admin
11-03-2006, 07:04 AM
Thứ Tư, ngày 2 tháng Giêng năm 1980
13. Cuộc Sáng Tạo như là quà tặng nguồn cội và nguyên thuỷ
Chúng ta hãy tiếp tục phân tích Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10): “Người nam và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau” (St 2,25). Theo câu văn này, người nam và người nữ nhìn thấy nhau, trong tình trạng lúc đó, qua mầu nhiệm sáng tạo. Họ thấy nhau theo cách này trước khi nhận ra nhau đang trần truồng. Nhìn nhau như thế không chỉ là tham dự vào thế giới qua tri thức ngoại tại, mà còn là tham dự với một chiều kích nội tại vào chính cái nhìn của chính Đấng Sáng Tạo. Bản văn thuộc truyền thống Elohim đã nói nhiều lần về cái nhìn này như sau: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)).
Sự trần truồng có nghĩa là sự tốt lành nguyên thuỷ theo cái nhìn của Thiên Chúa. Nó nói lên toàn bộ tính đơn sơ và sung mãn của cái nhìn, qua đó giá trị “tinh tuyền” của bản tính nhân loại là nam và là nữ, giá trị “tinh tuyền” của thân xác và phái tính được biểu lộ ra. Qua mạc khải nguyên thuỷ về thân xác được Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) đặc biệt miêu tả cách cô đọng và gây nhiều cảm hứng, tình trạng nguyên tuyền này cho thấy không có sự gián đoạn hay đối kháng nào giữa phần tinh thần và phần khả giác. Cũng không có sự gián đoạn hay đối kháng nào giữa điều làm nên nhân vị con người và điều nơi con người được phái tính xác định - nghĩa là điều làm cho con người trở thành nam và nữ.
Khi nhìn nhau, như thể nhìn xuyên qua mầu nhiệm sáng tạo, người nam và người nữ thấy nhau trọn vẹn hơn và rõ ràng hơn là khi nhìn qua chính thị giác của mình, nghĩa là qua đôi mắt của thân xác. Hai người nhìn và hiểu biết nhau với tràn đầy niềm bình an của ánh mắt nội tâm. Chính cái nhìn nội tâm này tạo nên sự sung mãn của mối tương quan mật thiết giữa hai nhân vị.
Chính sự xấu hổ đã kéo theo nó cái giới hạn cụ thể cho tầm nhìn đôi mắt thân xác. Trước hết, sự xấu hổ xảy ra vì tình thân mật giữa hai con người bị khuấy động và hầu như bị đe doạ bởi cái nhìn này. Theo Sách Sáng Thế 2,25 người nam và người nữ không xấu hổ khi nhìn nhau và hiểu biết nhau trong cái nhìn nội tâm tràn đầy bình an và yên tĩnh. Họ thông truyền cho nhau với trọn vẹn bản tính nhân loại, biểu lộ nơi họ như là sự bổ túc cho nhau chính bởi vì họ là “nam” và “nữ”. Đồng thời, họ thông truyền cho nhau dựa trên căn bản của sự hiệp thông các nhân vị. Và trong sự hiệp thông này, qua phái tính nữ và phái tính nam, họ trở thành quà tặng cho nhau. Như thế, qua tính hỗ tương, họ đặc biệt hiểu ra được ý nghĩa của thân xác mình
Ý nghĩa nguyên thuỷ của sự trần truồng tương ứng với nét đơn sơ nhưng sung mãn của cái nhìn thấu triệt được ý nghĩa thân xác ngay nơi chính trọng tâm cộng-đoàn-hiệp-thông của họ. Chúng ta gọi cộng-đoàn-hiệp-thông đó là “hôn nhân”. Người nam và người nữ trong Sách Sáng Thế 2,25 khi xuất hiện, chính xác là “ngay từ thuở ban đầu”, đã ý thức được ý nghĩa của thân xác mình. Điều này cần được phân tích kỹ lưỡng.
