View Full Version : Thánh Giuse - Người Công Chính
Thánh Giuse - Người Công Chính
Thắc mắc: Trong bài đọc Tin mừng, có một đoạn như thế này (con không nhớ rõ nguyên văn đâu nhé): Khi Thánh Giuse biết Đức Mẹ có mang, vì Ngài là người công chính nên không đành tâm tố cáo mà tính âm thầm từ bỏ Đức Mẹ. Cái đoạn này con thấy là không ổn lắm, vì biết là Đức Mẹ mang thai mà từ bỏ Đức Mẹ thì như vậy mà được gọi là người công chính sao? Theo con nghĩ, nếu là người công chính "thời nay" thì phải cưới ngay Đức Mẹ và mang Đức Mẹ đi một nơi nào đó mà không có ai biết để sinh sống chứ!!!!!! Việc từ bỏ Đức Mẹ cũng làm cho Đức Mẹ buồn đúng không? Con không hiểu được cái bố cục của thời đó bên Israel???
- Hải Yến
Cháu Hải Yến và các Bạn
Tin mừng theo thánh Matthêu ghi rằng “Giuse là người công chính” (Mt 1,18-19). Mathêu dùng chữ “sādîq” thuộc gốc “S-D-Q” mang nghĩa gốc là “right” hay “just.”
Trước khi tìm hiểu thêm về quan niệm “công chính” áp dụng vào trường hợp Thánh Giuse, chúng ta còn phải xét đến chi tiết này.
Theo đa số các nhà chú giải, Tin mừng Matthêu được viết vào khoảng năm 85 – 90 sau Chúa Giáng Sinh. Và bản văn hiện tại là bản Hy lạp. Như thế chúng ta còn gặp thêm một khó khăn nữa. Đó là không biết tác giả Tin Mừng Matthêu này dùng chữ “công chính” theo nghĩa Cựu ước thường dùng mà người Do thái thường hiểu thời Chúa Giêsu, hay dùng nó theo nghĩa Tân Ước hậu Kytô, vào cuối thế kỷ thứ nhất, khi mà Giáo hội đã lớn mạnh .
Theo khung cảnh Cựu Ước thì tính từ “sādîq” bao hàm một nghĩa rất rộng, bao gồm cả nghĩa vật lý và luân lý. Nó có nghĩa: “đúng , thật , chính đáng, ngay thẳng, tuân thủ luật ...”
Cân đo đong đếm mà “sādîq”, có nghĩa là “đúng”, “thật”, “không gian lận”, “không thiếu hụt”.
Đnl 25,15: “ 13 Anh (em) không được có trong bao bị của anh (em) hai quả cân khác nhau, một nặng một nhẹ;14 anh (em) không được có trong nhà của anh (em) hai thùng khác nhau, một lớn một nhỏ.15 Anh (em) phải có một quả cân nguyên vẹn và chính xác, một thùng nguyên vẹn và chính xác, để anh (em) được sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em).16 Thật vậy, hễ ai làm những điều ấy, hễ ai làm điều bất công”
Lev 19,36 “36 Các ngươi phải có cán cân đúng, quả cân đúng, đúng thùng, đúng lít. Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi, Đấng đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập.”
Giop 31,6: “6 thì Thiên Chúa cứ cân tôi trên bàn cân chính xác Người sẽ nhận thấy tôi toàn vẹn.”
Ez 45,10: “ 10 Các ngươi phải dùng cán cân đúng, ê-pha đúng, bát đúng: bát bằng một phần mười kho-me và ê-pha bằng một phần mười kho-me. Cứ theo kho-me mà quy định việc đo lường.”
Đường sá mà “sādîq” có nghĩa là “ngay thẳng” , “dễ đi”. Ví dụ: Tv 23:3: “3 và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.”
Dâng lễ vật đúng lúc, đúng mức, theo “đúng luật định” cũng gọi là “sādîq”:
Xem Đnl 33,19 “19 Họ gọi các dân lên núi, ở đó họ dâng những lễ tế luật truyền; họ hút về tài nguyên của biển và các kho tàng ẩn giấu dưới cát.”
Tv 4,6: “ 6 Hãy tiến dâng lễ tế như luật truyền, và tin tưởng vào CHÚA.”
TV 51,21 “ 21 Bấy giờ Ngài vui nhận tế phẩm luật truyền, lễ vật toàn thiêu, lễ vật hiến tế. Bấy giờ thiên hạ giết bò tơ dâng trên bàn thờ Chúa.”
Vua hay quan án mà “sādîq” thì có nghĩa là “ngay thẳng” và “công bình” hay “đối xử tốt” , “phán xử đúng”.
xem Is 32,1 “1 Này đây, một vua sẽ trị vì theo lẽ công minh, các thủ lãnh sẽ cầm quyền theo đường chính trực.”
Jer 23,5 “ 5 Này, sẽ tới những ngày - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - Ta sẽ làm nẩy sinh cho nhà Đa-vít một chồi non chính trực. Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan tài giỏi trong xứ sở, vua sẽ thi hành điều chính trực công minh.”
xem thêm Lev 19,15 “15 Các ngươi không được làm điều bất công khi xét xử: không được thiên vị người yếu thế, cũng không được nể mặt người quyền quý, nhưng hãy xét xử công minh cho người đồng bào.”
Đnl 1,16 “16 Thời ấy, tôi đã truyền cho các thẩm phán của anh em rằng: "Các ông hãy nghe những điều anh em đồng bào các ông kiện tụng, và hãy xử công minh giữa một người đồng bào với một người đồng bào, hoặc với một ngoại kiều ở với người ấy.”
Châm Ngôn 31,9 “9 Hãy mở miệng xét xử thật công minh, biện hộ cho những kẻ nghèo nàn khốn khổ”
Lời nói ra mà “sādîq” lại có nghĩa là “nói thật”, “đáng tin”, nói “điều đúng”.
