PDA

View Full Version : Về Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt


admin
18-09-2007, 10:18 PM
về Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt

Lá Thư Đức Giáo Hoàng Phaolô VI


(ngày 15/6/1966 tại Rôma)


Kính Gửi Các Giám Mục Việt Nam

Chú thích
Góp phần tìm hiểu lich sử hữu ích đầy đủ về Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt (1956-1975), và lịch sử Giáo Hội Việt Nam, mà nhiều người hiện nay có quan tâm đặc biệt, người dịch kính cẩn dịch thuật và cung ứng tài liệu này cho cộng đồng các độc giả quan tâm và xử dung để nghiên cứu xây dựng một cơ chế giáo hoàng chủng viện tại Việt Nam tương lai cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, khi thuận tiện.
Thiết nghĩ, Giáo Hoàng Chủng Viện tương lai cần luôn cập nhật hóa kiến thức học vấn và đạo đức, được đào tạo song hành, theo đúng tinh thần các văn kiện thích hợp của Tòa Thánh, cho các đức tính của một linh mục ưu tiên phục vụ trong bối cảnh văn hóa và xã hội Việt Nam đương thời.
Theo nguyện vọng tha thiết và thực tế nhất của cộng đồng dân Chúa là Giáo Hoàng Chủng Viên Tương Lai cần đào tạo ra những linh muc tài đức, nhân bản và sống hòa đồng bình dân sẵn sàng với mọi người, thể hiện trong cách ưng xử hằng ngày trong mọi hoàn cảnh, cá nhân cũng như tập thể, không phân biệt sang hèn, già trẻ, đau yếu hay khỏe mạnh, ít hay nhiều học vấn, nam hay nữ…
Về Lá Thư, tuy nhắm vào việc thành lập Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt, nhưng lá thư này đề cập nhiều vấn để về thời cuộc lúc đó của Việt Nam. Tính chất thời sự vẫn bàng bạc kéo dài mãi đến nay, từ 1966 đến 2007.
Người dịch
_______________________________

Chư Huynh Đáng Kính,
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sắp hội họp từ đây đến đó không bao lâu nữa, sẽ qui tụ chư huynh lại. Cuộc họp ấy cho Ta chứng kiến lòng chư huynh nhiệt thành và tận tụy phục vụ cộng đoàn Công Giáo của đất nước. Chư Huynh Giám mục đáng kính, chư huynh hiến thân cho đất nước bằng tinh thần quảng đại và hy sinh gương mẫu. Đó chính là động lực khiến Ta được ủi an và đầy khâm phục.
Ta biết chư huynh đang xao xuyến trước thời cuộc hiện tại, và chư huynh lo lắng trước một tương lai đầy bất trắc. Nhiều vấn đề còn đè nặng hơn nữa lên việc củng cố và phát triển Giáo Hội trên đất nước chư huynh.
Ta biết rõ điều đó, và đã nhiều lần đoan chắc với chư huynh: Ta gần gũi chư huynh trong thử thách, và ước ao cảm thấu nhiều hơn những vất vả của chư huynh, và chia sẻ thân mật hơn các băn khoăn tông đồ của chư huynh. Chỉ như thế, Ta thiết nghĩ, Ta mới có thể đáp ứng lòng tận tụy sâu xa chư huynh bày tỏ với những đại diện yếu hèn của Chúa. Và các Tín điệp của Chư Huynh Tổng Giám Mục Sàigòn và Giám Mục Đà Lạt cho thấy điều đó. Ta không thể đọc mà lòng không xúc động sâu xa. Đó là một bằng chứng mới mẻ và đầy khẩu khí.
Muốn bày tỏ với chư huynh lòng yêu mến đặc biệt Ta thể hiện nơi mỗi người trong chư huynh, nơi các tín hữu được trao cho chư huynh chăm sóc, và nơi đất nước đang bị thử thách của chư huynh, Ta muốn ban tặng chư huynh một dấu hiệu hữu hình. Và Ta hy vọng dấu hiệu đó sẽ làm chư huynh vui lòng, như Ta hiện diện giữa chư huynh, khi họp Hội Đồng Giám Mục, qua việc cử nhiệm Vị Tôn Huynh đáng kính, Đức Sergio Pignedoli, Tổng Giám Mục hiệu tòa Iconium và Đặc Phái Viên Tông Tòa tại Canađa.
Ta đã trao cho ngài sứ mệnh mang đến anh em lời chào thân ái. Và ngài bầy tỏ cho chư huynh thấy, Ta mãn nguyện với nhiệt tình chư huynh bộc lộ, khi thực thi thánh chức. Ngài nhắc lại những điều Ta khuyến khích, ngõ hầu tiếp nhận, qua miệng chư huynh trình bày, các nhu cầu khẩn thiết nhất của các giáo phận của chư huynh. Ngài bàn luận với chư huynh những sáng kiến có vẻ thích hợp nhất, để chắc chắn đem ra thi hành các quyết định của Công Đồng.
Nhiều khó khăn và trở ngại đủ loại, đến từ mọi nơi, làm cho công cuộc tông đồ, trên đất nước này, còn khó khăn hơn nữa. Nhưng xứ sở này vẫn được Chúa độ lượng chúc lành, giàu có tài nguyên thiên nhiên, cũng như người dân đầy quảng đại. Dân chúng nước này bảo lưu một cảm thức thiêng liêng sống động, và biểu lộ điều đó qua các truyền thống, nghi lễ và tín ngưỡng, lấy gia đình làm trung tâm thể hiện những điều đó. Các khó khăn mà Ta nói đến, không ngăn cản, đà thúc đẩy chư huynh làm tông đồ, mà còn làm sống động cảm thức trách nhiệm mục tử cho các tâm hồn. Khó khăn đó cũng khiến chư huynh trở nên nhạy cảm hơn, tích cực hơn, đương đầu với những điều cần thiết, cấp bách hơn của thời cuộc hiện tại. Đối với chư huynh, hỡi chư huynh đáng kính, chính chính chư huynh đoán biết điều ấy, một lý do làm mãn nguyện sâu xa. Cũng như đó là tư tưởng tôn trọng và kính mến, chư huynh bền bỉ bày tỏ, đối với vị thay mặt Ta nơi chư huynh, Vị Tôn Huynh đáng lính, Đặc Sứ Tông Tòa, Đức Angelo Palmas, chư huynh đều biết rõ. Ngài có nhiều đức tính thông minh và trái tim, đức khôn ngoan và tâm hồn thanh thiết.
Ngài đã đến, nơi chư huynh, vì mục đích duy nhất là phục vụ Giáo Hội cùng với chư huynh. Và chư huynh trong lúc đến tiếp nhận những điều ngài gợi ý huynh đệ, đã cho thấy một tình cảnh ủi an là lập lại kiên quyết đời sống công giáo, một lý do vững chắc để hy vọng vào tương lai. Thực sự, nhiều sáng kiến chư huynh đã có, trong những năm cuối cùng này, không phải không mang lại hoa trái dồi dào, ngay cả trong nhiều phạm vi khác của Đất Nước.

