PDA

View Full Version : Phần I. Bài 14. Ý nghĩa hôn phối của thân xác


admin
11-03-2006, 07:08 AM
Thứ Tư, 9 tháng Giêng 1980

14. Ý nghĩa hôn phối của thân xác

Khi đọc lại và phân tích câu chuyện thứ hai kể về cuộc sáng tạo theo truyền thống Giavê, chúng ta phải tự hỏi không biết “con người” (‘adam) đầu tiên, trong nỗi cô đơn nguyên thuỷ, có thực sự “sống” thế giới này như một quà tặng hay không, nghĩa là có thái độ xứng hợp với tình trạng một người nhận quà, như ta đã đọc thấy trong câu chuyện ở chương thứ nhất. Câu chuyện thứ hai trình bày cho chúng ta thấy con người trong vườn Ê-đen (x. St 2,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:8&FontSize=Txt10)). Mặc dù con người đang ở trong tình trạng hạnh phúc nguyên thuỷ, chính Đấng Tạo Hoá (Chúa Giavê) và rồi chính “con người” đều nhận ra rằng con người đang đơn độc - thay vì nhấn mạnh đến khía cạnh thế giới như quà tặng đem lại phúc lộc chủ quan đã được tạo ra cho con người (x. trình thuật đầu tiên, và đặc biệt St 26,29 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 26:29&FontSize=Txt10)).

Chúng ta đã phân tích ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ. Bây giờ chúng ta nên lưu ý đến cái không tốt đã xuất hiện cách rõ ràng lần đầu tiên: “Con người ở một mình thì không tốt” – Ðức Chúa là Thiên Chúa phán - “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá...” (St 2,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18&FontSize=Txt10)) Con người đầu tiên cũng nói như thế. Sau khi hoàn toàn ý thức về sự đơn độc của mình giữa mọi sinh vật trên trái đất, con ngươì chờ đợi “một trợ tá xứng hợp với mình.” (x. St 2,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:20&FontSize=Txt10)). Không một vật nào trong thế giới sinh vật (animalia) cho con người những điều kiện cơ bản để có thể hiện hữu trong tương quan trao tặng hỗ tương.

Như thế, hai kiểu nói này, nói đích danh là tính từ “đơn độc” và danh từ “người trợ tá”, dường như là chìa khoá để hiểu được yếu tính của quà tặng nơi bình diện con người, có nội dung hiện sinh chứa đựng trong chân lý “hình ảnh Thiên Chúa”. Có thể nói rằng quà tặng bộc lộ một nét đặc trưng riêng biệt của sự hiện hữu cá nhân. Hay đúng hơn, quà tặng biểu lộ yếu tính của nhân vị đó. Khi Chúa Giavê nói: “Con người ở một mình không tốt” (St 2,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18&FontSize=Txt10)), Người khẳng định rằng chỉ có “một mình” thì con người không thể thể hiện trọn vẹn yếu tính của mình. Con người chỉ thể hiện trọn vẹn yếu tính của mình khi hiện hữu “với ai” – hay nói cách sâu xa và trọn vẹn hơn – khi hiện hữu “cho ai.”

Chuẩn tắc hiện hữu như một nhân vị này được trình bày trong Sách Sáng Thế như là nét đặc trưng của việc sáng tạo, nếu nói thật chính xác, thì đó là nhờ ý nghĩa của hai từ: “đơn độc” và “người trợ tá”. Những từ nền tảng và cơ bản này đối với con người nói lên cả mối tương giao lẫn sự hiệp thông của các nhân vị. Hiệp thông các nhân vị có nghĩa là hiện hữu qua lại “cho nhau”, trong một tương giao trao qua tặng lại. Chính mối tương giao này là sự lấp đầy của tình trạng đơn độc nguyên thuỷ của “con người”.

