực tiếp hơn nhiều chỗ khác trong bản văn thuộc truyền thống Giavê này, mà chúng ta xác định như là bản ghi chép đầu tiên về ý thức con người.
Khi nói rằng những con người đầu tiên, cả nam lẫn nữ, “đều trần truồng” mà “không xấu hổ”, câu văn này chắc chắn diễn tả tình trạng của ý thức nơi họ, đúng hơn, kinh nghiệm về thân xác của nhau. Nó miêu tả cái kinh nghiệm nơi người nam về phái nữ được biểu lộ khi thân xác trần truồng, và đảo lại, cái kinh nghiệm tương tự của người nữ về phái nam. Khi nói rằng: “họ không xấu hổ,” tác giả cố gắng hết khả năng trình bày kinh nghiệm hỗ tương về thân xác cho thật chính xác. Có thể nói mức chính xác này phản ánh kinh nghiệm cơ bản của một người “thông thường” và theo nghĩa tiền khoa học. Nhưng như thế cũng tương hợp với những đòi hỏi của khoa nhân loại học và cách riêng của khoa nhân loại học đương thời, thường quy về những cái gọi là kinh nghiệm cơ bản, ví dụ như “kinh nghiệm xấu hổ.”[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Khi nói đến tính chính xác của câu chuyện, trong mức độ tác giả của bản văn theo truyền thống Giavê có được, chúng ta thấy cần phải cân nhắc đến những cấp độ kinh nghiệm của con người lịch sử dưới sức nặng của di sản tội lỗi. Tuy nhiên những cấp độ này khởi đầu tuần tự từ tình trạng trong trắng nguyên thuỷ. Chúng ta đã thấy rằng, khi quy chiếu về “thuở ban đầu” (mà chúng ta đã tuần tự khảo sát dưới nhiều ngữ cảnh), Đức Kitô đã gián tiếp nói đến sự liên tục và tương quan giữa hai tình trạng. Điều này cho phép chúng ta băng ngược trở lại qua lằn ranh phân cách giữa tình trạng của con người đã mang tội trong lịch sử và tình trạng trong trắng nguyên thuỷ. Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) cho thấy sự cần thiết phải vượt qua lằn ranh ấy.
Câu này, cùng với ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ hàm ngụ trong đó, nằm trong ngữ cảnh của câu chuyện thuộc truyền thống Giavê. Sau đó một vài câu, chính tác giả đã viết: “Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.” (St 3,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:7&FontSize=Txt10)) Trạng từ “bấy giờ” nói lên một thời điểm mới và một hoàn cảnh mới theo sau việc xé bỏ giao ước đầu tiên. Đó là hoàn cảnh sau vụ thất bại trong cuộc thử thách gắn liền với cây biết lành biết dữ. Đồng thời cuộc thử thách này là cuộc trắc nghiệm đầu tiên về “lòng vâng phục,” nghĩa là, biết lắng nghe Lời Chúa với trọn vẹn sự thật và đón nhận tình yêu, đúng theo tất cả những gì mà Ý Đấng Sáng tạo đòi hỏi. Thời điểm mới hay hoàn cảnh mới này cũng hàm ngụ một kinh nghiệm về thân xác với nội dung mới và một phẩm chất mới, nên không còn có thể nói “họ đều trần truồng mà không xấu hổ” được nữa. Ở đây, xấu hổ không chỉ là một kinh nghiệm nguyên thuỷ, mà còn là một kinh nghiệm “giới hạn”.
Sự khác biệt trong lối diễn tả giữa hai câu Sách Sáng Thế 2,25 và 3,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25 ; St 3:7&FontSize=Txt10) là đáng kể - trường hợp thứ nhất: “Cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau,” trường hợp sau: “họ thấy mình trần truồng.” Có phải điều đó có nghĩa là: “Họ không biết rằng họ trần truồng” hay họ không nhận ra được sự trần truồng của thân xác người kia? Sự thay đổi ý nghĩa đáng kể này do bản văn Kinh Thánh ghi nhận về kinh nghiệm xấu hổ (mà Sách Sáng Thế nhắc lại, đặc biệt ở các câu 3,10-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:10-12&FontSize=Txt10)) xảy ra ở mức độ sâu xa hơn là những gì đơn thuần dùng mắt thấy được.