admin
18-09-2007, 10:18 PM
Để khen ngơi chư huynh, Ta chỉ ra một vài điều trong đó. Việc thành lập Đại Chủng Viện, đặt dưới bảo trợ của Thánh Piô X, và Ta muốn trang trí bằng danh hiệu giáo hoàng, là một dấu chỉ chắc chắn về ý Ta muốn chắc chắn chuẩn bị luôn thích hợp bằng những định mệnh của “các người cộng tác khôn ngoan thuộc hàng giám mục, có ngài giúp đỡ và công cụ của ngài” (Hiến Chế Tông Tòa (Const. Ap.) “Lumen Gentium (http://www.vatican.va/archive/hist_councils/ii_vatican_council/documents/vat-ii_const_19641121_lumen-gentium_fr.html)”, N. 28).
Việc thành lập một Phân Khoa Thần Học nơi Giáo Hoàng Học Viện “Thánh Piô X” , ở Đà Lạt , vào thời hậu Công đồng quyết định này, sẽ kích thích mọi người thiện chí hiến mình thức hiện khẩu hiệu Phaolô “veritatem facientes in charitate” [thi hành chân lý trong đức bác ái] (Eph. 4, 15); Đó sẽ là một điểm gặp gỡ, ngõ hầu tôn trọng, theo ánh sáng của Giáo Hội, di sản triết học và tôn giáo phong phú Quốc Gia; và chắc chắn điều đó sẽ đóng góp để là tập hợp, khi tìm kiếm công ích, các nhóm không thuần nhất, và cho đến nay vẫn bị chia rẽ.
Trong tổ chức “Caritas-Vietnam” - đã rất hưng thịnh và có hiệu quả trong năm đầu đời - Ta muốn thấy chứng cớ về việc chư huynh mau mắn xoa dịu nhiều nỗi đau khổ biết bao, đem ủi an và cứu giúp đến những người đã chịu nhiều những hậu quả đáng buồn của tình hình hiện nay.
Ở đây chính hoàn toàn tự phát và quí mến Ta bảy tỏ tư tưởng tri ân và trân trọng đối với các vị linh mục, triều cũng như dòng, đáng quí.Ta rất quí trọng lòng nhiệt thành sốt sắng và tính từ bỏ phú thác của các ngài. Ta lấy tình hiền phụ, ước ao khuyên các ngài hãy lắng nghe những điều Công Đồng Vatican II đề nghi họ suy niệm, theo Sắc Lệnh Presbyterorum Ordinis[Hàng Linh Mục] về tác vụ và đời sống các linh mục. Chớ chi các ngài duy trì liên hệ chặt chẽ với các Giám mục của các ngài. Các ngài là đại diện cho các vị Giám mục đó tại các cộng đoàn địa phương; chớ gì các ngài cộng tác huynh đệ giữa các cộng đoàn, ngõ hầu làm tông đồ chân lý luôn luôn và khắp nơi. Trong khi theo đường lối hướng dẫn đó, Ta chắc chắn rằng các ngài sẽ có thể chu toàn các tác vụ khác nhau, trong các hoàn cảnh đặc biệt của xứ sở các ngài đòi hỏi hôm nay.
Đó là công lao giá trị của chư huynh, hỡi chư huynh đáng kính, và của những người cộng tác với chư huynh, nếu người Công giáo Việt Nam tiếp tục cống hiến – và cống hiến giữa biết bao thử thách và khó khăn - một gương mẫu kỳ diệu gắn bó với lòng tin của tổ tiên mình. Vì họ nhiệt thành và dễ tuân phục những chỉ thị của Hàng Giáo Phẩm, và phó thác không điều kiện cũng như tin tưởng vô hạn vào trợ lực của Thiên Chua, họ tự lo cho mình được quyền đặc biệt là toàn thể Giáo Hội quí trọng, yêu mến và giúp đỡ về thiêng liêng và vật chất. Ở nơi những người con yêu quý này, Ta cũng khâm phục tính cộng tác quảng đại vào tất cả mọi sáng kiến tông đồ xã hội, nhất là vào xoa dịu đau khổ những kẻ có số phận bị tác động vì khốn nạn và chết mòn mỏi vì đau khổ.
Ý thức về trách nhiệm của họ là thành viên của xã hội dân sự mình dự phần vào, họ tham gia tích cực vào đời sống quốc gia, và đóng góp vào tiến bộ xã hội cũng như củng cố các định chế. Và ở đây Ta ngỏ ý khuyến cáo họ sốt sắng để luôn dấn thân gắn bó, trong khi họ hành động, vào những qui chuẩn thận trọng sáng suốt và có kỷ luật chung, như tình thế hiện nay đòi hỏi.
Ta coi là thừa để nhắc lại Ta xem như của Ta những vấn đề của đất nước cao đẹp này, và Ta không ngừng khẩn khoản mời gọi mọi công dân, ngay cả những người nắm số phận của dân tộc trong tay họ, để làm việc nhằm mục đích các tâm hồn biết hòa hợp, và các khối óc hiểu biết nhau: Đấy chính là những nhân tố cần thiết, để trở lại làm việc đồng ruộng hoà bình và yên tĩnh, và để thi hành cái cách xã hội và chính trị mà mọi người ước mong biết bao.
Mối quan tâm của Ta đối với chư huynh và Tổ Quốc của chư huynh đã thúc đẩy Ta đảm nhận những cuộc vận động mới mẻ, nhằm làm cho ngày ấy mau tới. Trong ngày đó, người không còn nghe thấy tiếng kêu của vũ khí, các khối óc sẽ có thể đến lại gần nhau, và lợi dụng từng cợ hội, nếu mong manh thế nào đi nữa, ngõ hầu tiến tới một giải pháp công bằng và hòa bình của cuộc khủng hoảng.
Ta nghĩ rằng Ta có nghĩa vụ làm tác vụ Tông tòa, đó là tiếp tục nỗ lực này cho đến lúc, mà ở đó Chúa Kitô sống lại nguyện ước và cứu độ “Bình An Cho Các Ông”, trở thành hiện thực cho dân tộc Việt Nam yêu quí.
Chớ chi bình an ngự trị trong lòng mọi người; chớ chi tấm lòng biểu lộ những hành vi có lợi cho mọi thành viên của cộng đoàn; chớ chi các tấm lòng đếu đâm rễ sâu trong trật tự, tiến bộ xã hội và công lý. Muốn cho bình an tiến tới – và không nhằm đến lợi ích nhỏ mọn nhất của trần thế - Ta sẵn sàng hợp tác vô giới hạn, đồng thời nhắc nhở các nguyên tắc, nhất thiết phải làm chỗ dựa cho hoà bình, nếu hoà bình muốn được công chính và bền vững.
Chớ chi Đấng Tối Cao, đầy lòng nhân từ thương xót, tiếp nhận những lời khấn xin và ước nguyện mà Ta kết thành lời nguyện đầy khiêm tốn và tin tưởng.
Chớ chi Phép Lành Tông Tòa rất đặc biệt Ta chuẩn ban cho chư huynh, hỡi Chư Huynh Đáng Kính, cho Hàng Giáo Sĩ triều [giáo phận] và dòng, cho các nữ tu và cho các tín hữu. Họ tháp tùng chư huynh và nâng đỡ chư huynh trong công cuộc xây dựng chư huynh được kêu gọi thực hiện: xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô và trở lại nền hòa bình mà mọi người nóng lòng chờ đợi, nhằm mục đích làm cho Tổ Quốc yêu quí của chư huynh được thịnh vượng.

