View Full Version : Thuyết Tạo Dựng (Creationism)
admin
24-10-2007, 02:25 PM
THUYẾT TẠO DỰNG
Thuyết Tạo Dựng (Creationism) không còn xa lạ gì với nhiều người, nhưng trong những ngày nầy nó trở thành đề tài thảo luận và tranh luận giữa những người chủ trương thuyết tạo dựng và những kẻ cho rằng chính thuyết tiên hoá mới giải thích nguồn gốc và các thay đổi “tiến hoá” (evolution) và kết luận ngay rằng thuyết tạo dựng là phản khoa học và không thể chấp nhận được đối với người văn minh.
Đúng hay sai, là điều không dễ phân định trong một sáng một chiều, khi mà mỗi bên chẳng những kiên định lập trường của mình, mà cón muốn làm cho những lý luận và lý chứng của đối phương phải sụp đổ, tan như bọt xà phòng. Có phải Hội Thánh Công giáo “bám trụ” và Thuyết Tạo Dựng “như lời Kinh Thánh” và gạt bỏ tiên quyết các luận chứng khoa học? Chúng ta có thể TRẢ LỜI NGAY trước khi đi vào phân tích các chi tiết.: phải phân biệt giữa TẠO DỰNG và Thuyết DUY Tạo Dựng, có nghĩa là cũng phải phân biệt rõ ràng giữa TIẾN HOÁ và Thuyết DUY TIẾN HÓA!
Vấn đề suy tư để tìm ra đáp số đúng là cần thiết, vì liên quan đến đức tin, cũng như phải giải đáp thoả đáng cho giới trẻ, đang đối mặt hai “vế” KHOA HỌC và ĐỨC TIN, với những âu hỏi như: Đức Tin có mâu thuẫn với Khoa Học chăng? Nếu có, thì phải hiểu và sống đức tin như thế nào? Nếu không, thì phải giải thích ra sao?
Thuyết Tạo Dựng – theo nghĩa rộng – là một luận đề theo đó Trái đất và mở rộng ra, là Vũ Trụ, đã được tạo dựng bởi một hữu thể thượng đẳng, nghĩa là một vị thần. Thuyết Tạo Dựng tạo thành sự tin tưởn của ba tôn gíáo độc thần chính: Do Thái Giáo, Kitô giáo và Hồi giáo.
Thuyết Tạo Dựng có thể, trong các chình thức cực đoan của nó, đi tới chổ chối bỏ mọi giả thuyết về tiến hoá. Cuộc tranh luận giữa thuyết tạo dựn và thuyết tiến hoá hiện đang rất sôi động ở Hoa Kỳ.
ĐÔI HÀNG LỊCH SỬ.
Tranh luận về nguồn gốc và tiến hóa của thế giới chẳng phải mới mẻ gì. Ngay từ thế kỷ 17, thuyết Copernic đã làm lung lay sự tin tưởng của thời kỳ đó, cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ, như Tây Phương đón nhận nó [ sự tin tưởng] ở thế kỷ 12 từ sách về siêu hình của Aristote và từ những tác phẩm khoa học xa xưa khác. Ông Gailêô, trong thư gửi cho Christine thành Lorraine, ch thấy việc đọc Cưu Ước nhạy cảm dưòng nào trong các khía cạnh vũ trụ học của nó. Người ta nhận ra sau đó rằng việc giải thích các Sách Thánh theo nghĩa đen có thể dẫn tới nhữg nghịch nghĩa, là những điều vốn thường xảy ra trong tryền thống Do-Thái giáo – Kitô-giáo.
