admin
24-06-2007, 12:46 PM
THIÊN CHÚA CÓ HIỆN HỮU CHĂNG ?
Trong khi hướng dẫn Giáo Lý Công-giáo cho các dự tòng “trí thức”,các giáo lý viên thường gặp không ít khó khăn, khi đề cập đến SỰ HIỆN HỮU CỦA THIÊN CHÚA : Không thể đưa ra những lý luận hoặc nhận định võ đoán của một kẻ “đã tin”, hoặc tệ hại hơn nữa, là rất mơ hồ và lệch lạc.
Pierre Odon giúp chúng ta có một tài liệu khá khoa học và có nền tảng thần học vững vàng, quân bình. BTGH xin giới thiệu để mong nhận được ý kiến và đóng góp.
1. MÂU THUẪN CĂN BẢN CỦA CHỦ NGHĨA VÔ THẦN.
- Theo cách suy diễn số 1
- Theo cách suy diễn số 2
2. NHỮNG HẠN GIỚI CON NGƯỜI
- Tạo lý thuyết mà không chứng minh
- Tin mà không thấy
- Nhận định mà không giải thích.
Để mở đầu,tôi muốn nói rằng chủ đề đưa ra có thể tiếp cận bằng hai cách khác nhau:
a) Cách tiếp cận khách quan: Đúng, Thiên Chúa hiện hữu, tôi tin điều đó, tôi biết điều đó, tôi cảm thấy điều đó và tôi kinh nghiệm điều đó.
Vâng, chúng ta có được một mặc khải từ phía Thiên Chúa: đó là Kinh Thánh, mà tôi tự nuôi dưỡng hằng ngày từ 30 năm qua!
Với Frossard nhiều người có thể nói: "Thiên Chúa hiện hữu: tôi đã gặp Người !”.
Không muốn đụng tới sức mạnh của những chứng từ nầy, hãy nhìn nhận rằng những lời tuyên bố như vậy cũng có sự yếu đuối và những giới hạn của chúng. Một số người khác tin những điều khác và kinh nghiệm về những điều khác.
b) Cách tiếp cận chủ quan: Nếu Thiên Chúa hiện hữu và nếu Kinh Thánh là sự mặc khải cụ thể của tư duy của Người, thì chúng ta phải tìm được những dấu vết và những bằng chứng sự hiện hữu và mặc khải của Người, do mọi người có thể tiếp cận được với chúng.
Cách tiếp cận khách quan đặt ra cho chúng ta việc phải xem xét hai giả thuyết: hoặc Thiên Chúa hiện hữu hoặc Người không hiện hữu.
Trong hai trường hợp nầy sẽ có một sự bước đi của đức tin.
THIÊN CHÚA HIỆN HỮU: Tôi chấp nhận rằng tôi có thể không hiểu và không giải thích được điều đó và rằng tôi chỉ có thể biết Người nếu Người muốn tỏ mình cho tôi. Những vĩ nhân khoa học đã xác tín: Ngài Isaac Newton đã có thể nói: "Cho dù thiếu mọi chứng cứ, thì việc ngón tay cái của tôi quan tâm cũng đủ chứng minh cho tôi sự hiện hữu của Thiên Chúa”.
Gần đây hơn nữa, Giáo sư Alfred Kastler, Giải Nobel Vật Lý, đã viết: "Ý tưởng rằng thế giới, vũ trụ vật chất tự tạo dựng nên mình đối với tôi là phi lý. Tôi chỉ có thể quan niệm thế giới với một Đấng Tạo Hoá, và đó là một Thiên Chúa. Đối với một nhà vật lý, một nguyên tử thôi đã phức tạp, phong phú hiểu biết đến độ vũ trụ duy vật chất không có ý nghĩa”( "Đức tin Kitô giáo và chủ nghĩa vô thần trong phong trào khoa học đương thời" trg 23).
