PDA

View Full Version : Phần I. Bài 12. Sự sung mãn của truyền thông liên vị


admin
09-03-2006, 05:58 PM
Thứ Tư, ngày 19 tháng 12 năm 1979


12. Sự sung mãn của truyền thông liên vị

Sự xấu hổ là gì và chúng ta làm sao cắt nghĩa nó không có mặt trong tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, trong chiều sâu của huyền nhiệm tạo dựng con người là nam là nữ? Từ những phân tích đương đại về sự xấu hổ - và đặc biệt về sự e thẹn tính dục - chúng ta có thể luận ra tính phức tạp của kinh nghiệm nguyên thuỷ này, trong đó con người tự biểu lộ chính mình như một nhân vị theo cấu trúc cá biệt của chính mình. Trong kinh nghiệm xấu hổ, con người cảm nghiệm thấy mình sợ hãi đối với “cái mình thứ hai” (thí dụ, người nữ trước người nam). Điều đó tự căn bản là sợ chính “bản thân” của mình. Đồng thời với sự xấu hổ, con người biểu lộ gần như là theo bản năng nhu cầu khẳng định và chấp nhận chính “bản thân” ấy, theo đúng giá trị của nó. Con người cảm nghiệm điều ấy vừa bên trong, ngay nơi bản thân mình, vừa bên ngoài, trước “người kia”. Xấu hổ là một kinh nghiệm phức tạp. Nó vừa giấu một người khuất mặt người kia (người nữ khuất mặt người nam), lại vừa tìm cách để thu hút hai nhân vị lại gần với nhau hơn, bằng cách tạo nên một căn bản và mức độ thích hợp để thực hiện điều đó.

Cũng vì thế, nó có một ý nghĩa nền tảng để hình thành cái luân thường (ethos) trong xã hội nhân loại, và đặc biệt trong tương quan nam - nữ. Việc phân tích sự xấu hổ nói lên rõ ràng nó đã bắt nguồn sâu xa từ những quan hệ hỗ tương như thế nào, nó biểu thị chính xác những quy tắc thiết yếu cho sự “hiệp thông nhân vị” ra sao, và tương tự, nó đụng chạm đến chiều kích sâu xa của sự “đơn độc” nguyên thuỷ của con người như thế nào. Sự xuất hiện của xấu hổ trong câu chuyện Kinh thánh sau đó ở chương 3 Sách Sáng Thế mang một ý nghĩa đa phương. Chúng ta sẽ tiếp tục những phân tích này vào lúc thuận tiện.

Nhưng Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) nói rằng từ thuở ban đầu không có sự xấu hổ : «Cả hai đều trần truồng mà không thấy xấu hổ». Điều đó có ý nghĩa gì?

Trước hết phải nói ngay rằng sự xấu hổ hoàn toàn không có, chứ không phải là chưa biết xấu hổ vì còn đang phát triển. Chúng ta không cách nào có thể chấp nhận ở đây sự không biết xấu hổ là một điều của thời bán khai. Vì thế, Sách Sáng Thế 2,25 không những loại trừ hoàn toàn khả năng «chưa biết xấu hổ», hay là trơ trẽn không biết xấu hổ ở đây, nhưng câu ấy còn loại bỏ hẳn việc cắt nghĩa sự xấu hổ bằng loại suy từ những kinh nghiệm khác hiện có nơi con người, ví dụ như nơi trẻ em hay trường hợp các người bán khai. Những loại suy như thế không những là bất túc, mà còn thật là sai lạc. Những từ dùng trong Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10): «mà không thấy xấu hổ» không diễn tả họ thiếu thốn điều gì, ngược lại chúng nói lên một tình trạng sung mãn đặc biệt trong ý thức và kinh nghiệm, đặc biệt là thấu hiểu trọn vẹn thân xác mình mang ý nghĩa gì, liên quan tới sự việc «họ trần truồng».