Vào thuở ban đầu, sự lấp đầy đó là đem lại ân phúc. Rất có thể là nó đã hàm ẩn trong sự hạnh phúc nguyên thuỷ của con người. Và nó đã cấu thành hạnh phúc thuộc về mầu nhiệm sáng tạo bởi tình yêu, tức là thuộc về bản chất của quà tặng sáng tạo. Khi tỉnh dậy từ giấc ngủ nguyên thuỷ, người nam đã thấy người nữ được rút ra từ chính mình và người nam đã nói: “Đây chính là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)). Một cách nào đó, những lời này đã biểu lộ sự khởi đầu đem lại ân phúc chủ quan của cuộc sống con người trong thế giới. Vì bởi đã xảy ra ngay từ “thuở ban đầu”, nên chuyện này chứng thực cái tiến trình tự xác định của con người trong thế giới. Tiến trình này phát xuất từ trong sâu thẳm của nỗi đơn độc nhân loại mà con người phải sống với tư cách là một nhân vị giữa các loài thụ tạo khác và các sinh vật khác.

“Thuở ban đầu” đó thuộc về một khoa nhân loại học thích đáng mà ta có thể kiểm chứng bất cứ lúc nào trên cơ sở những gì sẽ nói sau đây. Việc kiểm chứng dựa hoàn toàn trên nhân loại học sẽ đưa chúng ta, trong cùng một thời điểm, tới chủ thể của “nhân vị” và cũng là chủ thể của “thân-xác-phái-tính”. Tính đồng thời này rất trọng yếu. Nếu chúng ta bàn về phái tính mà không bàn về nhân vị thì toàn bộ cái thích đáng về nhân loại học mà chúng ta đã tìm được trong Sách Sáng Thế đều phải huỷ bỏ. Và đối với việc nghiên cứu thần học của chúng ta, ánh sáng trọng yếu của mặc khải về thân xác, đã xuất hiện thật sung mãn trong những xác định đầu tiên này, sẽ bị che lấp.

Có một quan hệ rất sâu xa giữa mầu nhiệm sáng tạo, được xem như là quà tặng đến từ tình yêu, với “thuở ban đầu” mang đầy ân phúc của cuộc sống con người, là nam và là nữ, trong sự thực toàn vẹn của thân xác và phái tính của họ. Và đó chính là chân lý tinh tuyền và đơn thuần của sự hiệp thông giữa các nhân vị. Khi nhìn thấy người nữ, người nam đầu tiên đã thốt lên: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)), người nam ấy đã khẳng định cái căn tính con người của cả hai. Thốt lên như thế, người nam muốn nói rằng đây là một thân xác bày tỏ nhân vị.

Dựa theo đoạn văn đi trước câu chuyện thuộc truyền thống Giavê, ta có thể nói rằng “thân xác” tỏ cho thấy “linh hồn sống động”, mà con người đã trở thành khi Chúa Giavê thổi hơi sự sống cho con người (x. St 2,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:7&FontSize=Txt10)). Và do đó mà con người cảm thấy đơn độc giữa những sinh vật khác. Chính vì xuyên thấu chiều sâu của sự đơn độc nguyên thuỷ đó mà con người giờ đây đã trỗi dậy trong chiều kích của sự trao hiến cho nhau. Sự tỏ bày việc tự hiến ấy - và vì lý do đó mà có sự tỏ bày của hiện hữu con người như là một nhân vị - là chính thân xác con người với tất cả sự thực nguyên thuỷ về phái tính nam và phái tính nữ của nó.

Thân xác biểu lộ người nữ bày tỏ tính hỗ tương và sự hiệp thông các nhân vị. Điều đó được tỏ rõ khi cho việc tự hiến như là một đặc tính nền tảng của cuộc sống của mỗi nhân vị. Phải hiểu thân xác đó như là bằng chứng của sáng tạo, như là quà tặng nền tảng, và do đó như là một bằng chứng của Tình Yêu. Một Tình Yêu cội nguồn từ đó nảy sinh ra sự trao tặng tương tự này. Nam và nữ, nói rõ hơn là phái tính, là dấu chỉ nguyên thuỷ của quà tặng sáng tạo và cũng là ý thức của con người, nam và nữ, về quà tặng được sống một cách “nguyên thuỷ”. Đó là ý nghĩa mà phái tính đã đi vào nền thần học thân xác.

