PDA

View Full Version : Phần I. Bài 13. Cuộc Sáng Tạo như là quà tặng nguồn cội và nguyên thuỷ


admin
11-03-2006, 07:04 AM
Thứ Tư, ngày 2 tháng Giêng năm 1980


13. Cuộc Sáng Tạo như là quà tặng nguồn cội và nguyên thuỷ

Chúng ta hãy tiếp tục phân tích Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10): “Người nam và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau” (St 2,25). Theo câu văn này, người nam và người nữ nhìn thấy nhau, trong tình trạng lúc đó, qua mầu nhiệm sáng tạo. Họ thấy nhau theo cách này trước khi nhận ra nhau đang trần truồng. Nhìn nhau như thế không chỉ là tham dự vào thế giới qua tri thức ngoại tại, mà còn là tham dự với một chiều kích nội tại vào chính cái nhìn của chính Đấng Sáng Tạo. Bản văn thuộc truyền thống Elohim đã nói nhiều lần về cái nhìn này như sau: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)).

Sự trần truồng có nghĩa là sự tốt lành nguyên thuỷ theo cái nhìn của Thiên Chúa. Nó nói lên toàn bộ tính đơn sơ và sung mãn của cái nhìn, qua đó giá trị “tinh tuyền” của bản tính nhân loại là nam và là nữ, giá trị “tinh tuyền” của thân xác và phái tính được biểu lộ ra. Qua mạc khải nguyên thuỷ về thân xác được Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) đặc biệt miêu tả cách cô đọng và gây nhiều cảm hứng, tình trạng nguyên tuyền này cho thấy không có sự gián đoạn hay đối kháng nào giữa phần tinh thần và phần khả giác. Cũng không có sự gián đoạn hay đối kháng nào giữa điều làm nên nhân vị con người và điều nơi con người được phái tính xác định - nghĩa là điều làm cho con người trở thành nam và nữ.

Khi nhìn nhau, như thể nhìn xuyên qua mầu nhiệm sáng tạo, người nam và người nữ thấy nhau trọn vẹn hơn và rõ ràng hơn là khi nhìn qua chính thị giác của mình, nghĩa là qua đôi mắt của thân xác. Hai người nhìn và hiểu biết nhau với tràn đầy niềm bình an của ánh mắt nội tâm. Chính cái nhìn nội tâm này tạo nên sự sung mãn của mối tương quan mật thiết giữa hai nhân vị.

Chính sự xấu hổ đã kéo theo nó cái giới hạn cụ thể cho tầm nhìn đôi mắt thân xác. Trước hết, sự xấu hổ xảy ra vì tình thân mật giữa hai con người bị khuấy động và hầu như bị đe doạ bởi cái nhìn này. Theo Sách Sáng Thế 2,25 người nam và người nữ không xấu hổ khi nhìn nhau và hiểu biết nhau trong cái nhìn nội tâm tràn đầy bình an và yên tĩnh. Họ thông truyền cho nhau với trọn vẹn bản tính nhân loại, biểu lộ nơi họ như là sự bổ túc cho nhau chính bởi vì họ là “nam” và “nữ”. Đồng thời, họ thông truyền cho nhau dựa trên căn bản của sự hiệp thông các nhân vị. Và trong sự hiệp thông này, qua phái tính nữ và phái tính nam, họ trở thành quà tặng cho nhau. Như thế, qua tính hỗ tương, họ đặc biệt hiểu ra được ý nghĩa của thân xác mình

Ý nghĩa nguyên thuỷ của sự trần truồng tương ứng với nét đơn sơ nhưng sung mãn của cái nhìn thấu triệt được ý nghĩa thân xác ngay nơi chính trọng tâm cộng-đoàn-hiệp-thông của họ. Chúng ta gọi cộng-đoàn-hiệp-thông đó là “hôn nhân”. Người nam và người nữ trong Sách Sáng Thế 2,25 khi xuất hiện, chính xác là “ngay từ thuở ban đầu”, đã ý thức được ý nghĩa của thân xác mình. Điều này cần được phân tích kỹ lưỡng.