Phần sau của câu chuyện thuộc truyền thống Giavê chứng tỏ rằng bản văn đang được nói đến ở đây phải được hiểu và chú giải như thế. Sự xấu hổ, và đặc biệt tính e thẹn trong tính dục mà chúng ta thấy biểu lộ ra đây, quả thực gắn liền với sự kiện đánh mất tình trạng sung mãn nguyên thuỷ. Khi lấy kinh nghiệm về sự xấu hổ làm một kinh nghiệm có giá trị «lằn ranh biên giới», chúng ta phải tự hỏi ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ, mà Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) nói đến, tương ứng với điều gì? Ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ tương hợp tình trạng sung mãn nào của ý thức và kinh nghiệm, và đặc biệt với tình trạng sung mãn nào của ý thức về thân xác?

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần giữ luôn trong tâm trí những phân tích chúng ta đã thực hiện cho đến nay, dựa trên căn bản của câu chuyện thuộc truyền thống Giavê, như là một toàn cảnh. Trong ngữ cảnh này, sự đơn độc nguyên thuỷ của con người được biểu lộ qua sự “bất tương đồng” của bản tính con người với thế giới sinh vật, “animalia”, sống chung quanh con người.

Sau khi con người được tạo dựng là nam là nữ, sự “bất tương đồng” này nhường chỗ cho sự kiện con người sung sướng khám phá ra chính bản tính con người của mình, nhờ “sự trợ giúp” của một con người khác. Chính nhờ thế mà người nam nhận ra và tái khám phá được nhân tính của mình nhờ “sự trợ giúp” của người nữ (St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10)). Đồng thời qua đó, họ nhận thức trực tiếp được thế giới, qua thân xác ("thịt bởi thịt tôi”). Đó là nguồn cội trực tiếp và hữu hình cho kinh nghiệm làm nền tảng cho sự đơn nhất của họ về bản tính nhân loại. Người ta không gặp chút khó khăn nào khi hiểu rằng sự trần truồng tương ứng với ý thức sung mãn về thân xác và về ý nghĩa của nó do nhận thức tiêu biểu từ các giác quan mang lại.

Người ta có thể suy tưởng về sự sung mãn này theo phạm trù chân lý về hữu thể hay về thực tại, và người ta có thể nói được rằng người nam và người nữ từ nguyên thuỷ đã được trao ban cho nhau đích thật trong chân lý này, bởi vì “cả hai đều trần truồng”. Khi phân tích ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ, người ta hoàn toàn không thể xem thường chiều kích này.

Sự thông phần nhận thức về thế giới – với dáng vẻ “bên ngoài” của nó – là một hành vi trực tiếp và hầu như là đột khởi. Nó xảy ra trước bất cứ mọi phức hợp then chốt nào của tri thức hay của kinh nghiệm con người và dường như gắn liền mật thiết với kinh nghiệm về ý nghĩa của thân xác con người. Sự trong trắng nguyên thuỷ của “tri thức” có thể được hiểu theo cách này.


Tuy nhiên, người ta không thể xác định ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ nếu chỉ xét đến việc con người tham dự vào việc nhận thức ngoại giới. Người ta không thể thực hiện được điều ấy, nếu không đi sâu vào trong con người. Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) đặc biệt dẫn chúng ta vào chiều sâu này và muốn chúng ta lục tìm nơi đó tình trạng trong trắng nguyên thuỷ của tri thức. Chiều kích bên trong của con người thật cần thiết để giải thích và định lượng sự sung mãn đặc biệt của sự truyền thông liên nhân vị, nhờ vậy mà người nam và người nữ tuy trần truồng vẫn không thấy xấu hổ.