Hai câu chuyện về việc tạo dựng con người, một theo truyền thống Elohim và một theo truyền thống Giavê, cho phép chúng ta thiết lập ý nghĩa nguyên thuỷ của sự đơn độc, đơn nhất và trần truồng. Hai câu chuyện này cũng cho phép chúng ta đứng trên bình diện của một nhân loại học thoả đáng, cố gắng hiểu và cắt nghĩa con nguời trong chính điều cơ bản làm nên con người. [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Các bản văn Kinh Thánh chứa đựng những yếu tố cơ bản của môn nhân loại học, đã được biểu hiện trong một bối cảnh thần học về “hình ảnh Thiên Chúa”. Quan niệm này chứa đựng nơi mình cội nguồn chân lý về con người. Đó là điều được nhắc đến qua lời nói “từ thuở ban đầu,” mà Chúa Giêsu đã trưng dẫn khi tranh luận với các người Pharisêu (x. Mt 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10)) lúc Ngài đề cập đến việc tạo dựng con người là người nam và người nữ. Cần nhắc lại rằng mọi phân tích của chúng tôi cho đến nay đều liên hệ, ít là cách gián tiếp, với những lời này của Ngài. Con người, được Thiên Chúa tạo dựng là người nam và người nữ, mang nơi thân xác mình “từ thuở ban đầu” dấu ấn của hình ảnh Thiên Chúa. Người nam và người nữ là hai cách khác nhau để biểu tỏ “hữu thể mang thân xác” con người, trong chỉ một hình ảnh duy nhất ấy của Thiên Chúa.
Bây giờ là lúc thuận tiện để trở lại với những lời nguồn cội mà Đức Kitô đã dùng, đó là từ “đã được dựng nên” và chủ vị “Đấng Tạo Hoá”. Những từ này góp thêm chiều kích mới cho những suy tư chúng ta đã có cho đến nay, một tiêu chuẩn mới để hiểu và giải thích, mà chúng tôi gọi là “chú giải về quà tặng”. Chiều kích của quà tặng quyết định chân lý và chiều sâu thiết yếu của ý nghĩa của sự đơn độc, tính đơn nhất và tình trạng trần truồng nguyên thuỷ. Đây cũng là trọng tâm của mầu nhiệm sáng tạo, cho phép chúng ta kiến thiết nền thần học về thân xác “ngay từ thuở ban đầu”, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền thần học đó theo đúng phương cách ấy.
Nơi miệng Đức Kitô, lời “đã được dựng nên” chứa đựng chính cái chân lý chúng ta tìm thấy trong Sách Sáng Thế. Câu chuyện đầu tiên về cuộc sáng tạo lặp lại chữ này nhiều lần, từ câu St 1,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:1&FontSize=Txt10): “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất,” cho đến câu St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10): “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình.”[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) Thiên Chúa mặc khải chính mình trước hết là Đấng Sáng Tạo. Đức Kitô quy chiếu về mặc khải căn bản này trong Sách Sáng Thế. Trong mặc khải này, ý niệm về sáng tạo mang trọn vẹn chiều sâu không chỉ trên bình diện hữu thể luận mà còn sung mãn trên bình diện thần học.
Tạo Hoá là Đấng “làm cho hiện hữu từ hư vô”, là Đấng thiết lập thế giới cho nó hiện hữu và đặt con người trong thế giới ấy, vì Ngài là “tình yêu” (1 Ga 4,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Ga 4:8&FontSize=Txt10)). Hiện giờ, chúng ta không gặp thấy từ “tình yêu” này trong câu chuyện sáng tạo. Tuy nhiên câu chuyện thường kể đi kể lại: “Thiên Chúa thấy điều Ngài đã thực hiện là rất tốt lành.” Qua những từ này, chúng ta được dẫn dắt để trìu mến thấy ra được động lực sáng tạo của Thiên Chúa, là nguồn phát sinh ra cuộc tạo dựng. Chỉ có tình yêu mới khởi sinh ra điều tốt và vui sướng với điều tốt lành (x. 1 Cr 13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Cr 13&FontSize=Txt10)). Là hành vi của Thiên Chúa, tạo dựng không chỉ có nghĩa là công việc gọi từ hư vô cho thành hiện hữu rồi thiết lập sự hiện hữu của thế giới và con người trong thế giới, mà còn có nghĩa là hành vi ban tặng, theo câu chuyện kể thứ nhất, beresit bara - từ thuở ban đầu được ban cho nên hình nên dạng. Đó là việc ban tặng nền tảng và “nguồn cội”, nghĩa là, việc ban tặng mà trong đó quà tặng được trở nên hiện hữu đích xác là từ hư vô.
