bichphuong
27-07-2007, 05:32 PM
Gặp Chúa Trong Thánh Thể
(Gioan 6, 22-58)
Trong Thông điệp "Mầu nhiệm Đức Tin – Mysterium Fidei", sau khi nhắc lại các phương cách mà Chúa đã và đang hiển diện trong Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI có nói như sau:
"Chúa Kitô còn hiển diện một cách khác thường, một cách tuyệt diệu ở bên trong Giáo Hội của Ngài bằng Bí tích Thánh Thể. Đây là tột đỉnh của đời sống thiêng liêng. Đây là cùng đích của mọi Bí tích. Sự hiển diện ấy được gọi là thật sự, không phải vì các cách hiển diện khác không có thật, nhưng vì ở đây có sự hiển diện tốt đẹp nhất, sự hiển diện của chính mình Chúa".
Trong các cách hiển diện khác mà Thông điệp ám chỉ, chúng ta có thể gặp gỡ Chúa bằng ơn soi sáng, bằng các tác động của Ngài, bằng lời nói bằng việc làm. Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa hiển diện bằng chính con một của Ngài. Và, sau bao nhiêu thế kỷ, chúng ta được sống thân mật với Chúa, gặp gỡ Ngài và nói lên như các Tông đồ xưa: Chúng tôi đã gặp Ngài (Gio. 1,45).
Bạn cùng tôi, chúng ta hãy đến trong một ngôi Thánh đường, tìm tới nơi Nhà Tạm của Chúa, bên cạnh ngọn đèn leo lét tỏa ra một rừng sáng bàng bạc, đẻ gặp gỡ Chúa, thờ lạy Chúa, suy niệm và cầu nguyện.
Thánh Gioan Tông đồ nói: "Thiên Chúa là Tình yêu". Một Tình yêu vo hạn không bờ bến; một Tình yêu bao giờ cũng muốn san sẻ khối nặng tình đang manh trong lòng. Chúa phán: "Ta đem lửa thương yêu xuống trần gian. Ta không mong ước gì hơn là thấy lửa ấy cháy lên lan tỏa khắp thế giới".
Thì Bí tích Thánh Thể là Lửa tình là tang chứng Tình yêu vô hạn mà Chúa đem đến.
Người ta kể cho nhau câu chuyện cảm động này: Trong xứ đạo... có đôi vợ chồng trẻ sống rất hạnh phúc và ấm cúng. Ngày hai buổi, người chồng đi làm, bà vợ ở nhà lo việc tề gia nội trợ. Cuộc sống đôi uyên ương ấy đang tiếp diễn thì một tai nạn xảy đến làm tan vỡ. Một hôm đi làm về người chồng mắc phải cơn mưa phát ốm. Bệnh tình cứ trầm trọng lên mãi, biến chứng ra nhiều bệnh khác và có mòi không qua được. Thấy vậy, người chồng gọi vợ lại bên cạnh giường như để trối trăn mấy lời cuối cùng. Anh nói: "Có lẽ, Chúa sắp cất anh về. Anh xin vâng Thánh ý Chúa. Cám ơn em và để chứng tỏ tình yêu vĩnh cửu của anh. Anh xin để lại cho em một vật kỷ niệm". Nói xong, anh rút ở tay chiếc nhẫn thành hôn của mình và âu yếm xỏ vào tay vợ, làm lại cử chỉ ái ân mà hai vợ chồng đã làm cho nhau cách đây một năm trước bàn thờ Chúa. Sau khi người chồng qua đời, người ta thường thấy người vợ trẻ, đầu chít khăn tang nhiều lần đi vào nghĩa địa, đến trước một ngôi mộ cỏ mọc chưa xanh, cầu nguyện. Nhưng trên tay người góa phụ có đeo hai chiếc nhẫn: chiếc nhẫn thành hôn của mình và chiếc nhẫn kỷ niệm của người chồng quá cố.
Lùi về 19 thế kỷ trước đây, Chúa Giêsu đã làm một việc tương tợ. Nhìn thấy giờ vĩnh biệt sắp đến, Chúa Giêsu đã "yêu mến các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian và Ngài đã yêu mến họ đến tận cùng" (Gio. 13,1). Ngài đã lập nên phép Thánh Thể, để lại cho chúng ta một tang chứng Tình yêu vĩ đại.
Ngài không để lại vàng bạc trân châu, vì Ngài biết rằng tiền không nói lên được Tình, tiền hay phản lại Tình. Ngài không để lại một bức thư tiễn biệt, vì thư bất tận ngôn; hay một lời nói vì lời nói là như hơi gió, có đó và hay mất đó. Ngài để lại cho chúng ta cái mà thường tình người ta thường yêu hơn cả, Ngài để lại chính mình Ngài.
