admin
11-03-2006, 07:08 AM
Thứ Tư, 9 tháng Giêng 1980
14. Ý nghĩa hôn phối của thân xác
Khi đọc lại và phân tích câu chuyện thứ hai kể về cuộc sáng tạo theo truyền thống Giavê, chúng ta phải tự hỏi không biết “con người” (‘adam) đầu tiên, trong nỗi cô đơn nguyên thuỷ, có thực sự “sống” thế giới này như một quà tặng hay không, nghĩa là có thái độ xứng hợp với tình trạng một người nhận quà, như ta đã đọc thấy trong câu chuyện ở chương thứ nhất. Câu chuyện thứ hai trình bày cho chúng ta thấy con người trong vườn Ê-đen (x. St 2,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:8&FontSize=Txt10)). Mặc dù con người đang ở trong tình trạng hạnh phúc nguyên thuỷ, chính Đấng Tạo Hoá (Chúa Giavê) và rồi chính “con người” đều nhận ra rằng con người đang đơn độc - thay vì nhấn mạnh đến khía cạnh thế giới như quà tặng đem lại phúc lộc chủ quan đã được tạo ra cho con người (x. trình thuật đầu tiên, và đặc biệt St 26,29 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 26:29&FontSize=Txt10)).
Chúng ta đã phân tích ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ. Bây giờ chúng ta nên lưu ý đến cái không tốt đã xuất hiện cách rõ ràng lần đầu tiên: “Con người ở một mình thì không tốt” – Ðức Chúa là Thiên Chúa phán - “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá...” (St 2,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18&FontSize=Txt10)) Con người đầu tiên cũng nói như thế. Sau khi hoàn toàn ý thức về sự đơn độc của mình giữa mọi sinh vật trên trái đất, con ngươì chờ đợi “một trợ tá xứng hợp với mình.” (x. St 2,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:20&FontSize=Txt10)). Không một vật nào trong thế giới sinh vật (animalia) cho con người những điều kiện cơ bản để có thể hiện hữu trong tương quan trao tặng hỗ tương.
Như thế, hai kiểu nói này, nói đích danh là tính từ “đơn độc” và danh từ “người trợ tá”, dường như là chìa khoá để hiểu được yếu tính của quà tặng nơi bình diện con người, có nội dung hiện sinh chứa đựng trong chân lý “hình ảnh Thiên Chúa”. Có thể nói rằng quà tặng bộc lộ một nét đặc trưng riêng biệt của sự hiện hữu cá nhân. Hay đúng hơn, quà tặng biểu lộ yếu tính của nhân vị đó. Khi Chúa Giavê nói: “Con người ở một mình không tốt” (St 2,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18&FontSize=Txt10)), Người khẳng định rằng chỉ có “một mình” thì con người không thể thể hiện trọn vẹn yếu tính của mình. Con người chỉ thể hiện trọn vẹn yếu tính của mình khi hiện hữu “với ai” – hay nói cách sâu xa và trọn vẹn hơn – khi hiện hữu “cho ai.”
Chuẩn tắc hiện hữu như một nhân vị này được trình bày trong Sách Sáng Thế như là nét đặc trưng của việc sáng tạo, nếu nói thật chính xác, thì đó là nhờ ý nghĩa của hai từ: “đơn độc” và “người trợ tá”. Những từ nền tảng và cơ bản này đối với con người nói lên cả mối tương giao lẫn sự hiệp thông của các nhân vị. Hiệp thông các nhân vị có nghĩa là hiện hữu qua lại “cho nhau”, trong một tương giao trao qua tặng lại. Chính mối tương giao này là sự lấp đầy của tình trạng đơn độc nguyên thuỷ của “con người”.
Vào thuở ban đầu, sự lấp đầy đó là đem lại ân phúc. Rất có thể là nó đã hàm ẩn trong sự hạnh phúc nguyên thuỷ của con người. Và nó đã cấu thành hạnh phúc thuộc về mầu nhiệm sáng tạo bởi tình yêu, tức là thuộc về bản chất của quà tặng sáng tạo. Khi tỉnh dậy từ giấc ngủ nguyên thuỷ, người nam đã thấy người nữ được rút ra từ chính mình và người nam đã nói: “Đây chính là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)). Một cách nào đó, những lời này đã biểu lộ sự khởi đầu đem lại ân phúc chủ quan của cuộc sống con người trong thế giới. Vì bởi đã xảy ra ngay từ “thuở ban đầu”, nên chuyện này chứng thực cái tiến trình tự xác định của con người trong thế giới. Tiến trình này phát xuất từ trong sâu thẳm của nỗi đơn độc nhân loại mà con người phải sống với tư cách là một nhân vị giữa các loài thụ tạo khác và các sinh vật khác.