Những chương đầu của Sách Sáng Thế giới thiệu cho chúng ta mầu nhiệm tạo dựng, nghĩa là chuyện khởi nguyên của thế giới nhờ bởi ý định Thiên Chúa, là Đấng toàn năng và là tình yêu. Kết quả là tất cả mọi vật thụ tạo đều mang nơi mình dấu ấn của quà tặng nguyên thuỷ và nguồn cội này.
Tuy nhiên, đồng thời cái ý niệm “ban tặng” không thể nói lên một điều gì là hư vô. Nó cho biết người tặng và người nhận quà, và cả mối tương quan được hình thành giữa hai người. Và đây, mối tương quan này nảy sinh trong trình thuật sáng tạo chính vào lúc tạo dựng con người. Mối tương quan này được trình bày trước hết qua câu nói: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10)).
Trong câu chuyện sáng tạo thế giới hữu hình, việc ban tặng chỉ có ý nghĩa đối với con người. Trong toàn cả công trình tạo dựng, chỉ khi nói đến con người mới nói đến chuyện tặng quà cho con người: thế giới hữu hình được tạo dựng “cho con người”. Trình thuật Kinh thánh về việc sáng tạo cho chúng ta thấy đủ lý do để hiểu và dẫn giải theo chiều hướng này. Việc tạo dựng là quà tặng, vì có con người xuất hiện trong đó. Vì là “hình ảnh của Thiên Chúa”, con người có thể hiểu ý nghĩa của quà tặng khi được kêu gọi cho hiện hữu từ hư vô. Con người có thể dùng ngôn ngữ của sự hiểu biết này mà đáp lời Đấng Tạo Hoá. Khi dùng ngôn ngữ của sự hiểu biết này để chú giải câu chuyện sáng tạo, ta có thể từ đó suy ra rằng việc sáng tạo chính là quà tặng nguồn cội và nguyên thuỷ. Con người xuất hiện giữa công trình sáng tạo như người đứng ra nhận món quà thế giới, mà cũng có thể nói được rằng thế giới đón nhận con người như một món quà.
Đến đây chúng ta phải tạm ngưng bài phân tích. Những gì chúng ta nói đến cho tới lúc này đều liên quan mật thiết với những vấn đề nhân loại học của “thuở ban đầu.” Con người xuất hiện như thụ tạo, nghĩa là, như người đứng giữa “thế giới” đón nhận người khác như một quà tặng. Sau này chúng ta phải dành một bài phân tích sâu xa hơn về chiều kích quà tặng này, để có thể hiểu trọn vẹn hết những gì mà ý nghĩa thân xác con người bao gồm. Điều này sẽ là chủ đề cho những bài suy niệm sau.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Khái niệm về môn “nhân loại học thích đáng” đã được cắt nghĩa ngay trong chính bản văn là “hiểu và cắt nghĩa con người trong chính điều cơ bản làm nên con người”. Khái niệm này xác định chính nguyên tắc quy nạp, vốn là đặc điểm của triết học về con người. Khái niệm này cũng nêu lên những giới hạn của chính nguyên tắc ấy, và gián tiếp loại trừ mọi khả thể vượt qua giới hạn này. Môn nhân loại học thoả đáng chỉ đặt căn bản trên chính kinh nghiệm “nhân sinh”, ngược lại với lối quy nạp thuộc loại “tự nhiên”, vốn song hành với thuyết tiến hoá về thời ban đầu của nhân loại.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Từ ngữ Do thái bara – được dựng nên, hoàn toàn dành riêng để xác định hành vi là do Thiên Chúa thực hiện - chỉ xuất hiện trong trình thuật sáng tạo ở câu 1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:1&FontSize=Txt10) (tạo dựng trời và đất ), câu 21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:21&FontSize=Txt10), (tạo dựng thú vật) và câu 27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10) (tạo dựng con người). Tuy nhiên, xuất hiện ba lần nghĩa là thường xuất hiện. Điều này nói lên sự viên mãn và hoàn hảo của hành vi sáng tạo nên con người có nam có nữ. Việc lặp lại như thế chỉ cho thấy rằng thế giới thụ tạo đạt tới cao điểm là ở chỗ này.