Ban hành tại Rôma ngày 15/9/1966, vào lễ Đức Bà Đau Khổ, năm thứ tư triều đại Giáo Hoàng của Ta.

[B]Giáo Hoàng Phaolô VI (PAULUS PP. VI)


_________________________________

Oakland, CA, 8/7/2007CN – 6/9/2007.5
Hòa Giang Đỗ Hữu Nghiêm

admin
18-09-2007, 10:19 PM
LỊCH SỬ TÓM TẮT GIÁO HOÀNG HỌC VIỆN PIO X ĐÀ LẠT
(1957-1975)

Giáo hoàng Học viện Pio X Đà Lạt có lịch sử không dài nhưng phong phú. Sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, miền Nam Việt Nam, khi đó được gọi là Việt Nam Cộng Hoà đang phải đối mặt với nhiệm vụ khó khăn. Chính phủ kêu gọi các Giêsu hữu, những người mới bị trục xuất khỏi Trung Hoa, góp một tay phụ giúp Đại Học Sài Gòn. Vì thế, Giám mục cũng kêu gọi Dòng Tên trợ giúp trong việc đào tạo hàng giáo sĩ. Bởi vì có nhiều người bị trục xuất khỏi Trung Hoa nên lời kêu gọi trên được nhiều giáo sư hưởng ứng.


http://www.dunglac.net/bai2/GHHV1.jpg
Giáo hoàng Học viện Đà Lạt nhìn từ trên máy bay
Năm 1957, cha Ferdinand Lacretelle đến Sài Gòn và khởi sự một cộng đoàn anh em Dòng Tên, sau này phát triển thành Trung tâm Đắc Lộ. Theo yêu cầu của các Giám mục, ngài lên Đà Lạt, nơi đây, một đại học công giáo cũng mới được hình thành. Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin chuẩn nhận việc thành lập Chủng Viện Giáo Hoàng ở Đà Lạt cho khoảng 100 chủng sinh và được trao cho Dòng Tên đảm trách.

Ngày 13 tháng 9 năm 1958, những lớp chủng sinh đầu tiên bắt đầu chương trình học trong một ngôi nhà do Đại Học Công Giáo nhường cho. Năm tiếp theo, số chủng sinh tăng lên, có những cái tên tiêu biểu như Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Tích Đức, Nguyễn Văn Nho,... Cơ sở đầu tiên của chủng viện là một khu nhà được gọi là "Viện Đại Học Khu C" gần ngay trong khu vực Chủng viện Simon Hoà cũ bằng gỗ. Ban huấn luyện đầu tiên gồm cha Lacretelle, các cha Bobbio và Deslierres, Palacios và Ruiz, với sự trợ giúp của tu huynh Herhold. Cha Franz Burkhardt là viện trưởng đầu tiên, đó là năm 1960, khi Đà Lạt trở thành một giáo phận, giám mục tiên khởi của giáo phận là Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền. Năm 1962, cha Burkhardt trở thành Giám tỉnh của Tỉnh dòng Viễn đông và cha Karl Steinmetz giữ vai trò viện trưởng trong vài tháng, cho đến khi cha Paul O’Brien đến và làm viện trưởng từ 1962 đến 1965.

Việc xây dựng Giáo Hoàng Học Viện cũng được tiến hành, người ta có thể đọc thấy những dòng chữ sau ở ngay cổng vào của toà nhà:


http://www.dunglac.net/bai2/GHHV2.jpg
Một lớp chịu chức ở Giáo hoàng Học Viện
A.D. MCMLXI.
KALENDIS. AUGUSTI.
MAIRUS. BRINI. DELEG. APOST.
EPISC. VIETNAMIENSIBUS. ADSTANTIBUS.
COL. PONTIF. SANCTI. PII. X.
FUNDAMENTA.
JECIT.

