ndt
20-03-2006, 05:54 PM
Những hình thức của tha thứ (Mt 18,21-35 (http://www.dongcong.net/LoiChua-SuyNiem/BaiDocHangNgay/MuaChay/mc3-03.htm))
Tha thứ nghĩa là phục hồi hay hàn gắn lại lại mối quan hệ gồm thái độ và tình cảm như trước khi mối liên hệ giữa chúng ta và người khác bị tổn thương hay xúc phạm. Chỉ khi đó chúng ta mới thực sự tha thứ cho người đã xúc phạm hay gây một thiệt hại nào đó cho chúng ta.
Tha thứ theo nghĩa này không phải là điều dễ dàng. Nó đòi hỏi thời gian, cố gắng để cho quá khứ giận ghét ra đi. Không phải chỉ bắt ý chí tha thứ, bỏ qua là chúng ta có thể thực hiện được tha thứ nhưng còn phải quên đi những tình cảm đi theo khi mối tương quan bị đổ vỡ, chẳng hạn tức giận, oán thù, cay đắng.
Tuy nhiên, nếu không biết tha thứ sẽ gây nhiều tác hại vì chính sự không tha thứ là nguyên nhân của lo âu, bất an, thất vọng, trầm cảm, hay bệnh tật thể lý. Khi từ chối tha thứ tức là tiếp tục nuôi dưỡng sự thù hận, giận ghét.
Trong tiếng Anh, cho đi ‘give’ là một phần của từ tha thứ ‘forgive’. Cho đi tức là ra khỏi sự ích kỷ chỉ quan tâm đến cái tôi của mình. Tha thứ cũng mang một ý nghĩa và mục đích như vậy, tuy ở một mức độ sâu thẳm và riêng tư nhiều hơn. Tha thứ là để cho những tình cảm tiêu cực (tức giận, oán thù) ra đi, không bận tâm đến nó nữa, nhờ đó quá trình chữa lành hay tha thứ được thực hiện.
Tha thứ còn có nghĩa là tha thứ cho chính mình. Điều này có khi còn khó hơn là tha thứ cho người khác. Tuy nhiên, tha thứ cho chính mình là điều quan trọng vì nếu bản thân chưa cảm thấy bình an, còn tức giận với chính mình, thì chúng ta khó mà tha thứ cho kẻ khác.
Đôi khi, con người cũng thấy khó tha thứ cho Chúa. Họ tức giận với Chúa vì một nguyên nhân nào đó như bệnh tật, tai nạn, đau khổ của cá nhân hay của người khác. Tha thứ trong trường hợp này mang lại bình an cho tâm hồn và giúp cảm thấy gần gũi hơn với Chúa là Cha nhân lành.
Thiên Chúa là Đấng luôn tha thứ, chứ không phải là Đấng luôn đoán phạt chúng ta. Bắt chước Chúa, chúng ta cũng hãy thực hành sự tha thứ như Cha chúng ta luôn tha thứ cho mỗi người chúng ta.
Tha thứ nghĩa là phục hồi hay hàn gắn lại lại mối quan hệ gồm thái độ và tình cảm như trước khi mối liên hệ giữa chúng ta và người khác bị tổn thương hay xúc phạm. Chỉ khi đó chúng ta mới thực sự tha thứ cho người đã xúc phạm hay gây một thiệt hại nào đó cho chúng ta.
Tha thứ theo nghĩa này không phải là điều dễ dàng. Nó đòi hỏi thời gian, cố gắng để cho quá khứ giận ghét ra đi. Không phải chỉ bắt ý chí tha thứ, bỏ qua là chúng ta có thể thực hiện được tha thứ nhưng còn phải quên đi những tình cảm đi theo khi mối tương quan bị đổ vỡ, chẳng hạn tức giận, oán thù, cay đắng.
Tuy nhiên, nếu không biết tha thứ sẽ gây nhiều tác hại vì chính sự không tha thứ là nguyên nhân của lo âu, bất an, thất vọng, trầm cảm, hay bệnh tật thể lý. Khi từ chối tha thứ tức là tiếp tục nuôi dưỡng sự thù hận, giận ghét.
Trong tiếng Anh, cho đi ‘give’ là một phần của từ tha thứ ‘forgive’. Cho đi tức là ra khỏi sự ích kỷ chỉ quan tâm đến cái tôi của mình. Tha thứ cũng mang một ý nghĩa và mục đích như vậy, tuy ở một mức độ sâu thẳm và riêng tư nhiều hơn. Tha thứ là để cho những tình cảm tiêu cực (tức giận, oán thù) ra đi, không bận tâm đến nó nữa, nhờ đó quá trình chữa lành hay tha thứ được thực hiện.
Tha thứ còn có nghĩa là tha thứ cho chính mình. Điều này có khi còn khó hơn là tha thứ cho người khác. Tuy nhiên, tha thứ cho chính mình là điều quan trọng vì nếu bản thân chưa cảm thấy bình an, còn tức giận với chính mình, thì chúng ta khó mà tha thứ cho kẻ khác.
Đôi khi, con người cũng thấy khó tha thứ cho Chúa. Họ tức giận với Chúa vì một nguyên nhân nào đó như bệnh tật, tai nạn, đau khổ của cá nhân hay của người khác. Tha thứ trong trường hợp này mang lại bình an cho tâm hồn và giúp cảm thấy gần gũi hơn với Chúa là Cha nhân lành.
Thiên Chúa là Đấng luôn tha thứ, chứ không phải là Đấng luôn đoán phạt chúng ta. Bắt chước Chúa, chúng ta cũng hãy thực hành sự tha thứ như Cha chúng ta luôn tha thứ cho mỗi người chúng ta.