THIÊN CHÚA KHÔNG HIỆN HỮU: Tôi bị buộc phải tin rằng tôi hiện hữu một cách tình cờ, nhờ vào một quy trình tiến hoá mà, một cách lạ lùng, đã không phát xuất từ đâu nhưng lại đi tới một kiệt tác, bằng việc vi phạm liên tục các lluật cơ bản về khoa học và hiểu biết đơn thuần.
Có bao giờ bạn đã nhận thấy rằng các sự vật tự mình cải thiện khi bạn bỏ rơi chúng không? Riêng tôi thì không!
Đây là chứng từ can đảm của một nhà bác học vô thần đương thời: Jean Rostand. Với tư cách là nhà sinh học và tiến-hoá-học, ông đã kết luận: "Người ta chỉ có thể tin vào tiến hoá, người ta không thể bao giờ cũng tin và tất cả sự khác biệt là giữa những người khôn ngoan biết mình tin và những kẻ liều lĩnh tin rằng mình biết."
1. MÂU THUẪN CĂN BẢN CỦA CHỦ NGHĨA VÔ THẦN.
Chúng ta xem xét hai tiên quyết.
1.1. ĐIỀU TIÊN QUYẾT SỐ 1.
Moị nhà khoa học khởi đi từ tiên niệm rằng vũ trụ và thiên nhiên có liên quan chặt chẽ với nhau và được điều khiển bởi những luật mà người ta có thể khám phá. Hơn thế nữa,họ biết rằng sự khám phá một luật, sẽ dẫn họ một cách không thể sai lầm tới sự khám phá những luật khác. Nếu tất cả đã đều hổn loạn, thì một cuộc tìm kiếm như thế sẽ chẳng thể có tồn tại và điều đó bởi 2 lý do:
- bởi vì con người - tự nó không có lý trí,không mạch lạc và vô tổ chức – sẽ chẳng khi nào tự đặt câu hỏi nào và sẽ chẳng đòi hỏi một giải thích nào : trong một tình huống như thế, thì sự nghiên cứu khoa học không thể hiện hữu.
- Bởi vì,dù sao đi nữa, cũng chẳng có gì để khám phá (nếu không phải là sự thiếu vắng các luật và sự nhận định của sự quá khích, của trò may rủi và của sự hỗn loạn).
Thế nhưng các luật lệ hiện hữu và mọi luật đều hàm ý một người làm ra luật, một việc thực hiện kỳ diệu đến độ thế giới đòi hỏi một trí khôn và một ý hướng; một sự gắn kết tri thức muốn rằng những ai tìm cách khám phá các luật, cũng phải sẵn sàng tìm kiếm Đấng đã thiết lập các luật đó.
1.2. ĐIỀU TIÊN QUYẾT SỐ 2.
Những người vô thần – như tên của họ chỉ cho thấy – khởi đi từ điều tiên quyết vô lý trí rằng Thiên Chúa không hiện hữu.
Những kẻ khác, ít cả quyết tuyệt đối hơn, nói họ giới hạn những nghiên cứu của họ trong phạm vi vật lý, không muốn đi sâu vào “siêu hình” (= điều theo sau các câu hỏi vật lý).
Jean Rostand (đã nêu tên) giải thích niềm tin của ông vào sự tiến hoá bằng sự kiện là ông đã nói “không với Thiên Chúa” và ông xưng thú ngay sau đó sự bối rối nội tâm đối diện với sự ném bỏ nầy: "Tôi là một người bị ám ảnh, ta hãy nói từ nầy, BỊ ÁM ẢNH, nếu không bởi Thiên Chúa, chí ít cũng bởi kẻ-Không-Chúa. Vâng, đúng vậy!”.
Một sự ngay thẳng dường ấy thật hiếm có và cần thiết phải nhấn mạnh. Từ chối ngay cả giả thuyết về một năng lực tạo dựng, nằm ở ngoài và cao hơn con người, những vĩ nhân khoa học vô thần lớn nhất bị hạn chế đến mức dọ dẫm bằng cách đề nghị những lý thuyết thường làm cho họ vẫn đói khát. Một trong họ diễn tả như sau: "Chủ nghĩa duy vật đáng buồn, cái chủ nghĩa duy vật chỉ biết đổ lỗi cho sự tình cờ, không thể tiên liệu trước đó, không thể bào chữa sau đó, cách thức lịch sử thế giới diễn ra” (Giáo sư Kahane, nhà duy vật và duy lý chủ nghĩa).