Nghĩa là: “Vào năm 1961, ngày đầu tiên của tháng 8, vị Đại diện của Toà Thánh, Mario Brini, trước sự hiện diện của các Giám mục Việt Nam, đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng Giáo Hoàng Học Viện thánh Pio X.” Công trình xây dựng được chính thức khánh thành ngày 22 tháng 4 năm 1964, cho dù đã có các lớp học ở đó từ năm 1963. Phân khoa thần học được thành lập ngày 31 tháng 7 năm 1965 bởi một sắc lệnh của Thánh Bộ về Chủng viện và Đại học. Phân khoa được liên kết với Đại học Công giáo. Các khoá học lấy bằng cử nhân được tiếp tục cho đến năm 1975; khoá học đầu tiên lấy bằng tiến sĩ được tổ chức năm 1972.

Một số Giêsu hữu và giáo sư đã làm việc ở đây. Năm 1965, cha Giuseppe Raviolo được chỉ định làm Viện trưởng. Phân khoa đã hoàn chỉnh với sự góp mặt của các giáo sư triết học như các cha Joseph, Mathias Ch’en và Alberto Palacios, ngoài ra còn được sự hỗ trợ bởi các giáo sư ngắn hạn như cha Joseph De Finance từ Đại học Gregorian ở Roma.

Cha Enrique San Pedro, một người Cuba, phụ trách môn Kinh thánh. Ngài qua đời khi là Giám mục của giáo phận Brownsville, Texas năm 1994. Đồng nghiệp với ngài là cha José Ramón de Diego. Cha Anton Drexel dạy môn Thần học hệ thống, ngài là người có thể trả lời mọi câu hỏi. Cùng dạy với ngài là cha Hervé Coathalem, một nhà khoa học vĩ đại nhưng có một giọng nói thật khó nghe. Cha Francisco Javier Urrutia, tiến sĩ về Giáo luật, dạy môn Thần học luân lý, cùng với cha Lacretelle, cha József Kráhl, một người Hungary, đến Việt Nam năm 1967, dạy môn lịch sử (ngài qua đời ở Cebu, Philippine năm 1999) và những người khác nữa.


http://www.dunglac.net/bai2/GHHV3.jpg
Ban Giáo Sư Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
Năm 1972, J-R. De Diego làm Viện trưởng. Trong suốt nhiệm kỳ của ngài, xuất hiện nhiều giáo sư hơn nữa, điển hình như các cha Felipe Gómez, Gildo Dominici, Roger Champoux, Nil Guillemette. Ngoài những hoạt động khoa bảng, Giáo hoàng Học viện còn đảm trách vai trò như là phân khoa thần học duy nhất ở Việt Nam, và vì thế tiến hành một số công trình nghiên cứu hầu có thể đóng góp cho đất nước một nền thần học sâu rộng hơn, điều mà ngày nay gọi là “hội nhập văn hoá.” Dưới sự hướng dẫn của cha F. Gómez, việc chuyển ngữ các tài liệu của công đồng Vatican II đã hoàn tất và đưa vào xuất bản với phần chú giải. Bên cạnh đó, tạp chí Tuyển Tập Thần Học cũng được hình thành. Tạp chí bao gồm những bài báo đã được chuyển ngữ, phỏng theo hình thức của tạp chí Theology Digest ở Mỹ. Một số sách của cha Drexel cũng được chuyển ngữ, nhưng chất lượng lại không được như ý. Sau thành công của bản dịch công đồng Vatican II, một cuốn sách quan trọng nữa được chọn để chuyển ngữ. Đó là cuốn Từ Vựng Thần Học Thánh Kinh của Xavier Léon-Dufour. Sự xuất hiện của cộng sản đã làm gián đoạn công việc, tuy nhiên, cuốn sách vẫn được hoàn tất và xuất bản thành bốn cuốn nhỏ.

Năm 1975, tất cả mọi mơ ước cho tương lai gặp phải một ngõ cụt. Niên khoá 1974-1975 khai giảng như thường lệ vào ngày 1 tháng 9. Phân khoa dường như được thay máu bởi sự hiện diện của André Lamothe, Pierre Gervais và Paul Lachance từ Canada; Phạm Hữu Lai, người đã tốt nghiệp Đại học Sorbonne ở Paris. Cha De Finance cũng đến vào năm đó. Cha Đỗ Quang Chính dạy môn Lịch sử và cha Aram Berard dạy Anh Văn. Khi đó, số chủng sinh là 252 người. Ngày 19 tháng 03 năm1975, Đà Lạt được đề nghị Giám mục mới, cha Nguyễn Sơn Lâm, người vừa mới được phong chức giám mục tại Sài Gòn ngày 17, cha De Diego cũng tham dự. Ngay ngày 19, khi giám mục và viện trưởng về lại Đà Lạt bằng máy bay do tình cảnh chiến sự, liền tổ chức cuộc họp để quyết định chuyển Giáo Hoàng Học Viện về Sài Gòn để thúc khoá học ở đó, nhưng dự định bất thành.

Ngày 28 tháng 8 năm 1975, tất cả các thừa sai nước ngòai nhận lệnh phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 48 tiếng đồng hồ. 14 Giêsu hữu buộc phải chia tay rời xa các học trò để ra đi.

http://www.dunglac.net/bai2/13072007GHHVDaLat.jpgTheo tài liệu, tổng số chủng sinh đã học tại Giáo hòang Học viện Đà Lạt có ít nhất là 358 người mà trong đó đã có 178 linh mục và 10 giám mục.
Lm. Felipe Gomez, sj

admin
12-04-2008, 06:26 PM
Trang Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, ĐàLạt, Việt Nam (http://ghhv.quetroi.net/)

admin
12-04-2008, 06:28 PM
VÀI NÉT VỀ
GIÁO HOÀNG HỌC VIỆN THÁNH PIÔ X
ĐÀLẠT


http://ghhv.quetroi.net/63TDQUANG/images/GhhvNhinTuMayBay02.jpg
Lm Micae Trần Đình Quảng
1. Lịch sử hình thành