“Thuở ban đầu” đó thuộc về một khoa nhân loại học thích đáng mà ta có thể kiểm chứng bất cứ lúc nào trên cơ sở những gì sẽ nói sau đây. Việc kiểm chứng dựa hoàn toàn trên nhân loại học sẽ đưa chúng ta, trong cùng một thời điểm, tới chủ thể của “nhân vị” và cũng là chủ thể của “thân-xác-phái-tính”. Tính đồng thời này rất trọng yếu. Nếu chúng ta bàn về phái tính mà không bàn về nhân vị thì toàn bộ cái thích đáng về nhân loại học mà chúng ta đã tìm được trong Sách Sáng Thế đều phải huỷ bỏ. Và đối với việc nghiên cứu thần học của chúng ta, ánh sáng trọng yếu của mặc khải về thân xác, đã xuất hiện thật sung mãn trong những xác định đầu tiên này, sẽ bị che lấp.
Có một quan hệ rất sâu xa giữa mầu nhiệm sáng tạo, được xem như là quà tặng đến từ tình yêu, với “thuở ban đầu” mang đầy ân phúc của cuộc sống con người, là nam và là nữ, trong sự thực toàn vẹn của thân xác và phái tính của họ. Và đó chính là chân lý tinh tuyền và đơn thuần của sự hiệp thông giữa các nhân vị. Khi nhìn thấy người nữ, người nam đầu tiên đã thốt lên: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)), người nam ấy đã khẳng định cái căn tính con người của cả hai. Thốt lên như thế, người nam muốn nói rằng đây là một thân xác bày tỏ nhân vị.
Dựa theo đoạn văn đi trước câu chuyện thuộc truyền thống Giavê, ta có thể nói rằng “thân xác” tỏ cho thấy “linh hồn sống động”, mà con người đã trở thành khi Chúa Giavê thổi hơi sự sống cho con người (x. St 2,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:7&FontSize=Txt10)). Và do đó mà con người cảm thấy đơn độc giữa những sinh vật khác. Chính vì xuyên thấu chiều sâu của sự đơn độc nguyên thuỷ đó mà con người giờ đây đã trỗi dậy trong chiều kích của sự trao hiến cho nhau. Sự tỏ bày việc tự hiến ấy - và vì lý do đó mà có sự tỏ bày của hiện hữu con người như là một nhân vị - là chính thân xác con người với tất cả sự thực nguyên thuỷ về phái tính nam và phái tính nữ của nó.
Thân xác biểu lộ người nữ bày tỏ tính hỗ tương và sự hiệp thông các nhân vị. Điều đó được tỏ rõ khi cho việc tự hiến như là một đặc tính nền tảng của cuộc sống của mỗi nhân vị. Phải hiểu thân xác đó như là bằng chứng của sáng tạo, như là quà tặng nền tảng, và do đó như là một bằng chứng của Tình Yêu. Một Tình Yêu cội nguồn từ đó nảy sinh ra sự trao tặng tương tự này. Nam và nữ, nói rõ hơn là phái tính, là dấu chỉ nguyên thuỷ của quà tặng sáng tạo và cũng là ý thức của con người, nam và nữ, về quà tặng được sống một cách “nguyên thuỷ”. Đó là ý nghĩa mà phái tính đã đi vào nền thần học thân xác.
“Thuở ban đầu” mang đầy ân phúc của bản thể và của cuộc sống con người như là nam và nữ được liên kết với mặc khải và sự khám phá ra ý nghĩa của thân xác mà ta có thể gọi là “hôn phối”. Nếu chúng ta nói về mặc khải và đồng thời cũng nói về sự khám phá, thì chúng ta đã liên hệ đến tính đặc trưng của văn bản thuộc thuyền thống Giavê. Một văn bản mà trong đó, dòng mạch thần học cũng là nhân loại học đã xuất hiện như một thực tại rõ rệt và được con người sống một cách có ý thức.