Phân tích so sánh giữa Sách Sáng Thế 2,25 và Sách Sáng Thế chương 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25 ; St 3&FontSize=Txt10) đưa đến kết luận đương nhiên rằng đây không phải là vấn đề đi từ “không biết” sang “biết”, mà đúng hơn nó liên hệ đến việc thay đổi tận căn ý nghĩa của sự trần truồng của người nữ trước mắt người nam và của người nam trước mắt người nữ. Nó xuất phát từ lương tâm họ, như hoa trái của cây biết lành biết dữ: “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? "(St 3,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:11&FontSize=Txt10)).
Sự thay đổi này trực tiếp liên quan đến kinh nghiệm về ý nghĩa của thân xác mình trước Đấng Tạo Hoá và các loài thụ tạo. Sau đó, con người nói lên điều khẳng định ấy: “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn." (St 3,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:10&FontSize=Txt10)) Sự thay đổi này, vốn được truyền thống Giavê diễn tả chính xác và đầy kịch tính, đã liên quan trực tiếp - và có lẽ trực tiếp hết mức có thể - đến mối tương quan giữa người nam-người nữ, phái nữ-phái nam.
Chúng ta sẽ phải trở lại lần nữa để phân tích sự thay đổi nơi con người ở các phần khác trong những suy tư sau này. Giờ đây, khi đã đến ranh giới xuyên qua khung cảnh “thuở ban đầu” mà Đức Kitô quy chiếu về, chúng ta phải tự hỏi liệu có thể bằng cách nào đó tái tạo ý nghĩa nguyên thuỷ của sự trần truồng không. Trong Sách Sáng Thế, sự trần truồng làm thành ngữ cảnh trực tiếp của giáo lý về sự đơn nhất của bản tính loài người là nam và là nữ. Điều này xem ra có thể được, nếu chúng ta chọn điểm mốc là cái kinh nghiệm xấu hổ, mà bản văn Kinh Thánh cổ đã trình bày rõ ràng như một kinh nghiệm “giới hạn”. Chúng ta sẽ cố gắng tái tạo nó trong nhũng bài suy niệm sau này.
----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Xem thêm, ví dụ : M. Scheler, Über Scham und Schamgefühl (Halle: 1914); Fr. Sawicki, Fenomenologia wstydliwosci (Phenomenology of shame) (Krakow: 1949); và cũng xem K. Wojtyla, Milosc i odpowiedzialnosc (Krakow: 1962), các trang. 165-185; (Love and Responsibilty [New York: 1981], chương "The Metaphysics of Shame."
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
11. Ý nghĩa những kinh nghiệm nguyên thuỷ nơi con người
Việc phân tích những chương đầu Sách Sáng Thế thúc đẩy chúng ta, theo một cách nào đó, tái tạo những yếu tố làm nên kinh nghiệm nguyên thuỷ của con người. Theo chiều hướng này, đặc điểm của bản văn thuộc truyền thống Giavê biến kinh nghiệm này thành một nguồn tài nguyên đặc biệt. Khi nói về những kinh nghiệm nguyên thuỷ của con người chúng ta không nghĩ tới khoảng cách biệt của chúng trong thời gian cho bằng ý nghĩa căn bản của chúng. Điều quan trọng không phải là những kinh nghiệm này thuộc về thời tiền sử của con người (thuộc về thời “tiền sử thần học”), nhưng là chúng luôn luôn nằm ở cội nguồn của mọi kinh nghiệm con người. Chúng lẫn lộn trong những chuyện bình thường của đời sống đến độ chúng ta thường thường không nhận ra tính cách đặc biệt của chúng.