Để tự biện minh, hay chứng minh trước toà án là mình “đúng”, mình “ngay”, mình “thật” thì cũng gọi là “sādîq”.
xem Gióp 9,15,20: “15 Cho dù tôi có lý, tôi cũng không tranh cãi, nhưng sẽ xin Đấng xét xử tôi thương xót.... 20 Cho dù tôi có lý, miệng tôi cũng kết án tôi; cho dù tôi có vẹn toàn, nó vẫn chứng minh là tôi bất chính.”
Gióp 11,2 “2 Kẻ nhiều lời, phải chăng không ai đối đáp nổi? Khéo ăn khéo nói là chính trực hay sao?”
Gióp 13,18: “18 Này đây tôi sắp sửa trình bày vụ việc, tôi biết rõ rằng tôi công chính”.
Is 43,9: “9 Chư dân hãy cùng nhau tập họp, liệt quốc nào tề tựu bên nhau! Ai trong chúng đã cho hay những điều đó, đã cho chúng ta nghe những chuyện ngày xưa? Cứ đưa ra nhân chứng và bào chữa cho mình, để mọi người được nghe và nói rằng: Đúng thế !”
TV 143,2: “2 xin chớ đòi tôi tớ ra xét xử, vì trước thánh nhan Ngài chẳng có người nào là công chính.”
Người thường mà “sādîq” nghĩa là người đó “đối xử tốt với hàng xóm”, “không ức hiếp ai”.
Xem Amos 5,6-7: “7 Khốn cho những ai biến lẽ phải thành ngải đắng và vứt bỏ công lý xuống đất đen.”
Xem thêm các câu 21-24: “21 Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường; hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú. 22 Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu. .. những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận, chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài. 23 Hãy dẹp bỏ tiếng hát om sòm của ngươi Ta không muốn nghe tiếng đàn của ngươi nữa. 24 Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn.”
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Nói chung cho mọi người, người “sādîq - công chính” là người
“làm/sống theo ý Yahweh”, nhất là “sống theo đúng Lề Luật”:
Đnl 6,25: “25 Chúng ta sẽ là người công chính, nếu chúng ta lo đem ra thực hành tất cả mệnh lệnh này trước nhan ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, như Người đã truyền cho chúng ta.";
hay đáp trả theo ý Chúa, sống như ý Chúa muốn:
Ez 18,5-9: “5 Người nào ăn ở công chính, thi hành điều công minh chính trực,6 không dự tiệc trên núi, không ngước mắt nhìn các ngẫu tượng của nhà Ít-ra-en, không làm cho vợ người đồng loại ra ô uế, không gần gũi phụ nữ đang thời kỳ ô uế,7 không bóc lột ai, trả của cầm cho người cầm của, không cướp của ai, cho kẻ đói bánh ăn, lấy áo che thân kẻ mình trần,8 không cho vay ăn lời, không lấy lãi quá nặng, không nhúng tay vào chuyện bất công, xét xử công minh giữa người với người,9 sống theo những quy tắc của Ta và tuân giữ các quyết định của Ta mà thể hiện lòng trung tín của mình, người ấy mới là người công chính. Chắc chắn nó sẽ được sống - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng.”
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Thánh Giuse - Người Công Chính (2)
Kế đến chúng ta phải ôn lại một chút về lề luật trong Cựu Uớc liên quan đến vụ việc này, để biết được bổn phận và quyền lợi của Giuse, khi phác giác ra Maria mang thai.
Theo luật Do thái lúc ấy, dù mới chỉ trong giai đoạn đính hôn với Maria, Giuse vẫn là chồng theo luật định của Maria. Tuy hai người chưa sống chung dưới cùng một mái nhà – giai đoạn đính hôn thường kéo dài một năm, hay ít hơn - những đứa con CỦA HAI người sinh ra trong thời gian đó, là con chính thức. Và hai người đã có quyền ly dị, nếu có một trong hay bất trung hay ngoại tình hay có con riêng.
Một trong Mười điều Luật của Thiên Chúa là:
Xh 20,14 và Đnl 5,18 “Ngươi không được ngoại tình.”
Hình phạt của ngoại tình là Lev 20,10 : “10 Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử.”
Sau đây là khoản luật mà Giuse có thể áp dụng trong trường hợp của mình. Là người “công chính”, nghĩa là theo định nghĩa của Đnl 6,25 “25 Chúng ta sẽ là người công chính, nếu chúng ta lo đem ra thực hành tất cả mệnh lệnh này trước nhan ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, như Người đã truyền cho chúng ta." Giuse phải sống theo đúng Lề Luật, không những Giuse có quyền mà còn có bổn phận phải thi hành theo đúng Lề Luật:
Đnl 22,23-24: “23 Khi một cô gái còn trinh đã đính hôn với một người đàn ông, mà một người đàn ông khác gặp cô trong thành và nằm với cô,24 thì anh (em) sẽ lôi cả hai ra cửa thành ấy và ném đá, và chúng sẽ phải chết: cô gái, vì lý do ở trong thành mà đã không kêu cứu, và người đàn ông, vì lý do đã cưỡng bức vợ người đồng loại. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh (em)."
Tiến trình xử án -bêu xấu - sẽ như sau:
Dân số 5,11-31:
11 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê:12 "Ngươi hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Nếu ai bị vợ mất nết phản bội,13 nghĩa là có người nằm với người đàn bà ấy mà người chồng không biết; và người vợ đã bí mật thất tiết mà không có ai làm chứng cáo tội, không bắt được quả tang;14 hoặc người chồng nổi máu ghen và ghen tức vợ đã thực sự thất tiết, hoặc nổi máu ghen và ghen tức vợ mà thật ra vợ đã không thất tiết,15 thì bấy giờ người chồng phải dẫn vợ đến gặp tư tế, mà tiến dâng bốn lít rưỡi bột lúa mạch vì chuyện vợ mình; nhưng không rưới dầu lên trên và cũng không đổ hương vào, bởi đó là lễ phẩm dâng vì ghen tuông, lễ phẩm để tố cáo tội lỗi.