Nhằm giúp cho hàng giáo sĩ tương lai của Việt nam được đào tạo nghiêm túc về trí thức và tu đức (“une sérieuse formation intellectuelle et spirituelle”[1] ), các Giám mục miền Nam Việt nam đã thỉnh cầu Tòa Thánh thiết lập một Giáo hoàng Chủng viện với cấp bậc đại học của một Phân khoa Thần học. Sau khi được Thánh bộ Truyền giáo chấp thuận, trong buổi họp ngày 25.01.1957 các ngài đã xin dòng Tên đảm nhận điều khiển Chủng viện này.
Ngày 13.9.1958, Chủng viện được thành lập tại Đàlạt, với 4 cha dòng Tên, đứng đầu là cha Ferdinand Lacretelle, và 24 chủng sinh đầu tiên đến từ các Giáo phận miền Nam, sinh hoạt trong một khu nhà do Viện Đại học Công giáo Đàlạt cung cấp, gần hồ Vạn Kiếp và trường trung học Trần Hưng Đạo. Đầu tiên, Chủng viện lấy tên là Giáo hoàng Chủng viện Mẫu tâm Vô nhiễm (Seminarium Pontificale Immaculati Cordis B.M.V.), nhưng năm sau (1959), Đức Khâm sứ Tòa Thánh Giuseppe Caprio đổi thành Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X (Collegium Pontificium Sancti Pii X).
Sinh hoạt tạm thời của Học viện tại đây kéo dài cho đến hết niên khóa 1962-1963. Từ niên khóa 1963-1964, Học viện di chuyển tới cơ sở mới, số 13 Đinh Tiên Hoàng, trong một khuôn viên rộng gần 8 mẫu tây, kế cận trường trung học Bùi Thị Xuân và đồi cù, gần Viện Đại học Công giáo, không xa trung tâm thành phố, và trước mặt là hồ Xuân Hương thơ mộng. Cơ sở mới rất bề thế, khang trang, do kiến trúc sư Tô Công Văn vẽ kiểu, đã được Đức Khâm sứ Mario Brini đặt viên đá đầu tiên ngày 01.8.1961 và được Đức ông Francesco De Nittis, Đại diện Tòa Khâm sứ, khánh thành ngày 23.4.1964 [2]
Cả cơ sở lẫn địa điểm và bầu khí đều thuận lợi cho việc tu luyện, học tập và đào tạo.
2. Điều hành và tổ chức sinh hoạt


Trước năm 1967, điều hành Học viện là cha Viện trưởng cùng với các cha giữ những chức vụ khác nhau trong nhà. Từ niên khóa 1967-1968, khi Phân khoa Thần học đã được chính thức thiết lập và đã có đủ các lớp thần học, thì ban điều hành gồm Chưởng ấn (cha Bề trên Tổng quyền dòng Tên), Phó Chưởng ấn (cha Bề trên miền) [3], cha Viện trưởng kiêm Khoa trưởng Phân khoa Thần học, cha Phó Viện trưởng, cha Quản lý, các cha Giám luật, các cha Linh hướng, cha Đặc trách tổng quát về học vụ, cha Trưởng ban Triết học, cha Quản thủ thư viện (Một số những chức vụ trên đây có thay đổi chút ít qua thời gian). Ngoài ra còn có Hội đồng tư vấn về Quản trị, về Phân khoa, và các cha điều hành những công việc chuyên biệt. Số các cha cơ hữu tại Học viện từ 4 (1958) lên tới 11 (1975).

Học viện tiếp nhận chủng sinh từ khắp các Giáo phận miền Nam Việt nam, có thêm một vài chủng sinh từ Lào và Cao miên. Mỗi khóa gồm 20-30 chủng sinh, bình thường 2 chủng sinh cho mỗi Giáo phận. Các chủng sinh được đào tạo trong 8 năm, cộng thêm 1 năm (hoặc 2 năm, tùy Giáo phận trong từng thời kỳ) đi thử (probation) xen kẽ. http://ghhv.quetroi.net/63TDQUANG/images/inset-fade.gif

Hội đồng chủng sinh được thành lập tháng 9.1968, dưới quyền cha Viện trưởng, nhằm “huấn luyện chủng sinh ý thức trách nhiệm và đối thoại trong sự vâng phục. Đây là một hình thức cộng tác của những người thuộc quyền với các bề trên, để giúp các ngài trong nhiệm vụ khó khăn là thấy được ý Thiên Chúa muốn và có thể huấn luyện…chủng sinh cách hữu hiệu hơn”[4]. Hội đồng góp ý và trao đổi trong những vấn đề đặc biệt liên quan tới đời sống chủng sinh.
http://ghhv.quetroi.net/63TDQUANG/images/inset-fade.gif
Để giúp cho tổ chức sinh hoạt của Học viện được tốt hơn, một Hội đồng chủng sinh được thành lập tháng 9.1968, dưới quyền cha Viện trưởng, nhằm “huấn luyện chủng sinh ý thức trách nhiệm và đối thoại trong sự vâng phục. Đây là một hình thức cộng tác của những người thuộc quyền với các bề trên, để giúp các ngài trong nhiệm vụ khó khăn là thấy được ý Thiên Chúa muốn và có thể huấn luyện…chủng sinh cách hữu hiệu hơn”[4]. Hội đồng góp ý và trao đổi trong những vấn đề đặc biệt liên quan tới đời sống chủng sinh.
Sinh hoạt hàng ngày gồm các giờ đạo đức, học tập, công tác và giải trí. Thứ năm và Chúa nhật là những ngày nghỉ. Hàng tuần có chiếu phim. Hàng tháng có một Chúa nhật dành để tĩnh tâm tháng, và một ngày đi chơi (excursio), hoặc chung hoặc theo nhóm. Hàng năm có diễn kịch dịp Tết dương lịch. Trong năm, vào những dịp lễ hay kỷ niệm, thường có tranh tài thể thao giữa các lớp.
Hai ngày lễ đặc biệt là lễ thánh Piô X, Bổn mạng Học viện (03.9 theo lịch phụng vụ cũ) và Tết dương lịch. Ngày lễ thánh Bổn mạng thường cũng là ngày chính thức khai giảng niên học, được tổ chức long trọng, và luôn có bài Thuyết trình khai mạc (Lectio inauguralis) về một đề tài triết học, thần học, v.v.

