PDA

View Full Version : Những điều kỳ diệu nơi Đức Maria


admin
13-05-2007, 08:03 AM
NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU NƠI ĐỨC MARIA (1)



“Tôi không biết”(Lc 1, 34)




Giá trị của sự bất tri
Bản tính của con người luôn ham biết, ham tìm tòi. Tâm trí con người có khuynh hướng vươn lên không ngừng về mọi lãnh vực. Nhưng trong Đạo đức kinh, ở chương 20 Lão tử lại chủ trương “Tuyệt học vô ưu”: ‘dứt hẳn cái học thì khỏi phải lo lắng’. Hơn nữa, ở chương 38 lại có câu:“Tiền thức giả, Đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy”: ‘tri thức chỉ là đồ trang điểm của Đạo, là khởi thủy của sai lầm’. Ông còn nói tiếp : “Tri giả bất bác, bác giả bất tri”: ‘người biết không phải là thông, người thông thường lại không biết’. Cho nên cái biết của thánh nhân nhiều khi khác cái biết của thường nhân: “Biết được cái không biết là cao. Không biết cái biết là bệnh. Biết đó là bệnh thì không bệnh nữa”. Cái biết không ưa tranh luận ồn ào, vì người biết không nói, mà người nói thì không biết: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”.
Nói thế, Lão tử cố ý đưa ta vào con đường nội tâm sâu thẳm. Những cái học biết bên ngoài thêm vào cho trí óc không thể là bản thể của tri thức được. Còn cái hiểu biết đích thực là cái nảy nở do chính tâm hồn. Vì thế, cần giữ tâm hồn vô tư, vô sự để có thể thấu đạt được mọi lý lẽ, căn cơ của cuộc đời. Bởi thế, có những người biết rất nhiều, hiểu rất rộng, uyên bác mọi sách vở nhưng tâm hồn vẫn trống rỗng, trí óc vẫn mông lung, cuộc sống vẫn gian tà. Điều cần là giữ tâm hồn thanh tịnh, không nên biết những gì không cần biết, để cho những cảm nghĩ của tâm hồn được tự do triển nở như những cánh hoa rạng rỡ dưới ánh bình minh.
Hướng nhìn về Đức Maria
Dựa trên nền tâm học của Lão tử, ta mới khám phá ra tâm hồn kỳ diệu của Đức Maria. Khi nghe con mình từ trên thập giá thốt lên hai tiếng “không biết” ["Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." ](Lc 23, 34), thì không biết Đức Mẹ có nhớ mình cũng đã thốt ra hai tiếng “không biết” trong lời nói đầu tiên khi Thiên thần truyền tin không ? ["Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến đàn ông" ](Lc 1, 31-34). Lạ thay, hai tiếng “không biết” gặp nhau giữa Mẹ và Con trong giây phút linh thiêng nhất. Dưới chân thánh giá Đức Giêsu, Đức mẹ đứng vào hàng ngũ những tội nhân mặc dù Mẹ vô tội, như đang cầu bầu cho kẻ có tội. Vì Đức Mẹ vô tội nên “không biết”, vì họ “không biết” nên vô tội. Cho dù sự tương-biệt này rất khác nhau, một cái ở đầu nguồn ân sủng, một cái ở cuối đoạn thứ tha, nhưng lại gặp nhau ở một chữ “vô” hay một chữ “không”. Những lời này của Đức Giêsu và Đức Mẹ có vẻ gợi ý rằng: bất tri đôi khi lại là khôn ngoan.
Ở đây bất tri không phải là không biết, mà là biết điều mình không biết được coi như là một ân phúc. Điều này có vẻ va chạm tự ái con người thời nay, nhất là những người suy tôn trí thức, nhưng lại không nhận định rằng khôn ngoan có thứ thật, thứ giả. Khôn ngoan không phải là biết hết mọi thứ, nhưng có những thứ không cần biết và không nên biết. Có những cái biết khiến người ta mất không ngoan. Có những cái khôn mà khôn = dại; có những cái dại mà dại = khôn. Thánh Phaolô gọi sự không ngoan thế tục là sự ngu dại. Đức Giêsu cũng tạ ơn Cha vì đã không mạc khải sự khôn ngoan trên trời cho những bậc hiền triết thế gian (x. Lc 10, 21).
Bất tri ở đây không phải là bất tri chân lý, mà là bất tri tội phạm. Đó là sự bất tri của những kẻ hành hình Đức Giêsu. Họ có thể được tha thứ, vì họ không hiểu rõ tội ác ghê ghớm của họ. Chính sự bất tri đã cứu vãn được họ. Cũng như Thánh Phêrô đã nói trong ngày Hiện xuống: “Tôi đã biết rõ các người đã hành động ngu xuẩn như bọn tài phán của các người” (CV3, 17). Cũng vậy, chúng ta được ơn tha thứ là vì không thấy rõ hết hậu quả của nó. Còn các thiên thần đã bị kết án thì thấu suốt nguyên ủy sự việc, không còn cách nào sửa lại được. Họ bị tuyên phạt đời đời là vì vậy. Như thế, chúng ta mới biết trách nhiệm về tri thức đáng sợ chừng nào. Người biết chân lý, bao giờ cũng bị xử đoán nghiêm ngặt hơn người không biết : “Giả như Thầy không đến và không nói với họ, họ đã chẳng có tội” (Ga 15, 22).
Chữ “không biết” của Đức Maria có giá trị vượt bực vì Mẹ đã khấn hiến trinh tiết của mình cho Chúa. Trong khi người phụ nữ nào cũng mơ ước đặc ân là Mẹ Chúa Cứu Thế thì Đức Mẹ lại từ bỏ kỳ vọng đó. Thế nhưng đặc ân lại được ban cho Đức Mẹ. Nếu phải từ bỏ lời khấn hứa để làm thân mẫu của Thiên Chúa, chắc chắn Đức Mẹ không thể chấp nhận sự từ bỏ đó. Đã khấn hứa rồi, Đức Mẹ coi việc biết đến đàn ông là điều tội lỗi, mặc dù trong những trường hợp khác chẳng tội lệ gì.