Trong ngôn từ quy ước của chúng ta, khái niệm truyền thông đã bị tha hoá xa rời cái ma trận ngữ căn nguyên thuỷ sâu thẳm nhất của nó. Từ này gắn liền với thế giới truyền thông, mà công việc chính là giúp hiểu biết, trao đổi và mang lại gần nhau. Mặt khác, người ta cũng có thể giả thiết rằng, theo nghĩa sâu xa hơn và nguyên thuỷ, thì truyền thông đã và đang liên quan tới các chủ thể. Các chủ thể giao tiếp với nhau dựa trên căn bản sự hiệp nhất chung đã hiện hữu giữa họ, cả hai phải đạt tới và diễn tả một thực tại cá biệt và chỉ thích đáng cho môi trường nhân vị-chủ thể

Như thế, thân xác con người mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Ý nghĩa này không thể nằm chung một bình diện với những nhận thức “ngoại tại” khác về thế giới. Nó diễn tả nhân vị trong cụ thể tính của hữu thể và hiện hữu, vốn là những gì còn sung mãn hơn từng cá nhân. Như thế thân xác diễn tả cái “bản thân” của nhân vị con người. Chính bản thân này có được những nhận thức bên ngoài của mình ngay từ bên trong.

Toàn thể trình thuật Kinh Thánh, đặc biệt bản văn thuộc truyền thống Giavê, cho thấy, thông qua tính hữu hình của nó, thân xác biểu lộ chính con người. Khi biểu thị con người, thân xác hoạt động như một trung gian, nghĩa là thân xác cho phép người nam người nữ, ngay từ lúc ban đầu, tương giao với nhau theo kiểu “hiệp thông các nhân vị” (communio personarum) như Đấng Sáng Tạo đã muốn nơi họ. Dường như chỉ chiều kích này mới cho phép chúng ta hiểu đúng đắn ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ. Trong mối liên hệ này, mọi tiêu chuẩn theo hướng “tự nhiên” đều thất bại. Ngược lại, tiêu chuẩn theo hướng “nhân vị” mới giúp được nhiều. Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) chắc chắn nói đến một điều ngoại thường, vượt quá giới hạn của sự xấu hổ thường được biết qua kinh nghiệm con người. Đồng thời điều đặc biệt ấy quyết định cho việc truyền thông đặc biệt và sung mãn giữa các nhân vị, bắt nguồn từ trung tâm của sự “hiệp thông” (communio). Nhờ vậy mà sự hiệp thông mới tỏ lộ ra và phát triển. Trong mối liên hệ ấy, câu nói: “họ không thấy xấu hổ” có thể theo nghĩa gián tiếp chỉ được hiểu là xác quyết sâu xa về điều gì gắn liền với nhân vị con người, điều gì cho thấy rõ ràng là nam và nữ, qua điều đó tạo ra được sự thân mật nhân vị của sự thông truyền cho nhau trong nét đơn sơ và tinh tuyền nguyên thuỷ. Tương ứng với sự sung mãn của tri giác ngoại giới, được biểu thị qua sự trần truồng thân xác, còn có sự sung mãn của cái nhìn con người hướng về Thiên Chúa, nghĩa là, theo chiều kích của “hình ảnh Thiên Chúa” (x. St 1,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:17&FontSize=Txt10)), Theo chiều kích này, con người thật sự “là” trần truồng (“Họ trần truồng” – St 2,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:15&FontSize=Txt10)) [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) ngay cả trước khi ý thức được điều đó (x. St 3,7-10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:7-10&FontSize=Txt10)).

Chúng ta còn phải hoàn tất việc phân tích bản văn quan trọng này qua những bài suy niệm sau.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif


Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Theo như lời Kinh Thánh nói, Thiên Chúa thấu suốt các thụ tạo, và các thụ tạo trở nên hoàn toàn “trần truồng” trước mặt Thiên Chúa. “Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi (páanta gymná) và phơi bày trước mặt Ðấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.” (Dt 4,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dt 4:13&FontSize=Txt10)). Tính cách đặc trưng này đặc biệt thuộc về Khôn Ngoan Thiên Chúa: “Do tính thuần khiết, Ðức Khôn Ngoan thâm nhập và xuyên thấu mọi vật mọi loài.” (Kn 7,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Kn 7:24&FontSize=Txt10)).

admin
04-09-2009, 09:11 PM
SỰ VIÊN MÃN CỦA THÔNG GIAO LIÊN VỊ TRONG TÌNH TRẠNG VÔ TỘI NGUYÊN THỦY

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac12.jpg1. Sự xấu hổ là gì và giải thích như thế nào khi nó không có mặt trong tình trạng vô tội nguyên thủy, trong chính chiều sâu của mầu nhiệm tạo dựng con người là nam là nữ? Từ những phân tích hiện nay về sự xấu hổ - đặc biệt là về sự e thẹn (ngượng ngùng) trong tính dục – người ta rút ra kinh nghiệm nền tảng phức tạp này, trong đó con người tự bộc lộ như một nhân vị theo cấu trúc riêng của mình. Trong kinh nghiệm xấu hổ, con người cảm thấy e sợ trước «cái mình (hay tự ngã) thứ hai» (chẳng hạn, người nữ trước mặt người nam), điều đó tự căn bản thật ra là e sợ chính «tự ngã» (bản thân) mình. Với sự xấu hổ, con người biểu lộ gần như “theo bản năng” cái nhu cầu khẳng định và chấp nhận «tự ngã» này theo đúng giá trị của nó. Con người cảm nghiệm điều ấy vừa từ bên trong mình, vừa ở bên ngoài mình, trước mặt «tha nhân» (tức là người kia). Bởi thế, ta có thể nói rằng xấu hổ là một kinh nghiệm phức tạp, theo nghĩa nó hầu như đẩy một người ra xa khỏi người kia (người phụ nữ ra xa người đàn ông) lại đồng thời cố lôi kéo hai nhân vị xích gần lại nhau, bằng cách tạo nên một nền tảng và mức độ thích hợp để thực hiện điều đó.

Cũng bởi lí do đó, xấu hổ có một ý nghĩa nền tảng liên quan đến việc định hình cái ethos trong cuộc sống xã hội loài người, và đặc biệt là trong mối quan hệ nam-nữ. Phân tích sự xấu hổ ta thấy rõ nó đâm rễ sâu xa từ trong chính các tương quan, nó biểu lộ chính xác những qui luật thiết yếu cho sự «hiệp thông liên vị», và cũng chạm sâu tới chiều kích của «sự đơn độc» nguyên thủy của con người như thế nào. Sự «xấu hổ» xuất hiện trong trình thuật kế tiếp ở chương 3 sách Sáng thế có nhiều ý nghĩa, và chúng ta sẽ phân tích khi thuận tiện.

Thế nhưng, thuở ban đầu không có xấu hổ như St 2,25 nói: «Cả hai trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ», điều đó có ý nghĩa gì?

2. Trước hết, cần phải xác định ở đây là thực sự không có sự xấu hổ, chứ không phải nó đã có tiềm tàng và chờ được phát triển. Dù sao đi nữa chúng ta cũng không thể cho rằng xấu hổ có một ý nghĩa nào đó tự nguyên thủy. Đoạn St 2,25 cho thấy dứt khoát không thể có trường hợp muốn ám chỉ đến một tình trạng «chưa biết xấu hổ», hoặc một sự thiếu đoan trang, và hơn nữa, càng không thể chấp nhận một lối giải thích so sánh tương tự (loại suy) với những kinh nghiệm thực tế nhân bản, chẳng hạn như kinh nghiệm tuổi thơ ấu hay cuộc sống của những dân tộc gọi là bán khai. Những kiểu loại suy như thế thì không đủ, mà thậm chí có thể còn sai lạc. Những lời lẽ của St 2,25 «họ không cảm thấy xấu hổ» không biểu lộ một ý nghĩa khiếm khuyết, nhưng ngược lại, để diễn tả một sự sung mãn đặc biệt về ý thức và kinh nghiệm, nhất là một sự hiểu biết trọn vẹn ý nghĩa của thân xác, vốn được liên kết với sự kiện «họ trần truồng».

Phần sau của trình thuật yahvit – với bối cảnh là sự xấu hổ và đặc biệt là sự e thẹn trong tính dục xuất hiện: điều đó gắn liền với sự kiện con người đánh mất tình trạng sung mãn nguyên thủy – chứng tỏ rằng đoạn văn đã trích trên phải được hiểu và chú giải như thế. Do đó, khi giả thiết kinh nghiệm xấu hổ như là kinh nghiệm «biên giới», chúng ta phải tự hỏi về ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy (mà St 2,25 nói đến). Sự trần truồng nguyên thủy tương ứng với việc con người đã ý thức và kinh nghiệm trọn vẹn về ý nghĩa của thân xác tới mức nào, nhất là, con người đã hiểu hoàn toàn ý nghĩa của thân xác tới mức nào?

3. Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần phải luôn nhớ những gì chúng ta đã phân tích cho đến nay, trên cơ sở toàn cảnh của trình thuật yahvit. Trong bối cảnh ấy, sự đơn độc nguyên thủy của con người cho thấy bản tính của con người «không đồng nhất» với thế giới các sinh vật (animalia) đang sống quanh mình.

Sau khi được tạo dựng có nam có nữ, tình cảnh «không đồng nhất» ấy được thay thế bằng niềm hạnh phúc con người khám phá nhân tính của mình nhờ «sự trợ giúp» của tha nhân kia. Như thế, người đàn ông nhận ra và tìm thấy lại nhân tính của mình nhờ người «trợ tá» phụ nữ của mình (St 2,25). Hành động này của họ cũng đồng thời là một nhận thức thế giới được thực hiện trực tiếp qua thân xác («thịt bởi thịt tôi»). Đó là cội nguồn trực tiếp và hữu hình của kinh nghiệm tạo lập sự hợp nhất trong nhân tính của họ. Bởi thế, sự trần truồng tương ứng với ý thức trọn vẹn (viên mãn) về ý nghĩa của thân xác, hệ quả của nhận thức tiêu biểu của giác quan, là điều dễ hiểu. Người ta có thể nghĩ đến tính viên mãn này theo phạm trù chân lí của hữu thể hay của thực tại, và có thể nói rằng người đàn ông và người đàn bà tự nguyên thủy vốn được trao ban cho nhau đúng theo chân lí đó, vì «họ vốn trần truồng». Khi phân tích ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy chiều kích này tuyệt đối không thể bị gạt bỏ. Việc tham dự vào nhận thức thế giới đó – với dáng vẻ «bên ngoài» của nó – là một sự kiện trực tiếp và gần như tự phát, nó có trước mọi tri thức và kinh nghiệm phức hợp mang tính «phê bình», và có vẻ liên kết chặt chẽ với kinh nghiệm về ý nghĩa của thân xác con người. Theo cách này người ta có thể hiểu sự vô tội nguyên thủy của «tri thức».

4. Tuy nhiên, người ta không thể xác định ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy nếu chỉ xét đến sự tham dự của con người vào việc nhận thức thế giới bên ngoài. Không thể hiểu được ý nghĩa ấy nếu không đi vào cõi thân mật thâm sâu của con người. Đoạn St 2,25 sẽ dẫn ta vào chính tầng sâu này và muốn chúng ta tìm sự vô tội nguyên thủy của tri thức ở đó. Thật vậy, chính trong chiều kích nội tâm con người mà ta cần giải thích và lượng định mức độ viên mãn riêng của sự thông giao (comunicazione) liên vị, nhờ đó người đàn ông và người đàn bà «trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ».