16 Tư tế sẽ đưa người đàn bà đến đứng trước nhan ĐỨC CHÚA,17 và lấy một bình sành đựng nước thánh, rồi lấy chút bụi trên nền Nhà Tạm bỏ vào nước.18 Sau đó, tư tế đặt người đàn bà đứng trước nhan ĐỨC CHÚA và lột khăn trùm đầu nó ra, rồi đặt lên hai bàn tay nó lễ phẩm tố cáo, nghĩa là lễ phẩm vì ghen tuông; đồng thời tay tư tế cầm bình nước chỉ sự đắng cay và nguyền rủa.19 Bấy giờ tư tế sẽ buộc người đàn bà thề và nói với nó rằng: "Nếu đã không có người đàn ông nào nằm với chị và nếu chị đã không mất nết mà thất tiết khi chị đang có chồng, thì nước đắng cay và nguyền rủa này sẽ vô hại cho chị.20 Còn nếu chị có chồng mà mất nết và đã thất tiết với chồng, vì một người đàn ông khác, không phải là chồng chị, đã cho chị nằm với nó -21 tư tế buộc người đàn bà thề độc và nói với nó - Xin ĐỨC CHÚA làm cho dạ chị héo đi, bụng chị sình lên, khiến giữa đồng bào chị, chị thành đề tài cho người ta nguyền rủa và chúc dữ cho nhau.22 Xin cho nước đắng cay này ngấm vào nội tạng chị, khiến bụng chị sình lên và dạ chị héo đi. Người đàn bà ấy sẽ thưa: "A-men. A-men.
23 Tư tế viết những lời nguyền rủa ấy vào giấy và cho nhoà đi trong nước đắng cay,24 rồi bắt người đàn bà phải uống nước đắng cay và nguyền rủa đó; nước nguyền rủa sẽ ngấm vào người ấy để gây ra cay đắng.25 Tư tế sẽ nhận lấy từ tay người đàn bà lễ phẩm vì ghen tuông, làm nghi thức trước nhan ĐỨC CHÚA và đặt trên bàn thờ.26 Tư tế sẽ bốc một nắm từ lễ phẩm đó, làm phần truy tưởng, mà đốt trên bàn thờ.
27 Tư tế cho nó uống nước rồi, nếu thật nó đã thất tiết và phản bội chồng, thì nước nguyền rủa sẽ ngấm vào nó để gây ra cay đắng, và tạng phủ nó sẽ sình lên, dạ nó héo đi. Giữa đồng bào, người đàn bà đó sẽ thành đề tài nguyền rủa.28 Nếu người đàn bà đó đã không thất tiết, nhưng vẫn trong sạch, thì sẽ không bị hại và sẽ sinh con.
29 Đó là luật về chuyện ghen tuông, khi một người đàn bà có chồng mà mất nết và đã thất tiết với chồng,30 hoặc khi người đàn ông nổi máu ghen và ghen tức vợ mình: thì người chồng phải đặt vợ trước nhan ĐỨC CHÚA, và tư tế phải áp dụng đầy đủ luật này.31 Người chồng sẽ vô can, còn người đàn bà sẽ mang lấy tội mình."
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Thánh Giuse - Người Công chính (3)
Trước khi bàn tiếp đến cách hành xử của Giuse, thì chúng ta thử lẩn thẩn tự hỏi, nếu chúng ta lâm vào trường hợp của Giuse thì thái độ của chúng ta sẽ ra sao?
Dĩ nhiên chúng ta phải tưởng tượng mình đang ở tại xứ sở Do thái 2000 năm trước.
Bây giờ, chúng ta nhận định về thái độ của Giuse sau khi biến cố đã xảy ra, nghĩa là chúng ta đã biết duyên do của việc Maria mang thai, nên sẽ không được công bình khi suy xét thái độ của Giuse, nếu chúng ta không đặt mình vào hoàn cảnh và thời điểm của Giuse và Maria lúc bấy giờ.
Hai anh chị nhà quê, trong một thôn xóm nhỏ. Quá lắm xóm Nagiareth chỉ chừng vài trăm người, vài chục gia đình. Nghĩa là ai cũng biết ai.
Không hề có chuyện các cô gái Do thái muốn “sống giữ mình đồng trinh”! Lúc bấy giờ vào thế kỷ thứ nhất, quan điểm sống này hoàn toàn xa lạ và chưa hề có trong xã hội Do thái. Chúng ta đừng quên mặc cảm bi đát của những bà như Sarah, bà Annah, bà Elisabeth khi đã già mà không có con.
Cũng không nên quá nhấn mạnh đến thái độ các cô gái Do thái đạo đức muốn trở thành Mẹ Đấng Cứu Thế. Niềm mong đợi Đấng Thiên Sai, lúc bấy giờ, không quá rõ ràng và mạnh mẽ như chúng ta đã học biết ngày nay. Không hề có ai biết là Thiên Chúa sẽ nhập thể mà sinh ra làm người, để các cô gái Do thái ao ước làm mẹ.
Đấng Thiên Sai chưa mang dạng hình rõ rệt. Họ mơ hồ đoán, mà thật ra ao ước nhiều hơn là đoán, rằng Đấng Thiên sai chỉ là người giải phóng đất nước Do thái khỏi sự đô hộ của La Mã và tái lập vương quốc Israel.
Nói thế để chúng ta nên lưu ý rằng, hai anh chị Giuse và Maria, lúc bấy giờ chỉ là hai người rất bình thường, đạo đức, nghĩa là “sādîq - công chính” hay “làm/sống theo ý Yahweh”, và chăm chỉ “sống theo đúng Lề Luật” như và còn hơn nhiều người khác đương thời.
Và tình yêu giữa hai người, dĩ nhiên là thắm thiết, nhưng cũng bình thường như mọi mối tình khác, nghĩa là cũng có hẹn hò, hờn ghen vu vơ ...
Đất bằng nổi sóng
Phẫn nộ, và ngỡ ngàng biết bao nhiêu khi biết tin sét đánh: Maria có thai, mà Giuse biết chắc chắn không phải của mình.
Nếu tình yêu của Giuse chân thành - mà chắc chắn là chân thành rồi - thì phản ứng bình thường của mọi chàng trai lúc bấy giờ là... còn tuỳ.
1-Nếu Maria KHÔNG gương mẫu đạo đức, hay đã có (những) mối tình nào trước đó thì hầu chắc ta là Giuse ta sẽ phẫn nộ mà tin rằng Maria đã thất thân với người khác rồi.
2-Nhưng vì Maria không phải là người tầm thường, mà có sự cố như thế xảy ra, thì hẳn phải có sự tình gì!
3-Nếu Giuse tới gặp thẳng Maria – Giuse có quyền, và đáng được câu trả lời thoả đáng - rồi Giuse hỏi ba mặt một lời, cho ra lẽ, thì hẳn Maria phải trả lời ... sự thật.
4-Nếu vì một cớ gì đó, không gặp mặt Maria, không hỏi được, không kịp hỏi – Sau khi được truyền tin, Maria đã vội vã đi thăm và ở lại giúp chị họ Elisabeth độ ba tháng – Nghĩa là chưa kịp có câu trả lời, mà Giuse lại không tin rằng Maria bất ngờ có hạnh kiểm xấu như thế. Cho nên Giuse mới có những toan tính trong đầu!
5-Giuse có thể quá “sādîq - công chính”, nghĩa là quá nệ luật, không cần biết cái thai ấy do tác giả nào: “Chúng tôi có luật và cứ theo luật đó thì nó phải chết!” (Dân số 5,11-31)
Tất cả những điều trên đều là giả thiết.
Nhưng ít ra, cho tới lúc này, chúng ta phải hiểu Giuse công chính, theo nghĩa Do thái, là luôn sống đúng theo Lề Luật, trước khi giải quyết vấn đề.
Nghĩa là đúng như lý luận của Hải Yến “biết là Đức Mẹ mang thai mà từ bỏ Đức Mẹ thì như vậy mà được gọi là người công chính sao?”: vì, khổ nỗi, đó là quan niệm “sādî - công chính” lúc bấy giờ.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Thánh Giuse - Người Công chính (4)
Như thế Giuse rơi vào tình trạng mà chơi bài Domino gọi là “triệt buộc”!
Trước khi đi tiếp chúng ta nên ghi lại đây câu Tin Mừng gây cho chúng ta nhiều ý kiến về thái độ của Giuse:
Matthêu 1,18-19
“8 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.”
"When his mother Mary had been betrothed to Joseph, before they came together she was found to be with child of the Holy Spirit; and her husband Joseph, being a just man and unwilling to put her to shame, resolved to divorce her quietly.”
Bản RSV
[18] TOU DE CHRISTOU hê genesis houtôs ên. Mnêsteutheisês tês mêtros autou Marias tôi Iôsêph, prin ê sunelthein autous heurethê en gastri echousa ek pneumatos hagiou. [19] Iôsêph de ho anêr autês, dikaios ôn kai mê thelôn autên deigmatisai, eboulêthê lathrai apolusai autên”. Bản Hy Lạp
[18] Christi autem generatio sic erat cum esset desponsata mater eius Maria Ioseph antequam convenirent inventa est in utero habens de Spiritu Sancto [19] Ioseph autem vir eius cum esset iustus et nollet eam traducere voluit occulte dimittere eam” Bản Latinh
Chúng ta cần để ý đến từ “[I]deigmatisai” trong nguyên bản Hy lạp. Bản CGKPV dịch thành “tố giác”. Đúng hơn, từ này có nghĩa “trình bày”, “bộc bạch làm gương cho công chúng biết”, theo nghĩa “đem ra bêu xấu” do từ gốc là “deiknumi” có nghĩa là “trình bày”, “tỏ bày”
Từ này là một từ hiếm gặp trong Tân Ước. Chỗ khác gặp từ này là trong thư Col 2,15
“When He had disarmed the rulers and authorities, He made a public display of them, having triumphed over them through Him. - apekdusamenov tav arxav kai tav ecousiav edeigmatisen en parrhsia, qriambeusav autouv en autw. - Người đã truất phế các quyền lực thần thiêng, đã công khai bêu xấu chúng, đã điệu chúng đi trong đám rước khải hoàn của Người. Đề phòng lối sống khắc khổ theo thuyết "các quyền lực vũ trụ"
Nhất là câu Hy Lạp “kai mê thêlôn autên – và không muốn – and yet not willing”. Matthêu dùng động từ “thêlôn - muốn - willing” chứ không dùng động từ “eboulhth – ao ước - wishing”
Như chúng ta đã nói, khi biết Maria có thai mà không phải do mình, quyết định công chính nhất của Giuse lúc bấy giờ là ly dị Maria theo Luật định và theo tiêu chuẩn mẫu mực xã hội Do thái thời ấy.
Không chỉ Do thái, mà cả văn hoá Hy Lạp và Lamã lúc bấy giờ cũng thế. Hơn nữa văn hóa Địa trung hải bấy giờ còn cho một người là “yếu kém” nếu vì tình yêu mù quáng dành cho vợ mà vẫn giữ vợ dù bà này đã phản bội mình.