“Không biết đàn ông” là một hình thức bất tri, nhưng ở đây bất tri trở thành một ân phúc vĩ đại, đến độ trong khoảnh khắc Chúa Thánh Thần ban xuống cho Đức Mẹ tràn đầy ơn thánh hiến, trở thành “hòm bia Thiên Chúa ngự”, bình đựng Thánh Thể.
Hiểu biết và khôn ngoan của thế gian
Những người được coi là hạng Minh triết vẫn thường cho rằng, chưa biết đời thì kể như chưa biết sống, và phải nhờ kinh nghiệm sống mới có tri thức: kinh nghiệm cái tốt và cả cái xấu. Chính với luận điệu dối trá đó mà Satan đã cám dỗ Ađam-Eva. Từ ngày xảy ra sự lường gạt lớn lao ở vườn địa đàng, chưa hề có ai đã thành công trong việc nhờ thử nghiệm điều xấu mà có được tri thức tốt bao giờ. Biết bao người dở sống dở chết chỉ vì đôi phút tò mò muốn biết, muốn nếm thử, muốn có kinh nghiệm. Làm sao có thể học được sự sạch sẽ khi sống trong cống rãnh, và học biết văn hóa trong lối sống thô bỉ.
“Lỗi lầm lớn nhất của nền giáo dục hiện đại là tin tưởng rằng sự ngu dốt là căn cớ phát sinh sự xấu xa trên thế giới, cho nên cứ phải dồn thật nhiều sự hiểu biết vào đầu óc thanh thiếu niên. Nếu đúng như vậy thì phải công nhận rằng dân tộc nào càng học biết nhiều, càng đạo đức hơn. Thực tế khác hẳn, chưa bao giờ nền giáo dục được đẩy mạnh như ngày nay, nhưng chưa bao giờ người ta ít biết đến chân lý như ngày nay” (Fulton J. Sheen).
Ai cũng muốn cho mình là người hiểu biết, và luôn muốn tỏ ra sự hiểu biết của mình. Sự hiểu biết thì vô cùng vô tận, cho dù chúng ta có những hiểu biết chuyên biệt về một điều gì thôi, thì cũng giống như kênh rạch so với biển cả mênh mông trong chính điều đó. Bởi vậy nhà Hiền triết Socrates đã nói : “Đối với tôi, những điều tôi biết là những điều tôi không biết gì cả”. Chiều sâu của cuộc sống không phải là hơn thua nhau về số lượng hay chất lượng của những gì mình biết. Nhiều cái biết bên ngoài chỉ làm cho cuộc sống thêm tản mạn, và năng lực bị tản mát. Có những cái biết cần phải xóa mờ đi để những điều không biết được sáng tỏ. Hơn thế nữa, trong đời sống đức tin, người ta cũng chỉ chọn biết một điều ưu tiên giữa muôn điều không biết. Thánh Phaolô đã xác quyết “Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô”(1Cr 2,2).
Phải chứng thực rằng, sự ngu dốt có giá trị hơn sự sai lầm, vì lẫn lộn tri thức với trí tri (Scientia et sapeientia). Tri thức không làm cho người ta khôn ngoan nhưng chính sự khôn ngoan mới cho người ta biết tri thức. Hậu quả của nền giáo dục chỉ biết nhồi nhét sự hiểu biết làm cho giới trẻ càng nghi ngờ về sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Nền giáo dục chân chính thì trái lại, giúp họ nhận ra sự hiện diện quyền năng và tình yêu của Người.
Cũng vậy, giáo dục sinh lý làm cho người ta lầm tưởng rằng, nếu con trẻ biết được hậu quả tác hại thì chúng sẽ tránh xa những hành động đó. Nhưng thực ra, sự hiểu biết đó không làm cho người ta khá hơn, mà còn có nguy cơ làm cho người ta ao ước điều xấu, nhất là khi biết được rằng, những hậu quả tác hại có thể tránh được. Điều này cho thấy không thể lẫn lộn giữa sinh lý và luân lý. Sự xấu không phát xuất do việc hiểu biết thiếu xót, nhưng do sự bất chính về hành động của con người. Cũng vậy, tính hạnh phát lộ không phải qua sự hiểu biết mà là qua sự lựa chọn. Điều quan trọng để trở thành đạo đức không phải là biết nhiều hơn nhưng là làm tốt hơn.
Mọi hiểu biết phải được thanh lọc để giúp cho cuộc sống bớt đi những cản trở và phân tán. Tri thức theo chiều rộng của lý trí phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự tập trung vào chiều sâu của tâm hồn, để tâm hồn trở nên tinh ròng hơn, có khả năng nếm hưởng những niềm vui thanh cao hơn. Không có niềm vui nào sánh kịp với niềm vui vô tội. Chính niềm vui này mới tạo nên sức mạnh làm cho cuộc sống vươn cao và tỏa sáng.
Chúng ta không hoàn toàn nằm trong tình trạng tội lỗi, nhưng chúng ta luôn dễ bị kềm chế bởi ảnh hưởng của tội lỗi: bởi những hiểu biết lệch lạc; bởi những nghe biết không chính xác; bởi chất chứa những thành kiến và ác cảm; bởi tình trạng tâm lý bị thất đoạt; bởi lối sống tầm thường; bởi một não trạng khô cứng; bởi những tư tưởng đã bị nhồi sọ; bởi những hành động bức xúc theo cảm tính; bởi đã có quá nhiều lạm dụng về sự hiểu biết...Tất cả những điều đó làm mất đi sự thanh tịnh và niềm vui của tâm hồn, làm bế tắc sự khôn ngoan chân chính.

admin
13-05-2007, 08:03 AM
Đại học “không biết” của Đức Maria
“Không biết” không phải là không biết, mà là phải biết như thế nào? Chính cái biết đó mới làm cho chúng ta hiểu được cái “không biết”. Hãy nhập vào trường Đại học của Đức Maria, một Đại học chuyên khoa về sự “không biết”, đặc biệt là sự không biết đến tội lỗi. Chính sự không biết này mới là đầu mối của mọi sự khôn ngoan. Điều làm cho tâm hồn được phong phú và cao đẹp không phải là học cao, biết nhiều, hiểu rộng, mà là biết khôn ngoan, không phải thứ khôn ngoan xác thịt, nhưng là một sự khôn ngoan đạo đức. Đó là biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình mọi nơi mọi lúc, cũng như đầy lòng kính sợ, yêu mến và vâng phục thánh ý Chúa trong mọi sự. Thiếu sự khôn ngoan này, mọi sự hiểu biết khác đều vô nghĩa, và mọi nhân đức khác đều khô cằn héo úa, không thể triển nở. Sự khôn ngoan đó làm cho mọi hiểu biết có một giá trị sâu xa. Sự khôn ngoan đó như ánh nắng, sương sa và mưa móc làm đâm chồi nẩy lộc mọi cây nhân đức khác, làm nên sự thánh thiện rạng ngời, là vẻ đẹp muôn thuở của Thiên Chúa thông ban cho Đức Mẹ. Bởi vậy, qua thánh Giêrônimô, chúng ta mới tuyên xưng “Mẹ là Tòa Khôn Ngoan”. Mặc dù Mẹ là người đàn bà quê mùa, không biết đến những văn minh tiến bộ của nhân loại, nhưng trong Mẹ có sự hiểu biết về sáng tạo, về vũ trụ và lịch sử. Sự hiểu biết đó thì tuyệt hảo hơn các triết gia cao cả nhất, hơn những lý luận của những thần học gia lớn lao nhất, và sự biệt phân tiên tri hơn mọi tiên tri. Sự khôn ngoan của Đức Mẹ phát xuất từ một tâm hồn vô tội, nên sáng suốt trong mọi lựa chọn và quyết định, luôn phù hợp với đường lối của Thiên Chúa.
Nếu tất cả nền Đạo học của Lão Tử đều xây dựng trên chữ VÔ, nhất là VÔ VI : nghĩa là Sống và làm việc theo đường lối tự nhiên của đạo, là trở về với tính đơn sơ hồn nhiên, sống thành thực với lòng mình theo cách thể hiện của trời đất, thì ta mới thấy sự khôn ngoan tuyệt hảo nơi Đức Mẹ, khi Mẹ đặt tất cả vào Thánh ý Chúa. Vô Vi như thế lại mở ra con đường muôn ngả : vô dục, vô tư, vô tranh, vô danh, vô kỷ, vô cầu. Tất vả chữ VÔ của Lão tử như là diễn tả sự lành thánh và khôn ngoan của Mẹ, để từ đó Mẹ sinh ra Đấng Thánh Thiện và Khôn Ngoan.
Như vậy Đại học “không biết” của Đức Maria cũng là Đại học “khôn ngoan” chưa từng có trên thế gian, vì đó là là sự khôn ngoan của chính Thiên Chúa, là đặc ân quí giá nhất của Thánh Thần, và là dung mạo về Đức Kitô từ trong Cựu Ước, phản ảnh ánh sáng vĩnh cửu (x. St 7, 26), Lời tạo thành của Thiên Chúa (Logos) (x. Tv 33, 9; Ga 1, 1).
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã lựa chọn sự “không biết” để sống cuộc đời mình cho Chúa. Sự “không biết” đó là không biết tìm kiếm mình; không biết thỏa mãn ý riêng mình; không biết đến sự khôn ngoan phàm tục; không biết đến danh vọng; không biết đến tranh giành ảnh hưởng, lợi lộc; không biết quy mọi cái về mình; không biết sống trỗi vượt; không biết cầu mong cho mình; không biết chỉ sống cho riêng mình; không biết hưởng lạc thú; không biết chiếm hữu; không biết mơ ước cao sang; không biết hãnh diện mình là trinh nữ vẹn toàn; không biết tỏ ra sự cao cả của mình được chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế... Có quá nhiều điều Mẹ không biết và không muốn biết trong cuộc sống nhân loại. Nhưng rồi từ đó, Chúa lại làm cho sự “không biết” của Mẹ trở thành sự khôn ngoan và thánh thiện của Người. Mẹ chọn lựa sự “không biết” để rồi được biết mọi sự, được “biết” chính Chúa, là vinh quang muôn đời của Mẹ.
Xin cho con học nơi Mẹ, biết yêu quí và thưởng thức những điều “không biết” của Mẹ để tận hiến cuộc đời mình cho Chúa. Xin cho con học biết và cố gắng nhìn xem con người, những sự vật và các biến cố như Chúa nhìn trong một tinh thần khôn ngoan đích thật. Amen.


Lm. Thái Nguyên

admin
07-06-2007, 07:18 AM
NHỮNG ĐIỀU TUYỆT DIỆU NƠI ĐỨC MARIA (2)


“XIN VÂNG” (Lc 1,38)


Trong đời sống mỗi người, chỉ có một sở hữu quyết định duy nhất và tuyệt đối là của mình, đó là ý chí. Sức khỏe, quyền bính, giàu sang... tất cả đều có thể bị tước đoạt, nhưng ý chí thì dứt khoát thuộc về chúng ta. Vì thế, ở đời chẳng có gì quan trọng, ngoại trừ những cái chúng ta quyết chí làm.
Đồng sàng dị mộng
Sự kiện hai tên trộm cướp cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu cho ta hiểu tấn kịch về ý chí. Cả hai đều là tội phạm đáng chết, nhưng họ đang phẩm uất trước khổ giá họ phải chịu. Bất chợt, tên bên hữu nghe được Chúa Giêsu nói lời tha thứ cho bọn lý hình “vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Lời yêu thương của Chúa đã đánh động tâm hồn anh ta, tình yêu trong con tim bừng sáng lên, khiến anh ta biến đổi hoàn toàn. Anh ta không còn căm phẫn và phảng kháng nữa, nhưng quyết định chấp nhận khổ hình, đồng thời nói cho tên tội phạm bên trái, đang chống chọi với bản thân và đang thách thức Chúa Giêsu, biết rằng: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái! "(Lc 23, 40-41).
Trong thái độ đó, anh ta đã qui phục Chúa, với tâm tình Xin Vâng, và hoàn toàn phó thác, anh cất lời cầu khẩn Chúa Giêsu :“Xin Ngài nhớ đến con khi Ngài về vương quốc” (Lc 23, 42), và Chúa Giêsu đã hứa bảo đảm Thiên đàng cho anh ta (c.43). Lạ lùng thay! tên trộm dữ trở nên người trộm lành chỉ bằng một quyết định của ý chí, một ý chí bắt đầu từ con tim đã được lay động do hiểu thấu được lòng thương xót Chúa.
Hai tiếng “Xin Vâng” của Đức Mẹ
Dưới chân thập giá, Đức Mẹ chứng kiến sự trở lại của người trộm lành, Đức Mẹ vui mừng vì thấy anh ta vâng theo ý Chúa. Lời thứ hai của Đức Giêsu phán thưởng Thiên Đàng cho kẻ trộm biết vâng theo ý Chúa, nhắc nhớ về lời thứ hai của Đức Mẹ đã nói cách đó ba mươi năm trước, khi Mẹ thưa tiếng “Xin Vâng” đáp lại lời truyền tin của sứ thần (x. Lc 1, 38), để làm Mẹ của Đấng giờ đây đang hấp hối trên thập giá.
Đó là một trong những tiếng “Fiat” trọng đại trên thế giới, để mọi cái được thành sự theo ý Thiên Chúa. Tiếng thứ nhất được phán ra khi Chúa sáng tạo: “Fiat lux” hãy có ánh sáng[1] (http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/TuDuc/47NhungDieuKyDieuNoiMaria2.htm#_ftn1).
Tiếng thứ hai do Đức Mẹ thốt ra, nói lên sự đón nhận hoàn toàn điều mà Thiên Chúa muốn thực hiện nơi Mẹ cho công cuộc cứu độ của Ngài: “Fiat mihi secumdum verbum tuum” Tôi xin vâng như lời sứ thần truyền” (Lc 1, 38).
Tiếng thứ ba được phát ra từ chính Đức Giêsu trên thập giá: “Fiat voluntas tua” : Xin vâng ý Cha” (Mt 26, 42).
Tiếng “Xin Vâng” nào trên đây cũng là nền tảng linh thiêng để phát khởi công trình tình yêu của Thiên Chúa trên hoàn vũ, cho con người và vì con người.
Tiếng “Xin Vâng” của Đức Mẹ đã hóa giải một cách kỳ diệu những điều nan giải. Chỉ có quyền năng Thiên Chúa mới giải quyết được vấn đề: vừa đồng trinh vừa sinh con; con Mẹ vừa là người vừa là Thiên Chúa; chương trình cứu độ với bao nhiêu giao ước đều bị sụp đổ, nay được thực hiện nơi Mẹ.
Tiếng “Xin Vâng” của Đức Mẹ rất âm thầm lặng lẽ, trong một thôn xóm quạnh hiu, trong căn nhà nhỏ bé, trong khung cảnh hoang vắng, trong tình cảnh nghèo hèn, trong sự tĩnh lặng và trầm mặc nội tâm. Có lẽ chính trong những điều kiện như vậy mà Chúa đã đến với Đức Mẹ, cũng một cách kín nhiệm và lặng lẽ âm thầm. Việc Chúa khởi đầu bao giờ cũng nhỏ bé, nơi những con người nhỏ bé. Hành động của tình yêu bao giờ cũng kín đáo, nhẹ nhàng, thâm trầm. Chúa chẳng bao giờ làm điều gì ầm ĩ, rùm beng, muốn phô trương trước mặt thiên hạ để cho người ta phải kính nể oai danh Ngài. Lạ thay! sự sống thần linh của Chúa như dòng nước êm đềm, uyển chuyển thấm vào lòng đất tâm hồn, tới tận chỗ thấp nhất, sâu nhất, nơi cung lòng Đức Maria.
Tiếng “Xin Vâng” với lòng yêu mến cao vời và sự khiêm hạ tột cùng của Mẹ không những đã hứng lấy tràn trề sự sống mà còn chứa đựng chính Đấng ban sự sống. Mẹ đã trở nên dòng suối đầu nguồn của sự sống nhiệm mầu cho tất cả sinh linh. Ôi, diệu kỳ thay, chỉ có hai tiếng “Xin Vâng” nơi một con người tầm thường để Chúa làm nên điều phi thường. Mẹ đã góp phần vào ơn cứu độ thế giới, không phải qua việc hoàn thành công trình của mình, nhưng là dâng hiến bản thân mình, sẵn sàng phục vụ cho sáng kiến của Thiên Chúa. Ca ngợi Mẹ Maria chính là để ca ngợi lòng ưu ái nhân hậu vô biên của Thiên Chúa trên đời sống của Mẹ.
Hai tiếng “Xin Vâng” trong cuộc sống chúng ta
Những điều cao trọng Chúa đã thực hiện nơi Đức Mẹ thì Ngài cũng sẽ thực hiện nơi chúng ta, tùy theo hoàn cảnh và ơn gọi của mỗi người. Cũng như Đức Mẹ, hãy để cho Chúa toàn quyền sử dụng cuộc đời ta theo thánh ý Ngài.
Điều quan trọng nhất trong mọi việc chúng ta làm không phải là làm cái gì và làm như thế nảo, mà trong mọi sự phải được làm theo ý Chúa. Bí quyết sống hạnh phúc là đừng đòi hỏi mọi việc phải xảy ra như ý muốn của ta. Mà hãy làm sao để mọi việc được xảy ra như ý Chúa. Thực tế, ý Chúa bao gồm nhiều hiện trạng khác nhau nơi mỗi người, nhưng trước tiên, bao giờ cũng mời gọi ta phải từ bỏ mình. Đó là khởi đầu của thập giá trên con đường theo Ngài (x. Mc 8, 34).“Thiên Chúa tính giá trị con người theo giá trị thập giá mà chúng ta đón nhận” (Fulton J. Sheen).
Đón nhận không phải là đành chịu vậy, nhưng muốn chịu vậy để nói lên tình yêu, muốn phó thác hoàn toàn cho ý Chúa định liệu. Phần nhiều những khổ cực và tai họa của chúng ta là do sự kiện chúng ta chống đối thân phận của mình vì tham vọng. Chống đối và tham vọng như vậy đưa đến kết quả là ta dễ dàng chỉ trích bất cứ ai cao sang vinh dự hơn mình, như thể họ cướp lấy những điều tốt đẹp của ta. Cần xác tín rằng: Nếu Chúa muốn cho ta làm việc gì, thì cho dù cả thế giới đứng lên phản đối, việc đó vẫn hoàn thành. Nhưng nếu đạt được vinh dự đó mà đánh mất chân lý và khiêm nhường, thì vinh dự đó sẽ trở thành giấm chua mật đắng.
“Xin Vâng” ý Chúa theo ý muốn của mình thì dễ quá, chẳng còn gì phải nói, vì lúc đó Thiên Chúa chỉ còn là công cụ của con người. Chính vì muốn sử dụng Thiên Chúa theo ý của con người, nên thập giá trở thành một tai ương; thế giới trở nên bãi chiến trường; bạo lực và khủng bố tiếp tục gia tăng, bởi vì nội tâm con người đã trở nên hổn loạn, bị giằng co và xâu xé không ngừng. Chỉ khi nào ý Chúa được thể hiện thì hòa bình mới được tái lập, thập giá mới trở thành Thánh giá.
Dù muốn hay không muốn, thập giá vẫn là những đau khổ hằng ngày đè nặng trên đời sống con người. Nhưng“Bi kịch diễn ra trên thế giới không hệ tại có đau khổ, mà tại lãng phí đau khổ. Thanh gỗ chỉ nổ lách tách khi quăng nó vào lò lửa. Người trộm chỉ nhận ra Thiên Chúa khi bị thảy vào lò than thập giá. Cũng vậy, chỉ khi đau khổ, nhiều người mới khám phá ra tình yêu” (Fulton J. Sheen)
Mọi loài, mọi vật ca ngợi Chúa theo cách thức riêng của mình, như được diễn tả trong Thánh Ca Đanien 3, 57-88. Còn chúng ta, mỗi người ca tụng Chúa bằng chính sự nhẫn nhục và chịu đựng những thử thách trong đời mình. Hãy nhìn vào hiện tại, hãy để mặc dĩ vãng cho phép công bình của Chúa, và để tương lai cho công cuộc an bài của Ngài.
Làm sao có thể tạo nên một tác phẩm khi cây bút không theo ý muốn người cầm bút. Cũng vậy, chỉ vì chúng ta từ chối để Chúa hành động trong chúng ta, nên chúng ta vẫn là chúng ta, vẫn trơ trọi với chính mình, không thể trở thành một tuyệt tác như Chúa muốn. Chúng ta thường mắc phải sai lầm tai hại là tin rằng điều chúng ta làm nên mới đáng kể, trong khi cái đáng kể thực sự chỉ là để Chúa hành động trong chúng ta. Chúa phái sứ thần đến với Đức Maria, không phải để bảo Mẹ làm cái gì đáng kể, nhưng là chấp nhận việc Ngài muốn làm nơi Đức Mẹ. Chính vì thấy điều lớn lao Chúa đã làm nên, mà Đức Mẹ đã cất lời ca ngợi: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1, 49).

admin
07-06-2007, 07:18 AM
“Xin vâng” hay vâng phục
Cả cuộc đời Đức Mẹ đã “Xin Vâng” theo ý Chúa, thì cả cuộc sống Đức Giêsu cũng là để thi hành ý muốn của Chúa Cha và hoàn tất công trình của Người (x. Ga 4, 34). Vậy, bước theo Đức Kitô chính là tiếp tục thực hiện ý Chúa Cha trong cuộc đời mình: nghĩa là cố gắng làm những gì mà Đức Kitô sẽ làm nếu như Ngài sống trong hoàn cảnh hiện tại của ta. Xác quyết rằng cả đời ta là để thực hiện chương trình mà Ngài đã dự định cho ta, và đó là lẽ sống của đời ta. Vì thế, vâng phục không phải là để hoàn thiện con người của mình, mà là tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô trong thế giới hôm nay. Trong sự vâng phục của ta hôm nay, Đức Kitô tiếp tục hành động để loan báo Nước Trời và làm cho nước đó được thể hiện. Đó là ý nghĩa của nhiệm thể Chúa Kitô, mà mỗi người chúng ta là chi thể hợp nhất với Ngài trong ý muốn và hành động.
Đức vâng phục trong đời tu cũng thế, nó không phải là một phương thế để tập sống khổ hạnh, không phải là lý do để các bề trên dựa vào đó mà buộc bề dưới làm theo, cũng không phải chỉ để tạo nên trật tự chung, nhưng sâu xa hơn nhiều. Nó nằm trên bình diện liên hệ trực tiếp giữa Thiên Chúa và con người. Người tu sĩ khấn vâng phục là làm cho mình nối dài sự hiện diện và sứ mạng của Đức Kitô giữa trần gian (Ep 4, 11-13), và đức vâng phục đó phải được thực hiện trong khuôn khổ của cộng đoàn, bởi vì cả cộng đoàn cũng như từng phần tử của cộng đoàn cũng đều là sự hiện diện của Chúa ở giữa trần gian. Thực ra, trong đời tu, mọi người đều phải vâng phục : Bề trên cũng phải vâng phục như bề dưới, kẻ nắm quyền cũng phải vâng phục như người thuộc quyền. Mọi người đều phục vụ và đều vâng phục : vâng phục kẻ phục vụ với quyền bính, và vâng phục kẻ phục vụ không có quyền bính, bởi vì người ra lệnh cũng như kẻ thi hành lệnh đều nhắm tới ý Chúa.
Vâng phục - cách thể hiện nhân phẩm cao nhất.
Vâng phục là tự thực hiện chính mình bằng tự do dấn thân trong ơn gọi và sứ mạng. Trong sự vâng phục chúng ta rèn luyện bản thân để làm cho ý Chúa trở thành ý mình, đó là cách thể hiện nhân phẩm cao nhất. Người có gia đình thì lệ thuộc vào nhau để sống cho Chúa, còn người khấn vâng phục thì lệ thuộc vào Chúa để sống cho nhau, qua các trung gian bề trên. Sự lệ thuộc nào cũng là do chúng ta tự do lựa chọn để phát triển cuộc đời mình. Chính vì tự nguyện vâng phục, mà người ta biết cởi mở tâm hồn mình ra với Chúa và với người khác trong tinh thần lắng nghe, đón nhận và tin cậy lẫn nhau. Nhờ sự cởi mở này mà chúng ta mới có thể đọc thấy sự thật: sự thật của con người chúng ta, và sự thật của thế giới mà chúng ta đang sống, để chúng ta biết sửa chữa những cái hư hao cũ kỹ nơi con người mình, đồng thời nhận ra những dấu chỉ thời đại và nghe được những tiếng gọi mới của Chúa để mạnh dạn dấn thân vì Nước Trời.
Mẹ Maria chẳng hiểu hết những gì Mẹ xin vâng, nhưng vì tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa Mẹ đã đón nhận tất cả, lấy ý Chúa làm ý mình. Thánh Giuse cũng cũng đã sống tuyệt diệu hai tiếng “Xin Vâng” trong cuộc đời Ngài. Tiếng “Xin Vâng” của Các Ngài đã làm nên tiếng “Xin Vâng” của Chúa Giêsu. Trong Chúa Giêsu, chúng ta nối tiếp tiếng “Xin Vâng” của Ngài để chương trình tình yêu của Thiên Chúa được hoàn tất trong đời sống mình.