Năm 1859, Charles Darwin phát hành một tham khảo về nguồn gốc các loài (tựa đề nguyên thủy : Bàn về nguồn gốc các loài bằng những cách thế chọn lọc tự nhiên, hoặc duy trì các giòng giống được ưu đãi trong đấu tran vì sự sống). Tác phẩm nầy giới thiệu một sự đoạn tuyệt trong hiểu biết khoa học về nguồn gốc sự sống nói chung và nguồn gốc con người nói riêng (mặc dù Darwin không hề nói về con người trong tác phẩm nầy). Đặ biệt, lý thuyết được Darwin đưa ra ủng hộ ý kiến cho rằng các sinh vật, kể cả con người, không chỉ nhìn thấy những đặc điểm sinh học của chúng tiến hóa trong thời gian (điều chẳng có gì là mới lạ, vì Lamark và những người khác đã đưa ra ý tưởng nầy), nhưng còn nhìn thấy rằng trong cuộc chiến để sinh tồn, có một sự chọn lọc tự nhiên đang tiến triển.Trong giả thuyết nầy, không có khái niệm tạo dựng bởi một sự siêu việt nào đó. Tác phẩm của Darwin được đón nhận khác nhau bởi những trào lưu tôn giáo khác nhau thuộc khu vực Kitô-giáo. Giới trí thức Châu Âu quy tụ gần cả trăm năm quanh cuốn sác nầy và vấn đề nầy.
THUYẾT TẠO DỰNG CHỐNG LẠI CÁC GIẢ THUYẾT VỀ TIẾN HOÁ
Thuyết tạo dựng, trong một mức độ nào đó, không phải đơn thuần là lòng tin vào sách Sáng Thế, nhưng còn là một giáo lý về ý nghĩa của nguồn gốc Trái Đất.
Tuyên bố theo thuyết tạo dựng có thể trong một số trường hợp còn đi xa hơn là tin vào Tạo Dưng. Giáo Lý nầy, nguyên như thế, phát sinh từ phản ứng với bầu khí chủ nghĩa vô thần. Nó đã có thể đối nghịch với những khía cạnh của một số giả thuyết về tiến hoá, trong khi ý tưởng tiến hoá dành cho môi trường khoa học.
Vào thời điểm hiện nay, các nhà khoa học theo thuyết tạo dựng thử mang những yếu tố khoa học để bảo vệ luận đề của họ đối diện với thuyết tiến hoá, nhưng họ vấp phải thuyết duy lý của phần cộng đồng khoa học còn lại vốn không thể chấp nhận như là « khoa học » một lý thuyết hàm ý sự can thiệp có tính chất phép lạ do Thiên Chúa trong suốt « tuần lễ tạo dựng ». Sự khước từ có hệ thống nầy tuy vậy đã lôi kéo một sự hiểu sai nào đó về các lý thuyết tạo dựng trong các môi trường theo thuyêt tiến hoá ( nhât là các hiện tượng hình thành loàmà không có sự cải thiện bộ gen mà những người theo thuyết tạo dựng chống lại những luận đề bao hàm sự xuất hiện của các chủng loại mới), cũng như một số nhất định các ý tưởng nhận được ( rất nhiều những người theo thuyết tiến hoá nghĩ, một cách sai lầm, rằng thuyết tiến hóa chối bỏ sự chọn lọc tự nhiên).
Tuy nhiên, những nhà khoa học theo thuyết tạo dựng luôn là rất thiểu số vào thời điểm hiện tại trong cộng đồng khoa học.
admin
24-10-2007, 02:26 PM
KITÔ GIÁO VÀ THUYẾT TẠO DỰNG.
Theo nghĩ hẹp, thuyết tạo dựng về phần nó, xuất hiện vào thế kỷ 19, như phản ứng chống lại thuyết Darwin. Các người ủng hộ nó không chỉ bằng lòng với việc khẳng định rằng thê giới được Thiên Chúa dựng nên trong sáu ngày, mà họ còn ủng hộ ý tưởng rằng các lý thuyết theo thuyết biến hình chống lại Kinh Thánh, theo đó Thiên Chúa hẳn đã tạo dựng mỗi loài thực vật hoặc động vật một cách riêng lẽ. Thuyết tạo dựng theo nghĩa hẹp nầy từ lâu đã được một số môi trường ủng hộ, các môi trường nầy coi Kinh Thánh như một sách thánh (giống như toàn thể các Kitô-hữu), đã đọc nó chủ yếu theo nghĩa đen. Thuyết tiến hoá chủ yếu được hậu thuẫn, kể từ năm 1873 (Hội thảo chuyên đề Niagara) bởi một vài giáo hội Tin Lành (có khuynh hướng cực đoan), như là một hậu quả của giáo lý dạy rằng kinh Thánh không thể sai lầm, và hiểu rộn hơn nữa là thẩm quyền của Kinh Thánh.