“Thuở ban đầu” mang đầy ân phúc của bản thể và của cuộc sống con người như là nam và nữ được liên kết với mặc khải và sự khám phá ra ý nghĩa của thân xác mà ta có thể gọi là “hôn phối”. Nếu chúng ta nói về mặc khải và đồng thời cũng nói về sự khám phá, thì chúng ta đã liên hệ đến tính đặc trưng của văn bản thuộc thuyền thống Giavê. Một văn bản mà trong đó, dòng mạch thần học cũng là nhân loại học đã xuất hiện như một thực tại rõ rệt và được con người sống một cách có ý thức.

Chúng ta đã quan sát thấy những lời biểu lộ nỗi vui mừng đầu tiên của con người khi bắt đầu hiện hữu như là “người nam và người nữ”, đã được tiếp nối bằng đoạn nói về tính đơn nhất của hôn nhân (x. St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10)). Và sau đó là đoạn kể về sự trần truồng của cả hai nhưng không hề thấy xấu hổ (St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10)). Nhờ việc so sánh đầy ý nghĩa như thế mà cùng một lúc ta có thể nói về mặc khải và sự khám phá ra ý nghĩa “hôn phối” của thân xác trong mầu nhiệm sáng tạo.

Ý nghĩa đó (như là được mặc khải và cũng là ý thức, vì “được sống” bởi con người) đã xác định hoàn toàn rằng quà tặng sáng tạo, được phát sinh ra từ Tình Yêu, đã chạm tới ý thức nguyên thuỷ của con người. Và điều đó trở thành một kinh nghiệm trao tặng cho nhau như ta có thể nhận thấy trong văn bản cổ xưa đó. Sự trần truồng của cả hai nguyên tổ, không dính bén gì tới xấu hổ, dường như cũng làm chứng cho điều đó, và có thể lại còn làm chứng một cách thật đặc biệt.

Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) nói về cứu cánh của phái tính nam và nữ của con người trong đời sống của vợ-chồng-cha-mẹ. Khi hợp nhất chặt chẽ với nhau, họ trở thành “một thịt”. Họ sẽ chủ động đặt bản tính nhân loại của họ theo lời chúc phúc cho sinh sôi nẩy nở, tức là “phò sáng tạo” (procreation: truyền sinh) mà câu chuyện thứ nhất đã kể (x. St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:28&FontSize=Txt10)). Con người đi vào hữu thể với ý thức về cứu cánh đó của nam-nữ, tức là của phái tính riêng của mình. Đồng thời, những lời của Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10): “Cả hai đều trần truồng, nhưng không thấy xấu hổ”, như muốn thêm vào sự thực nền tảng của ý nghĩa về thân xác con người, tức là ý nghĩa về phái tính nam và phái tính nữ, một sự thực khác không kém trọng yếu và nguồn cội. Khi con người ý thức về khả năng truyền sinh của thân xác và của phái tính của mình, thì đồng thời con người cũng ý thức được là mình “không bị gò bó” vào thân xác và phái tính của mình.

Sự trần truồng nguyên thuỷ, đối với cả hai và cùng lúc với nhau, nhưng không bị lấp đè bởi sự xấu hổ diễn tả sự tự do nội tâm của con người. Có phải đó là sự tự do không bị bó buộc vào “bản năng tính dục”?. Khái niệm “bản năng” hàm chứa một bó buộc nội tại, tỉ dụ như bản năng thúc đẩy nẩy nở sinh sôi của toàn thế giới sinh vật (animalia). Tuy nhiên, hình như cả hai văn bản Sách Sáng Thế, câu chuyện thứ nhất và thứ hai kể về cuộc sáng tạo con người, được kết nối rõ rệt với viễn ảnh của truyền sinh, với đặc điểm nền tảng của hiện hữu con người hiểu như là một nhân vị. Do đó, phép loại suy của thân xác con người và của phái tính so với thế giới loài vật - mà ta cũng có thể gọi là loại suy tự nhiên - đã được kể trong cả hai câu chuyện (dù phương thức khác nhau), cũng phải được nâng lên tới tầm của “hình ảnh Thiên Chúa”, và phải được nâng lên tới tầm của nhân vị và hiệp thông giữa các nhân vị.

Ta phải phân tích nhiều hơn nữa về vấn đề trọng yếu này. Về ý thức của con người - và cũng là của con người ngày nay - thì thật cần phải biết rằng mặc khải về “ý nghĩa hôn phối của thân xác” đã được tìm thấy trong những văn bản Kinh Thánh nói về “thuở ban đầu” của con người. Nhưng tìm hiểu thêm ý nghĩa của những điều đó lại còn quan trọng hơn nữa.


Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ

admin
24-09-2009, 12:24 PM
MẠC KHẢI VÀ SỰ KHÁM PHÁ Ý NGHĨA CỦA THÂN XÁC


http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac14.jpg1. Khi đọc lại và phân tích trình thuật thứ hai về tạo dựng, tức là bản văn Giavit, chúng ta phải tự hỏi liệu «con người» đầu tiên (adam), trong tình trạng đơn độc nguyên thủy của mình, có «sống» thực sự cái kinh nghiệm về thế giới như một quà tặng, với thái độ của kẻ thực tế mang thân phận đón nhận ơn ban (điều ta rút ra được từ trình thuật của chương thứ nhất) hay không. Quả thật, trình thuật thứ hai cho thấy con người ở trong vườn Êđen (St 2,8). Thế nhưng, ta nhận thấy rằng dẫu sống trong tình trạng hạnh phúc nguyên thủy, chính Đấng Tạo Dựng và rồi chính con người, thay vì nhấn đến khía cạnh thế giới như là một tặng phẩm phúc lộc dựng nên cho con người (x. trình thuật thứ nhất và đặc biệt là đoạn St 1,26-29), lại nói lên sự kiện con người «cô độc». Chúng ta đã phân tích ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thủy. Nhưng bây giờ cần phải lưu ý rằng lần đầu tiên lộ hiện rõ ràng một khiếm khuyết thiện hảo nào đó: «Con người (người nam) ở một mình không tốt – Giavê Thiên Chúa nói – Ta muốn làm ra cho nó một trợ tá ...» (St 2,18). Con người «đầu tiên» cũng khẳng định điều đó. Sau khi đã ý thức tự thâm sâu mình đơn độc giữa tất cả muôn loài trên trái đất, con người đầu tiên khát mong một «trợ tá tương xứng với mình» (x. St 2,20). Thật thế, không có vật nào trong những loài này (animalia) cho con người điều kiện cơ bản khả dĩ sống cái mối tương quan tặng ban cho nhau.

2. Như thế, hai kiểu nói này, tính từ «một mình» và danh từ «người trợ tá» xem ra như là chìa khóa để tìm hiểu chính yếu tính của tặng phẩm ở bình diện con người, như nội dung hiện sinh ẩn chứa trong sự thật «hình ảnh Thiên Chúa». Thật vậy, có thể nói tặng phẩm bộc lộ một đặc trưng riêng của hiện hữu ngôi vị, đúng hơn của chính yếu tính của ngôi vị. Khi Giavê Thiên Chúa nói «con người ở một mình không tốt» (St 2,18), Ngài khẳng định rằng «một mình» mình con người không thực hiện được hoàn toàn yếu tính này. Con người chỉ thể hiện được yếu tính mình khi hiện hữu «với một ai đó» - và một cách còn sâu xa hơn và trọn vẹn hơn – khi hiện hữu «cho một ai đó». Chuẩn mực hiện hữu như một ngôi vị đó được trình bày trong sách Sáng thế như đặc trưng của tạo thành, chính nhờ ý nghĩa của hai từ «một mình» và «người trợ tá». Chính những từ này cho thấy tương quan và hiệp thông các ngôi vị quả là nền tảng và cốt yếu đối với con người biết bao.Hiệp thông các ngôi vị có nghĩa là hiện hữu «cho» nhau, trong một tương quan cho đi tặng lại. Và mối tương quan này chính là sự lấp đầy của tình trạng đơn độc nguyên thủy của «con người».

3. Sự lấp đầy đó, ở nguồn cội của nó, là một hồng phúc. Hẳn là nó tiềm tàng trong hạnh phúc nguyên thủy của con người, và tạo nên chính hạnh phúc vốn thuộc về mầu nhiệm tạo dựng bởi tình yêu, nghĩa là thuộc về chính yếu tính của sự ban tặng sáng tạo. Khi tỉnh dậy từ giấc ngủ nguyên thủy, và nhìn thấy người-phụ-nữ, người-đàn-ông thốt lên «này đây, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi» (St 2,23). Theo nghĩa nào đó, những lời này diễn tả cái khởi đầu hồng phúc của cuộc sống của con người trong thế giới.