Chúng ta đã quan sát thấy những lời biểu lộ nỗi vui mừng đầu tiên của con người khi bắt đầu hiện hữu như là “người nam và người nữ”, đã được tiếp nối bằng đoạn nói về tính đơn nhất của hôn nhân (x. St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10)). Và sau đó là đoạn kể về sự trần truồng của cả hai nhưng không hề thấy xấu hổ (St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10)). Nhờ việc so sánh đầy ý nghĩa như thế mà cùng một lúc ta có thể nói về mặc khải và sự khám phá ra ý nghĩa “hôn phối” của thân xác trong mầu nhiệm sáng tạo.
Ý nghĩa đó (như là được mặc khải và cũng là ý thức, vì “được sống” bởi con người) đã xác định hoàn toàn rằng quà tặng sáng tạo, được phát sinh ra từ Tình Yêu, đã chạm tới ý thức nguyên thuỷ của con người. Và điều đó trở thành một kinh nghiệm trao tặng cho nhau như ta có thể nhận thấy trong văn bản cổ xưa đó. Sự trần truồng của cả hai nguyên tổ, không dính bén gì tới xấu hổ, dường như cũng làm chứng cho điều đó, và có thể lại còn làm chứng một cách thật đặc biệt.
Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) nói về cứu cánh của phái tính nam và nữ của con người trong đời sống của vợ-chồng-cha-mẹ. Khi hợp nhất chặt chẽ với nhau, họ trở thành “một thịt”. Họ sẽ chủ động đặt bản tính nhân loại của họ theo lời chúc phúc cho sinh sôi nẩy nở, tức là “phò sáng tạo” (procreation: truyền sinh) mà câu chuyện thứ nhất đã kể (x. St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:28&FontSize=Txt10)). Con người đi vào hữu thể với ý thức về cứu cánh đó của nam-nữ, tức là của phái tính riêng của mình. Đồng thời, những lời của Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10): “Cả hai đều trần truồng, nhưng không thấy xấu hổ”, như muốn thêm vào sự thực nền tảng của ý nghĩa về thân xác con người, tức là ý nghĩa về phái tính nam và phái tính nữ, một sự thực khác không kém trọng yếu và nguồn cội. Khi con người ý thức về khả năng truyền sinh của thân xác và của phái tính của mình, thì đồng thời con người cũng ý thức được là mình “không bị gò bó” vào thân xác và phái tính của mình.
Sự trần truồng nguyên thuỷ, đối với cả hai và cùng lúc với nhau, nhưng không bị lấp đè bởi sự xấu hổ diễn tả sự tự do nội tâm của con người. Có phải đó là sự tự do không bị bó buộc vào “bản năng tính dục”?. Khái niệm “bản năng” hàm chứa một bó buộc nội tại, tỉ dụ như bản năng thúc đẩy nẩy nở sinh sôi của toàn thế giới sinh vật (animalia). Tuy nhiên, hình như cả hai văn bản Sách Sáng Thế, câu chuyện thứ nhất và thứ hai kể về cuộc sáng tạo con người, được kết nối rõ rệt với viễn ảnh của truyền sinh, với đặc điểm nền tảng của hiện hữu con người hiểu như là một nhân vị. Do đó, phép loại suy của thân xác con người và của phái tính so với thế giới loài vật - mà ta cũng có thể gọi là loại suy tự nhiên - đã được kể trong cả hai câu chuyện (dù phương thức khác nhau), cũng phải được nâng lên tới tầm của “hình ảnh Thiên Chúa”, và phải được nâng lên tới tầm của nhân vị và hiệp thông giữa các nhân vị.
Ta phải phân tích nhiều hơn nữa về vấn đề trọng yếu này. Về ý thức của con người - và cũng là của con người ngày nay - thì thật cần phải biết rằng mặc khải về “ý nghĩa hôn phối của thân xác” đã được tìm thấy trong những văn bản Kinh Thánh nói về “thuở ban đầu” của con người. Nhưng tìm hiểu thêm ý nghĩa của những điều đó lại còn quan trọng hơn nữa.