Tính chất động nầy của thuyết tạo dựng được liên kết với những gì có thể gọi một cách thích hợp là « sự giải thích Kinh Thánh theo nghĩa đen », đặt nền tảng trên một việc đọc hiểu theo nghĩa đen sách Sáng Thế và những yếu tố Kinh Thánh khác, như là các Thánh Vịnh, và do vậy mà đối kháng với các trào lưu theo thuyết tạo dựng Kitô-giáo khác, có hệ thống hơn và ôn hoà hơn.
Sẽ rất nguy hiểm nếu một lối giải thích sách Sáng Thế đề xuất một vũ trụ học tôn giáo lệch pha hoàn toàn với các vũ trụ học khoa học. Đức giáo hoàng Biển Đức XVI và Đức Gioan-Phaolô II trước Người không chống lại những lý thuyết tiến hoá nhằm làm đà tiến của thế giới khoa học, ngược lại các Ngài bác bẻ mọi lý thuyết duy vật dẫn đến chỗ biến con người thành « sản phẩm tình cờ và không có ý nghĩa của tiến hoá »
SỰ ĐÓN NHẬN BỞI HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
Trong một thời gian đầu. Hội Thánh Công giáo rõ ràng không tán thành với thuyết biến hình (lúc ấy người ta gọi thuyết tiến hoá như vậy). Hội Thánh tuy vậy không kết án nó, nhưng vào năm 1893, trong tông thư Providentissimus Deus (Thiên Chúa Rất Mực Quan Phòng), đã nói rõ ra tín lý về sự linh ứng Kinh Thánh bởi Chúa Thánh Thần.
“Các sách Cựu Ước và Tân Ước, với tất cả mọi thành phần của chúng, đúng như chúng đã được Công Đồng Triđentinô công nhận, phải được nhìn nhận như là lin thiêng và quy chuẩn, không phải theo nghĩa nầy là, được trí khôn con người soạn thảo, sau đó chúng nhận được sự tán thành, cũng không phải vì chúng chứa đựng mạc khải không có sai lầm nào, nhưng là vì chúng đã được viết dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần và do vậy chính Thiên Chúa là tác giả của chúng” (Tông thư Providentissimus Deus, Đức giáo hoàng Lêô XIII).
Sự chống đối của Hội Thánh Công giáo đối với thuyết tiến hoá do Darwin đề xuất đi vào cái khung một sự ngờ vực có tính toàn cầu hơn đối diện với khoa học và chủ nghĩa xã hội khi cả hai lần lượt đang tìm cách hiểu thế giới nầy một cách hoàn toàn vật chất và giải quyết các vấn nạn. Trong lâu dài, ở Pháp, người ta sẽ thấy sự đương đầu giữa những nhà cách mạng theo chủ nghĩa thực chứng (positivist) và các tìn hữu Công giáo khôi phục chế độ quân chủ. Ở Canada nói tiếng Pháp, cũng loại đối đầu nầy sẽ dẫn tới xung đột của những người chủ trương Đức giáo hoàng có toàn quyền. Đằng sau tất cả những xung khắc nầy dựng lên một sự coi khinh trước các ý tưởng cấp tiến xuất phát từ tinh thần của Thế Kỷ Ánh Sáng.