Vì đã xảy ra ngay «thuở ban đầu», điều đó xác nhận tiến trình tự xác định của con người trong thế giới, và có thể nói nó phát sinh từ chính nơi sâu thẳm nhất của nỗi cô đơn của con người, nỗi cô đơn mà con người như một ngôi vị phải sống đối diện với mọi thọ tạo khác và mọi sinh vật (animalia). Bởi thế, cái «thuở ban đầu» ấy cũng thuộc về khoa nhân học thích đáng (antropologia adeguata) và luôn có thể được kiểm chứng trên cơ sở đó. Việc xác minh thuần túy về mặt nhân học như thế dẫn ta đến với chủ đề «ngôi vị» và đồng thời với chủ đề «thân xác-giới tính».

Hai chủ đề ấy cách thiết yếu phải được nói đến đồng thời với nhau. Nếu như ta bàn đến giới tính mà không liên hệ gì tới ngôi vị thì nhân học trong sách Sáng thế không còn thích đáng là nhân học nữa. Khi ấy việc nghiên cứu thần học của chúng ta sẽ không thấy được ánh sáng của mạc khải về thân xác, vốn xuất hiện tràn ngập trong nhhững xác định đầu tiên này.

4. Có một liên kết mạnh mẽ giữa mầu nhiệm tạo dựng, vốn là ơn huệ tuôn trào từ Tình Yêu, và cái «thuở ban đầu» hồng phúc của cuộc sống con người như là nam và như là nữ, trong sự thật toàn vẹn của thân xác và giới tính của họ, vốn đơn giản chính là chân lí về sự hiệp thông các ngôi vị. Khi nhìn thấy người đàn bà, người đàn ông đầu tiên ấy reo lên : «Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi» (St 2,23). Người ấy chỉ khẳng định căn tính con người của cả hai. Khi reo như vậy, có vẻ như ông muốn nói: đây rồi, một thân xác bộc lộ «ngôi vị»! Theo một đoạn văn trước của bản văn Giavit, người ta cũng có thể nói : thân xác này tỏ lộ một «linh hồn sống động». Ngữ cảnh của đoạn văn đó là khi Giavê Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào con người (x. St 2,7), bởi thế con người đã bắt đầu cuộc sống mình trong tình trạng đơn độc trước mọi loài sinh vật khác. Chính nhờ nỗi cô đơn nguyên thủy sâu thẳm ấy mà bây giờ con người hiện ra trong chiều kích là tặng phẩm trao hiến cho nhau, điều đó được biểu lộ ra qua thân xác trong toàn thể sự thật nguyên thủy của nam tính và nữ tính của con người, và từ đó biểu lộ cuộc sống của mình như là ngôi vị. Thân xác bộc lộ nữ tính là «cho» nam giới, và ngược lại thân xác bộc lộ nam tính là «cho» nữ giới, thân xác biểu lộ sự tương hỗ và sự hiệp thông các ngôi vị. Nó diễn tả điều đó qua sự trao hiến như là đặc tính cơ bản của hiện hữu nhân vị (tức là cuộc sống làm người). Thân xác là đây: là chứng từ của tạo thành như một tặng phẩm nền tảng, và như thế là chứng từ của Tình Yêu như nguồn mạch, từ đó phát sinh chính sự trao hiến này. Giới tính – đàn ông và đàn bà – là dấu chỉ nguyên thủy của sự trao hiến sáng tạo và ý thức về quà tặng mà con người nam-nữ đã cảm nghiệm từ nguyên thủy. Với ý nghĩa đó, giới tính đã đi vào thần học thân xác.