Qua câu Kinh Thánh chúng ta thấy Giuse đã xác quyết rằng Maria phản bội mình. Vậy theo tinh thần công chính giữ luật, và không muốn mình bị nhục nhã, theo đúng lương tâm công chính, ly dị Maria là điều đúng luật nhất mà Giuse có thể làm.
Có điều Giuse, vì tốt bụng, vì thương cảm và cả vì tình yêu vẫn còn dành cho Maria nên Giuse đã suy nghĩ để không muốn “deigmatisai - bêu xấu” Maria trong một vụ xử án trước cổng thành, nơi công chúng đông người qua lại.
Theo phương cách xử án ở Đnl 5:11-31 thì Maria chỉ có nhục nhã và xấu hổ mà thôi. Vì “tình ngay” mà “lý gian”. Hơn nữa khi bị chúc dữ rồi còn bị uống chén nước đắng cay pha tro của lời nguyền chúc dữ thì chỉ có nước... sẩy thai !
Hơn nữa có nhiều người còn góp ý thêm rằng, Giuse có ly dị Maria, thì người cha thật của đứa con trong bụng Maria mới có cơ hội mà nuôi con bằng cách lấy... Maria.
Bây giờ vấn đề nảy sinh là liệu Giuse có công chính “quá đáng” không? Nghĩa là cứ sự, và cứ lý thì Giuse có quyền ly dị và lôi Maria ra toà. Chúng ta đặt vấn đề nếu Giuse đã khăng khăng có ý định lôi Maria ra toà rồi, trước khi thiên thần hiện ra, việc thay đổi ý định của Giuse có “dễ dàng” không?
Liệu một người bạn thân của hai người tới can ngăn Giuse đừng đưa Maria ra toà, Giuse có vui lòng mà thuận tình không?
Nếu Kinh thánh không cho biết Giuse đã có ý định bỏ Maria cách kín đáo thì quả tình chúng ta không biết sẽ trả lời làm sao cho câu hỏi trên.
Đã có ví dụ cho thấy người Do thái, vốn đã được Môse gọi là “dân cứng đầu cứng cổ” mà đã cố chấp, thì thay đổi ý định của một kẻ ngoan đạo, nghĩa là “sādîq - công chính” không phải là chuyện dễ dàng. Chúng ta thử nghĩ đến tình trạng có bao nhiêu người Do thái cải đạo làm tín hữu công giáo?
Một ví dụ cụ thể là vua Akhat, cố chấp, cứ nằng nặc đòi cho được một dấu lạ. Đến khi Thiên Chúa chiều lòng thì ông đâm sợ, mà không dám nài nữa. Tuy vậy, Thiên Chúa vẫn cho ông một dấu, đó là Emmanuel trong đoạn Is 7,10: “10 Một lần nữa ĐỨC CHÚA phán với vua A-khát rằng:
11 "Ngươi cứ xin ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của ngươi
ban cho ngươi một dấu
dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh."
12 Vua A-khát trả lời:
"Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách ĐỨC CHÚA."
13 Ông I-sai-a bèn nói: "Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít!
Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao,
mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa?
14 Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu:
Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai,
và đặt tên là Em-ma-nu-en."
Nhưng Giuse thì khác.
Rõ ràng tuy công chính, nhưng Giuse không cố chấp. Ngược lại Giuse rất thức thời, quảng đại và cao thượng nhân ái hơn rất nhiều người khi ông chỉ “định tâm lìa bỏ cách kín đáo” mà không định “bêu xấu” Maria!
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Thánh Giuse - Người Công chính (4)
Câu Mt 1,20 còn cho ta thấy một khía cạnh nữa của vấn đề: “Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai - before they came together she was found to be with child- inventa est in utero”
Bản dịch tiếng Việt quả là không chính xác lắm để lột được cái lý thú nằm bên dưới.
Nguyên bản phải dịch thành: “bà bị phát giác là đã có thai – she was found – inventa est in utero” !! Tình cảnh còn nguy kịch và bi thảm hơn nhiều.
Ai phát giác ra Maria có thai? Có phải hàng xóm láng giềng đã phát giác ra rồi nói lại với Giuse? Và khi Thiên thần trấn an Giuse rằng: “Đừng sợ nhận Maria làm vợ” thì Giuse sợ cái gì? Sợ “tiếng chì tiếng bấc” của miệng thế gian?
Nếu quả là thế, thì nếu là chúng ta trong trường hợp ấy, chúng ta có “khá” hơn Giuse để mà không sợ miệng lưỡi thế gian nói ra nói vào? Nghĩa là liệu chúng ta có “công chính” hơn Giuse không, công chính theo nghĩa ngày nay – để mà đạp trên dư luận, bất chấp dư luận mà vẫn cứ cưới Maria làm vợ theo lời báo mộng của Thiên Thần?
Cách hành xử của Giuse rõ ràng là đã hoàn toàn dựa trên niềm tin. Ngài không chỉ đã vượt ngưỡng “sādîq - công chính” của Cựu Uớc, và không những công chính hơn mức của “Biệt phái và Sađucê” (Mt 5:20) của Tân Ước, mà còn hơn nhiều người chúng ta ngày nay. Giuse đã hành xử theo mức Ngài nghĩ là “đúng”, khi từ bỏ Maria cách kín đáo.
Nhưng đó chưa/không phải là cách Thiên Chúa cho là đúng nơi Giuse.
Trong cách giải quyết độc đáo của mình, Giuse còn âm thầm cho chúng ta một bài học.
Như đã nói, vì là người công chính nên Giuse không thể cưới một người đã bất trung với mình trong thời gian đính hôn.
Sau Giuse chừng hai ba chục năm, thánh Phaolô quan niệm tương tự trong thư thứ hai gửi giáo dân Corintô 6,14 “14 Anh em đừng mang chung một ách với những kẻ không tin. Thật thế, làm sao sự công chính lại liên kết được với sự bất chính? Làm sao ánh sáng lại dung hoà được với bóng tối ?”