Dưới hình bánh hình rượu, như chiếc áo che thân, trong khi bản chất bánh rượu đã trở nên Mình và Máu Chúa, Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta Mình Thánh và Máu Thánh của Ngài. Rước Mình Chúa và Máu Chúa là gặp gỡ Chúa, là hiệp nhất với Chúa vậy.
Đây là Mầu nhiệm Đức Tin.
Mặc dầu trí khôn ta không hiểu, giác quan ta không cảm. Đức Tin dạy chúng ta: Chúa ngự thật trong Bí tích Thánh Thể. Ta tin vì Chúa đã phán và đã làm. Ta tin vì Ngài là đàng, là sự sống, là sự thật.
Đây là mầu nhiệm Tình yêu.
Chúng ta nhận thấy rằng trong cuộc tử nạn của Chúa, sự chết và tình yêu gắn liền với nhau. Nhưng Tình yêu đã thắng và siêu hóa sự chết, và Bí tích Thánh Thể chính là một tang chứng sự khởi thắng đó. Vì chết là chia ly, là vĩnh biệt với người yêu. Thì Mầu nhiệm Thánh Thể đã thắng cái định luật ấy. Ngài đã chết nhưng Ngài đã Phục sinh sống lại. Và nhờ Mầu nhiệm Phục sinh và Thánh Thể, Ngài vẫn hiển diện giữa chúng ta và hiệp nhất với chúng ta. Bữa "tiệc ly" biến thành bữa "tiệc thánh" mà chúng ta cũng như bao thế hệ còn tham dự.
Chúa để lại cho chúng ta Bí tích Thánh Thể như một tang chứng Tình yêu. Nhưng, qua lời mạc khải, Chúa muốn cho chúng ta đáp ứng lại như thế nào?
Khi một người thân yêu mất đi, để lại một vật kỷ niệm, chúng ta làm gì? Chúng ta làm theo ý người quá cố. Hình ảnh của họ ta treo lên tường để kính nhớ. Ruộng vườn họ ta khai thác, coi là của hương hỏa không dám bán...
Chúa để lại cho chúng ta Thánh Thể như Của Ăn bổ dưỡng, như hy vật tế lễ và như người Bạn đường của chúng ta trên đường dương thế.
Đây là của ăn. "Mỗi lần anh em ăn Bánh này và uống Chén này, anh em loan báo sự chết của Chúa, cho đến lúc Ngài đến" (1 Cor 11, 26).
Trong mỗi gia đình có một bàn ăn. Trong đại gia đình Dân Chúa cũng có một Bàn ăn. Đó là Bàn Rước lễ, ở đó Chúa Giêsu chính là của ăn, là lương thực nuôi linh hồn ta. "Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống" (Gio. 6, 55). Một định luật của tình yêu là muốn biến hóa, hiệp nhất với người yêu. Bà mẹ ẵm đứa con thơ, âu yếm con, nựng con, có khi cắn con và nói một câu có vẻ bâng quơ nhưng bao hàm cả một định luật tâm ly: "Mẹ muốn ăn con đi!" Tình yêu thì muốn hợp nhất với người yêu, hai phải nên một. Cái mà loài người không làm được thì Thiên Chúa đã làm: "Thịt ta thật là của ăn, máu ta thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu ta, người ấy sẽ ở trong Ta và Ta ở trong người ấy" (Gio. 6, 55-56).
Ngài khuyến khích ta, Ngài bắt buộc ta, Ngài đe dọa nữa, tuy rằng tình yêu không bao giờ nói đến đe dọa. "Quả thật Ta bảo các người: Nếu các ngươi không ăn thịt và uống máu Ta, các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi. Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đới đời và Ta sẽ cho sống lại trong ngày sau hết" (Gio. 6, 53-54).
Khi tuyên bố những lời hằng sống ấy, hẳn Chúa nhìn thấy trước mắt phản ứng của nhiều người nghe. Họ "xô xát nhau" (52) họ cho là "sống sượng, không thể nghe nổi" (C. 60). Nhiều môn đệ đã bỏ Ngài rút lui, không còn đi theo nữa (C. 66). Ngài buồn, nhưng không cải chính, không rút lui lời nói, vì đây là lời hằng sống, "kẻ ăn bánh này sẽ sống đời đời" (C. 59).
Lạy Chúa, con tin và nói như Phêrô xưa: "Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết đến với ai? Thầy có lời ban sự sống đời đời" (Gio. 6, 68).