5. «Khởi đầu» hồng phúc ấy của con người nam-nữ gắn liền với mạc khải và khám phá ý nghĩa của thân xác «hôn phối» (ta có thể gọi như vậy). Nếu chúng ta nói mạc khải và khám phá cùng lúc như vậy, đó là chúng ta đã nói trong liên hệ với nét đặc thù của bản văn Giavit. Đặc thù ấy là: trong bản văn Giavit bình diện thần học cũng đồng thời là nhân học, nói cách khác, ở đó thực tại thần học xuất hiện như một thực tại được con người sống cách ý thức. Chúng ta đã nhận thấy rằng ngay sau sự bộc lộ niềm hân hoan đầu tiên do sự xuất hiện trên cuộc đời của con người «vừa có nam vừa có nữ» (St 2,23), là câu nói lên sự hợp nhất vợ chồng (St 2,24), và sau đó là xác nhận sự trần truồng mà họ không cảm thấy xấu hổ đối với nhau (St 2,25). Chính sự so sánh đầy ý nghĩa này cho phép chúng ta nói về mạc khải và nói về sự khám phá ý nghĩa «hôn phối» của thân xác cùng lúc trong chính mầu nhiệm tạo dựng. Ý nghĩa này (như được mạc khải và cũng được con người ý thức, nghĩa là «được sống») hoàn toàn xác nhận điều sau đây, đó là sự trao hiến (mang tính chất) sáng tạo, vốn tuôn trào từ Tình Yêu, tự nguyên thủy đã được con người ý thức và trở thành cái kinh nghiệm làm tặng phẩm cho nhau như ta có thể nhận thấy trong bản văn cổ đó. Sự trần truồng của hai ông bà nguyên tổ, mà không hề biết xấu hổ, xem ra cũng làm chứng cho điều đó, và có lẽ còn làm chứng cách đặc biệt hơn.

6. Đoạn St 2,24 nói về cứu cánh của giới tính nam và nữ trong đời sống làm vợ-chồng và làm cha-mẹ. Khi hợp nhất mật thiết với nhau nên một xương một thịt, một cách nào đó họ đã để cho Chúa chúc lành nhân tính của họ được phong nhiêu, tức là «sinh sôi nảy nở» thật nhiều, như trình thuật thứ nhất đã nói tới (St 1,28). Con người bước vào cuộc đời với ý thức về cứu cánh đó của giới tính (là nam, là nữ) hay tính dục (sessualità) của mình. Đồng thời, những lời của St 2,25: «Cả hai ông bà trần truồng lúc bấy giờ mà không cảm thấy xấu hổ» có vẻ như thêm vào chân lí nền tảng về ý nghĩa của thân xác con người, ý nghĩa của nam tính và nữ tính, một chân lí khác cũng không kém cốt yếu và nền tảng. Đó là, con người một đàng ý thức về cái khả năng truyền sinh của thân xác và tính dục của mình, đàng khác đồng thời lại tự do đối với mọi «ràng buộc» của thân xác và tính dục mình.

Sự trần truồng nguyên thủy mà không bị đè nặng bởi sự xấu hổ đối với nhau bộc lộ một sự tự do nội tâm như thế của con người. Phải chăng đây là sự tự do không bị «bản năng tình dục» khống chế? Khái niệm «bản năng» đã bao hàm một ràng buộc nội tại, chẳng hạn như bản năng thôi thúc sinh sản hay còn gọi là khả năng phong nhiêu trong toàn thể thế giới các sinh vật (animalia).

Tuy nhiên, hình như cả hai bản văn của sách Sáng thế, trình thuật thứ nhất và thứ hai về tạo dựng con người, đều nối kết khá rõ viễn tượng sinh sản với đặc tính nền tảng của cuộc sống con người theo nghĩa nhân vị.

Bởi thế, do loại suy, “tự nhiên», bao gồm thế giới loài vật, qua thân xác con người và tính dục con người, ở trong cả hai trình thuật (dù mỗi trình thuật mỗi kiểu cách khác nhau) được nâng cấp, theo một nghĩa nào đó, lên tới mức «hình ảnh Thiên Chúa», lên tới bình diện ngôi vị và hiệp thông giữa các ngôi vị.

Về vấn đề căn bản này sẽ cần phân tích nhiều hơn nữa. Điều quan trọng đối với con người – kể cả con người ngày nay – là biết rằng trong các bản văn kinh thánh nói về «thuở ban đầu» ấy có mạc khải về «ý nghĩa hôn phối của thân xác». Thế nhưng ý nghĩa đó diễn tả điều gì, mới là điều quan trọng hơn.

Lm. Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch