PDA

View Full Version : Phần I. Bài 15. Nhân vị con người trở thành quà tặng trong sự tự do yêu thương


admin
16-03-2006, 05:10 AM
Thứ Tư, 16 tháng Giêng 1980

15. Nhân vị con người trở thành quà tặng trong sự tự do yêu thương

Hôm nay chúng ta tiếp tục phân tích những văn bản của Sách Sáng Thế theo lối đã được Đức Kitô vạch ra để giảng dạy. Chúng ta nên nhớ lại rằng trong khi bàn về chuyện hôn nhân, Người đã viện dẫn đến “thuở ban đầu”.

Mặc khải, cùng một lúc với sự khám phá nguyên thuỷ về ý nghĩa hôn phối của thân xác, là cốt ý để cho ta thấy con người, nam và nữ, trong thực tại toàn diện với sự thực của thân xác và phái tính của mình (“cả hai đều trần truồng”) mà vẫn đồng thời có tự do hoàn toàn không lệ thuộc vào thân xác và phái tính. Sự trần truồng của nguyên tổ, mà không chút xấu hổ bên trong, dường như muốn làm chứng cho điều đó. Có thể nói được rằng, được tạo dựng bởi Tình Yêu, bản thể của họ được phú bẫm cho có nam và nữ, cả hai nguyên tổ đều “trần truồng” là bởi vì họ được tự do trong sự tự do trở thành quà tặng.

Chính sự tự do này là nền tảng của ý nghĩa hôn phối của thân xác. Nhìn dưới ánh sáng mầu nhiệm của cuộc sáng tạo, thân xác con người, với tính dục và với phái tính nam và phái tính nữ của nó, không chỉ là nguồn mạch cho sự đơm hoa kết trái và sinh sản như trong toàn bộ trật tự tự nhiên mà [thân xác ấy] còn chứa đựng ngay từ thuở ban đầu cái thuộc tính hôn phối, tức là khả năng biểu lộ tình yêu. Một tình yêu mà trong đó nhân vị đã trở thành quà tặng và - nhờ quà tặng đó – làm sung mãn cái ý nghĩa của bản thể và hiện hữu của nhân vị ấy. Chúng ta nhắc lại ở đây văn kiện công đồng Vatican II đã tuyên bố rằng con người là loài thụ tạo độc nhất trong thế giới hữu hình mà Thiên Chúa đã muốn «cho chính họ». Và văn kiện Công Đồng còn thêm rằng chính con người này “có thể khám phá ra toàn bộ sự thật về chính mình chỉ khi nào con người chân thành tự hiến tặng chính bản thân mình” (MV 24 (http://gpnt.net/thuvien/gaudium/gs_02.htm)).[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)

Cội rễ của sự trần truồng mà không xấu hổ mà Sách Sáng Thế 2,25 nói đến phải được đào tìm trong sự thật toàn vẹn về con người. Người nam hay người nữ, trong bối cảnh thuở ban đầu ngập tràn ơn phúc ấy, được tự do trong sự tự do trở thành quà tặng. Để duy trì trong mối tương quan trong “chân thành tự hiến tặng cho nhau” này và để trở nên quà tặng như thế cho nhau, thông qua toàn bộ bản tính nhân loại mang phái tính nam và nữ của họ (cũng liên quan đến viễn tượng mà Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) đề cập đến), họ chắc chắn được thanh thản tự do theo cách thế này.

Ở đây, chúng tôi muốn nói đến cách đặc biệt tự do như là sự làm chủ được chính mình (tự chủ). Từ khía cạnh này, con người thật không thể thiếu được cái khả năng “tự hiến bản thân”, có thể trở thành quà tặng, có thể “khám phá hoàn toàn chính bản thân mình” qua việc “chân thành tự hiến chính bản thân mình” (những từ Công đồng nói). Do đó khi nói “Họ trần truồng mà không xấu hổ” thì có thể và phải hiểu đây là sự mặc khải – và đồng thời cũng là sự tái khám phá – về tự do. Nguồn tự do này kích hoạt và bổ túc thêm cho ý nghĩa hôn phối của thân xác.

Dù vậy, Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10) còn đi xa hơn nữa, khi chỉ ra cho thấy triển vọng và đặc trưng của “cảm nghiệm thân xác” qua lại với nhau này. Câu Kinh thánh còn cho phép chúng ta nhận ra ý nghĩa hôn phối của thân xác nơi hiện thể (in actu). Khi chúng ta đọc thấy: “Họ trần truồng mà không xấu hổ”, thì chúng ta đã tiếp xúc trực tiếp đến hoa quả của ý nghĩa ấy và cách gián tiếp gần như chạm đến được cội rễ của nó. Tự bên trong không bị thúc ép bởi chính thân xác và tính dục, tự do trong sự tự do trở thành quà tặng, người nam và người nữ thụ hưởng được toàn bộ sự thật, toàn bộ sự hiển nhiên của bản thân con người, đúng như Chúa-Giavê đã mặc khải những điều ấy cho họ trong mầu nhiệm sáng tạo.

Sự thật này về con người, theo như Công đồng xác quyết cụ thể nơi những lời trích trên đây, có hai điểm nổi bật. Thứ nhất xác định rằng con người là loài thụ tạo độc nhất trong thế giới mà Đấng Tạo Hoá đã muốn «cho chính họ». Thứ hai nói rằng chính con người này Đấng Tạo Hoá đã muốn theo cách này ngay từ “thuở ban đầu”, có thể khám phá ra chính bản thân mình chỉ khi nào tự hiến tặng cách vô tư chính bản thân mình. Giờ đây, sự thật này về con người, dường như đặc biệt thâu tóm được thân phận nguyên thuỷ có liên quan đến tận khởi thuỷ của con người trong mầu nhiệm sáng tạo, có thể được đọc lại theo cả hai chiều hướng, dựa trên bản văn Công đồng. Việc đọc lại này giúp chúng ta càng hiểu thêm về ý nghĩa của thân xác. Ý nghĩa này dường như được ghi khắc trong thân phận người nam và người nữ (căn cứ trên 2,23-25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23-25&FontSize=Txt10)) và đặc biệt là trong ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thuỷ của họ.

Như chúng ta đã nhận thấy, ở ngay gốc rễ sự trần truồng của họ là sự tự do bên trong của trao tặng – trao tặng vô tư chính bản thân mình. Sự trao tặng này cho phép cả người nam lẫn người nữ có thể khám phá ra nhau, bởi vì Đấng Tạo Hoá đã muốn mỗi người trong họ «cho chính người ấy» (x. MV 24 (http://gpnt.net/thuvien/gaudium/gs_02.htm)). Vì thế, người nam ngay lần gặp diễm phúc đầu tiên, đã khám phá ra người nữ, và người nữ khám phá ra người nam. Bằng cách ấy, người nam đón nhận người nữ ngay từ bên trong. Người nam đón nhận người nữ vì người nữ đã được Đấng Tạo Hoá muốn “cho chính người nữ”, vì người nữ được cấu thành trong mầu nhiệm hình ảnh Thiên Chúa qua tính cách người nữ. Một cách hỗ tương, người nữ đón nhận người nam cũng cùng một cách như thế, vì người nam đã được Đấng Tạo Hoá muốn “cho chính người nam”, và được cấu thành nhờ tính cách người nam. Sự mặc khải và sự khám phá ý nghĩa hôn phối của thân xác hệ tại ở điều này. Câu chuyện kể thuộc truyền thống Giavê, và đặc biệt trong Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10), cho phép chúng ta suy diễn rằng con người, là người nam và người nữ, bước vào trong thế giới với sự nhận thức này về ý nghĩa của thân xác, ý nghĩa của phái tính nam và phái tính nữ.

Nhờ bên trong được định hướng bởi quà tặng chân thành của nhân vị, thân xác con người bày tỏ không chỉ phái tính nam hoặc nữ trên bình diện thể lý, mà còn bày tỏ phẩm giá và vẻ đẹp cao cả đến nỗi vượt lên trên cả chiều kích thuần thể lý của tính dục.[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) Đây là cách nhận thức hoàn chỉnh về ý nghĩa hôn phối của thân xác, liên quan đến phái tính nam-nữ của con người. Ý nghĩa này vừa chỉ cho thấy một khả năng đặc biệt để diễn tả tình yêu mà trong đó con người trở thành quà tặng, vừa đồng thời cho thấy khả năng và tính tương thích sâu xa cho sự khẳng định của nhân vị tương xứng với nó. Hiểu theo nghĩa đen có nghĩa là cái khả năng để - người nam cho người nữ và người nữ cho người nam - sống sự thực mà người kia, qua thân xác, là người được Đấng Tạo Hoá muốn cho chính họ. Nhân vị thì chỉ có một và không trùng lặp được tuyển chọn bởi Tình Yêu vĩnh cửu.

Sự khẳng định của nhân vị không gì khác hơn là sự đón nhận quà tặng mà, nhờ tính hỗ tương, tạo nên sự hiệp thông các nhân vị. Sự hiệp thông này được kiến tạo ngay từ bên trong. Sự hiệp thông ấy cũng bao gồm toàn bộ “cái bên ngoài” của con người, nghĩa là, tất cả những gì cấu thành nên sự trần truồng chơn chất và thuần khiết của thân xác với phái tính nam và nữ của nó. Do đó, như chúng ta đã đọc thấy trong St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10): người nam và người nữ không xấu hổ. Kiểu nói Kinh thánh: “không xấu hổ” chỉ rõ ràng trực tiếp đến “sự trải nghiệm” như là một chiều kích chủ quan.

Và chính trong chiều kích chủ quan đó, với tư cách là hai cái “tôi” (ego) được định nghĩa bằng phái tính nam và phái tính nữ, mà cả hai (nam và nữ) đã xuất hiện trong mầu nhiệm của “thuở ban đầu” diễm phúc. (Chúng ta đang nói đến trạng thái trong trắng nguyên thuỷ của con người và đồng thời cũng là trạng thái hạnh phúc nguyên thuỷ). Sự xuất hiện đó rất ngắn, bởi vì nó chỉ gồm vài câu trong sách Sách Sáng Thế. Tuy nhiên, nó chứa đầy một nội dung lạ kỳ về phương diện thần học cũng như nhân loại học. Mặc khải và sự khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác đã giải thích hạnh phúc nguyên thuỷ của con người. Đồng thời nó cũng mở ra một viễn ảnh của lịch sử trần thế mà ở đó con người không thể nào tránh khỏi cái “yếu tố chủ chốt” cần thiết này trong cuộc hiện sinh của mình.

Những đoạn tiếp theo của Sách Sáng Thế, theo văn bản Giavê chương 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10), chỉ cho rằng viễn ảnh lịch sử đó sẽ được xây dựng một cách khác với thuở ban đầu diễm phúc (sau nguyên tội). Nhưng phải đi sâu vào hơn trong cấu trúc mầu nhiệm thần học và cũng là nhân loại học của thuở ban đầu. Trong toàn viễn ảnh lịch sử, con người không ngừng đưa ra ý nghĩa hôn phối của chính thân xác mình. Cho dù ý nghĩa này đã và sẽ phải chịu nhiều biến đổi, nhưng nó sẽ luôn ở một trình độ rất sâu xa. Ý nghĩa này đòi phải được mặc khải trong trạng thái chơn chất và thuần khiết, và phải được tỏ bày với toàn bộ sự thật của nó, như một dấu chỉ của hình ảnh Thiên Chúa. Lối ngõ đi từ mầu nhiệm sáng tạo đến “sự cứu chuộc của thân xác” cũng đi ngang qua đó (x. Rm 8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm 8&FontSize=Txt10)).