Hai lời xưng thú chân thành nầy cho thấy rằng chủ nghĩa vô thần không phải là tự nhiên. Nó là một sự lựa chọn cố tình; hơn thế nữa, nó là một sự bác bỏ cố tình, là một sự đối nghịch với tư suy có sẵn một cách tự nhiên trong mọi con người: tư duy về vĩnh cửu, tư duy về một Thiên Chúa Đấng Tạo Hoá.
Hãy đem một em bé đi thăm phòng trưng bày tranh: em sẽ hỏi bạn một cách tự nhiên: Ai đã vẽ bức tranh nầy? Và bạn sẽ trả lời : đó là một hoạ sĩ. Hãy đem nó đi thăm một phòng trưng bày xe hơi và đứa trẻ sẽ hỏi bạn “nhãn mác” của chiếc xe nầy hoặc chiéc xe kia.Bạn sẽ trả lời cho nó rằng đó là chiếc Ferrari (hiểu ngầm: chiếc xe được các kỹ sư nghiên cứu của hãng Ferrari hình thành). Hãy đem nó đi thăm một bảo tàng lịch sử tự nhiên và đứa trẻ sẽ hỏi bạn cũng cách ấy:”Ai đã làm tất cả những điều đó?”. Bạn sẽ trả lời :” Điều đó tự làm ra một mình,theo giòng thời gian”…
Một ai đó đã nói:”chủ nghĩa vô thần là sự xuyên tạc lý trí”; Kinh Thánh nói:”tự cho mình là khôn ngoan,họ trở thành điên rồ”. Theo lời tiên tri của Daniel,cách nay đã 26 thế kỷ – sự hiểu biết phải tăng thêm ở ngày tận thế” (Dnl 12,4)…
Nhưng nhiều nhà bác học thật sự làm cho chúng ta nghĩ đến những người bị mù quáng đang leo lên một cầu thang phía ngược: họ trèo từng bậc một với một tính ưa gây gỗ khiến phải kính trọng,nhưng không vì thế mà đến gần đích được: "Càng khám phá ra các sự vật, họ càng khám phá ra những sự vật phải khám phá”. Ốc đảo xa vời không chỉ là một ảo giác: nó rời xa cũng mau chóng như người ta đến gần nó”.
Đã 3.000 năm, vị vua khôn ngoan Salomon nói về loại nghiên cứu nầy: “Tôi đã đem hết tâm hồn để tìm kiếm và thăm dò bằng sự khôn ngoan tất cả những gì xảy ra dưới bầu trời: đó là một sự chiếm ngự vô ơn mà Thiên Chúa đã ban cho con cái loài người,để chúng vất vả ở đó”(Kn 1,13).
Rất nhiều người lương thiện đã vất vả mệt nhọc ở đó. Vậy tại sao họ đã không muốn, với tư cách là những nhà khoa học thực thụ, xem xét mọi giả thuyết để khám phá ra Chân Lý? Sự nghiên cứu của họ sẽ đã chẳng phải chịu điều ấy, trái lại là khác; Lại nữa điều có ý nghĩa là qua các thế kỷ, các khám phá lớn lao nhất đều do những kẻ có niềm tin thực hiện.
Kinh Thánh nói: ”Kẻ mất trí nói trong tâm hồn mình,không hề có Thiên Chúa” (Tv 14,1). Và như thế sự khẳng định nhưng không về sự không hiện hữu của Thiên Chúa tỏ ra như một sự thất bại của con người chối bỏ nguồn gốc của mình, ngay nếu trong những địa hạt khác thường tỏ ra một trí thông minh sáng chói, chứng từ gián tiếp nhưng thú vị về những khả năng mà Thiên Chúa đã ban cho con người đưộc “dựng nên giống như Người”.