Hai câu chuyện về việc tạo dựng con người, một theo truyền thống Elohim và một theo truyền thống Giavê, cho phép chúng ta thiết lập ý nghĩa nguyên thuỷ của sự đơn độc, đơn nhất và trần truồng. Hai câu chuyện này cũng cho phép chúng ta đứng trên bình diện của một nhân loại học thoả đáng, cố gắng hiểu và cắt nghĩa con nguời trong chính điều cơ bản làm nên con người. [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)

Các bản văn Kinh Thánh chứa đựng những yếu tố cơ bản của môn nhân loại học, đã được biểu hiện trong một bối cảnh thần học về “hình ảnh Thiên Chúa”. Quan niệm này chứa đựng nơi mình cội nguồn chân lý về con người. Đó là điều được nhắc đến qua lời nói “từ thuở ban đầu,” mà Chúa Giêsu đã trưng dẫn khi tranh luận với các người Pharisêu (x. Mt 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10)) lúc Ngài đề cập đến việc tạo dựng con người là người nam và người nữ. Cần nhắc lại rằng mọi phân tích của chúng tôi cho đến nay đều liên hệ, ít là cách gián tiếp, với những lời này của Ngài. Con người, được Thiên Chúa tạo dựng là người nam và người nữ, mang nơi thân xác mình “từ thuở ban đầu” dấu ấn của hình ảnh Thiên Chúa. Người nam và người nữ là hai cách khác nhau để biểu tỏ “hữu thể mang thân xác” con người, trong chỉ một hình ảnh duy nhất ấy của Thiên Chúa.

Bây giờ là lúc thuận tiện để trở lại với những lời nguồn cội mà Đức Kitô đã dùng, đó là từ “đã được dựng nên” và chủ vị “Đấng Tạo Hoá”. Những từ này góp thêm chiều kích mới cho những suy tư chúng ta đã có cho đến nay, một tiêu chuẩn mới để hiểu và giải thích, mà chúng tôi gọi là “chú giải về quà tặng”. Chiều kích của quà tặng quyết định chân lý và chiều sâu thiết yếu của ý nghĩa của sự đơn độc, tính đơn nhất và tình trạng trần truồng nguyên thuỷ. Đây cũng là trọng tâm của mầu nhiệm sáng tạo, cho phép chúng ta kiến thiết nền thần học về thân xác “ngay từ thuở ban đầu”, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền thần học đó theo đúng phương cách ấy.

Nơi miệng Đức Kitô, lời “đã được dựng nên” chứa đựng chính cái chân lý chúng ta tìm thấy trong Sách Sáng Thế. Câu chuyện đầu tiên về cuộc sáng tạo lặp lại chữ này nhiều lần, từ câu St 1,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:1&FontSize=Txt10): “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất,” cho đến câu St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10): “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình.”[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) Thiên Chúa mặc khải chính mình trước hết là Đấng Sáng Tạo. Đức Kitô quy chiếu về mặc khải căn bản này trong Sách Sáng Thế. Trong mặc khải này, ý niệm về sáng tạo mang trọn vẹn chiều sâu không chỉ trên bình diện hữu thể luận mà còn sung mãn trên bình diện thần học.

Tạo Hoá là Đấng “làm cho hiện hữu từ hư vô”, là Đấng thiết lập thế giới cho nó hiện hữu và đặt con người trong thế giới ấy, vì Ngài là “tình yêu” (1 Ga 4,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Ga 4:8&FontSize=Txt10)). Hiện giờ, chúng ta không gặp thấy từ “tình yêu” này trong câu chuyện sáng tạo. Tuy nhiên câu chuyện thường kể đi kể lại: “Thiên Chúa thấy điều Ngài đã thực hiện là rất tốt lành.” Qua những từ này, chúng ta được dẫn dắt để trìu mến thấy ra được động lực sáng tạo của Thiên Chúa, là nguồn phát sinh ra cuộc tạo dựng. Chỉ có tình yêu mới khởi sinh ra điều tốt và vui sướng với điều tốt lành (x. 1 Cr 13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Cr 13&FontSize=Txt10)). Là hành vi của Thiên Chúa, tạo dựng không chỉ có nghĩa là công việc gọi từ hư vô cho thành hiện hữu rồi thiết lập sự hiện hữu của thế giới và con người trong thế giới, mà còn có nghĩa là hành vi ban tặng, theo câu chuyện kể thứ nhất, beresit bara - từ thuở ban đầu được ban cho nên hình nên dạng. Đó là việc ban tặng nền tảng và “nguồn cội”, nghĩa là, việc ban tặng mà trong đó quà tặng được trở nên hiện hữu đích xác là từ hư vô.