Tự Sắc Sacrorum Antisitum hoặc là Lời Thề Chống Lại Tân Thuyết (Modernism. 1910) cấm không được nói về những vấn đề như là lịch sử các tín lý và tất cả những gì là “hiện đại”. Cho tới khi nó bị bãi bỏ và năm 1961, nghĩa là ngay trước Công Đồng Vaticanô II, nó vẫn theo thuyết tạo dựng như các sách hộ giáo bị phong toả bởi imprimatur (được phép in) và nihil obstat (không có gì ngăn trở) và bị cấm đoán ví dụ với nhà cổ sinh vật học Dòng Tên Pierre Teilhard de Chardin không được tiếp tục xuất bản các công trình của Ngài trong tình trạng lúc ấy, đã cho thấy, mặc dù không tranh cãi gì về quyền được theo duổi các công trình và lưu hành chúng trong nội bộ.
Sau Công Đồng Vatican II, Hội Thánh Công giáo vẫn thận trọng về tín lý nầy cho đến ngày 23.10.1996, ngày mà Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II nhìn nhận rằng các lý thuyết tiến hóa còn hơn là một giả thuyết, nhấn mạnh sự kiện rằng không phải chỉ có duy nhất một, mà là nhiều thuyềt tiến hoá.
Giáo Hội vẫn thận trọng bởi những lời kết án của Hội Thánh La Mã thế kỷ 19 đã được tiếp nhận chẳng mấy phấn khởi và đơn giản là đã bị các linh mục và các nhà tư tưởng Kitô-giáo không màng tới: tiến hóa đi vào trong giáo dục Kitô-giáo, với những tiến bộ của tính nghiên cứu chuyên sâu thế kỷ XX. Tư duy Kitô-giáo, -kết hợp phê bình các nguồn Kinh Thánh, - còn khoa chú giải không coi sánh Sáng Thế như là phải đọc hiểu theo nghĩa đen, tìm lại được trong đó những nghi ngờ của các nhà tư tưởng thuộc trường phái Chartres thế kỷ XII.
Trong lòng Hội Thánh, cuộc tranh luận về sự tiếp nhận các thuyết về tiến hoá luôn là đề tài thời sự. Các lập trường của Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II rất cởi mở đối với thuyết tiến hoá, tuy vậy không lẫn lộn lần nữa về chủng loại với việc tuyên bố một lý thuyết khoa học như thuộc về các tín điều đức tin như trường hợp khi thuyết tạo dựng được bênh vực như chính nó vẫn thế. Dù thế trong Giáo Hội vẫn có nhiều phong trào bênh vực thuyêt tạo dựng như là một tín điều. Tổng giám mục Giáo phận Vienne Christoph von Schonborn công bố ngày 07.07.2005 trong tờ New York Times một mục diễn đàn khẳng định rằng người ta không thể giải thích các bài diễn văn của Đức Gioan-Phaolô II như là một sự công nhận thuyết tiến hoá. Trong phần lập luận của mình, Christoph von Schonborn lấy lại những lý luận noí về “thuyết tạo dựng ôn hoà”, như là Kế Hoạch thông minh.
Nhưng từ nay đa số tín hữu Công giáo đương thời chấp nhận tính trung lập của khoa học. Ngưòi ta có thể nói rằng sự kiện con người có cùng nguồn gốc với lòai khỉ không làm mất đi mà cũng chẳng thêm gì vào Tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Nói một cách triết lý, khoa học không thể chứng minh sự không hiện hữu của Thiên Chúa và tôn giáo không chứng minh được sự hiện hữu của Thiên Chúa. Điều nầy giúp cho tách biệt giữa khoa học và tôn giáo. Kể từ khi các công trình của Teilhard de Chardin đã góp phần rất lớn vào việc chứng minh rằng không có sự đối nghịch giữ khoa học và tôn giáo, thì các tín hữu Công giáo tuếp tục tin vào sự tạo dựng vũ trụ bởi Thiên Chúa và công nhận rằn vũ trụ nầy tiến hoà không ngừng, theo những quy tắc riêng mà khoa học đang tìm hiểu và tả lại với những mẫu ngày càng trung thực hơn.