Trong khi hướng dẫn Giáo Lý Công-giáo cho các dự tòng “trí thức”,các giáo lý viên thường gặp không ít khó khăn, khi đề cập đến SỰ HIỆN HỮU CỦA THIÊN CHÚA : Không thể đưa ra những lý luận hoặc nhận định võ đoán của một kẻ “đã tin”, hoặc tệ hại hơn nữa, là rất mơ hồ và lệch lạc.
Pierre Odon giúp chúng ta có một tài liệu khá khoa học và có nền tảng thần học vững vàng, quân bình. BTGH xin giới thiệu để mong nhận được ý kiến và đóng góp.
1. MÂU THUẪN CĂN BẢN CỦA CHỦ NGHĨA VÔ THẦN.
- Theo cách suy diễn số 1
- Theo cách suy diễn số 2
2. NHỮNG HẠN GIỚI CON NGƯỜI
- Tạo lý thuyết mà không chứng minh
- Tin mà không thấy
- Nhận định mà không giải thích.
Để mở đầu,tôi muốn nói rằng chủ đề đưa ra có thể tiếp cận bằng hai cách khác nhau:
a) Cách tiếp cận khách quan: Đúng, Thiên Chúa hiện hữu, tôi tin điều đó, tôi biết điều đó, tôi cảm thấy điều đó và tôi kinh nghiệm điều đó.
Vâng, chúng ta có được một mặc khải từ phía Thiên Chúa: đó là Kinh Thánh, mà tôi tự nuôi dưỡng hằng ngày từ 30 năm qua!
Với Frossard nhiều người có thể nói: "Thiên Chúa hiện hữu: tôi đã gặp Người !”.
Không muốn đụng tới sức mạnh của những chứng từ nầy, hãy nhìn nhận rằng những lời tuyên bố như vậy cũng có sự yếu đuối và những giới hạn của chúng. Một số người khác tin những điều khác và kinh nghiệm về những điều khác.
b) Cách tiếp cận chủ quan: Nếu Thiên Chúa hiện hữu và nếu Kinh Thánh là sự mặc khải cụ thể của tư duy của Người, thì chúng ta phải tìm được những dấu vết và những bằng chứng sự hiện hữu và mặc khải của Người, do mọi người có thể tiếp cận được với chúng.
Cách tiếp cận khách quan đặt ra cho chúng ta việc phải xem xét hai giả thuyết: hoặc Thiên Chúa hiện hữu hoặc Người không hiện hữu.
Trong hai trường hợp nầy sẽ có một sự bước đi của đức tin.
THIÊN CHÚA HIỆN HỮU: Tôi chấp nhận rằng tôi có thể không hiểu và không giải thích được điều đó và rằng tôi chỉ có thể biết Người nếu Người muốn tỏ mình cho tôi. Những vĩ nhân khoa học đã xác tín: Ngài Isaac Newton đã có thể nói: "Cho dù thiếu mọi chứng cứ, thì việc ngón tay cái của tôi quan tâm cũng đủ chứng minh cho tôi sự hiện hữu của Thiên Chúa”.
Gần đây hơn nữa, Giáo sư Alfred Kastler, Giải Nobel Vật Lý, đã viết: "Ý tưởng rằng thế giới, vũ trụ vật chất tự tạo dựng nên mình đối với tôi là phi lý. Tôi chỉ có thể quan niệm thế giới với một Đấng Tạo Hoá, và đó là một Thiên Chúa. Đối với một nhà vật lý, một nguyên tử thôi đã phức tạp, phong phú hiểu biết đến độ vũ trụ duy vật chất không có ý nghĩa”( "Đức tin Kitô giáo và chủ nghĩa vô thần trong phong trào khoa học đương thời" trg 23).
THIÊN CHÚA KHÔNG HIỆN HỮU: Tôi bị buộc phải tin rằng tôi hiện hữu một cách tình cờ, nhờ vào một quy trình tiến hoá mà, một cách lạ lùng, đã không phát xuất từ đâu nhưng lại đi tới một kiệt tác, bằng việc vi phạm liên tục các lluật cơ bản về khoa học và hiểu biết đơn thuần.