Những chương đầu của Sách Sáng Thế giới thiệu cho chúng ta mầu nhiệm tạo dựng, nghĩa là chuyện khởi nguyên của thế giới nhờ bởi ý định Thiên Chúa, là Đấng toàn năng và là tình yêu. Kết quả là tất cả mọi vật thụ tạo đều mang nơi mình dấu ấn của quà tặng nguyên thuỷ và nguồn cội này.

Tuy nhiên, đồng thời cái ý niệm “ban tặng” không thể nói lên một điều gì là hư vô. Nó cho biết người tặng và người nhận quà, và cả mối tương quan được hình thành giữa hai người. Và đây, mối tương quan này nảy sinh trong trình thuật sáng tạo chính vào lúc tạo dựng con người. Mối tương quan này được trình bày trước hết qua câu nói: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10)).

Trong câu chuyện sáng tạo thế giới hữu hình, việc ban tặng chỉ có ý nghĩa đối với con người. Trong toàn cả công trình tạo dựng, chỉ khi nói đến con người mới nói đến chuyện tặng quà cho con người: thế giới hữu hình được tạo dựng “cho con người”. Trình thuật Kinh thánh về việc sáng tạo cho chúng ta thấy đủ lý do để hiểu và dẫn giải theo chiều hướng này. Việc tạo dựng là quà tặng, vì có con người xuất hiện trong đó. Vì là “hình ảnh của Thiên Chúa”, con người có thể hiểu ý nghĩa của quà tặng khi được kêu gọi cho hiện hữu từ hư vô. Con người có thể dùng ngôn ngữ của sự hiểu biết này mà đáp lời Đấng Tạo Hoá. Khi dùng ngôn ngữ của sự hiểu biết này để chú giải câu chuyện sáng tạo, ta có thể từ đó suy ra rằng việc sáng tạo chính là quà tặng nguồn cội và nguyên thuỷ. Con người xuất hiện giữa công trình sáng tạo như người đứng ra nhận món quà thế giới, mà cũng có thể nói được rằng thế giới đón nhận con người như một món quà.

Đến đây chúng ta phải tạm ngưng bài phân tích. Những gì chúng ta nói đến cho tới lúc này đều liên quan mật thiết với những vấn đề nhân loại học của “thuở ban đầu.” Con người xuất hiện như thụ tạo, nghĩa là, như người đứng giữa “thế giới” đón nhận người khác như một quà tặng. Sau này chúng ta phải dành một bài phân tích sâu xa hơn về chiều kích quà tặng này, để có thể hiểu trọn vẹn hết những gì mà ý nghĩa thân xác con người bao gồm. Điều này sẽ là chủ đề cho những bài suy niệm sau.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif


Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ

-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Khái niệm về môn “nhân loại học thích đáng” đã được cắt nghĩa ngay trong chính bản văn là “hiểu và cắt nghĩa con người trong chính điều cơ bản làm nên con người”. Khái niệm này xác định chính nguyên tắc quy nạp, vốn là đặc điểm của triết học về con người. Khái niệm này cũng nêu lên những giới hạn của chính nguyên tắc ấy, và gián tiếp loại trừ mọi khả thể vượt qua giới hạn này. Môn nhân loại học thoả đáng chỉ đặt căn bản trên chính kinh nghiệm “nhân sinh”, ngược lại với lối quy nạp thuộc loại “tự nhiên”, vốn song hành với thuyết tiến hoá về thời ban đầu của nhân loại.

[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Từ ngữ Do thái bara – được dựng nên, hoàn toàn dành riêng để xác định hành vi là do Thiên Chúa thực hiện - chỉ xuất hiện trong trình thuật sáng tạo ở câu 1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:1&FontSize=Txt10) (tạo dựng trời và đất ), câu 21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:21&FontSize=Txt10), (tạo dựng thú vật) và câu 27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10) (tạo dựng con người). Tuy nhiên, xuất hiện ba lần nghĩa là thường xuất hiện. Điều này nói lên sự viên mãn và hoàn hảo của hành vi sáng tạo nên con người có nam có nữ. Việc lặp lại như thế chỉ cho thấy rằng thế giới thụ tạo đạt tới cao điểm là ở chỗ này.

admin
04-09-2009, 09:17 PM
TẠO THÀNH NHƯ LÀ TẶNG PHẨM CĂN BẢN VÀ NGUYÊN THỦY

1. Chúng ta trở lại phân tích đoạn văn St 2,25 mà ta đã bắt đầu ở những bài trước.

Theo đoạn văn ấy, người đàn ông và người đàn bà nhìn thấy nhau gần như qua mầu nhiệm tạo thành. Họ nhìn thấy nhau theo cách này, trước khi nhận biết mình «trần truồng». Nhìn thấy nhau như thế không chỉ là tham dự vào sự nhận thức thế giới cách ngoại tại, nhưng còn có một chiều kích tham dự vào cái nhìn nội tại của chính Đấng Tạo Hóa – cái nhìn mà trình thuật chương thứ nhất đã nói đến nhiều lần: «Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm ra quả là rất tốt đẹp» (St 1,31). Sự «trần truồng» có ý nghĩa như là cái nhìn tốt đẹp nguyên thủy của Thiên Chúa. Nghĩa là cái nhìn với tất cả sự đơn sơ và viên mãn nhờ đó giá trị «nguyên tuyền» của thân xác và giới tính được biểu lộ ra. Trong tình trạng, đặc biệt đã được St 2,25 mô tả cách cô đọng và nhiều gợi ý, biểu lộ mạc khải nguyên thủy của thân xác, không có sự gián đoạn và đối kháng giữa điều thiêng liêng với điều khả giác, cũng như không có sự gián đoạn và đối kháng giữa những gì làm nên nhân vị với những gì được xác định bởi giới tính, là nam là nữ.

Khi nhìn nhau, gần như là họ nhìn qua chính mầu nhiệm tạo thành, người đàn ông và người đàn bà nhìn thấy chính mình còn trọn vẹn hơn và rõ ràng hơn là nhìn thấy qua chính thị giác, nghĩa là qua con mắt thân xác. Quả thật, họ nhìn nhau và hiểu biết nhau với cái nhìn nội tâm hoàn toàn bình an, đó vốn chính là điều tạo ra sự thân mật viên mãn giữa các ngôi vị. Nếu «sự xấu hổ» mang trong mình một tầm nhìn riêng giới hạn bởi con mắt thân xác, điều đó xảy ra đặc biệt là vì sự thân mật như thể bị quấy rối và «đe dọa» bởi cái nhìn ấy. Theo St2,25, người đàn ông và người đàn bà «không cảm thấy xấu hổ». Khi nhìn nhau và hiểu biết nhau với cái nhìn nội tâm tràn đầy bình an và thanh tịnh, họ «thông truyền» cho nhau nhân tính trọn vẹn, biểu lộ ra nơi họ như là sự bổ túc cho nhau chính bởi vì họ là «nam» và là «nữ». Đồng thời, họ «thông truyền» trên nền tảng sự hiệp thông các ngôi vị, trong sự hiệp thông này họ trở thành tặng phẩm cho nhau nhờ giới tính nam và nữ. Như thế, đôi bạn nhờ nhau mà biết được ý nghĩa đặc biệt thân xác của họ. Ý nghĩa nguyên thủy của sự trần truồng tương ứng với cái nhìn đơn sơ nhưng viên mãn thấu hiểu được ý nghĩa của thân xác, sự hiểu biết ấy phát sinh như ở ngay chính trung tâm của cộng-đoàn-hiệp-thông của họ. Chúng ta sẽ gọi cộng-đoàn-hiệp-thông đó là «hôn nhân». Người nam và người nữ trong đoạn St 2,23-25 khi xuất hiện ngay từ «thuở ban đầu» đã ý thức ý nghĩa của thân xác mình. Điều này đáng được phân tích sâu xa hơn.

2. Nếu hai trình thuật tạo dựng con người, ở chương một và chương hai sách Sáng thế, cho ta biết được ý nghĩa nguyên thủy của sự đơn độc, sự hợp nhất và sự trần truồng, cũng vì thế chúng giúp ta tìm lại được mình trên lãnh địa của một nhân học thích đáng (adeguata antropologia), là bộ môn cố tìm hiểu và giải nghĩa con người ở chính điều thiết yếu nhất làm nên con người [1].