admin
12-04-2008, 06:30 PM
3. Đào tạo trí thức


Các chủng sinh phải qua một năm dự bị, ba năm triết học và bốn năm thần học.
Trong năm dự bị, chủng sinh học các môn cổ ngữ, sinh ngữ, khoa học, văn chương Việt nam, Lịch sử cứu độ và cách đọc Kinh thánh.
Ba năm triết học dành cho các môn triết học hệ thống (philosophia systematica: Luận lý học, Tâm lý học thuần lý, Hữu thể học, Đạo đức học, Thần lý học, Vũ trụ luận và Triết học về sự sống), Lịch sử Triết học Đông phương và Tây phương, các môn phụ (Disciplinae auxiliares), các môn chuyên biệt (Disciplinae speciales), các môn tự do (Disciplinae liberae).


Bốn năm thần học dành cho các môn chính (Disciplinae principales: Thần học cơ bản, Thần học tín lý, Kinh thánh, Thần học luân lý, Giáo luật, Phụng vụ, Giáo sử), các môn chuyên biệt và các cours đặc biệt (Cursus peculiares).

Để giúp vào việc đào tạo trí thức trên đây, không kể các cha tại chỗ còn có các cha dòng Tên, thuộc nhiều quốc tịch, đến từ các nơi khác nhau trên thế giới. Học viện cũng mời các giáo sư ngoài dòng (thuộc dòng khác, linh mục triều, giáo dân, giáo sư đại học thuần túy) đảm trách một số môn chuyên biệt, tổ chức các buổi thuyết trình về các đề tài thần học, triết học, Kinh thánh, mục vụ, tôn giáo, văn hóa…

Từ năm 1962 đến năm 1969, mỗi năm đều có tổ chức buổi Disputatio sollemnis.
Bắt đầu niên khóa 1970-1971, Quy chế mới của Phân khoa Thần học được áp dụng đồng bộ, gồm 3 giai đoạn: 1/ Giai đoạn nền tảng gồm 1 năm Dự bị, 2 năm Triết học và 3 năm Thần học; 2/ Giai đoạn Cử nhân kéo dài 2 năm; 3/ Giai đoạn Tiến sĩ kéo dài ít nhất 2 năm.[5]
Cũng từ 15.11.1971, khi lớp Dự bị bắt đầu theo học tại Viện Đại học Đàlạt để lấy văn bằng Cử nhân Triết học, thì vẫn học tại Học viện các môn như có trong các lớp Dự bị trước đây, cộng thêm một vài môn triết học. Hai năm kế tiếp năm Dự bị, theo sự thỏa thuận với Viện Đại học, một số môn Triết cũng được dạy tại Học Viện.
Để giúp vào việc đào tạo trí thức trên đây, không kể các cha tại chỗ còn có các cha dòng Tên, thuộc nhiều quốc tịch, đến từ các nơi khác nhau trên thế giới. Học viện cũng mời các giáo sư ngoài dòng (thuộc dòng khác, linh mục triều, giáo dân, giáo sư đại học thuần túy) đảm trách một số môn chuyên biệt, tổ chức các buổi thuyết trình về các đề tài thần học, triết học, Kinh thánh, mục vụ, tôn giáo, văn hóa…
Học viện còn lập một thư viện với khoảng 50.000 đầu sách, (đa phần thuộc triết học, thần học hoặc Kinh thánh) và nhiều tạp chí đạo đời, thực hiện tập san Tuyển tập Thần học, dịch thuật và xuất bản các Văn kiện của Công đồng Vaticanô II, bộ Điển ngữ Thần học Thánh Kinh và một số sách khác.
Khi Phân khoa Thần học được thiết lập (07.3.1966, chiếu theo Sắc lệnh của Tòa thánh, 31.7.1965), Học viện tiếp nhận thêm nhiều tu sĩ ngoại trú thuộc các dòng như: Phanxicô, Salésien, Chúa Cứu thế, Vinh sơn, La san, Biển dức, dòng Tên…Ngoài ra, Học Viện còn mở lớp Học thuật Tôn giáo (16.11.1970) nhằm nâng cao trình độ giáo lý của một số tu sĩ và giáo dân.
4. Huấn luyện tu đức


Cùng với việc đào tạo trí thức và học vấn, việc huấn luyện tu đức rất được chú trọng, theo truyền thống tu đức của các chủng viện, và sau này dựa vào những chỉ thị của Công đồng Vaticanô II, nhất là Sắc lệnh về Đào tạo linh mục, và những chỉ thị khác của Tòa Thánh. Các chủng sinh được huấn luyện để có một đời sống thân mật với Chúa Ba ngôi, Chúa Kitô và Đức Mẹ, có tinh thần Giáo hội, ý thức về sự độc thân linh mục, trưởng thành về nhân cách…


Phụ trách trực tiếp việc huấn luyện tu đức là cha Viện trưởng cùng với các cha Linh hướng. Để giúp cho việc theo dõi hướng dẫn ơn gọi của chủng sinh được liên tục và thuận lợi, Học viện đặt hai cha Linh hướng, một cho cấp Triết học (kể cả năm Dự bị) và một cho cấp Thần học. Bình thường mỗi tháng đều có cuộc gặp gỡ riêng giữa cha Linh hướng và người thụ hướng. [RIGHT]


Từ niên khóa 1967-1968, Học viện bắt đầu tổ chức “Tháng Tu đức” dành cho các chủng sinh năm I (năm II) Triết học, dựa theo phương pháp Linh thao của Thánh Inhaxiô Loyola, phù hợp với chỉ thị của Công đồng Vaticanô II là cần “ấn định một thời gian thích hợp cho việc huấn luyện tu đức sâu rộng hơn”, “để giúp cho việc huấn luyện tu đức có căn bản vững chắc hơn và để các chủng sinh quyết chí theo đuổi ơn gọi với sự chấp nhận đã cân nhắc chín chắn” (Sắc lệnh về Đào tạo linh mục, số 12)