Có bao giờ bạn đã nhận thấy rằng các sự vật tự mình cải thiện khi bạn bỏ rơi chúng không? Riêng tôi thì không!
Đây là chứng từ can đảm của một nhà bác học vô thần đương thời: Jean Rostand. Với tư cách là nhà sinh học và tiến-hoá-học, ông đã kết luận: "Người ta chỉ có thể tin vào tiến hoá, người ta không thể bao giờ cũng tin và tất cả sự khác biệt là giữa những người khôn ngoan biết mình tin và những kẻ liều lĩnh tin rằng mình biết."
1. MÂU THUẪN CĂN BẢN CỦA CHỦ NGHĨA VÔ THẦN.
Chúng ta xem xét hai tiên quyết.
1.1. ĐIỀU TIÊN QUYẾT SỐ 1.
Moị nhà khoa học khởi đi từ tiên niệm rằng vũ trụ và thiên nhiên có liên quan chặt chẽ với nhau và được điều khiển bởi những luật mà người ta có thể khám phá. Hơn thế nữa,họ biết rằng sự khám phá một luật, sẽ dẫn họ một cách không thể sai lầm tới sự khám phá những luật khác. Nếu tất cả đã đều hổn loạn, thì một cuộc tìm kiếm như thế sẽ chẳng thể có tồn tại và điều đó bởi 2 lý do:
- bởi vì con người - tự nó không có lý trí,không mạch lạc và vô tổ chức – sẽ chẳng khi nào tự đặt câu hỏi nào và sẽ chẳng đòi hỏi một giải thích nào : trong một tình huống như thế, thì sự nghiên cứu khoa học không thể hiện hữu.
- Bởi vì,dù sao đi nữa, cũng chẳng có gì để khám phá (nếu không phải là sự thiếu vắng các luật và sự nhận định của sự quá khích, của trò may rủi và của sự hỗn loạn).
Thế nhưng các luật lệ hiện hữu và mọi luật đều hàm ý một người làm ra luật, một việc thực hiện kỳ diệu đến độ thế giới đòi hỏi một trí khôn và một ý hướng; một sự gắn kết tri thức muốn rằng những ai tìm cách khám phá các luật, cũng phải sẵn sàng tìm kiếm Đấng đã thiết lập các luật đó.
1.2. ĐIỀU TIÊN QUYẾT SỐ 2.
Những người vô thần – như tên của họ chỉ cho thấy – khởi đi từ điều tiên quyết vô lý trí rằng Thiên Chúa không hiện hữu.
Những kẻ khác, ít cả quyết tuyệt đối hơn, nói họ giới hạn những nghiên cứu của họ trong phạm vi vật lý, không muốn đi sâu vào “siêu hình” (= điều theo sau các câu hỏi vật lý).
Jean Rostand (đã nêu tên) giải thích niềm tin của ông vào sự tiến hoá bằng sự kiện là ông đã nói “không với Thiên Chúa” và ông xưng thú ngay sau đó sự bối rối nội tâm đối diện với sự ném bỏ nầy: "Tôi là một người bị ám ảnh, ta hãy nói từ nầy, BỊ ÁM ẢNH, nếu không bởi Thiên Chúa, chí ít cũng bởi kẻ-Không-Chúa. Vâng, đúng vậy!”.
Một sự ngay thẳng dường ấy thật hiếm có và cần thiết phải nhấn mạnh. Từ chối ngay cả giả thuyết về một năng lực tạo dựng, nằm ở ngoài và cao hơn con người, những vĩ nhân khoa học vô thần lớn nhất bị hạn chế đến mức dọ dẫm bằng cách đề nghị những lý thuyết thường làm cho họ vẫn đói khát. Một trong họ diễn tả như sau: "Chủ nghĩa duy vật đáng buồn, cái chủ nghĩa duy vật chỉ biết đổ lỗi cho sự tình cờ, không thể tiên liệu trước đó, không thể bào chữa sau đó, cách thức lịch sử thế giới diễn ra” (Giáo sư Kahane, nhà duy vật và duy lý chủ nghĩa).