Và bây giờ, chúng ta đang ở trên ngưỡng cửa của viễn ảnh lịch sử đó. Dựa trên Sách Sáng Thế 2,23-25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23-25&FontSize=Txt10), chúng ta nhận thấy rõ ràng sự liên kết giữa mặc khải với sự khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác và sự hạnh phúc nguyên thuỷ của con người. Ý nghĩa hôn phối thật là diễm phúc. Và do đó, nói tóm lại, nó biểu hiện tất cả thực tại của tự hiến mà những trang đầu của Sáng Thế Ký đã nói cho chúng ta. Chúng ta được thuyết phục nhờ ý thức về ý nghĩa của thân xác khi đọc những trang sách này. Đặc biệt là ý nghĩa về hôn phối được xem như là yếu tố nền tảng của cuộc sống nhân sinh trong thế giới.

Ý nghĩa hôn phối của thân xác con người chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh của nhân vị. Thân xác có ý nghĩa hôn phối bởi vì con-người-nhân-vị, như Công đồng đã nói, là một loài thụ tạo mà Thiên Chúa đã muốn cho con người. Và đồng thời, con người chỉ khám phá hoàn toàn được bản thân khi chân thành tự hiến chính mình.

Đức Kitô đã mặc khải cho người nam và người nữ một ơn gọi khác, trội hơn và vượt lên trên ơn gọi hôn nhân, đó là ơn gọi khước từ hôn nhân vì nước Trời. Với ơn gọi này, Đức Kitô cũng đã nhấn mạnh tới chân lý về con-người-nhân-vị. Nếu người nam và người nữ có thể tự hiến mình cho nước Trời thì điều đó chứng minh rằng (và có thể hơn thế nữa) có tự do để trở thành quà tặng trong thân xác con người. Điều này có nghĩa rằng thân xác mang một ý nghĩa hôn phối thật sung mãn.


Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ

-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) “Thực vậy, khi Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha “để tất cả nên một… như chúng ta là một” (Ga 17,21-22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 17:21-22&FontSize=Txt10)), Người đã mở ra những viễn ảnh mà lý trí không thể nào tiếp cận được. Người đã gợi cho chúng ta biết rằng có một sự tương đồng nào đó giữa sự hiệp nhất của Ba Ngôi với sự hiệp nhất của những người con của Chúa trong sự thực và trong tình bác ái. Sự tương đồng này đã chỉ cho chúng ta biết rằng con người là loài thụ tạo duy nhất trên trái đất mà Chúa đã muốn cho chính họ, chỉ có thể tìm lại chính mình bằng cách chân thành tự hiến chính bản thân mình” (MV 24).
Chỉ nhắm phân tích trên bình diện thần học sách Sáng Thế, nhất là đoạn 2,23-25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23-25&FontSize=Txt10), thì chúng ta có thể dựa vào văn bản này. Điều này làm nên một bước nữa ở giữa khoa nhân loại học thích đáng và khoa thần học về thân xác, một khoa thần học gắn liền với sự khám phá ra những đặc điểm thuộc về yếu tính của sự hiện hữu nhân vị trong thời tiền sử thần học của con người. Mặc dù có thể gặp phải sự phản đối về phía những người ủng hộ thuyết tiến hoá (trong số đó có cả các nhà thần học), nhưng thật khó mà không nhận thấy rằng Sách Sáng Thế, nhất là đoạn 2,23-25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23-25&FontSize=Txt10) đã chỉ cho thấy chiều kích không những “nguyên thuỷ” mà còn “mẫu mực” của sự hiện hữu con người, một con người nam và nữ.