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
14. Ý nghĩa hôn phối của thân xác
Khi đọc lại và phân tích câu chuyện thứ hai kể về cuộc sáng tạo theo truyền thống Giavê, chúng ta phải tự hỏi không biết “con người” (‘adam) đầu tiên, trong nỗi cô đơn nguyên thuỷ, có thực sự “sống” thế giới này như một quà tặng hay không, nghĩa là có thái độ xứng hợp với tình trạng một người nhận quà, như ta đã đọc thấy trong câu chuyện ở chương thứ nhất. Câu chuyện thứ hai trình bày cho chúng ta thấy con người trong vườn Ê-đen (x. St 2,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:8&FontSize=Txt10)). Mặc dù con người đang ở trong tình trạng hạnh phúc nguyên thuỷ, chính Đấng Tạo Hoá (Chúa Giavê) và rồi chính “con người” đều nhận ra rằng con người đang đơn độc - thay vì nhấn mạnh đến khía cạnh thế giới như quà tặng đem lại phúc lộc chủ quan đã được tạo ra cho con người (x. trình thuật đầu tiên, và đặc biệt St 26,29 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 26:29&FontSize=Txt10)).
Chúng ta đã phân tích ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ. Bây giờ chúng ta nên lưu ý đến cái không tốt đã xuất hiện cách rõ ràng lần đầu tiên: “Con người ở một mình thì không tốt” – Ðức Chúa là Thiên Chúa phán - “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá...” (St 2,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18&FontSize=Txt10)) Con người đầu tiên cũng nói như thế. Sau khi hoàn toàn ý thức về sự đơn độc của mình giữa mọi sinh vật trên trái đất, con ngươì chờ đợi “một trợ tá xứng hợp với mình.” (x. St 2,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:20&FontSize=Txt10)). Không một vật nào trong thế giới sinh vật (animalia) cho con người những điều kiện cơ bản để có thể hiện hữu trong tương quan trao tặng hỗ tương.
Như thế, hai kiểu nói này, nói đích danh là tính từ “đơn độc” và danh từ “người trợ tá”, dường như là chìa khoá để hiểu được yếu tính của quà tặng nơi bình diện con người, có nội dung hiện sinh chứa đựng trong chân lý “hình ảnh Thiên Chúa”. Có thể nói rằng quà tặng bộc lộ một nét đặc trưng riêng biệt của sự hiện hữu cá nhân. Hay đúng hơn, quà tặng biểu lộ yếu tính của nhân vị đó. Khi Chúa Giavê nói: “Con người ở một mình không tốt” (St 2,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18&FontSize=Txt10)), Người khẳng định rằng chỉ có “một mình” thì con người không thể thể hiện trọn vẹn yếu tính của mình. Con người chỉ thể hiện trọn vẹn yếu tính của mình khi hiện hữu “với ai” – hay nói cách sâu xa và trọn vẹn hơn – khi hiện hữu “cho ai.”
Chuẩn tắc hiện hữu như một nhân vị này được trình bày trong Sách Sáng Thế như là nét đặc trưng của việc sáng tạo, nếu nói thật chính xác, thì đó là nhờ ý nghĩa của hai từ: “đơn độc” và “người trợ tá”. Những từ nền tảng và cơ bản này đối với con người nói lên cả mối tương giao lẫn sự hiệp thông của các nhân vị. Hiệp thông các nhân vị có nghĩa là hiện hữu qua lại “cho nhau”, trong một tương giao trao qua tặng lại. Chính mối tương giao này là sự lấp đầy của tình trạng đơn độc nguyên thuỷ của “con người”.
Vào thuở ban đầu, sự lấp đầy đó là đem lại ân phúc. Rất có thể là nó đã hàm ẩn trong sự hạnh phúc nguyên thuỷ của con người. Và nó đã cấu thành hạnh phúc thuộc về mầu nhiệm sáng tạo bởi tình yêu, tức là thuộc về bản chất của quà tặng sáng tạo. Khi tỉnh dậy từ giấc ngủ nguyên thuỷ, người nam đã thấy người nữ được rút ra từ chính mình và người nam đã nói: “Đây chính là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)). Một cách nào đó, những lời này đã biểu lộ sự khởi đầu đem lại ân phúc chủ quan của cuộc sống con người trong thế giới. Vì bởi đã xảy ra ngay từ “thuở ban đầu”, nên chuyện này chứng thực cái tiến trình tự xác định của con người trong thế giới. Tiến trình này phát xuất từ trong sâu thẳm của nỗi đơn độc nhân loại mà con người phải sống với tư cách là một nhân vị giữa các loài thụ tạo khác và các sinh vật khác.