13. Cuộc Sáng Tạo như là quà tặng nguồn cội và nguyên thuỷ
Chúng ta hãy tiếp tục phân tích Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10): “Người nam và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau” (St 2,25). Theo câu văn này, người nam và người nữ nhìn thấy nhau, trong tình trạng lúc đó, qua mầu nhiệm sáng tạo. Họ thấy nhau theo cách này trước khi nhận ra nhau đang trần truồng. Nhìn nhau như thế không chỉ là tham dự vào thế giới qua tri thức ngoại tại, mà còn là tham dự với một chiều kích nội tại vào chính cái nhìn của chính Đấng Sáng Tạo. Bản văn thuộc truyền thống Elohim đã nói nhiều lần về cái nhìn này như sau: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)).
Sự trần truồng có nghĩa là sự tốt lành nguyên thuỷ theo cái nhìn của Thiên Chúa. Nó nói lên toàn bộ tính đơn sơ và sung mãn của cái nhìn, qua đó giá trị “tinh tuyền” của bản tính nhân loại là nam và là nữ, giá trị “tinh tuyền” của thân xác và phái tính được biểu lộ ra. Qua mạc khải nguyên thuỷ về thân xác được Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) đặc biệt miêu tả cách cô đọng và gây nhiều cảm hứng, tình trạng nguyên tuyền này cho thấy không có sự gián đoạn hay đối kháng nào giữa phần tinh thần và phần khả giác. Cũng không có sự gián đoạn hay đối kháng nào giữa điều làm nên nhân vị con người và điều nơi con người được phái tính xác định - nghĩa là điều làm cho con người trở thành nam và nữ.
Khi nhìn nhau, như thể nhìn xuyên qua mầu nhiệm sáng tạo, người nam và người nữ thấy nhau trọn vẹn hơn và rõ ràng hơn là khi nhìn qua chính thị giác của mình, nghĩa là qua đôi mắt của thân xác. Hai người nhìn và hiểu biết nhau với tràn đầy niềm bình an của ánh mắt nội tâm. Chính cái nhìn nội tâm này tạo nên sự sung mãn của mối tương quan mật thiết giữa hai nhân vị.
Chính sự xấu hổ đã kéo theo nó cái giới hạn cụ thể cho tầm nhìn đôi mắt thân xác. Trước hết, sự xấu hổ xảy ra vì tình thân mật giữa hai con người bị khuấy động và hầu như bị đe doạ bởi cái nhìn này. Theo Sách Sáng Thế 2,25 người nam và người nữ không xấu hổ khi nhìn nhau và hiểu biết nhau trong cái nhìn nội tâm tràn đầy bình an và yên tĩnh. Họ thông truyền cho nhau với trọn vẹn bản tính nhân loại, biểu lộ nơi họ như là sự bổ túc cho nhau chính bởi vì họ là “nam” và “nữ”. Đồng thời, họ thông truyền cho nhau dựa trên căn bản của sự hiệp thông các nhân vị. Và trong sự hiệp thông này, qua phái tính nữ và phái tính nam, họ trở thành quà tặng cho nhau. Như thế, qua tính hỗ tương, họ đặc biệt hiểu ra được ý nghĩa của thân xác mình
Ý nghĩa nguyên thuỷ của sự trần truồng tương ứng với nét đơn sơ nhưng sung mãn của cái nhìn thấu triệt được ý nghĩa thân xác ngay nơi chính trọng tâm cộng-đoàn-hiệp-thông của họ. Chúng ta gọi cộng-đoàn-hiệp-thông đó là “hôn nhân”. Người nam và người nữ trong Sách Sáng Thế 2,25 khi xuất hiện, chính xác là “ngay từ thuở ban đầu”, đã ý thức được ý nghĩa của thân xác mình. Điều này cần được phân tích kỹ lưỡng.