Đức giáo hoàng Biển-Đức XVI, Đấng kế nhiệm Đức Gioan-Phaolô II, đã xác định quan điểm của Hội Thánh Công giáo vào tháng 4.2007” Kitô-giáo đã “chọn sự ưu tiên của lý trí tạo dựng ngay từ đầu và nguyên lý của mọi sự”. Như thế là người đã loại bỏ sự chọn lựa thứ hai có thể, “sự chọn lựa cái không lý trí theo đó những gì hoạt động trên trái đất và trong cuộc sống của chúng ta chỉ là tình cờ và là một sản phẩm của cái không lý trí “ và khẳng định rằng “mỗi người trong chúng ta là hoa trái một tư duy của thiê Chúa”. Lập trường nầy không mâu thuẫn với thuyêt tiến hoá, nhưng từ chối rằng thuyết nầy ấn định nhãn quan mà người ta phải có về con người.
admin
24-10-2007, 02:28 PM
NHỮNG CÁCH TIẾP NHẬN KITÔ-GIÁO KHÁC
Một đa số áp đảo các Kitô-hữu không đợi đến năm 1996 để đem cho sách Sáng Thế chủ yếu một cách giải thích tượng trưng và thơ ca. Đối với những người nầy, tổng thể vũ trụ vẫn là công trình của Thiên Chúa (ta có một miêu tả cuả thuyết tạo dựng trong cách diễn tả đơn sơ nhất của nó), được hình thành trong nhiều thiên niên kỷ, theo một tiến trình mà khoa học cố gắng tả lại và nhất là những giả thiết khác nhau do các thuyết tiến hoá đề xuất (Darwin và những người kế tiếp ông). Người ta còn có thể nói rằng thuyết tạo dựng, xét theo việc giải thích Kinh Thánh theo nghĩa đen, là một giáo lý có nguồn gốc mới đây và rằng cách giải thích tượng trưng xưa cũ hơn. Trong cuốn Vấn Nạn Sự Không Tin ở thế kỷ 16, Lucien Febvre trích dẫn đoạn văn sau:
“Ai là người có lý trí mà lại không bao giờ tin rằng, ngày thứ nhất, ngày thứ hai, ngày thứ ba, buổi tối và buổi sáng có thể xảy ra mà không có mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, và rằng ngày, được kể tên đầu hết, lại có thể xảy ra khi chưa có trời? Ai là kẻ ngu dốt đến mực cho rằng Thiên Chúa đã trồng, theo cách một nông dân, một khu vườn ở Eden, trong một đất nước nào đó ở phương Đông và rằng Người trồng ở đó một cây sự sống, như là kẻ dùng răng ăn hoa quả mà lại được sự sống?
“..Cần gì phải nói thêm nữa khi mỗi người, nếu không phải thiểu năng, có thể dễ dàng rút ra vô số những điều tương tự mà Sách Thánh kể lại, như thể chính chúng đã xảy ra thật sự và theo văn bản mà xét thì chẳng có tính thực tế là bao”.
Ông đặt câu hỏi: Ai là Padouan, người theo thuyết duy lý nầy, tiếp tục lao vào hàng ngàn trò nghịch ngợm về lịch sử lụt đại hồng thủy, về con tàu nhỏ bé mà hòng chứa tất cả mọi động vật được tạo dựng, về Sodoma và Gômôra, về Ông Lốt và các cô con gái - tất cả những cái đó với một sự tự do, một sự liều lĩnh, một tính chất khuyển nho mà ngay cả Voltaire cũng khó lòng vượt mặt được?
Thực tế, đó chỉ là nói về Origène, được rất nhiều người đọc vào thời Phục Hưng và Erasme còn đi tới chỗ nói về Origène : “Về mặt thần học, sau Kinh Thánh, không có gì để đọc hay hơn là Origène”. Đó là sự co cứng lại của Công Đồng Triđentinô vốn đã áp đặt niềm tin và đọc chính xác theo nghĩa đen của Kinh Thánh, trong khi một lối giải thích tượng trưng, thường thấy nơi Thánh Augustin, hoàn toàn được chấp nhận trong thời Trung Cổ và bắt đầu thời Phục Hưng, và cả trong khoa chú giải của người Do Thái.