Như thế người công chính như Giuse không thể chung sống với kẻ đã bội tín. Khi có thai ngoài hôn nhân, Maria đã không đồng ý chia xẻ cùng mức công chính với Giuse, thì đương nhiên Giuse có bổn phận phải tách đôi giao ước hôn nhân.
Nhưng căn cơ công chính nơi Ngài đã khiến Ngài giải quyết vụ việc một cách hơn người.
Thay vì tình hận biến thành tình thù, thay vì “mắt đền mắt, răng đền răng” Giuse chỉ quyết định “âm thầm từ giã”. Nếu Ngài “ít” công chính hơn, có lẽ Ngài đã cứ Luật mà làm cho đến nơi đến chốn.
Không những Ngài không “giết người trong mộng” mà Ngài cũng chẳng hề “giết người đã bội thề” còn sống sờ sờ ra kia. Khi bội tín, Maria cũng đã làm nhục Ngài, chứ không à?
Ngài không muốn chuyện ly dị trở thành án chết cho Maria. Ngài chỉ muốn “từ biệt”, chứ không muốn “tử biệt” Maria.
Mà khi chia tay âm thầm như thế, người ta chỉ biết Ngài kẻ bất trung, đã không trọn bổn phận làm chồng. Vì đã bỏ rơi để mẹ con Maria bơ vơ!
Ngài thà chịu tiếng tình phụ còn hơn là để Maria mang án chết!
Như thế mà không “công chính” thì phải gọi Ngài là gì , bây giờ?
Trước thái độ còn “trên cả tuyệt vời” ấy, việc ly dị không xảy ra.
Không có ai bị ném đá chết, mà cũng chẳng có ai bị mang tiếng để đời là “phụ tình” hay “tình phụ”. Giuse đã gánh hết mọi viên đá lẽ ra sẽ ném vào người Maria và âm thầm gánh đi đổ.
Trước thái độ công chính, cao thượng và xứng đáng được thưởng ấy, Giuse quả là người thích hợp nhất cho vai trò Cha Nuôi của Đấng Cứu Thế
Thiên Thần hiện đến trong giấc mơ. Vợ đã được truyền tin. Nay đến phiên chồng!
Thiên Thần rất có ý tứ khi gọi : “Giuse, con Vua Đavid !”
Thiên Thần nhắc khéo cho ông nhớ tới câu sấm trong Giêrêmia 23,5-6, Thiên Chúa đã hứa về gia tộc ông : “5 Này, sẽ tới những ngày - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - Ta sẽ làm nẩy sinh cho nhà Đa-vít một chồi non chính trực. Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan tài giỏi trong xứ sở, vua sẽ thi hành điều chính trực công minh.
6 Thời bấy giờ, Giu-đa sẽ được cứu thoát, Ít-ra-en được sống yên hàn. Danh hiệu người ta tặng vua ấy sẽ là: "ĐỨC CHÚA, sự công chính của chúng ta."
Giuse hiểu được rằng, bây giờ lời sấm ấy bắt đầu thực hiện. Tới phiên mình phải cộng tác vào. Và Ngài đã thực sự đảm nhận trọng trách đó đúng mức và đúng lúc.
Trong im lặng.
Cha thì được Thiên thần gọi là “Con Vua Đavit”, còn Con sau này cũng được dân chúng tung hô là “Hosanna ! Con Vua Đavit !” (Mt 21,9).
Lời kết :
Nếu không rút ra thêm một bài học cho chúng ta ngày nay thì quả là thái độ vô ơn đối với Thánh Giuse.
Trước sự kiện rõ mười mươi, mắt thấy tai nghe, không thể chối cãi, “cái bụng vượt mặt” thế kia của Maria, vậy Mà Giuse vẫn “cố chấp không tin vào mắt mình”. Ngài không tin là Maria bất trung bất tín.
Bao nhiêu cặp gia đình ngày nay dễ dàng đổ vỡ, chia lià, chỉ vì thiếu “cái cố chấp dễ thương và thánh thiện” của thánh Giuse.
Nhiều khi chỉ do mình tưởng tượng ra từ một điều vô thưởng vô phạt. Rồi vội kết luận bạn đời mình bất trung.
Trước khi bàn hỏi luật sư, đem nhau ra toà, sao không bàn hỏi với Giuse nhỉ? Người đã có kinh nghiệm hơn ai hết để bàn về chuyện gia đình hạnh phúc và bền vững trong thánh thiện .
Kính tặng "Người anh kiệt xuất", Đức Cha Giuse,
GM Thanh Hoá
KaTy
<TABLE cellSpacing=1 cellPadding=3 width="90%" align=center border=0><TBODY><TR><TD></TD></TR><TR><TD class=quote>
Thời của Thánh Giuse và Maria, sau khi người ta đính hôn thì có quyền chung sống với nhau sao? Sau khi Thánh Giuse lìa bỏ Maria, Đức Mẹ có bị mang ra xét xử nữa không? - Hải Yến
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Chao ơi Hải Yến hỏi một câu khó trả lời và khó... giữ quá.
Dường như, phong tục Do thái cũng như phong tục Việt Nam, và có lẽ trong phong tục mọi nơi, tuy hai người đã đính hôn, nghĩa là hầu chắc thuộc về nhau cho đến bạc đầu rồi, nhưng chuyện có con với nhau trong thời gian đính hôn KHÔNG PHẢI là điều ... được phép, đáng khuyến khích hay nên làm.
Không nên kết luận “sau khi người ta đính hôn thì có quyền chung sống với nhau sao?” mà đúng hơn nên nói : “sau khi người ta đính hôn mà lỡ chung sống với nhau thì sao?”