“Thuở ban đầu” đó thuộc về một khoa nhân loại học thích đáng mà ta có thể kiểm chứng bất cứ lúc nào trên cơ sở những gì sẽ nói sau đây. Việc kiểm chứng dựa hoàn toàn trên nhân loại học sẽ đưa chúng ta, trong cùng một thời điểm, tới chủ thể của “nhân vị” và cũng là chủ thể của “thân-xác-phái-tính”. Tính đồng thời này rất trọng yếu. Nếu chúng ta bàn về phái tính mà không bàn về nhân vị thì toàn bộ cái thích đáng về nhân loại học mà chúng ta đã tìm được trong Sách Sáng Thế đều phải huỷ bỏ. Và đối với việc nghiên cứu thần học của chúng ta, ánh sáng trọng yếu của mặc khải về thân xác, đã xuất hiện thật sung mãn trong những xác định đầu tiên này, sẽ bị che lấp.
Có một quan hệ rất sâu xa giữa mầu nhiệm sáng tạo, được xem như là quà tặng đến từ tình yêu, với “thuở ban đầu” mang đầy ân phúc của cuộc sống con người, là nam và là nữ, trong sự thực toàn vẹn của thân xác và phái tính của họ. Và đó chính là chân lý tinh tuyền và đơn thuần của sự hiệp thông giữa các nhân vị. Khi nhìn thấy người nữ, người nam đầu tiên đã thốt lên: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)), người nam ấy đã khẳng định cái căn tính con người của cả hai. Thốt lên như thế, người nam muốn nói rằng đây là một thân xác bày tỏ nhân vị.
Dựa theo đoạn văn đi trước câu chuyện thuộc truyền thống Giavê, ta có thể nói rằng “thân xác” tỏ cho thấy “linh hồn sống động”, mà con người đã trở thành khi Chúa Giavê thổi hơi sự sống cho con người (x. St 2,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:7&FontSize=Txt10)). Và do đó mà con người cảm thấy đơn độc giữa những sinh vật khác. Chính vì xuyên thấu chiều sâu của sự đơn độc nguyên thuỷ đó mà con người giờ đây đã trỗi dậy trong chiều kích của sự trao hiến cho nhau. Sự tỏ bày việc tự hiến ấy - và vì lý do đó mà có sự tỏ bày của hiện hữu con người như là một nhân vị - là chính thân xác con người với tất cả sự thực nguyên thuỷ về phái tính nam và phái tính nữ của nó.
Thân xác biểu lộ người nữ bày tỏ tính hỗ tương và sự hiệp thông các nhân vị. Điều đó được tỏ rõ khi cho việc tự hiến như là một đặc tính nền tảng của cuộc sống của mỗi nhân vị. Phải hiểu thân xác đó như là bằng chứng của sáng tạo, như là quà tặng nền tảng, và do đó như là một bằng chứng của Tình Yêu. Một Tình Yêu cội nguồn từ đó nảy sinh ra sự trao tặng tương tự này. Nam và nữ, nói rõ hơn là phái tính, là dấu chỉ nguyên thuỷ của quà tặng sáng tạo và cũng là ý thức của con người, nam và nữ, về quà tặng được sống một cách “nguyên thuỷ”. Đó là ý nghĩa mà phái tính đã đi vào nền thần học thân xác.
“Thuở ban đầu” mang đầy ân phúc của bản thể và của cuộc sống con người như là nam và nữ được liên kết với mặc khải và sự khám phá ra ý nghĩa của thân xác mà ta có thể gọi là “hôn phối”. Nếu chúng ta nói về mặc khải và đồng thời cũng nói về sự khám phá, thì chúng ta đã liên hệ đến tính đặc trưng của văn bản thuộc thuyền thống Giavê. Một văn bản mà trong đó, dòng mạch thần học cũng là nhân loại học đã xuất hiện như một thực tại rõ rệt và được con người sống một cách có ý thức.