Hai lời xưng thú chân thành nầy cho thấy rằng chủ nghĩa vô thần không phải là tự nhiên. Nó là một sự lựa chọn cố tình; hơn thế nữa, nó là một sự bác bỏ cố tình, là một sự đối nghịch với tư suy có sẵn một cách tự nhiên trong mọi con người: tư duy về vĩnh cửu, tư duy về một Thiên Chúa Đấng Tạo Hoá.
Hãy đem một em bé đi thăm phòng trưng bày tranh: em sẽ hỏi bạn một cách tự nhiên: Ai đã vẽ bức tranh nầy? Và bạn sẽ trả lời : đó là một hoạ sĩ. Hãy đem nó đi thăm một phòng trưng bày xe hơi và đứa trẻ sẽ hỏi bạn “nhãn mác” của chiếc xe nầy hoặc chiéc xe kia.Bạn sẽ trả lời cho nó rằng đó là chiếc Ferrari (hiểu ngầm: chiếc xe được các kỹ sư nghiên cứu của hãng Ferrari hình thành). Hãy đem nó đi thăm một bảo tàng lịch sử tự nhiên và đứa trẻ sẽ hỏi bạn cũng cách ấy:”Ai đã làm tất cả những điều đó?”. Bạn sẽ trả lời :” Điều đó tự làm ra một mình,theo giòng thời gian”…
Một ai đó đã nói:”chủ nghĩa vô thần là sự xuyên tạc lý trí”; Kinh Thánh nói:”tự cho mình là khôn ngoan,họ trở thành điên rồ”. Theo lời tiên tri của Daniel,cách nay đã 26 thế kỷ – sự hiểu biết phải tăng thêm ở ngày tận thế” (Dnl 12,4)…
Nhưng nhiều nhà bác học thật sự làm cho chúng ta nghĩ đến những người bị mù quáng đang leo lên một cầu thang phía ngược: họ trèo từng bậc một với một tính ưa gây gỗ khiến phải kính trọng,nhưng không vì thế mà đến gần đích được: "Càng khám phá ra các sự vật, họ càng khám phá ra những sự vật phải khám phá”. Ốc đảo xa vời không chỉ là một ảo giác: nó rời xa cũng mau chóng như người ta đến gần nó”.
Đã 3.000 năm, vị vua khôn ngoan Salomon nói về loại nghiên cứu nầy: “Tôi đã đem hết tâm hồn để tìm kiếm và thăm dò bằng sự khôn ngoan tất cả những gì xảy ra dưới bầu trời: đó là một sự chiếm ngự vô ơn mà Thiên Chúa đã ban cho con cái loài người,để chúng vất vả ở đó”(Kn 1,13).
Rất nhiều người lương thiện đã vất vả mệt nhọc ở đó. Vậy tại sao họ đã không muốn, với tư cách là những nhà khoa học thực thụ, xem xét mọi giả thuyết để khám phá ra Chân Lý? Sự nghiên cứu của họ sẽ đã chẳng phải chịu điều ấy, trái lại là khác; Lại nữa điều có ý nghĩa là qua các thế kỷ, các khám phá lớn lao nhất đều do những kẻ có niềm tin thực hiện.
Kinh Thánh nói: ”Kẻ mất trí nói trong tâm hồn mình,không hề có Thiên Chúa” (Tv 14,1). Và như thế sự khẳng định nhưng không về sự không hiện hữu của Thiên Chúa tỏ ra như một sự thất bại của con người chối bỏ nguồn gốc của mình, ngay nếu trong những địa hạt khác thường tỏ ra một trí thông minh sáng chói, chứng từ gián tiếp nhưng thú vị về những khả năng mà Thiên Chúa đã ban cho con người đưộc “dựng nên giống như Người”.