[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Truyền thống Kinh Thánh đã kể sơ lại sự hoàn hảo về thể lý của con người đầu tiên. Tiên tri Edekiel đã viết khi muốn so sánh Vua Tyrô với Ađam trong vườn Êđen như sau: “Ngươi là mẫu người tuyệt hảo, đầy khôn ngoan và xinh đẹp tuyệt vời. Ngươi cư ngụ tại Eđen, vườn của Thiên Chúa…” (Ed 28, 12-13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ed 28:12-13&FontSize=Txt10))

admin
24-09-2009, 12:26 PM
NHÂN VỊ LÀ MỘT TẶNG PHẨM TRONG TỰ DO CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG

1. Hôm nay chúng ta tiếp tục phân tích những bản văn của sách Sáng thế mà chúng ta đã đảm nhận theo hướng giáo huấn của Đức Kitô. Chúng ta nhớ lại rằng trong cuộc đàm đạo về hôn nhân Người đã viện dẫn đến «thuở ban đầu».

Mạc khải cùng với sự khám phá nguyên thủy về ý nghĩa «hôn phối» của thân xác, giới thiệu con người nam cũng như nữ trong thực tại và sự thật toàn vẹn về thân xác và tính dục của mình («cả hai đều trần truồng»), mà con người ấy đồng thời cũng tự do hoàn toàn đối với mọi ràng buộc của thân xác và tính dục. Về điều này dường như được chứng minh bởi sự kiện ông bà nguyên tổ trần truồng mà không xấu hổ do họ có tự do nội tâm. Có thể nói rằng, được tạo dựng bởi Tình Yêu, được phú ban giới tính nam và nữ, cả hai nguyên tổ đều «trần truồng» bởi vì họ tự do, một tự do của tặng phẩm trao hiến. Sự tự do này là chính nền tảng của ý nghĩa hôn phối của thân xác. Thân xác con người, với giới tính nam và nữ của nó, nhìn trong mầu nhiệm tạo dựng, không chỉ là nguồn mạch cho sự sống sinh sôi nảy nở qua việc truyền sinh như trong toàn thể trật tự tự nhiên, mà «ngay từ thuở ban đầu» nó còn mang thuộc tính hôn phối, nghĩa là khả năng diễn tả tình yêu: một tình yêu trong đó con người trở thành tặng phẩm ngôi vị và – nhờ tặng phẩm này – con người thực hiện chính ý nghĩa của hữu thể và hiện hữu mình (ý nghĩa của chính mình và của cuộc sống mình). Ở đây chúng ta nhớ đến một văn kiện của Công Đồng Vatican II tuyên bố rằng con người là thọ tạo duy nhất trong thế giới hữu hình mà Thiên Chúa đã dựng nên «vì chính họ». Công Đồng còn thêm rằng con người chỉ có thể «tìm lại được hoàn toàn chính mình khi con người chân thành tự hiến» [1].

2. Gốc rễ của sự trần truồng không xấu hổ mà St 2,25 nói tới phải được tìm bới trong chân lí toàn vẹn về con người. Trong bối cảnh của «thuở ban đầu» hồng phúc, người nam và người nữ vốn tự do, đó là một sự tự do của trao hiến. Thật vậy, để luôn có thể sống mối tương quan «chân thành tự hiến» và để có thể trở thành một tặng phẩm trao hiến cho nhau như thế nhờ nhân tính (do nữ tính và nam tính hợp thành) (cả trong mối quan hệ với viễn tượng mà St 2,24 nói đến), họ phải tự do theo cách đó. Ở đây chúng tôi có ý nói tự do đặc biệt như là sự làm chủ chính bản thân mình (tự chủ). Về mặt này, tự do quả là không thể thiếu được để con người có thể «tự hiến», để con người có thể trở nên tặng phẩm, để con người có thể «tìm lại được chính mình» nhờ «một sự chân thành tự hiến». Như thế, những lời «họ trần truồng, mà không cảm thấy xấu hổ» có thể được hiểu và phải hiểu như là mạc khải – và đồng thời là khám phá lại – sự tự do, vốn là điều mới làm cho ý nghĩa «hôn phối» của thân xác có giá trị thật sự.