Chúng ta đã quan sát thấy những lời biểu lộ nỗi vui mừng đầu tiên của con người khi bắt đầu hiện hữu như là “người nam và người nữ”, đã được tiếp nối bằng đoạn nói về tính đơn nhất của hôn nhân (x. St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10)). Và sau đó là đoạn kể về sự trần truồng của cả hai nhưng không hề thấy xấu hổ (St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10)). Nhờ việc so sánh đầy ý nghĩa như thế mà cùng một lúc ta có thể nói về mặc khải và sự khám phá ra ý nghĩa “hôn phối” của thân xác trong mầu nhiệm sáng tạo.
Ý nghĩa đó (như là được mặc khải và cũng là ý thức, vì “được sống” bởi con người) đã xác định hoàn toàn rằng quà tặng sáng tạo, được phát sinh ra từ Tình Yêu, đã chạm tới ý thức nguyên thuỷ của con người. Và điều đó trở thành một kinh nghiệm trao tặng cho nhau như ta có thể nhận thấy trong văn bản cổ xưa đó. Sự trần truồng của cả hai nguyên tổ, không dính bén gì tới xấu hổ, dường như cũng làm chứng cho điều đó, và có thể lại còn làm chứng một cách thật đặc biệt.
Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) nói về cứu cánh của phái tính nam và nữ của con người trong đời sống của vợ-chồng-cha-mẹ. Khi hợp nhất chặt chẽ với nhau, họ trở thành “một thịt”. Họ sẽ chủ động đặt bản tính nhân loại của họ theo lời chúc phúc cho sinh sôi nẩy nở, tức là “phò sáng tạo” (procreation: truyền sinh) mà câu chuyện thứ nhất đã kể (x. St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:28&FontSize=Txt10)). Con người đi vào hữu thể với ý thức về cứu cánh đó của nam-nữ, tức là của phái tính riêng của mình. Đồng thời, những lời của Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10): “Cả hai đều trần truồng, nhưng không thấy xấu hổ”, như muốn thêm vào sự thực nền tảng của ý nghĩa về thân xác con người, tức là ý nghĩa về phái tính nam và phái tính nữ, một sự thực khác không kém trọng yếu và nguồn cội. Khi con người ý thức về khả năng truyền sinh của thân xác và của phái tính của mình, thì đồng thời con người cũng ý thức được là mình “không bị gò bó” vào thân xác và phái tính của mình.
Sự trần truồng nguyên thuỷ, đối với cả hai và cùng lúc với nhau, nhưng không bị lấp đè bởi sự xấu hổ diễn tả sự tự do nội tâm của con người. Có phải đó là sự tự do không bị bó buộc vào “bản năng tính dục”?. Khái niệm “bản năng” hàm chứa một bó buộc nội tại, tỉ dụ như bản năng thúc đẩy nẩy nở sinh sôi của toàn thế giới sinh vật (animalia). Tuy nhiên, hình như cả hai văn bản Sách Sáng Thế, câu chuyện thứ nhất và thứ hai kể về cuộc sáng tạo con người, được kết nối rõ rệt với viễn ảnh của truyền sinh, với đặc điểm nền tảng của hiện hữu con người hiểu như là một nhân vị. Do đó, phép loại suy của thân xác con người và của phái tính so với thế giới loài vật - mà ta cũng có thể gọi là loại suy tự nhiên - đã được kể trong cả hai câu chuyện (dù phương thức khác nhau), cũng phải được nâng lên tới tầm của “hình ảnh Thiên Chúa”, và phải được nâng lên tới tầm của nhân vị và hiệp thông giữa các nhân vị.
Ta phải phân tích nhiều hơn nữa về vấn đề trọng yếu này. Về ý thức của con người - và cũng là của con người ngày nay - thì thật cần phải biết rằng mặc khải về “ý nghĩa hôn phối của thân xác” đã được tìm thấy trong những văn bản Kinh Thánh nói về “thuở ban đầu” của con người. Nhưng tìm hiểu thêm ý nghĩa của những điều đó lại còn quan trọng hơn nữa.
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