(Gioan 6, 22-58)
Trong Thông điệp "Mầu nhiệm Đức Tin – Mysterium Fidei", sau khi nhắc lại các phương cách mà Chúa đã và đang hiển diện trong Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI có nói như sau:
"Chúa Kitô còn hiển diện một cách khác thường, một cách tuyệt diệu ở bên trong Giáo Hội của Ngài bằng Bí tích Thánh Thể. Đây là tột đỉnh của đời sống thiêng liêng. Đây là cùng đích của mọi Bí tích. Sự hiển diện ấy được gọi là thật sự, không phải vì các cách hiển diện khác không có thật, nhưng vì ở đây có sự hiển diện tốt đẹp nhất, sự hiển diện của chính mình Chúa".
Trong các cách hiển diện khác mà Thông điệp ám chỉ, chúng ta có thể gặp gỡ Chúa bằng ơn soi sáng, bằng các tác động của Ngài, bằng lời nói bằng việc làm. Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa hiển diện bằng chính con một của Ngài. Và, sau bao nhiêu thế kỷ, chúng ta được sống thân mật với Chúa, gặp gỡ Ngài và nói lên như các Tông đồ xưa: Chúng tôi đã gặp Ngài (Gio. 1,45).
Bạn cùng tôi, chúng ta hãy đến trong một ngôi Thánh đường, tìm tới nơi Nhà Tạm của Chúa, bên cạnh ngọn đèn leo lét tỏa ra một rừng sáng bàng bạc, đẻ gặp gỡ Chúa, thờ lạy Chúa, suy niệm và cầu nguyện.
Thánh Gioan Tông đồ nói: "Thiên Chúa là Tình yêu". Một Tình yêu vo hạn không bờ bến; một Tình yêu bao giờ cũng muốn san sẻ khối nặng tình đang manh trong lòng. Chúa phán: "Ta đem lửa thương yêu xuống trần gian. Ta không mong ước gì hơn là thấy lửa ấy cháy lên lan tỏa khắp thế giới".
Thì Bí tích Thánh Thể là Lửa tình là tang chứng Tình yêu vô hạn mà Chúa đem đến.
Người ta kể cho nhau câu chuyện cảm động này: Trong xứ đạo... có đôi vợ chồng trẻ sống rất hạnh phúc và ấm cúng. Ngày hai buổi, người chồng đi làm, bà vợ ở nhà lo việc tề gia nội trợ. Cuộc sống đôi uyên ương ấy đang tiếp diễn thì một tai nạn xảy đến làm tan vỡ. Một hôm đi làm về người chồng mắc phải cơn mưa phát ốm. Bệnh tình cứ trầm trọng lên mãi, biến chứng ra nhiều bệnh khác và có mòi không qua được. Thấy vậy, người chồng gọi vợ lại bên cạnh giường như để trối trăn mấy lời cuối cùng. Anh nói: "Có lẽ, Chúa sắp cất anh về. Anh xin vâng Thánh ý Chúa. Cám ơn em và để chứng tỏ tình yêu vĩnh cửu của anh. Anh xin để lại cho em một vật kỷ niệm". Nói xong, anh rút ở tay chiếc nhẫn thành hôn của mình và âu yếm xỏ vào tay vợ, làm lại cử chỉ ái ân mà hai vợ chồng đã làm cho nhau cách đây một năm trước bàn thờ Chúa. Sau khi người chồng qua đời, người ta thường thấy người vợ trẻ, đầu chít khăn tang nhiều lần đi vào nghĩa địa, đến trước một ngôi mộ cỏ mọc chưa xanh, cầu nguyện. Nhưng trên tay người góa phụ có đeo hai chiếc nhẫn: chiếc nhẫn thành hôn của mình và chiếc nhẫn kỷ niệm của người chồng quá cố.
Lùi về 19 thế kỷ trước đây, Chúa Giêsu đã làm một việc tương tợ. Nhìn thấy giờ vĩnh biệt sắp đến, Chúa Giêsu đã "yêu mến các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian và Ngài đã yêu mến họ đến tận cùng" (Gio. 13,1). Ngài đã lập nên phép Thánh Thể, để lại cho chúng ta một tang chứng Tình yêu vĩ đại.
Ngài không để lại vàng bạc trân châu, vì Ngài biết rằng tiền không nói lên được Tình, tiền hay phản lại Tình. Ngài không để lại một bức thư tiễn biệt, vì thư bất tận ngôn; hay một lời nói vì lời nói là như hơi gió, có đó và hay mất đó. Ngài để lại cho chúng ta cái mà thường tình người ta thường yêu hơn cả, Ngài để lại chính mình Ngài.