3. Thế nhưng đoạn St 2,25 còn đi xa hơn nữa. Thật vậy, đoạn văn ấy cho thấy con người có thể có «kinh nghiệm về thân xác» của nhau. Hơn nữa, nó còn cho phép chúng ta xác định ý nghĩa hôn phối của thân xác bằng hiện thực (in actu). Khi đọc thấy «họ trần truồng, mà không cảm thấy xấu hổ», chúng ta đã chạm đến trực tiếp hoa trái của ý nghĩa ấy và cách gián tiếp gần như chạm đến được gốc rễ của nó. Tự do nội tâm đối với mọi câu thúc của thân xác và tính dục của mình (đó là một tự do của sự trao hiến), người đàn ông và người đàn bà đã có thể hưởng nếm tất cả sự thật, toàn thể chứng cớ của bản thân con người, như Thiên Chúa Giavê đã mạc khải cho họ trong mầu nhiệm tạo dựng. Sự thật ấy về con người, như Công Đồng xác quyết qua những lời trích dẫn trên đây, có hai điểm nhấn chính yếu. Thứ nhất, đó là con người là thọ tạo duy nhất trong thế giới Tạo Hóa đã dựng nên «vì chính họ». Thứ hai, chính con người đó kẻ được Tạo Hóa muốn như thế từ «thuở ban đầu», chỉ có thể tìm lại được chính mình nhờ sự tự hiến vô cầu. Giờ đây, sự thật đó về con người (có vẻ như nắm bắt được tình trạng nguyên thủy của chính «thuở ban đầu» của mầu nhiệm tạo dựng) có thể được đọc lại – trên cơ sở bản văn Công Đồng – theo hai hướng. Khi đọc lại như thế chúng ta hiểu sâu xa hơn ý nghĩa hôn phối của thân xác (được khắc ghi trong thân phận nguyên thủy của người nam và người nữ như St 2,23-25 đã bộc lộ) và nhất là ý nghĩa của sự trần truồng nguyên thủy của họ.

Như chúng ta đã nhận xét, nếu ở nguồn cội của sự trần truồng con người vốn tự do (một sự tự do nội tâm của kẻ trao hiến chính mình như tặng phẩm vô cầu), thì chính sự trao hiến này giúp cả hai người, nam và nữ, tìm lại được bản thân của nhau, vì Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng nên mỗi người «vì chính họ» (x. Gaudium et spes 24). Như thế, người đàn ông trong cuộc hạnh ngộ đầu tiên tìm thấy lại người phụ nữ của mình, và người phụ nữ ấy cũng tìm thấy lại người đàn ông. Bằng cách đó, tự trong lòng mình người đàn ông đón nhận nàng; đón nhận nàng như nàng được Đấng Tạo Hóa thương yêu tạo dựng nên «vì chính nàng», như là hình ảnh mầu nhiệm của Thiên Chúa thiết lập nơi nữ tính của nàng. Và ngược lại, người đàn bà cũng đón nhận người đàn ông theo cùng một cách thức, như chàng được Đấng Tạo Hóa thương yêu tạo dựng nên «vì chính chàng», như là hình ảnh mầu nhiệm của Thiên Chúa thiết lập nơi nam tính của chàng. Đó chính là mạc khải và những khám phá về ý nghĩa «hôn phối» của thân xác. Trình thuật Giavit, và đặc biệt là đoạn St 2,25, cho phép chúng ta rút ra điều này, là con người với giới tính là nam là nữ bước vào thế giới này với một ý thức thật sự về ý nghĩa của thân xác mình, của giới tính nam-nữ của mình.