SỰ TRỞ LẠI CỦA THUYÊT TẠO DỰNG Ở THẾ KỶ XX.
Các ý tưởng theo thuyết tạo dựng tuy vậy không biến mất trong thế giới người Anglo-Saxon, nhất là ở Hoa Kỳ, nơi mà chúng lan tryền từ phía nam thuần nông của Vòng Đai Kinh Thánh (Bible Belt) để đạt tới các tầng lớp có bằng cấp của miền Bắc Hoa Kỳ và đặc biệt là ở Úc. Chúng là nguyên nhân của nhiều vụ kiện tụng, mà vụ nỗi tiếg nhất - được gọi là vụ kiện con khỉ - diễn ra vào năm 1925 ở bang Tennessee. Một giáo sư trẻ, John Thomas Scopes, tình nguyện (với sự ủng hộ của ACLU) thay thết một giáo sư sinh học (môn học mà ông không quen giảng dạy), để chận lại Đạo Luật Butler cấm giảng dạy các luật tiến hóa trong mọi cơ sở giáo dục công lập. Sự vi phạm tự nguyện, mà mục đích được thú nhận là nhằm thử nghiệm tính chất hợp hiến của cái gọi là luật nầy, dẫn đến một trong các vụ kiện tụng quan trọng nhất thế kỷ XX, nhât là nhở ở sự can thiệp của hai người quan trọng: Clarence Rarrow, một trong những luật sư bào chữa người Mỹ nỗi danh nhất thời đó, công khai theo thuyết bất khả tri, tuyên bố bào chữa miễn phí cho Scopes, và William Jennings Bryan, cựu ứng viên tổng thống và nhà hùng biện khét tiếng, một Kitô-hữu xác tín và là người bênh vực sốt sắng Đạo luật Butler. Vào thời kỳ ấy, công luận đa số nghiêng về Scopes, vì thế, ngay cả nếu ông hỉ thu gặt được một thay đổi nhỏ thôi, thì vụ kiện nầy cũng được coi như một thắng lợi của những người theo thuyết tiến hóa, bởi vì công luận ủng hộ vị giáo sư.
Năm 1981, dưới áp lực của những người theo thuyết tạo dựng muốn niềm tin của họ phải được coi như là một giả thiết khoa học đồng thời với các thuyết về tiến hoá, một vụ kiện được quảng bá mạnh mẽ trên các phương tiện truyền thông diễn ra ở Little Rock, Arkansas, có sự chứng kiến của các nhà sinh học, vật lý học, nhận thức luậ, thần học và chính trị học.
Vụ kiện cuối cùng trong các cá vụ kiện nỗi tiếng nầy là cuộc đối đầu giữa những người Tin Lành người Úc theo trào lưu chính thống, đặc biệt là John Mackay và Ian Plimer, giáo sư địa chất ở Đại học Melbourne. D0i Theo phong trào Mỹ, Bang Queensland cho phép, vào đầu thập niên 1980, gỉảng dạy thuyết tạo dựng với tính cánh là giả thuyết khoa học, John Mackay được mời thuyết trình trong các trường công lập và các đại học Liên Hiệp Anh.
Ở Pháp, đại học liên nghành Paris, một hiệp hội quy tụ 1.250 thành viên, hiện hữu từ 1995 và tổ chức các hội nghị bị ngờ là để bênh vực thuyêt tạo dựng. Jean Staune, tổng thư ký hiệp hội, là ngườ thân cận với cac nhà vận động Kế Hoạch Thông Minh (Dessein Intelligent) ở Mỹ. Hơn thế một số thành viên “Hội đồng khoa học’ của hiệp hội, như là Rémy Chauvin hoặc Anne Dambricourt Malassé, bênh vực thuyết lô-gic nội tại, gần gũi với thuyết tạo dựng.
admin
24-10-2007, 02:29 PM
NHỮNG CHỐNG ĐỐI NGAY TRONG KITÔ-GIÁO.