Những bản văn kinh thánh chứa đựng những yếu tố cốt yếu của khoa nhân học đó, chúng hiện ra trong bối cảnh thần học «hình ảnh của Thiên Chúa». Khái niệm này ẩn chứa chính cội rễ của sự thật về con người. Sự thật ấy được biểu lộ ra qua cái «thuở ban đầu» mà Đức Kitô nhắc đến trong cuộc đối thoại với những người Pharisêu (Mt 19,3-9) khi Người nói về việc tạo dựng con người như là người nam và người nữ. Cần nhắc lại rằng những gì chúng ta đã phân tich ở đây liên hệ, ít là cách gián tiếp, đến những lời đó của Đức Kitô. Con người đã được Thiên Chúa tạo dựng như «là nam là nữ» mang hình ảnh của Thiên Chúa vốn đã được ghi khắc trong thân xác «từ thuở ban đầu». Người nam và người nữ như thể là hai thể thức khác nhau của thân xác con người trong sự duy nhất của hình ảnh ấy.

Bây giờ đã đến lúc ta quay lại một lần nữa với những lời nền tảng Đức Kitô đã dùng: «(Ngài) đã tạo dựng», hướng đến chủ từ «Đấng Tạo dựng». Những lời ấy góp thêm vào những suy tư của chúng ta một chiều kích mới để hiểu và giải thích, mà chúng ta gọi là «giải nghĩa về tặng ban» (ermeneutica del dono). Chiều kích tặng ban quyết định sự thật cốt yếu và chiều sâu của ý nghĩa của sự cô đơn-hợp nhất-trần truồng nguyên thủy. Chiều kích này cũng nằm ở ngay trung tâm của mầu nhiệm tạo dựng, cho phép ta xây dựng thần học thân xác «từ thuở ban đầu» nhưng đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nó với cách thức như thế đó.

3. Những lời «(Ngài) đã tạo dựng» ở trên miệng Đức Kitô như thế hàm chứa chính sự thật mà chúng ta thấy trong Sách Sáng Thế. Trình thuật tạo dựng thứ nhất nhiều lần lặp lại lời này, từ St 1,1 («Thuở ban đầu Thiên Chúa đã tạo dựng trời và đất») đến St 1,27 («Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài») [2]. Thiên Chúa mạc khải chính mình cách đặc biệt như là Đấng Tác Tạo. Đức Kitô đã nhắc đến mạc khải căn bản ấy vốn có trong sách Sáng thế. Khái niệm tạo dựng có chiều sâu không chỉ ở bình diện siêu hình mà cả ở bình diện hoàn toàn thần học. Đấng Tạo Hóa là Đấng «gọi vào hiện hữu từ hư vô», là Đấng đưa thế giới đi vào hiện hữu và đưa con người vào thế giới, bởi vì Ngài «là tình yêu» (1Ga 4,8). Thật ra, chúng ta không thấy từ tình yêu này (Thiên Chúa là tình yêu) trong trình thuật tạo dựng; nhưng trình thuật này thường lặp lại câu nói : «Thiên Chúa thấy tất cả những gì Ngài đã làm ra thật là tốt đẹp». Qua những lời này chúng ta bắt đầu thấy loáng thoáng cái lí do Thiên Chúa tạo dựng nằm ở tình yêu, đó như thể là nguồn mạch mà tạo thành phát xuất ra: quả thật chỉ có tình yêu mới khai sinh ra điều thiện hảo và vui sướng với điều thiện hảo (1 Cr 13). Do đó, tạo dựng, như là hành động của Thiên Chúa, không chỉ có nghĩa là gọi vào hiện hữu từ hư vô và làm cho thế giới hiện hữu và đặt con người vào trong thế giới, nhưng còn có nghĩa (theo trình thuật thứ nhất) là «beresit bara», ban tặng (donazione); một sự ban tặng căn bản và «triệt để», nghĩa là, tặng phẩm xuất hiện chính từ hư vô.

4. Khi đọc các chương đầu của Sách Sáng thế, chúng ta được đưa vào mầu nhiệm tạo dựng, là khởi thủy của thế giới bởi ý muốn của Thiên Chúa, Đấng vừa toàn năng vừa là tình yêu. Bởi thế, mọi thọ tạo đều mang trong mình dấu chỉ của ơn huệ nguyên thủy và căn bản.