4. Vốn có xu hướng bên trong «tự hiến chân thành» của một ngôi vị, thân xác con người không chỉ biểu lộ qua vẻ bên ngoài của giới tính nam hay nữ, nhưng còn biểu lộ một giá trị và một vẻ đẹp vượt trên bình diện «tính dục» thuần túy thể lí [2].Như thế ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác (vốn gắn liền với giới tính của con người) theo nghĩa nào đó trở nên hoàn bị. Một đàng, ý nghĩa này chỉ một khả năng riêng diễn tả tình yêu, trong đó con người trở nên một tặng phẩm để trao hiến. Đàng khác, nó tương ứng với cái khả năng sâu xa «khẳng định ngôi vị», theo nghĩa xác thực là khả năng nhờ thân xác mà sống với tha nhân (là người phụ nữ kia nếu tôi là đàn ông, hay là người đàn ông kia nếu tôi là phụ nữ) như là kẻ được Thiên Chúa yêu mến «vì chính người ấy», nghĩa là một con người duy nhất và độc đáo, một kẻ được chọn bởi Tình Yêu vĩnh cửu.

«Khẳng định ngôi vị» không gì khác hơn là sự đón nhận tặng phẩm, nhờ sự trao nhận qua lại đó mà có sự hiệp thông ngôi vị. Sự hiệp thông ngôi vị ấy được xác lập từ bên trong, nhưng đồng thời bao gồm tất cả cái «bên ngoài» của con người, nghĩa là toàn thể thân xác trần truồng đơn sơ và tinh khiết của người nam và người nữ. Bấy giờ người đàn ông và người đàn bà không cảm thấy xấu hổ như St 2,25 nói. Thành ngữ «không cảm thấy xấu hổ» ấy của Kinh thánh diễn tả trực tiếp «kinh nghiệm», muốn nói đến bình diện thuộc chủ thể (chủ quan).

5. Chính trên bình diện chủ quan ấy, cả hai người, nam và nữ, như hai «tự ngã» (cái tôi) được xác định bởi giới tính nam hay nữ của họ, xuất hiện trong mầu nhiệm của cái «thuở ban đầu» hồng phúc của họ (chúng ta đang ở trong tình trạng vô tội nguyên thủy của con người). Sự xuất hiện đó rất ngắn ngủi, vì chỉ gồm có vài câu trong sách Sáng thế. Thế nhưng, nội dung thần học và cả nhân học đầy những bất ngờ. Mạc khải và sự khám phá ý nghĩa hôn phối của thân xác giải thích niềm hạnh phúc nguyên thủy của con người. Đồng thời nó cũng mở ra một viễn tượng của lịch sử trần thế, trong đó con người không bao giờ tránh né được «chủ đề» thiết yếu nàycủa cuộc sống mình.

Những câu sau đó của sách Sáng thế, theo bản văn Giavit chương 3, cho thấy viễn tượng «lịch sử» sẽ được xây dựng theo cách khác với «thuở ban đầu» hạnh phúc (sau tội nguyên tổ).

Thế nhưng, ta càng cần phải đi sâu vào cấu trúc huyền nhiệm, vừa có tính thần học và vừa mang tính nhân học, của cái «thuở ban đầu» ấy. Thật vậy, trong toàn thể viễn tượng «lịch sử» của mình, con người sẽ không quên gán một ý nghĩa hôn phối cho thân xác mình. Dẫu cho nó đã bị và sẽ còn bị bóp méo rất nhiều, ý nghĩa ấy vẫn mãi ở tầng sâu nhất, cần phải được vén tỏ cho thấy với toàn bộ sự đơn sơ và tinh tuyền của nó, và được bộc lộ ra trong toàn thể sự thật của nó như là dấu chỉ của «hình ảnh của Thiên Chúa». Con đường đi từ mầu nhiệm tạo dựng đến «cứu chuộc thân xác» cũng đi qua giao lộ này (x. Rm 8).