Bởi lẽ NẾU chuyện có con với nhau trong thời gian này là điều bình thường, hay là một cái quyền, thì khi Mẹ Maria có thai, sẽ chẳng có ai lấy làm điều, cả Giuse và mọi ngươì chung quanh trong làng. Ai nấy đều nghĩ đó là con của hai ngươì, chứ “còn ai trồng khoai đất này”, nữa !
Khi nhấn mạnh “con cái có trong thời gian đính hôn là con cái chính thức của HAI người”, thì chỉ muốn nói, thời gian đính hôn đã là bắt đầu hôn nhân và có tính cách chính thức hay bền vững rồi, và để nhấn mạnh rằng ai trong hai người bất trung trong thời gian này cũng đủ là lý do để ly dị. Ly dị như là đã lấy nhau rồi mà xa nhau, chứ không phải “chia tay thôi không tiếp tục lấy nhau” nữa khi chưa có gì ràng buộc.
Thời gian đính hôn của Do thái quan trọng tương đương hôn nhân như thế nên bản dịch CGKPV mới dùng chữ “thành hôn”, thay vì “đính hôn” như nguyên văn !
Trong truyền thống Do thái, hôn sự được gọi dưới tên kiddushin. Từ này có nghĩa là “thánh hóa” hay “dâng hiến”. Thánh hóa là vì hôn sự không chỉ là giao ước chỉ có tính cách dân sự hay xã hội, mà là một mối giây nối kết bền chặt mang tính thiêng liêng của mitzvah, một khoản luật Thiên Chúa truyền và con người phải tuân giữ.
1-Giai đoạn đầu tiên của hôn sự là shidduch
Shidduch có nghĩa là ghép đôi. Là giai đoạn tìm được người không chỉ “hợp nhãn” mà còn thích hợp với mình. Thường là nhờ một người thân, hay quen biết giới thiệu cho ai đó. Tương tự như giai đoạn “mai mối”, để tìm hiểu nhau.
Và theo luật do thái, đôi trai gái khi chưa cưới nhau không được đụng chạm thân xác. Không được ở riêng với nhau nơi chỗ vắng người nhau, hay ở cùng phòng mà cửa đóng .
Điều này để giúp cho việc chọn lựa nhau được dưạ trên lý trí nhiều hơn là do ham muốn xác thịt .
2- Giai đoạn hai là vort – đính ước
Khi đôi trẻ đã ưng nhau, thì hai gia đình tổ chức một buổi gọi là vort – đính hôn. Để công bố chính thức cho mọi người biết đôi trẻ đính hôn nhau.
Có gia đình còn viết ra trong một tờ giấy cả một danh sách các khoản giao ước với nhau, ấn định ngày giờ đám cưới, các khoản chi tiêu bên nào phải chi trả... gọi là tenaim .
Trước ngày cưới một tuần, hai anh chị “chosson- cô dâu” và “kallah – chú rể”, không được gặp nhau nữa, để gia tăng niềm vui và sự lôi cuốn nhau , dành cho ngày cưới .
3- Việc thứ ba là ketuvah
Bắt đầu đám cưới, thì phải có việc ký giấy chứng chỉ hôn phối gọi là ketuvah . Nghi thức này bắt nguồn từ lâu trong thời Cựu Ước, sau trờ thành luật do bộ luật Mishna (khoản 170 trước Thiên Chúa giáng sinh) .
Bản ketuvah, thưòng được viết bằng tiếng Aram (tiếng mà Chúa Giêsu nói lúc sinh thời) ghi rõ nhưng điều chồng phải làm cho vợ như lo chổ ăn, chổ ở, áo xống, không được từ chối khi vợ “đòi hỏi” .. . Phải lo sẵn một khoản tiền và phụ giúp vợ khi ly dị, hay nếu qua đời trước vợ .
Hai người phải ký ketuvah trước mặt hai nhân chứng .
4- Việc thứ tư là bedekin
Sau khi ký bản ketuvah, thường có chút thức ăn nhẹ và uống ly rượu mạnh để chúc thọ nhau gọi là lechaims: Họ nâng ly và chúc nhau “lechaims ! Trường thọ !”
Sau đó là việc vén khăn che mặt cô dâu gọi là bedekin . Sự việc xảy ra như sau : Chú rể và hai ông bố cùng với các nhạc công và các khách đàn ông cùng tới nơi cô dâu tiếp khách. Cô dâu ngồi trên ghế cao như ngồi trên ngai. Chú rể tiến tới vén khăn phủ mặt cô dâu lên. Mục đích là để xác nhận xem có đúng là cô dâu không ? ....
+
Còn sau khi Thánh Giuse bỏ Mẹ Maria cách âm thầm, nghĩa là không ly dị, mà bỏ đi xa biệt tăm biệt tích- thì chúng ta đã giả thiết là ai cũng nghĩ Giuse và Maria có con với nhau trong thời gian đính hôn. Đúng không nào ?
Mà Giuse bỏ đi như thế thì Giuse đã bội ước theo tờ ketuvah mà hai người đã long trọng ký với nhau lúc đính hôn trước mặt hai người chứng theo khoản Xh 21:10 “10 Nếu chủ lấy một người khác, thì không được giảm bớt lương thực, quần áo và quyền làm vợ của người trước.11 Nếu chủ không thi hành ba khoản đó, thì nàng được ra đi, khỏi cần trả tiền trả bạc.”
Câu này tuy chỉ đề cập đến việc người đàn ông Do thái nếu mua một người nô lệ cũng là người Do thái, và muốn lấy cô ấy làm vợ, thì không được “giảm bớt lương thực, quần áo và quyền làm vợ của người trước.” nghĩa là người vợ ông đang có ..
Chi tiết này cho thấy, đã lấy vợ thì phải lo cho vợ chu đáo,nơi ăn chốn ở, quần áo mặc và cả chuyện vợ chồng nếu vợ “đòi hỏi”. Kinh Thánh gọi điều này là “quyền làm vợ” !