Hai câu chuyện về việc tạo dựng con người, một theo truyền thống Elohim và một theo truyền thống Giavê, cho phép chúng ta thiết lập ý nghĩa nguyên thuỷ của sự đơn độc, đơn nhất và trần truồng. Hai câu chuyện này cũng cho phép chúng ta đứng trên bình diện của một nhân loại học thoả đáng, cố gắng hiểu và cắt nghĩa con nguời trong chính điều cơ bản làm nên con người. [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Các bản văn Kinh Thánh chứa đựng những yếu tố cơ bản của môn nhân loại học, đã được biểu hiện trong một bối cảnh thần học về “hình ảnh Thiên Chúa”. Quan niệm này chứa đựng nơi mình cội nguồn chân lý về con người. Đó là điều được nhắc đến qua lời nói “từ thuở ban đầu,” mà Chúa Giêsu đã trưng dẫn khi tranh luận với các người Pharisêu (x. Mt 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10)) lúc Ngài đề cập đến việc tạo dựng con người là người nam và người nữ. Cần nhắc lại rằng mọi phân tích của chúng tôi cho đến nay đều liên hệ, ít là cách gián tiếp, với những lời này của Ngài. Con người, được Thiên Chúa tạo dựng là người nam và người nữ, mang nơi thân xác mình “từ thuở ban đầu” dấu ấn của hình ảnh Thiên Chúa. Người nam và người nữ là hai cách khác nhau để biểu tỏ “hữu thể mang thân xác” con người, trong chỉ một hình ảnh duy nhất ấy của Thiên Chúa.
Bây giờ là lúc thuận tiện để trở lại với những lời nguồn cội mà Đức Kitô đã dùng, đó là từ “đã được dựng nên” và chủ vị “Đấng Tạo Hoá”. Những từ này góp thêm chiều kích mới cho những suy tư chúng ta đã có cho đến nay, một tiêu chuẩn mới để hiểu và giải thích, mà chúng tôi gọi là “chú giải về quà tặng”. Chiều kích của quà tặng quyết định chân lý và chiều sâu thiết yếu của ý nghĩa của sự đơn độc, tính đơn nhất và tình trạng trần truồng nguyên thuỷ. Đây cũng là trọng tâm của mầu nhiệm sáng tạo, cho phép chúng ta kiến thiết nền thần học về thân xác “ngay từ thuở ban đầu”, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền thần học đó theo đúng phương cách ấy.
Nơi miệng Đức Kitô, lời “đã được dựng nên” chứa đựng chính cái chân lý chúng ta tìm thấy trong Sách Sáng Thế. Câu chuyện đầu tiên về cuộc sáng tạo lặp lại chữ này nhiều lần, từ câu St 1,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:1&FontSize=Txt10): “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất,” cho đến câu St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10): “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình.”[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) Thiên Chúa mặc khải chính mình trước hết là Đấng Sáng Tạo. Đức Kitô quy chiếu về mặc khải căn bản này trong Sách Sáng Thế. Trong mặc khải này, ý niệm về sáng tạo mang trọn vẹn chiều sâu không chỉ trên bình diện hữu thể luận mà còn sung mãn trên bình diện thần học.
Tạo Hoá là Đấng “làm cho hiện hữu từ hư vô”, là Đấng thiết lập thế giới cho nó hiện hữu và đặt con người trong thế giới ấy, vì Ngài là “tình yêu” (1 Ga 4,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Ga 4:8&FontSize=Txt10)). Hiện giờ, chúng ta không gặp thấy từ “tình yêu” này trong câu chuyện sáng tạo. Tuy nhiên câu chuyện thường kể đi kể lại: “Thiên Chúa thấy điều Ngài đã thực hiện là rất tốt lành.” Qua những từ này, chúng ta được dẫn dắt để trìu mến thấy ra được động lực sáng tạo của Thiên Chúa, là nguồn phát sinh ra cuộc tạo dựng. Chỉ có tình yêu mới khởi sinh ra điều tốt và vui sướng với điều tốt lành (x. 1 Cr 13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Cr 13&FontSize=Txt10)). Là hành vi của Thiên Chúa, tạo dựng không chỉ có nghĩa là công việc gọi từ hư vô cho thành hiện hữu rồi thiết lập sự hiện hữu của thế giới và con người trong thế giới, mà còn có nghĩa là hành vi ban tặng, theo câu chuyện kể thứ nhất, beresit bara - từ thuở ban đầu được ban cho nên hình nên dạng. Đó là việc ban tặng nền tảng và “nguồn cội”, nghĩa là, việc ban tặng mà trong đó quà tặng được trở nên hiện hữu đích xác là từ hư vô.
Những chương đầu của Sách Sáng Thế giới thiệu cho chúng ta mầu nhiệm tạo dựng, nghĩa là chuyện khởi nguyên của thế giới nhờ bởi ý định Thiên Chúa, là Đấng toàn năng và là tình yêu. Kết quả là tất cả mọi vật thụ tạo đều mang nơi mình dấu ấn của quà tặng nguyên thuỷ và nguồn cội này.
Tuy nhiên, đồng thời cái ý niệm “ban tặng” không thể nói lên một điều gì là hư vô. Nó cho biết người tặng và người nhận quà, và cả mối tương quan được hình thành giữa hai người. Và đây, mối tương quan này nảy sinh trong trình thuật sáng tạo chính vào lúc tạo dựng con người. Mối tương quan này được trình bày trước hết qua câu nói: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10)).
Trong câu chuyện sáng tạo thế giới hữu hình, việc ban tặng chỉ có ý nghĩa đối với con người. Trong toàn cả công trình tạo dựng, chỉ khi nói đến con người mới nói đến chuyện tặng quà cho con người: thế giới hữu hình được tạo dựng “cho con người”. Trình thuật Kinh thánh về việc sáng tạo cho chúng ta thấy đủ lý do để hiểu và dẫn giải theo chiều hướng này. Việc tạo dựng là quà tặng, vì có con người xuất hiện trong đó. Vì là “hình ảnh của Thiên Chúa”, con người có thể hiểu ý nghĩa của quà tặng khi được kêu gọi cho hiện hữu từ hư vô. Con người có thể dùng ngôn ngữ của sự hiểu biết này mà đáp lời Đấng Tạo Hoá. Khi dùng ngôn ngữ của sự hiểu biết này để chú giải câu chuyện sáng tạo, ta có thể từ đó suy ra rằng việc sáng tạo chính là quà tặng nguồn cội và nguyên thuỷ. Con người xuất hiện giữa công trình sáng tạo như người đứng ra nhận món quà thế giới, mà cũng có thể nói được rằng thế giới đón nhận con người như một món quà.
Đến đây chúng ta phải tạm ngưng bài phân tích. Những gì chúng ta nói đến cho tới lúc này đều liên quan mật thiết với những vấn đề nhân loại học của “thuở ban đầu.” Con người xuất hiện như thụ tạo, nghĩa là, như người đứng giữa “thế giới” đón nhận người khác như một quà tặng. Sau này chúng ta phải dành một bài phân tích sâu xa hơn về chiều kích quà tặng này, để có thể hiểu trọn vẹn hết những gì mà ý nghĩa thân xác con người bao gồm. Điều này sẽ là chủ đề cho những bài suy niệm sau.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Khái niệm về môn “nhân loại học thích đáng” đã được cắt nghĩa ngay trong chính bản văn là “hiểu và cắt nghĩa con người trong chính điều cơ bản làm nên con người”. Khái niệm này xác định chính nguyên tắc quy nạp, vốn là đặc điểm của triết học về con người. Khái niệm này cũng nêu lên những giới hạn của chính nguyên tắc ấy, và gián tiếp loại trừ mọi khả thể vượt qua giới hạn này. Môn nhân loại học thoả đáng chỉ đặt căn bản trên chính kinh nghiệm “nhân sinh”, ngược lại với lối quy nạp thuộc loại “tự nhiên”, vốn song hành với thuyết tiến hoá về thời ban đầu của nhân loại.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Từ ngữ Do thái bara – được dựng nên, hoàn toàn dành riêng để xác định hành vi là do Thiên Chúa thực hiện - chỉ xuất hiện trong trình thuật sáng tạo ở câu 1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:1&FontSize=Txt10) (tạo dựng trời và đất ), câu 21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:21&FontSize=Txt10), (tạo dựng thú vật) và câu 27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10) (tạo dựng con người). Tuy nhiên, xuất hiện ba lần nghĩa là thường xuất hiện. Điều này nói lên sự viên mãn và hoàn hảo của hành vi sáng tạo nên con người có nam có nữ. Việc lặp lại như thế chỉ cho thấy rằng thế giới thụ tạo đạt tới cao điểm là ở chỗ này.