Xét về mặt lịch sử, như trong cuộc tranh luận giữa Mỹ và Anglo-saxon, các lập trường đặt ra nhiều vấn đề nhất ngay từ cuộc khủng hoảng Tân Thuyết, là thuyết Darwin và cách giải thích Kinh Thánh theo nghĩa đen. Sự tập trung hùng biện vào lập trường nầy dần dà mau lẹ xếp nó vào loại thuyết xây dựng, liên kết vào đó những lập trường để chọn lựa song đôi khi lại rất mâu thuẫn nhau. Do đó cần thiết có thể phân biệt những lập luận trái ngược nhau ngay trong thuyết tạo dựng.
Theo cách giải thích theo nghĩa đen, thế giới hẳn đã được dựng nên theo cách được mô tả trong sách Sáng Thế được đọc theo nghĩa đen và nhất là nguyên sơ (đặt ưu tiên cho nghĩa đầu tiên, cái nghĩa được gợi lên ngay khi đọc thấy) và Thiên Chúa hẳn đã dựng nên Vũ Trụ trong sáu ngày nhân 24 giờ. Ngày thứ nhất của tạo dựng là, theo Vị Tổng giám mục Anh giáo ly khai James Ussher (+ 1658) vào ngày 23.10 năm 4004 trước CN, tức là cách nay khoảng 6.000 năm, bởi vì khoa sắp xếp niên đại theo Ngài, dẫn tới kết quả nầy. Francois – René de Chateaubriand tóm tắt lại tổng quát như sau: các con khủng long, các hoá thạch, các người tiền sử, v..v… theo luận đề nầy, đã không hiện hữu thật sự, nhưng đã chỉ là những thứ do con người tạo tác do Thiên Chúa bố trí nhằm làm cho con người rối trí trong việc phán đoán lịch sử của nó, hầu nó không thể chứng minh được sự hiện hữu của Thiên Chúa một cách khoa học. Ngày nay người ta liên kết nhãn quan nầy với cai được gọi là “thuyết tạo dựng Trái Đất Trẻ” (Young-Earth Creationism). Theo tờ Figaro (Pháp) “Đối với tuyệt đại đa số cộng đồng khoa học, những sự khẳng định nầy chẳng khác nào truyện ngụ ngôn ấu trĩ”.
Thẩn thờ bởi những khám phá mới đây đại khái là từ những năm thập niên 1990 về vật lý học thiên thể và chủ yếu là khoa hoa sinh, và sự tiến bộ quan trọng của Kitô-giáo Phúc Âm ở Hoa Kỳ muốn mọi người phải nghe theo như một phiên bản on hoà của một Đạo Tin Lành bảo thủ, một phong trào ngày càng có nhiểu ảnh hưởng thử tìm cách định nghĩa tính cách chính thống khoa học và chính thống tôn giáo. Phong trào nầy được mệnh danh là “Thuyết Tạo Dựng Trái Đất Già” (Old-Earth Creationonism). Như tên nó chỉ ra điều ấy, sự khác biệt đặc trưng của nó ở chỗ nó quan niệm rằng nguồn gốc của Vũ Trụ và sự sống trên trái đất có niên đại xa xưa, hàng triệu, thậm chí hàng tỷ năm (châp nhận sự hiện hữu của Vụ Nổ Lớn [ Big Bang], mà “những người theo thuyết tạo dựng Trái Đất Trẻ” chối bỏ, như là có giá trị về mặt khoa học và khả năng thiện thực rất cao). Trong tổng thế của nó, đó cũng là quan niệm của rất nhiều Kitô-hữu cả Công giáo lẫn Tin Lành ngày nay (những cuộc thăm dò ở Hoa Kỳ cho thấy một cách mạnh mẽ, cho dù cai gọi là quan niệm nầy không được các phương tiện truyền thông chú ý tới nhiều), và nó đặc biệt tương tích hơn với tư duy khoa học phổ biến nhất về các vấn đề niên đại của vũ trụ hoặc của trái đất so với thuyết tạo dựng Trái Đất Trẻ. Ít ra nó luôn chú ý tới các trình thuật tạo dựng trong sách Sáng Thế, theo cách giải thích theo nghĩa đen hơn là những người theo thuyết tạo dựng theo tiến hoá.