Ý niệm thông giao hay còn gọi là truyền thông này, trong ngôn ngữ thông thường của chúng ta ngày nay gần như đã bị tha hóa, được người ta hiểu khác xa với ý nghĩa nguyên sơ sâu xa nhất của nó. Đặc biệt nó liên hệ đến lãnh vực phương tiện truyền thông, nghĩa là phần lớn được hiểu như là sản phẩm phục vụ cho việc tìm hiểu, trao đổi, xích lại gần nhau. Nhưng theo nghĩa nguyên thủy và sâu xa nhất, «thông giao» vốn gắn liền trực tiếp với các chủ thể «thông truyền» với nhau ngay trên cơ sở sự «hiệp nhất đồng lòng» giữa họ với nhau, vừa nhằm đạt đến vừa nhằm diễn tả một thực tại vốn chỉ thích hợp và thuộc về bình diện của các chủ thể-ngôi vị. Như thế, thân xác con người mặc lấy một ý nghĩa hoàn toàn mới không thể chỉ dừng lại ở bình diện nhận thức «ngoại giới». Nó diễn tả một ngôi vị cụ thể, cả trên bình diện bản thể và hiện hữu, là cái gì đó còn hơn là một «cá thể», nó diễn tả một cái «tôi» nhân vị làm nền tảng bên trong cho nhận thức ngoại giới.

5. Toàn thể trình thuật kinh thánh, nhất là bản văn yahvit, cho thấy rằng thân xác, nhờ chính tính chất hữu hình của mình, biểu lộ con người. Trong khi biểu lộ con người, thân xác hoạt động như là trung gian, nghĩa là nó giúp cho người nam và người nữ «thông giao» với nhau theo sự hiệp thông liên vị mà chính Tạo Hóa đã muốn cho họ ngay từ thuở ban đầu. Xem ra chỉ có chiều kích này mới giúp ta hiểu đúng đắn nhất ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy. Về vấn đề này, mọi tiêu chuẩn “duy tự nhiên”[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=498#_ftn1) (naturalistico) rốt cuộc sẽ thất bại, trái lại, tiêu chuẩn “duy nhân vị” có thể rất hữu ích. Đoạn St 2,25 chắc hẳn là nói về một điều gì đó khác thường nằm ngoài phạm vi của kinh nghiệm xấu hổ con người đã trải nghiệm, đồng thời nó cũng quyết định về sự viên mãn đặc biệt của thông giao liên vị, điều phát xuất từ chính tâm điểm của sự hiệp thông (communio) và nhờ vậy mà sự hiệp thông mới được lộ ra và triển nở. Trong mối quan hệ đó, câu nói : «họ không cảm thấy xấu hổ» có thể chỉ có ý nghĩa (gián tiếp) về một chiều sâu nguyên thủy muốn khẳng định những gì liên hệ đến nhân vị, những gì biểu lộ rõ ràng là nam là nữ, nhờ đó tạo nên «sự thân mật» của thông giao giữa hai con người với tất cả nét đơn sơ và tinh tuyền tuyệt đối của nó. Tương ứng với cái tri giác “ ngoại giới” viên mãn này, được diễn tả qua sự trần truồng thân xác, là cái nhìn “nội tâm” viên mãn về con người trong Thiên Chúa, nghĩa là theo thước đo «hình ảnh Thiên Chúa» (x. St 1,27). Theo chiều kích này, con người thật sự “là” trần truồng (St 2,25) [1], ngay cả trước khi nhận biết mình trần truồng (St 3.7-10).

Chúng ta còn phải phân tích đoạn văn quan trọng này trong những suy tư kế tiếp.

------------

[1] Theo lời Kinh Thánh nói, Thiên Chúa thấu suốt các thụ tạo, trước mặt Ngài mọi loài mọi vật đều «trần trụi»: « Trước mặt Người không có thụ tạo nào lại là u ẩn, nhưng tất cả đều trần trụi (pánta gymná) và phơi bày trước mặt Đấng mà chúng ta phải trả lẽ» (Dt 4,13). Đặc tính này đặc biệt thuộc về Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa : «Do tính thuần khiết, Đức Khôn Ngoan thâm nhập và xuyên thấu mọi vật mọi loài» (Kn 7,24).

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=498