Dựa trên những phân tích đã được thực hiện cho tới bây giờ, chúng ta nhận ra rằng điều mà ban đầu chúng ta gọi là “mặc khải về thân xác” giúp chúng ta cách nào đó khám phá ra khía cạnh lạ thường của điều bình thường. Điều này có thể được vì việc mặc khải (mặc khải đầu tiên, được truyền thống Giavê bày tỏ trong Sáng Thế 2,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:3&FontSize=Txt10), rồi sau đó trong chương 1 Sách Sáng Thế (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1&FontSize=Txt10)) cũng xét đến chính những kinh nghiệm đầu tiên này. Nơi những kinh nghiệm này, nét tuyệt đối độc đáo của con người –là nam là nữ - , xét như là con người, nghĩa là qua thân xác của con người, được biểu lộ ra hầu như hoàn toàn. Như chúng ta khám phá thấy trong bản văn Kinh Thánh được trích dẫn, kinh nghiệm của con người về thân xác mình chắc chắn nằm ở ngưỡng cửa của toàn bộ kinh nghiệm “trong lịch sử” xảy ra sau đó. Tuy nhiên, kinh nghiệm này cũng nằm ở bình diện hữu thể luận sâu đến mức con người không cảm nhận được nó trong đời sống thường nhật. Sự thể là thế, cả khi, một cách nào đó, con người đồng thời vừa giả thiết nó vừa quy định nó như là một phần trong tiến trình tạo nên hình ảnh của chính mình
Nếu không có những suy tư dẫn nhập này, người ta sẽ không thể xác định được ý nghĩa của tình trạng trần truồng nguyên thuỷ và không phân tích được câu Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) được ghi lại như sau: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.” Thoạt nhìn, việc truyền thống Giavê đưa chi tiết có vẻ chỉ là thứ yếu này vào câu chuyện kể về việc sáng tạo con người, dường như là một điều không thích hợp hay đặt sái chỗ. Người ta có thể nghĩ rằng câu văn được trích dẫn không thể so sánh ngang hàng với những gì đã được bàn đến trong những câu trước đó, và như thế, nó vượt ra ngoài ngữ cảnh. Nhưng nhận xét này không còn đứng vững khi phân tích sâu xa hơn. Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) trình bày một trong những yếu tố chính của mạc khải nguyên thuỷ. Câu này cũng quan trọng không kém những câu khác như St 2,20 và 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:20,23&FontSize=Txt10) vốn đã khiến chúng ta có thể xác định ý nghĩa của sự cô đơn và duy nhất tính nguyên thuỷ của con người. Tình trạng trần truồng nguyên thuỷ, thêm vào hai tính chất này như một thành tố thứ ba, đã được nhấn mạnh rõ ràng trong mạch văn. Trong bản phác thảo nhân loại học của Kinh Thánh, không có gì là phụ thuộc, mà ngược lại, đấy chính là chìa khoá để hiểu được tường tận và trọn vẹn.
Yếu tố này của bản văn Kinh Thánh cổ góp phần đặc biệt không thể bỏ sót cho nền thần học về thân xác. Những suy tư tiếp sau sẽ khẳng định điều này. Nhưng trước khi bàn đến, tôi muốn nêu lên rằng bản văn của Sách Sáng Thế 2,25 đòi hỏi rõ ràng rằng những suy tư về thần học thân xác phải có liên quan với chiều kích của tư cách chủ thể nhân vị con người. Vì sự ý thức về ý nghĩa của thân xác triển nở trong chính chủ thể tính này. Câu Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) nói điều ấy lên một cách trực tiếp hơn nhiều chỗ khác trong bản văn thuộc truyền thống Giavê này, mà chúng ta xác định như là bản ghi chép đầu tiên về ý thức con người.
Khi nói rằng những con người đầu tiên, cả nam lẫn nữ, “đều trần truồng” mà “không xấu hổ”, câu văn này chắc chắn diễn tả tình trạng của ý thức nơi họ, đúng hơn, kinh nghiệm về thân xác của nhau. Nó miêu tả cái kinh nghiệm nơi người nam về phái nữ được biểu lộ khi thân xác trần truồng, và đảo lại, cái kinh nghiệm tương tự của người nữ về phái nam. Khi nói rằng: “họ không xấu hổ,” tác giả cố gắng hết khả năng trình bày kinh nghiệm hỗ tương về thân xác cho thật chính xác. Có thể nói mức chính xác này phản ánh kinh nghiệm cơ bản của một người “thông thường” và theo nghĩa tiền khoa học. Nhưng như thế cũng tương hợp với những đòi hỏi của khoa nhân loại học và cách riêng của khoa nhân loại học đương thời, thường quy về những cái gọi là kinh nghiệm cơ bản, ví dụ như “kinh nghiệm xấu hổ.”[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Khi nói đến tính chính xác của câu chuyện, trong mức độ tác giả của bản văn theo truyền thống Giavê có được, chúng ta thấy cần phải cân nhắc đến những cấp độ kinh nghiệm của con người lịch sử dưới sức nặng của di sản tội lỗi. Tuy nhiên những cấp độ này khởi đầu tuần tự từ tình trạng trong trắng nguyên thuỷ. Chúng ta đã thấy rằng, khi quy chiếu về “thuở ban đầu” (mà chúng ta đã tuần tự khảo sát dưới nhiều ngữ cảnh), Đức Kitô đã gián tiếp nói đến sự liên tục và tương quan giữa hai tình trạng. Điều này cho phép chúng ta băng ngược trở lại qua lằn ranh phân cách giữa tình trạng của con người đã mang tội trong lịch sử và tình trạng trong trắng nguyên thuỷ. Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) cho thấy sự cần thiết phải vượt qua lằn ranh ấy.