Dưới hình bánh hình rượu, như chiếc áo che thân, trong khi bản chất bánh rượu đã trở nên Mình và Máu Chúa, Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta Mình Thánh và Máu Thánh của Ngài. Rước Mình Chúa và Máu Chúa là gặp gỡ Chúa, là hiệp nhất với Chúa vậy.
Đây là Mầu nhiệm Đức Tin.
Mặc dầu trí khôn ta không hiểu, giác quan ta không cảm. Đức Tin dạy chúng ta: Chúa ngự thật trong Bí tích Thánh Thể. Ta tin vì Chúa đã phán và đã làm. Ta tin vì Ngài là đàng, là sự sống, là sự thật.
Đây là mầu nhiệm Tình yêu.
Chúng ta nhận thấy rằng trong cuộc tử nạn của Chúa, sự chết và tình yêu gắn liền với nhau. Nhưng Tình yêu đã thắng và siêu hóa sự chết, và Bí tích Thánh Thể chính là một tang chứng sự khởi thắng đó. Vì chết là chia ly, là vĩnh biệt với người yêu. Thì Mầu nhiệm Thánh Thể đã thắng cái định luật ấy. Ngài đã chết nhưng Ngài đã Phục sinh sống lại. Và nhờ Mầu nhiệm Phục sinh và Thánh Thể, Ngài vẫn hiển diện giữa chúng ta và hiệp nhất với chúng ta. Bữa "tiệc ly" biến thành bữa "tiệc thánh" mà chúng ta cũng như bao thế hệ còn tham dự.
Chúa để lại cho chúng ta Bí tích Thánh Thể như một tang chứng Tình yêu. Nhưng, qua lời mạc khải, Chúa muốn cho chúng ta đáp ứng lại như thế nào?
Khi một người thân yêu mất đi, để lại một vật kỷ niệm, chúng ta làm gì? Chúng ta làm theo ý người quá cố. Hình ảnh của họ ta treo lên tường để kính nhớ. Ruộng vườn họ ta khai thác, coi là của hương hỏa không dám bán...
Chúa để lại cho chúng ta Thánh Thể như Của Ăn bổ dưỡng, như hy vật tế lễ và như người Bạn đường của chúng ta trên đường dương thế.
Đây là của ăn. "Mỗi lần anh em ăn Bánh này và uống Chén này, anh em loan báo sự chết của Chúa, cho đến lúc Ngài đến" (1 Cor 11, 26).
Trong mỗi gia đình có một bàn ăn. Trong đại gia đình Dân Chúa cũng có một Bàn ăn. Đó là Bàn Rước lễ, ở đó Chúa Giêsu chính là của ăn, là lương thực nuôi linh hồn ta. "Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống" (Gio. 6, 55). Một định luật của tình yêu là muốn biến hóa, hiệp nhất với người yêu. Bà mẹ ẵm đứa con thơ, âu yếm con, nựng con, có khi cắn con và nói một câu có vẻ bâng quơ nhưng bao hàm cả một định luật tâm ly: "Mẹ muốn ăn con đi!" Tình yêu thì muốn hợp nhất với người yêu, hai phải nên một. Cái mà loài người không làm được thì Thiên Chúa đã làm: "Thịt ta thật là của ăn, máu ta thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu ta, người ấy sẽ ở trong Ta và Ta ở trong người ấy" (Gio. 6, 55-56).
Ngài khuyến khích ta, Ngài bắt buộc ta, Ngài đe dọa nữa, tuy rằng tình yêu không bao giờ nói đến đe dọa. "Quả thật Ta bảo các người: Nếu các ngươi không ăn thịt và uống máu Ta, các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi. Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đới đời và Ta sẽ cho sống lại trong ngày sau hết" (Gio. 6, 53-54).
Khi tuyên bố những lời hằng sống ấy, hẳn Chúa nhìn thấy trước mắt phản ứng của nhiều người nghe. Họ "xô xát nhau" (52) họ cho là "sống sượng, không thể nghe nổi" (C. 60). Nhiều môn đệ đã bỏ Ngài rút lui, không còn đi theo nữa (C. 66). Ngài buồn, nhưng không cải chính, không rút lui lời nói, vì đây là lời hằng sống, "kẻ ăn bánh này sẽ sống đời đời" (C. 59).
Lạy Chúa, con tin và nói như Phêrô xưa: "Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết đến với ai? Thầy có lời ban sự sống đời đời" (Gio. 6, 68).