Lạy Mẹ Maria, mặc dù thiên sứ đã cho Mẹ một lời giải thích trước khi Mẹ nói tiếng “Xin Vâng”, nhưng rồi mầu nhiệm vẫn là mầu nhiệm. Cũng như biết bao biến cố tiếp tục diễn ra trong cuộc đời Mẹ sau này cũng thế, “vì đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của con người”, nhưng điều quan trọng là Mẹ đã “ghi nhớ những điều ấy và suy niệm trong lòng”. Mẹ đã tin, đã yêu, nên mọi cái trở nên nhẹ nhàng và ổn thỏa hơn, vì Mẹ biết được tất cả đều là đường nẻo Chúa. Có nhiều điều con không thể hiểu bằng tâm tâm trí, mà chỉ bằng con tim.
Xin cho con đừng tìm cách thể hiện mình, nhưng tìm cách thể hiện công trình của Chúa; đừng tìm cách trổi vượt bản thân, nhưng biết xóa mình đi để Chúa lớn lên trong con từng ngày.
Xin Mẹ dìu dắt con vươn lên trong cuộc sống tin yêu, biết mở rộng tâm hồn để nhận ra những bước chân Chúa đang đến trong đời con qua từng biến cố, sự việc và con người.
Xin cho con biết âm thầm lặng lẽ, để sống cuộc đời mình, biết can đảm đón nhận thương đau để tình yêu Chúa lên ngôi và tỏa sáng.
Cuối cùng, xin đặt con vào tâm tình của Mẹ để con biết sống cho một mình Chúa, không còn ham muốn bất cứ điều gì khác, ngoài điều Chúa muốn. Amen.

Lm. Thái Nguyên

admin
07-06-2007, 07:28 AM
NHỮNG ĐIỀU TUYỆT DIỆU NƠI ĐỨC MARIA (3)


“Maria chào bà Isave” (Lc 1, 39)



Lên đường
Khi truyền tin, sứ thần cho biết người chị họ đã mang thai được sáu tháng trong lúc tuổi già, tức thì Đức Maria thu xếp “vội vã lên đường” đi thăm viếng Bà Elizabeth. Nơi Đức Mẹ đến có lẽ là thành Ain-Karim, cách Jerusalem khoảng 6 km về phí Tây. Tuy nhiên con đường vòng vo, hoang vu, cách trở núi đồi, nhiều nguy hiểm, đi bộ phải mất ba hay bốn ngày. Một thiếu nữ đi một mình như vậy quả là liều lĩnh. Nhưng Mẹ không nề hà, chẳng nghĩ gì đến bản thân mình, chỉ nghĩ đến người chị họ đang cần giúp đỡ. Lòng nhân ái khiến Mẹ quên cả niềm vui riêng, để hướng đến niềm vui của người khác, nên Mẹ dám băng mình qua mọi gian khó, lao nhọc và hiểm trở để ra đi phục vụ.
Cuộc hành trình diễn ra vào mùa xuân, lúc mà vùng Đất Thánh trỗ hoa muôn sắc, lan tỏa hương thơm, và chim chóc tụ về líu lo vang trời. Tất cả thiên nhiên bừng dậy như để đón chào Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa. Mẹ vui mừng và hạnh phúc đi trong ánh quang của mùa xuân cứu độ. Mẹ chìm ngập trong tình yêu Thiên Chúa trên từng bước đi, vì chứng nghiệm những kỳ công Chúa đã làm. Việc lên đường của Đức Mẹ cho ta xác tín rằng: Cuộc thăm viếng nào cũng làm cho ta hiểu hơn về chính mình, ý thức sâu hơn về những ơn mình đã lãnh nhận, thấy rõ hơn về quyền năng và lòng thương xót Chúa, phát triển hơn về đời sống đức tin và lòng yêu mến.
Đức Maria đã lưu lại nhà chị họ chừng ba tháng cho tới khi Gioan Tẩy giả chào đời. Tự nhận là “tôi tớ Chúa”, nên Mẹ cũng muốn làm tôi tớ mọi người. Mẹ chẳng nghĩ gì đến phẩm chức cao trọng làm Mẹ Đấng Cứu Thế, mà đáng lẽ Mẹ phải cảm thấy mình rất sáng giá vì được Chúa chọn trong muôn vàn người nữ; rất xứng đáng để tự hào và hãnh diện về danh phận của mình trước mặt mọi người. Nhưng rồi Mẹ lại rất âm thầm để sống cho một Tình Yêu - Tình Yêu Phục Vụ. Chính vì vậy, Mẹ mới thật là Mẹ của Đấng đã đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ.
Đức Mẹ tuyệt vời vì có Đức Kitô trong lòng. Có Đức Kitô trong lòng thì có tất cả, vì Ngài là tất cả. Khi tình yêu Đức Kitô đã dâng tràn, thì tự nhiên trái tim mở rộng, lý trí thông sáng, ý chí kiên cường, hành động cao vượt. Lúc đó người ta mới dám ra khỏi bản thân, dám rời bỏ vị trí của mình để đến với người khác, dám dấn thân và hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Người nào thật sự có Đức Kitô trong tâm hồn thì cũng có một sức sống linh thiêng mãnh liệt và cách thái đẹp ngời giống như Đức Mẹ vậy.
Một sự tương đồng giữa Đức Maria và Hòm bia Giao ước
Trong cả hai trường hợp đều xảy ra những quang cảnh giống nhau:
- Hai cuộc hành trình đều tiến về Giuđêa (x. 2Sm 6,2)
- Nỗi vui mừng của dân thành Giêrusalem = niềm vui sướng của bà Elisabeth và con bà.
- Sự nhảy mừng của Đavit (x. 2Sm 6, 16 ) = sự nhảy mừng của Gioan trong bụng Mẹ.
- Tiếng kêu lên của dân chúng = tiếng kêu lên của Elizabeth.
- Cả hai khi tiến về Giêrusalem, thì Hòm bia được đưa vào nhà của Obededom (x. 2Sm 6, 10) = Đức Maria vào nhà ông Giacaria.
- Trong cả hai nhà, sự hiện diện của Hòm bia và sự hiện diện của Đức Maria đều là nguồn phúc lành (x. 2Sm 6, 11-12 = Lc 1, 41-42)
Những tương đồng cụ thể như sau:
Tiếng kêu của Đavit -------------------Tiếng kêu của Elizabeth
(2 Sm 6, 9)----------------------------(Lc 1, 43)
Bởi đâu có thể xảy ra------- =----------Bởi đâu tôi được thế này
là Hòm bia Chúa ------------ =----------là Mẹ Chúa tôi
đến tại nhà tôi ------ ------- -=---- -----đến với tôi