Câu này, cùng với ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ hàm ngụ trong đó, nằm trong ngữ cảnh của câu chuyện thuộc truyền thống Giavê. Sau đó một vài câu, chính tác giả đã viết: “Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.” (St 3,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:7&FontSize=Txt10)) Trạng từ “bấy giờ” nói lên một thời điểm mới và một hoàn cảnh mới theo sau việc xé bỏ giao ước đầu tiên. Đó là hoàn cảnh sau vụ thất bại trong cuộc thử thách gắn liền với cây biết lành biết dữ. Đồng thời cuộc thử thách này là cuộc trắc nghiệm đầu tiên về “lòng vâng phục,” nghĩa là, biết lắng nghe Lời Chúa với trọn vẹn sự thật và đón nhận tình yêu, đúng theo tất cả những gì mà Ý Đấng Sáng tạo đòi hỏi. Thời điểm mới hay hoàn cảnh mới này cũng hàm ngụ một kinh nghiệm về thân xác với nội dung mới và một phẩm chất mới, nên không còn có thể nói “họ đều trần truồng mà không xấu hổ” được nữa. Ở đây, xấu hổ không chỉ là một kinh nghiệm nguyên thuỷ, mà còn là một kinh nghiệm “giới hạn”.
Sự khác biệt trong lối diễn tả giữa hai câu Sách Sáng Thế 2,25 và 3,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25 ; St 3:7&FontSize=Txt10) là đáng kể - trường hợp thứ nhất: “Cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau,” trường hợp sau: “họ thấy mình trần truồng.” Có phải điều đó có nghĩa là: “Họ không biết rằng họ trần truồng” hay họ không nhận ra được sự trần truồng của thân xác người kia? Sự thay đổi ý nghĩa đáng kể này do bản văn Kinh Thánh ghi nhận về kinh nghiệm xấu hổ (mà Sách Sáng Thế nhắc lại, đặc biệt ở các câu 3,10-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:10-12&FontSize=Txt10)) xảy ra ở mức độ sâu xa hơn là những gì đơn thuần dùng mắt thấy được.
Phân tích so sánh giữa Sách Sáng Thế 2,25 và Sách Sáng Thế chương 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25 ; St 3&FontSize=Txt10) đưa đến kết luận đương nhiên rằng đây không phải là vấn đề đi từ “không biết” sang “biết”, mà đúng hơn nó liên hệ đến việc thay đổi tận căn ý nghĩa của sự trần truồng của người nữ trước mắt người nam và của người nam trước mắt người nữ. Nó xuất phát từ lương tâm họ, như hoa trái của cây biết lành biết dữ: “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? "(St 3,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:11&FontSize=Txt10)).
Sự thay đổi này trực tiếp liên quan đến kinh nghiệm về ý nghĩa của thân xác mình trước Đấng Tạo Hoá và các loài thụ tạo. Sau đó, con người nói lên điều khẳng định ấy: “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn." (St 3,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:10&FontSize=Txt10)) Sự thay đổi này, vốn được truyền thống Giavê diễn tả chính xác và đầy kịch tính, đã liên quan trực tiếp - và có lẽ trực tiếp hết mức có thể - đến mối tương quan giữa người nam-người nữ, phái nữ-phái nam.
Chúng ta sẽ phải trở lại lần nữa để phân tích sự thay đổi nơi con người ở các phần khác trong những suy tư sau này. Giờ đây, khi đã đến ranh giới xuyên qua khung cảnh “thuở ban đầu” mà Đức Kitô quy chiếu về, chúng ta phải tự hỏi liệu có thể bằng cách nào đó tái tạo ý nghĩa nguyên thuỷ của sự trần truồng không. Trong Sách Sáng Thế, sự trần truồng làm thành ngữ cảnh trực tiếp của giáo lý về sự đơn nhất của bản tính loài người là nam và là nữ. Điều này xem ra có thể được, nếu chúng ta chọn điểm mốc là cái kinh nghiệm xấu hổ, mà bản văn Kinh Thánh cổ đã trình bày rõ ràng như một kinh nghiệm “giới hạn”. Chúng ta sẽ cố gắng tái tạo nó trong nhũng bài suy niệm sau này.
----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Xem thêm, ví dụ : M. Scheler, Über Scham und Schamgefühl (Halle: 1914); Fr. Sawicki, Fenomenologia wstydliwosci (Phenomenology of shame) (Krakow: 1949); và cũng xem K. Wojtyla, Milosc i odpowiedzialnosc (Krakow: 1962), các trang. 165-185; (Love and Responsibilty [New York: 1981], chương "The Metaphysics of Shame."
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