Tuy nhiên, khái niệm «tặng ban» (donare) cũng không thể nói đến cái không không (nulla). Tặng ban muốn chỉ đến người cho và kẻ nhận một tặng phẩm, và cả mối tương quan được thiết lập giữa họ với nhau. Và đây, mối tương quan đó xuất hiện trong trình thuật tạo dựng ngay lúc tạo dựng nên con người. Mối tương quan này được biểu lộ cách đặc biệt bởi câu nói : «Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài; Ngài tạo dựng họ theo hình ảnh của Thiên Chúa» (St 1,27). Trong trình thuật tạo dựng thế giới hữu hình việc tặng ban chỉ có nghĩa đối với con người. Trong toàn thể công trình tạo dựng, chỉ có con người có thể được nói đến như là kẻ được ban tặng (nghĩa là hài lòng với tặng phẩm được ban cho – N.D.). Thế giới hữu hình này đã được tạo dựng «cho con người». Trong trình thuật thánh kinh về tạo dựng có đủ lí do cho ta hiểu và giải thích như thế. Tạo thành là một tặng phẩm, vì trong tạo thành có con người như «là hình ảnh của Thiên Chúa» có khả năng hiểu được chính ý nghĩa của tặng phẩm vốn từ không mà thành có. Và con người có khả năng đáp trả Đấng Tạo Hóa bằng ngôn ngữ do có khả năng hiểu như thế. Khi giải thích trình thuật tạo dựng bằng chính ngôn ngữ đó, người ta có thể rút ra rằng tạo thành là tặng phẩm cơ bản và nguyên thủy. Con người có mặt trong tạo thành như là kẻ đón nhận thế giới như một tặng phẩm, và ngược lại, cũng có thể nói rằng thế giới đón nhận con người như một ơn ban.

Tới đây, chúng ta phải tạm dừng phân tích. Những gì chúng ta đã nói cho tới nay liên hệ rất mật thiết với toàn thể vấn đề nhân học về cái «thuở ban đầu». Con người xuất hiện như là kẻ «được tạo dựng», nghĩa là như người ở giữa «thế giới» này đón nhận tha nhân như một quà tặng. Sắp tới, chúng ta phải dành một phân tích sâu xa hơn về chiều kích quà tặng này, để có thể hiểu ý nghĩa của thân xác con người đúng với tầm vóc của nó. Đó sẽ là chủ đề cho những bài suy tư kế đến của chúng ta.


------------
[1] Khái niệm «nhân học thích đáng» (antropologia adeguata) đã được giải thích trong chính bản văn như là «tìm hiểu và giải nghĩa con người ở chính điều thiết yếu nhất làm nên con người». Khái niệm này xác định chính nguyên tắc giản lược (riduzione), là nguyên tắc vốn thuộc về khoa triết học về con người, nó chỉ ra giới hạn của nguyên tắc này, và gián tiếp loại trừ cái khả năng vượt qua giới hạn này. Nhân học «thích đáng» dựa trên kinh nghiệm «nhân bản», đối lập với lối giản lược kiểu «duy tự nhiên» thường đi đôi với thuyết tiến hóa về thời ban đầu của con người.

[2] Thuật ngữ Do thái cổ «bara» - tạo dựng – được sử dụng cách đặc biệt để xác định hành động của Thiên Chúa, chỉ xuất hiện trong trình thuật tạo dựng ở câu 1 (tạo dựng trời và đất), trong câu 21 (tạo dựng các loài vật) và trong câu 27 (tạo dựng con người). Ở đây nó xuất hiện ba lần. Điều đó có nghĩa là hành vi tạo dựng con người nam và nữ là hoàn hảo và viên mãn. Sự lặp đi lặp lại như thế cho thấy rằng công trình tạo dựng đã đạt tới đỉnh điểm của nó.


<HR align=left width="33%" SIZE=1>[ (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=498#_ftnref1)1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=498#_ftnref1) Tiêu chuẩn duy tự nhiên tuyệt đối cản lối không cho ta hiểu biết ý nghĩa đích thật của sự trần truồng nguyên thủy. Nó có tham vọng ngây ngô muốn nắm bắt ý nghĩa đó khi giả thiết rằng năng động tình dục tự nhiên xét tự thân là tốt. Giá trị đích thực của sự trần truồng nguyên thủy, và của tính dục, thật ra nằm hoàn toàn ở trong tiêu chuẩn duy nhân vị.


Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=498

admin
14-12-2010, 09:15 AM
Mầu Nhiệm Nhập Thể, Tình Yêu Trao Tặng Bản Thân Của Thiên Chúa (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=14441)
Bài 15. Nhân vị con người trở thành quà tặng trong sự tự do yêu thương
Bài 17. Nam và nữ: quà tặng lẫn nhau
Bài 61. Tác phẩm nghệ thuật phải luôn tuân giữ tính quy luật của ban tặng và tự hiến cho nhau (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=14058)