Ngoài những việc đạo đức cơ bản hàng ngày, mỗi tuần đều có giờ huấn đức, hướng dẫn suy niệm và trong mấy năm cuối còn có chia sẻ Lời Chúa cũng như kiểm điểm đời sống theo nhóm. Mỗi tháng có một Giờ thánh và trọn một ngày để tĩnh tâm. Đầu mỗi niên học có tĩnh tâm năm kéo dài 4 ngày.
Từ niên khóa 1967-1968, Học viện bắt đầu tổ chức “Tháng Tu đức” dành cho các chủng sinh năm I (năm II) Triết học, dựa theo phương pháp Linh thao của Thánh Inhaxiô Loyola, phù hợp với chỉ thị của Công đồng Vaticanô II là cần “ấn định một thời gian thích hợp cho việc huấn luyện tu đức sâu rộng hơn”, “để giúp cho việc huấn luyện tu đức có căn bản vững chắc hơn và để các chủng sinh quyết chí theo đuổi ơn gọi với sự chấp nhận đã cân nhắc chín chắn” (Sắc lệnh về Đào tạo linh mục, số 12)
5. Hoạt động tông đồ


Trong số những sinh hoạt phụ (activités para-scolaires) của Học viện (hoạt động tông đồ, phim ảnh, sân khấu, thể thao, liên lạc với chủng sinh đi thử và với cựu chủng sinh…) thì hoạt động tông đồ được quan tâm và khuyến khích nhất, vì rất cần thiết cho việc đào tạo toàn vẹn những linh mục tương lai.


Các chủng sinh thực tập hoạt động tông đồ trong ba ngành chính: 1/ thăm viếng mục vụ (strada) trong các môi trường gia đình, khu phố, nhà thương, nhà tù; 2/ dạy giáo lý tại các trường công giáo; 3/ phụ trách hay trợ úy các hội đoàn (Thanh sinh công, Hùng tâm Dũng chí). Trong quá trình học tại Học viện, mỗi chủng sinh phải tham gia ít nhất hai năm vào một trong những hoạt động tông đồ trên đây, được thực hiện vào các ngày nghỉ trong tuần. Trong mấy năm cuối, hoạt động tông đồ còn nới rộng tới tầng lớp thanh niên, nhất là sinh viên đại học. [RIGHT]

Các chủng sinh thực tập hoạt động tông đồ trong ba ngành chính: 1/ thăm viếng mục vụ (strada) trong các môi trường gia đình, khu phố, nhà thương, nhà tù; 2/ dạy giáo lý tại các trường công giáo; 3/ phụ trách hay trợ úy các hội đoàn (Thanh sinh công, Hùng tâm Dũng chí).

Hàng năm có tổ chức ngày Đại hội Giáo lý tại Học viện quy tụ đông đảo các học sinh nhỏ tuổi được các thày dạy giáo lý tại các trường Trung Tiểu học trong thành phố Đàlạt.
Hỗ trợ cho việc tông đồ là ngành báo chí. Tập san “Thông cảm” phát hành mỗi tháng, được các chủng sinh làm công tác tông đồ phát không cho các độc giả. Sau này, do nhu cầu của tầng lớp thanh thiếu niên, “Thông cảm” được thay thế bằng hai loại báo khổ nhỏ là “Lửa hồng” và “Thông xanh”.

admin
12-04-2008, 06:31 PM
6. Hoạt động giao lưu

Để tạo mối dây liên lạc thường xuyên và gắn bó giữa Học viện và các cha cựu chủng sinh, hội Ái hữu Piô X được thành lập ngày 07.3.1967. Hội có ban Điều hành và Nội quy riêng. Phương tiện liên lạc là tờ “Liên lạc Piô X” và các Đại hội tổ chức mỗi năm tại Học viện.

Hội Ái hữu Piô X được thành lập ngày 07.3.1967. Hội có ban Điều hành và Nội quy riêng. Phương tiện liên lạc là tờ “Liên lạc Piô X” và các Đại hội tổ chức mỗi năm tại Học viện.

Ngoài giao lưu có tính chất nội bộ trên đây, Học viện còn giao lưu với các học viện, chủng viện và dòng tu nam tại thành phố Đàlạt (salésien, Sư huynh La san, Tiểu chủng viện Simon Hòa..), với các sinh viên Đại học Đàlạt, trường Võ bị Quốc gia, trường Chiến tranh Chính trị, chủ yếu qua các hoạt động thể thao (bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn…).

7. Một vài con số

Thành phần giảng huấn: Trong những năm 1958-1975, có hơn 50 cha dòng Tên dạy tại Học viện. Học viện trải qua 5 đời Viện trưởng: cha Fernandus Lacretelle (1958-1960), cha Franciscus Burkhardt (1960-1962), [6] cha Paulus W.O’Brien (1962-1965), cha Josephus Raviolo (1965-1972), cha Josephus Ramon de Diego (1972-1975). Các cha cơ hữu hoặc thường xuyên có mặt gồm: Paulus Deslierres, Aloisius Bobbio, Albertus Palacios, Josephus A. Ruiz, Franciscus Bolumburu, Josephus Ch’en, Matthias Ch’en, Josephus Krahl, Henricus San Pedro, Antonius Drexel, Joannes Motte, Hervaeus Coathalem, Franciscus Xavier Urrutia, Aloisius Leahy, Gildo Dominici, Philippus Gomez, Nilus Guillemette, Paulus Lachance…
http://ghhv.quetroi.net/63TDQUANG/images/inset-fade.gif


Với 18 khóa, trước sau có khoảng 370 chủng sinh đã thụ huấn tại Học viện. Số linh mục khoảng 200, trong đó, tính đến hiện nay (2007), có 10 vị được tấn phong Giám mục.