Và bây giờ, vẫn ở ngưỡng cửa của viễn tượng lich sử ấy, dựa trên đoạn sách St 2,23-25, chúng ta nhận thấy rõ ràng mối liên kết giữa mạc khải và sự khám phá ý nghĩa hôn phối của thân xác với niềm hạnh phúc nguyên thủy của con người. Ý nghĩa «hôn phối» đó cũng là một diễm phúc, và như thế, xét cho cùng nó tỏ lộ toàn thể thực tại của sự trao hiến mà những trang đầu sách Sáng thế đã nói tới. Khi đọc những trang sách này, chúng ta tin tưởng rằng ý thức về ý nghĩa của thân xác – đặc biệt là ý nghĩa hôn phối của thân xác – là một yếu tố cấu thành nền tảng của cuộc sống con người trong thế giới.

Ý nghĩa «hôn phối» của thân xác con người đó chỉ có thể hiểu được bối cảnh của nhân vị. Thân xác có một ý nghĩa «hôn phối» bởi vì, như Công Đồng đã nói, con người–nhân vị là một thọ tạo mà Thiên Chúa đã tạo dựng vì chính nó, và đồng thời chỉ có thể hoàn toàn tìm lại được chính mình nhờ sự tự hiến.

Nếu Đức Kitô đã mạc khải cho người nam và người nữ một ơn gọi khác, vượt trên ơn gọi hôn nhân, tức là ơn gọi từ khước hôn nhân (sống độc thân) vì Nước Trời, với ơn gọi đó Người đã đề cao cũng sự thật đó về nhân vị. Nếu một người nam hay một người nữ có khả năng tự hiến vì Nước Trời, điều đó chứng tỏ (và có lẽ còn mạnh hơn nữa) rằng có sự tự do của trao hiến trong thân xác con người. Điều đó có nghĩa là thân xác này có một ý nghĩa «hôn phối» trọn vẹn.

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch

-----------
[1] «Khi cầu nguyện với Chúa Cha : “xin cho mọi người nên một, như Con và Cha chúng ta là một” (Ga 17,21-22), Chúa Giêsu mở ra những viễn tượng mà lí trí con người thể tự mình đạt tới được. Như vậy, Chúa Giêsu đã nói lên một sự tương tự nào đó giữa sự hợp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự hợp nhất của các con cái Chúa trong chân lí và đức ái. Sự tương tự này cho thấy con người, vốn là thọ tạo duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, có thể tìm lại được hoàn toàn chính mình khi con người chân thành tự hiến» (GS 24).

Bản văn Công Đồng này giúp chúng ta phân tích sách Sáng thế, đặc biệt là đoạn văn St 2,23-25, về phương diện thuần túy thần học. Đây là một chuyển tiếp khác giữa «nhân học thích đáng» và «thần học thân xác», vốn nối kết chặt chẽ với sự khám phá các đặc tính cốt yếu nơi hiện hữu ngôi vị trong tình trạng «tiền sử thần học» (preistoria teologica) của con người. Dẫu có thể gặp phản đối từ phía quan điểm thuyết tiến hóa (thậm chí từ phía các nhà thần học), nhưng người ta không khó nhận thấy rằng bản văn Sáng thế đươc phân tích, nhất là đoạn St 2,23-25, không chỉ phô diễn chiều kích «nguyên thủy» mà còn chiều kích «mẫu mực» của hiện hữu con người, đặc biệt con người như «là nam, là nữ».

[2] Truyền thống thánh kinh có nhắc đến một tiếng vọng xa xưa nói về sự hoàn hảo thể lí của con người đầu tiên. Trong khi ngầm so sánh vị vua Tirô với Ađam trong vườn Êđen, Tiên tri Êzêkiel viết như sau: «Ngươi là mẫu người tuyệt hảo, / đầy khôn ngoan, / và xinh đẹp tuyệt vời; / trong vườn Êđen của Thiên Chúa ...» (Ez 28, 12-13).

http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=568 (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=568)