Sự song đối này bao hàm sự đồng hóa mẹ Chúa với Hòm bia Chúa, cụ thể rõ ràng :

(2 Sm 6, 11)--------------------------(Lc 1, 56)
Hòm bia của Giavê --- --- =----------Đức Maria-----
ở lại nhà Obededom --- --- =-------ở lại với Elizabeth--
ba tháng ---- --- =--------chừng ba tháng


Một sự trùng hợp khác với sách Giuđitha:

(Gđt 13, 18-19)-------- -------- ---(Lc 1, 42)
Trong Nữ giới ---- --- =-----------Trong nữ giới
có bà là diễm phúc ---- --- =---------có bà là diễm phúc
và Chúa là Thiên Chúa ---- --- =----- ---và hoa quả lòng bà
đáng chúc tụng thay - --- --- =--------đáng chúc tụng thay

Qua vài nét chấm phá, thánh Luca chỉ cho chúng ta thấy Đức Maria là Hòm bia Giao ước mới, là “Mẹ Chúa”, là hình ảnh một Abraham mới. Nhưng tất cả mọi tước hiệu đó chỉ làm nổi bật mầu nhiệm của Đấng mà Mẹ cưu mang trong lòng chính là Đấng Thánh, Con Thiên Chúa.
Đức Maria gặp bà Isave
Cả hai phụ nữ đều mang thai lần đầu cách diệu kỳ. Cả hai đều được Thiên Chúa đoái thương tuyển chọn. Cuộc gặp gỡ thật bình thường, nhưng lại rất linh thánh, vì diễn ra trong bầu khí tràn ngập Thánh Thần: Thánh Thần luôn tác động trên Đức Maria, trên Đức Giêsu lớn lên từng ngày trong lòng Mẹ, trên thai nhi Gioan nhảy mừng chào đón, trên Elizabeth giúp bà nhận biết Maria thụ thai Đấng Cứu Thế. Không có Chúa Thánh Thần, mọi cuộc gặp gỡ đều trở nên phàm tục, mọi lời nói đều trở nên trống rỗng, mọi ứng xử chỉ còn là hình thức và kiểu cách bên ngoài, mọi lý lẽ và hành động trở nên tầm thường, nhạt nhẻo và vô bổ. Chính Chúa Thánh Thần mới tạo nên sức sống mới, đem lại một ý nghĩa và giá trị linh thiêng, đồng thời đem lại niềm vui chan chứa cho những ai ý thức đặt mình dưới tác động của Ngài trong mọi tương giao và gặp gỡ hằng ngày.
Trong cuộc gặp gỡ này, Mẹ đã cất cao lời kinh ca ngợi: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” (Lc 1, 46). Qua lời kinh này Mẹ đã nói lên tất cả chương trình sống của mình: Mẹ không đặt mình vào trọng tâm, nhưng hoàn toàn dành chỗ cho Thiên Chúa, Đấng mà Mẹ gặp gỡ trong kinh nguyện cũng như trong phục vụ tha nhân, chỉ như thế đời sống trần gian mới tốt đẹp. Đức Maria thật cao cả, không phải vì Mẹ muốn làm cho mình cao cả nhưng là Thiên Chúa. Mẹ không muốn gì khác hơn là Nữ tỳ của Chúa (x. Lc 1, 38.48), tin tưởng tuyết đối vào Lời Chúa và sống niềm tin đó bằng tất cả con người mình. Vì vậy, bà Elizabeth mới ca khen Mẹ: “Phúc cho em vì đã tin” (Lc 1, 45).
Đức Beneđictô XVI đã nói về kinh Magnificat như sau: “Có thể xem đó là tấm ảnh linh hồn của Mẹ - được dệt bằng các sợi chỉ rút từ Thánh Kinh, từ những sợi chỉ của Lời Chúa. Điều này cho thấy rõ, Mẹ luôn ở trong Lời Chúa, ra vào thật tự nhiên. Mẹ nói và suy tư với Lời Chúa ; Lời Chúa trở thành lời của Mẹ và lời của Mẹ đến từ Lời Chúa. Điều này cho thấy, tư tưởng của Mẹ là đồng suy nghĩ với tư tưởng của Thiên Chúa ; ao ước của Mẹ cùng khao khát với ý muốn của Thiên Chúa. Vì Mẹ đã thấm nhuần Lời Chúa, nên Mẹ có thể trở thành Mẹ của Ngôi Lời Nhập thể.
Cuối cùng, Đức Maria là một người đang yêu. Làm thế nào có thể khác đi được? Như một người tin và suy nghĩ trong đức tin với tư tưởng của Thiên Chúa, ao ước với ý muốn của Thiên Chúa, nên Mẹ chỉ có thể là một người đang yêu mà thôi.
Chúng ta nhận ra điều này qua những cử chỉ thầm lặng mà lịch sử thời thơ ấu trong Phúc Âm tường thuật cho chúng ta.
Chúng ta nhìn thấy điều đó qua sự tế nhị: Mẹ nhận ra những nhu cầu của đôi tân hôn ở Cana và đã nói lại với Đức Giêsu.
Chúng ta nhìn thấy điều đó trong sự khiêm nhường: Mẹ chấp nhận sống âm thầm trong suốt thời gian công khai của Đức Giêsu, biết rằng Con mình sẽ thiết lập một gia đình mới và giờ của người mẹ chỉ đến vào lúc đứng dưới chân thánh giá, cũng là giờ đích thực của Đức Giêsu (x. Ga 2,4 ; 13,l). Khi các môn đệ trốn chui trốn nhủi, Mẹ vẫn đứng bên thánh giá (x. Ga 19,25-27) ; sau đó, vào giờ Hiện Xuống, các môn đệ vây quanh Mẹ trong sự chờ đợi Chúa Thánh Thần” (x. Cv 1,14[1] (http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/TuDuc/47NhungDieuKyDieuNoiMaria3.htm#_ftn1)).