Giuse mà bỏ đi là Giuse phạm lỗi, mang tiếng phụ bạc, và không còn là “công chính”. Maria thì được thêm lòng thương xót của bà con lối xóm.
Lý do nào mà xử Mẹ Maria được ?
Hy vọng câu trả lời không làm thất vọng .
admin
05-04-2006, 09:35 AM
Thánh Giuse - Người công chính (http://www.dongcong.net/misc/Tam%20tinh%20ban%20doc/giuse_nguoicongchinh.htm)
THÁNH GIUSE
người công chính
I. DẪN NHẬP:
Theo thuật ngữ Kinh Thánh, từ công chính chỉ dùng riêng để nói về Thiên Chúa: “Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan thượng trí” (Rm 16,27 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Rom 16:27)); nhưng con người cũng có thể được gọi là công chính và được công chính hóa (x. 1Cr 1,30 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=1Cor 1:30)), nhờ làm theo Thánh Ý của Người. Vậy, trước khi đi vào đề tài, xin giới thiệu đôi nét về thuật ngữ này.
II. CÔNG CHÍNH:
1. Thiên Chúa công chính
Thiên Chúa công chính, vì Người thánh thiện và tốt lành từ bản chất, Người luôn trung thành với giao ước và giữ trọn lời hứa. - Đức Giêsu Kitô là Đấng công chính, vì Ngài không có tội gì hết, đến mức cả viên đội trưởng trước tòa Philatô cũng phải cất tiếng tôn vinh: “Quả thật, ông này là người công chính” (Lc 23,47 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Lk 23:47)), Ngài lại là Đấng cứu độ con người và làm cho con người trở nên công chính hóa (x. Cv 13,38 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Act 13:18); Rm 3,24 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Rom 3:24); 1Cr 1,30 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=1Cor 1:30)). Ngài trung thành với Thiên Chúa một cách tuyệt đối, Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (x. Pl 2,8 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Pl 2:8)).
2. Con người cũng có thể trở nên công chính
Người công chính là người trung thành với Thiên Chúa và luôn sống đẹp lòng Người (x. Lc 1,6 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Lk 1:6)), là người luôn thực thi Thánh Ý Chúa, người biết việc này phải làm và việc kia không được làm (x. Mt 3,15 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 3:15)). Cũng như trong tám mối phúc (x. Mt 5, 3-19 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 5:3-19)): người công chính là người chính trực, hiền lành, hoàn hảo… có quan hệ tốt với Thiên Chúa vì tuân theo Thánh Ý Người (x. Mt 5,20 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 5:20)), không như nhóm kinh sư (x. 5,21-48 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 5:21-48)), hay như nhóm pharisiêu (x. Mt 6,1-18 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 6:1-18)), mà là đức công chính của người môn đệ Chúa (x. Mt 6,19-7,20 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 6:19-7:20)), sống như Lời Chúa dạy để trở nên người môn đệ đích thực (x. Mt 7,21-27 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 7:21-27)).
3. Thánh Giuse, Đấng công chính (Mt 1,19 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 1:19))
Nhiều người cho rằng: “Ông Giuse đã đính hôn với Bà Maria rồi (x. Mt 1,18 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 1:18)), nhưng khi thấy vợ mình mang thai thì lại định tâm bỏ trốn, vì biết rằng chủ nhân của bào thai đó không phải của mình (x. Mt 1,19 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 1:19)); hành động ấy không quân tử chút nào sao lại khen ông là người công chính?”. Theo lời giải thích của Cha Giáo Tanila Hoàng Đắc Ánh, OP: “Thánh Giuse cư xử như vậy mới thật là công chính”:
Vì ông muốn giữ trọn luật Môsê. Luật cho phép ly dị trong trường hợp người vợ mang thai khi chưa chung sống với chồng. Mà trước khi về ở với Ngài, Đức Maria đã có thai, nên Ngài muốn ly dị.
Vì Ngài muốn cư xử công bình hợp lý với Đức Maria. Công bình hợp lý ở chỗ có tội mới bị phạt. Nhưng Ngài biết Đức Maria là người vô tội nên không đưa ra pháp luật, mà luật pháp bấy giờ rất khắt khe đối với trường hợp phụ nữ mang thai không có người thừa nhận. Theo luật Môsê, thì người phụ nữ không chồng mà có thai thì kể là người phụ nữ ngoại tình, tội của họ là phải bị ném đá cho đến chết (x. Ga 8,5 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Jn 8:5)), hoặc lôi ra mà thiêu sống (x. St 38,24), hay phải bị một hình thức xử tử nào đó (x. Lv 20,10; Đnl 22,20tt).
Vì Ngài cư xử khiêm nhường, không dám nhận mình là người cha của một Hài Nhi mà Ngài biết là do Thiên Chúa.Cha Giáo nhấn mạnh: “Lý do thứ ba mới thật là đáng nói”. Với những giải thích nêu trên, cũng khá đủ để chứng minh rằng: Thánh Giuse là người công chính như Kinh Thánh đã khen tặng. Chưa kể đến những việc làm trong suốt cuộc đời của Ngài, hằng luôn vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa (x. Mt 1,18-25 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 1:18-25); 2,13-23 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Mt 2:13-23); Lc 2,1-7.22 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Lk 2:1-7; Lk 2:22)). Vâng, Thánh Giuse là một người công chính. Ngài chỉ luôn ao ước sống công chính trước mặt Thiên Chúa. Vì thế mà Ngài đã quyết định không muốn tố giác Đức Maria và cũng không định tâm bỏ Bà cách kín đáo nữa, để tránh tối đa điều sẽ làm cho Đức Maria phải đau khổ.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.dongcong.net/misc/Tam%20tinh%20ban%20doc/giuse_nguoicongchinh.htm)
JB. Bùi Ngọc Điệp
Nguồn: Dongcong.net
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.