Sau tháng 8.1975, khi các cha ngoại quốc phải rời khỏi Học viện và Việt nam, Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm đã mời một số cha triều và dòng (cha Stanislaô Hoàng Đắc Ánh OP, cha Anrê Đỗ Xuân Quế OP, cha Phi Khanh Vương Đình Khởi OFM, cha Giuse Nguyễn Quang Thạnh…) điều khiển Học viện và dạy chủng sinh, cho dến khi Học viện giải tán năm 1977.
Thành phần chủng sinh: Với 18 khóa, trước sau có khoảng 370 chủng sinh đã thụ huấn tại Học viện. Số linh mục khoảng 200 (?), trong đó, tính đến hiện nay (2007), có 10 vị được tấn phong Giám mục, theo thứ tự: Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (Đàlạt, 1991), Giuse Nguyễn Tích Đức (Ban mê thuột, 1997), Phêrô Nguyễn Văn Nho (Nha trang, 1997; qua đời 2003), Phêrô Nguyễn Soạn (Quy nhơn, 1999), Tôma Nguyễn Văn Tân (Vĩnh long, 2000), Stêphanô Tri Bửu Thiên (Cần thơ, 2003), Micae Hoàng Đức Oanh (Kontum, 2003), Antôn Vũ Huy Chương (Hưng hóa, 2003), Giuse Nguyễn Chí Linh (Thanh hóa, 2004), Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng (Huế, 2005).

Lm Micae Trần Đình Quảng


Niên biểu và sự kiện chính


25.01.1957 Các Giám mục Nam Việt nam xin dòng Tên điều khiển Chủng viện Giáo hoàng được Tòa thánh chấp thuận cho thiết lập.
13.9.1958 Khai giảng khóa đầu tiên với 4 cha và 24 chủng sinh.
01. 8.1961 Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Học viện, do Đức cha Mario Brini, Khâm sứ Tòa thánh tại Việt nam, chủ sự với sự hiện diện của nhiều Giám mục Nam Việt nam.
22.7.1963 Bắt đầu sinh hoạt tại cơ sở mới.
23.4.1964 Khánh thành Học viện do Đức ông Francesco De Nittis, Đại diện Tòa Khâm sứ.
31.7.1965 Sắc lệnh Tòa thánh thiết lập Phân khoa Thần học tại Học viện.
07.3.1966 Khai giảng Phân khoa Thần học.
8.1966 Học viện nhận học viên tu sĩ ngoại trú thuộc các dòng.
21.12.1966 Lớp linh mục đầu tiên của Học viện.
07.3.1967 Thành lập Hội Ái hữu Piô X.
21.3.1970 Cha J. Motte qua đời tại Học viện
15.11.1971 Lớp Dự bị theo học các môn Triết tại Đại học Đàlạt
16.11.1970 Khai giảng lớp Học thuật Tôn giáo.
8.1972 Mở lớp dọn Tiến sĩ Thần học.
1973 Cha A. Drexel qua đời tại Học viện.
***
02.6.1975 Tái tục các lớp Triết học và Thần học.
30.8.1975 11 linh mục và 2 tu sĩ dòng Tên ngoại quốc rời Học viện. Quyền quản trị Học viện được trao lại cho Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, Giám mục Giáo phận Đàlạt.
09.8.1977 Học viện giải tán.
1980 Nhà Nước mượn cơ sở để sử dụng cho công tác khoa học và giáo dục.

Ghi Chú
[1] Thư của hàng Giám mục miền Nam Việt nam gửi cha Bề trên Cả dòng Tên, 25.01.1957
[2] Statuta Facultatis Theologiae (tr.1), Kalendarium 1974-1975 (tr.4) và Kỷ Yếu mừng 50 năm dòng Tên trở lại phục vụ tại Việt nam (tr.104) đều ghi ngày khánh thành là 22.4. Nhưng theo Chroniques của Học viện, ngày 22 là ngày Đức Ông De Nittis đến Đàlạt, và ngày hôm sau, 23.4, mới khánh thành (8g15: làm phép nhà nguyện; 8g45: Thánh lễ đại trào…).
[3] Niên khóa 1974-1975, khi Học viện chính thức sát nhập vào Viện Đại học Đàlạt, việc quản trị được sắp xếp như sau: Chưởng ấn là Chưởng ấn Viện Đại học Đàlạt (ĐGM Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang), Viện trưởng Viện Đại học Đàlạt (cha Phanxicô Xaviê Lê Văn Lý), Đại diện dòng Tên (cha Sextus Quercetti, Bề trên miền), Viện trưởng Giáo hoàng Học viện kiêm Khoa trưởng Phân khoa Thần học (cha Joseph Ramon de Diego)…
[4] Lời cha Viện trưởng, Thông Tin Ái Hữu Piô X, số 19, tháng 8.1969
[5] Để được lãnh văn bằng Cử nhân thần học, học viên phải : dự lớp và các hình thức học hỏi khác, và phải đủ điểm trong kỳ thi các môn chính; đủ điểm trong kỳ thi Thần học tổng quát gồm những môn quan trọng (praecipua capita: Kinh Thánh, Thần học cơ bản và tín lý, Luân lý suy luận) của tất cả thần học, kéo dài 1 giờ do 4 giáo sư khảo hạch; đến năm thứ tư thần học, phải ghi tên theo một ngành đặc biệt (sectio specialis); chọn đề tài liên hệ đến ngành đặc biệt này, được giáo sư hướng dẫn khảo cứu theo phương pháp khoa học, trình bày tiểu luận đã viết và được chấp thuận.
Muốn được cấp văn bằng Tiến sĩ thần học, học viên phải : đã ghi tên theo khóa trình thứ ba (3e cycle) được 2 năm; đã có bằng Cử nhân thần học; đã hoàn thành một số chuyên khảo do Phân khoa ấn định và đã được chấp thuận; đã hoàn thành luận án theo những quy tắc đã định, và nếu được chấp thuận, luận án còn phải được học viên bênh vực cách thỏa đáng, và phải xuất bản luận án, toàn phần hay một phần (x. Statuta Facultatis Theologiae, art. 43-46)
[6] Khi cha F. Burkhardt được đặt làm Giám tỉnh thì cha Karl Steinmetz làm Viên trưởng tạm thời trong mấy tháng, trước khi cha P. O’Brien được bổ nhiệm.

Lm Micae Trần Đình Quảng

http://ghhv.quetroi.net/63TDQUANG/63TDQUANGVaiNetVeGHHV.htm