admin
07-06-2007, 07:29 AM
Đức Maria – người Mẹ tuyệt vời của mỗi người chúng ta
Với lòng tôn sùng đặc biệt Mẹ Maria, thánh Bênađô đã nhận định về lời trối phú của Chúa Giêsu trên thập giá : Nếu Chúa Giêsu gọi Đức Mẹ là Mẫu thân, thì Đức Mẹ chỉ là Mẹ duy nhất của Ngài. Nhưng để tỏ ra Đức Mẹ sẽ trở nên hiền mẫu của mọi kẻ Ngài cứu chuộc, nên Ngài đã tôn phong Đức Mẹ là Bà, với ý nghĩa là Mẹ chung cả loài người, rồi Ngài phán tiếp: “Đây là con Bà”. Sau đó, Ngài nhìn về phí Gioan, không nêu tên ông, vì coi ông như đại diện cả nhân loại, để cho tất cả được làm con của Đức Mẹ, với lời phán: “Đây là Mẹ con”.
Đó là một chúc thư tối quan trọng đối với từng người Kitô hữu. Ở bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã trối lời thứ nhất: “Đây là mình Ta; Đây là là máu Ta”. Ở đây, trên thập giá, Ngài trối lời thứ hai: “Đây là Mẹ con”.
Vì tình yêu khôn tả, Chúa Giêsu muốn hợp nhất toàn thể nhân loại trong Ngài, bằng cách thiết lập bàng hệ mới, theo đó Mẫu Thân của Ngài trở thành Mẹ mỗi người chúng ta. Đây không phải là bàng hệ huyết nhục, nhưng bàng hệ tâm linh.
Máu đặc hơn nước, tinh thần thì quan trọng hơn huyết nhục. Trong Đức Kitô, không còn phân biệt màu da chủng tộc, dòng máu chỉ còn là Một trong Chúa Thánh Thần. “Vì ai vâng theo ý Chúa Cha trên trời, kẻ ấy đối với Ta là anh em, chị em, thân mẫu” (Mt 12, 50). Trên thập giá, Chúa Giêsu xin Mẹ nhìn biết mình trong mọi Kitô hữu. Ngài xin Mẹ yêu thương mình trong mọi kẻ Ngài đã cứu chuộc. Như vậy, dưới chân thập giá, nhờ Đức Kitô và trong Đức Kitô, Đức Mẹ đã sinh ra chúng ta trong đau khổ, và mỗi người trở thành quí tử của Mẹ.
Cũng như lời thứ ba của Chúa Giêsu, lời thứ ba của Đức Mẹ cũng liên quan tới bàng hệ mới. Dù Thánh sử không ghi rõ ràng lời Đức Mẹ chào bà Isave, nhưng lời chào của Đức Mẹ vừa thốt ra, lập tức mối dây bàng hệ được thiết lập. Chính Thánh Thần đã tác động để bà Isave không còn nói với Đức Mẹ như với người bà con của mình, nhưng như là Mẹ của nhân loại: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? (Lc 1, 43). “Thân Mẫu Chúa tôi” là thân mẫu của Đấng cứu thế, Đấng là “trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8, 29).
Qua liên hệ mật thiết này, quả là không sai lầm khi nói rằng, ai không tôn sùng Mẹ Chúa Kitô, tức là không tôn thờ Chúa Kitô. Đức Mẹ đã nuôi dưỡng Đức Kitô trong đời sống tinh thần, thì chỉ có Đức Mẹ mới có thể nuôi lớn và làm tươi đẹp cuộc đời Kitô hữu theo ý muốn của Thiên Chúa. Chuỗi Mân Côi là phương tiện hữu hiệu nhất để phát triển mối tình huynh đệ thiêng liêng với Chúa Giêsu, và trong tình Mẫu tử với Đức Maria.
Cần phải suy gẫm và hướng về Đức Mẹ hằng ngày để trở thành cái nôi của Chúa Giêsu. Cho dù có những khi chúng ta mệt mỏi và thất vọng, không còn hơi sức nữa thì lại càng phải cận kề bên Mẹ mình, chẳng cần nói gì, chỉ kêu lên “Mẹ ơi”, và phơi mình dưới sự phản chiếu ánh sáng của Đức Mẹ. Nếu chúng ta ở trong nguồn chiếu sáng của Đức Mẹ thì không thể nào chúng ta lại không hoàn toàn chìm ngập trong trong ánh sáng của Chúa Giêsu.
Cuối cùng, theo cha Zundel, chúng ta tôn vinh hay tôn sùng Đức Mẹ, điều chủ yếu là trở nên giống Mẹ, không phải chỉ giống trên tính cách mà còn giống trên tính chất : nghĩa là làm Mẹ Chúa như Đức Mẹ. Thật vậy, ơn gọi của chúng ta cũng là làm Mẹ Thiên Chúa. Đây là một điều gây sự kinh hoàng, nhưng rồi chúng ta đọc thấy trong phụng vụ lễ Giáng sinh : “Một đứa trẻ được sinh ra cho chúng ta”.
Thiên Chúa muốn sinh ra từ chúng ta cũng như chúng ta sinh ra từ Ngài. Điều bí ẩn sâu sắc nhất của Phúc Âm, đó là Thiên Chúa muốn sinh ra từ lòng mến của chúng ta. Người ta chỉ tin vào Thiên Chúa, tin vào Phúc Âm khi bộ mặt của Chúa Giêsu lộ rõ trong đời sống của chúng ta. Nếu không như thế, thì mọi hoạt động tông đồ đều vô ích. Mỗi lần khuôn mặt người khác được sáng lên do sự tiếp xúc với lòng bác ái của chúng ta, thì đó là nét mới của khuôn mặt Thiên Chúa được lộ ra.
Mỗi Kitô hữu cần đặt mình trước sự chiếu giãi của mầu nhiệm linh thánh từ Đức Maria, để rồi đến lượt chúng ta trở thành Mẹ Thiên Chúa.

Lạy Mẹ Maria, là Mẹ con
Xin cho con được lòng tha thiết yêu mến Mẹ.
Xin cho con được mãi mãi cận kề bên Mẹ, được nép mình vào lòng Mẹ, được nghe hơi thở và nhịp đập của Trái Tim Mẹ, được Mẹ dạy bảo và dẫn dắt con đi trên đường ý Chúa.
Xin tình yêu thương của lòng Mẹ sưởi ấm trái tim con.
Xin bầu sửa ân sủng của Mẹ nuôi con khôn lớn.
Xin vòng tay nhân ái của Mẹ chở che con tháng ngày.
Xin tâm tình thánh thiện của Mẹ làm nên tấm lòng con.
Xin thái độ dịu hiền của mẹ thấm nhuần tâm trí con.
Xin ánh mắt trong sáng của Mẹ cho con sự tinh khiết và khôn ngoan.
Cuối cùng, xin toàn thể cuộc sống tuyệt mỹ của Mẹ làm nên cuộc đời đẹp ngời của conđể dâng hiến Chúa. Amen.