Những người nầy, được biết đên nhiều hơn với tư cách những người ủng hộ tiến hoá theo thuyết hữu thần, bám chặt vào niềm tin chung theo đó một số, chưa nói là tất cả những điều giảng dạy cổ điển về Thiên Chúa và sự Tạo Dựng tương thích với tất cả hoặc gần như tất cả mọi lời giảng dạy của mô hình biến hoá theo thuyết tiến hoá. Người ta có thể trình bày khái quát nó bằng việc dịch sao phỏng theo thuyết hữu thần của mô hình biến hoá nầy, hoặc công thức hoa nó bằng những từ ngữ siêu hình. Với sự gắn bó nầy vào mô hình biến hoá theo thuyết tiến hóa như chính nó là thế (mà tất cả những người theo thuyết hữu thần khác cho là được xây dựng trên một xu hướng theo chủ nghĩa tự nhiên) hơn là một sự gắn bó với một số định hướng lý thuyết của tiến hoá (mà không ép buộc chúng vào trong một hệ thống mô hình biến hoá), những người theo thuyết tạo dựng - tiến hóa suy trì lập trường ở giới hạn giữa thuyết hữu thầ và thần thánh (đây cũng là quan niệm hợp vớo nhiều nhà thầ luận), nghĩa là Thiên Chúa có hành động liên tục hay không trong vũ trụ sau khi Người tạo dựng nên nó. Dõi cặp mắt nhận thức luận. nhất là căn cứ trên những lời giảng dạy của Thomas Kuhn, người ta có thể chỉ trích một quan niệm như tế trong việc nó tín điều hoá khoa học, với việc đặt một niềm tin giáo điều lên một mô hình biến hoá khi cái nầy lại luôn chuyến biến. Dù sao đi nữa cũng phải ghi trong tâm trú rằng Thuyết Tạo Dựng Trái Đất Già đã ấp ủ rất nhiều quan niệm các sự vật nầy, nhất là chấp nhận rằng việc đọc các bản văn linh thánh phải chịu những điều mà chúng ta có thể biết được nhờ khoa học và lý trí mà Thiên Chúa đã ban cho con người (một ý tưởng có từ thời Thánh Augustinô vào thế kỷ thứ V), khiến cho ngày nay người ta có thể coi nó như một phiên bản ôn hoà hơn và “Kitô-giáo”hơn của sự tiến hoá theo thuyết hữu thần, hơn nữa còn lôi kéo nhiều Kitô hữu đi theo quan niệm của nó.
Trận chiến vì sự giảng dạy thuyết tạo dựng ở Hoa Kỳ.
Nếu ở Châu Âu các chương trình giảng dạy nhà trường dạy tiến hoá như là một thuyết khoa học được công nhận, thì ở Hoa Kỳ hiện hữu kể từ thập niên 1980 một sự chống đối mạnh mẽ giữa các người chủ trương tuyết tạo dựng và những người chủ trương thuyết tiến hoá.
Kể từ năm 1920, một phong trào do William Jennings Bryan hậu thuẫn hoạt động để việc cấm giảng dạy thuyết tiến hóa thành đối tượng của một tu chính luật của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Phong trào nầy không đạt được cấp độ liên bang, nhưng năm 1925, 15 trên 48 bang Hoa Kỳ đã cấm giảng dạy thuyết tiến hóa.
Kể từ cuối thế kỷ XX, thuyết tạo dựng bị xao lãng theo hướng thuận Kế Hoạch Thông Minh (Dessein Intelligent). Đối với những người dèm pha thì đó chẳng qua chỉ là thuyết tạo dựng trá hình.
Sự cấm đoán được đem ra trước công lý trong vụ kiện con khỉ, nhưng chỉ được bãi bỏ vào năm 1967, khi nó được công nhận là trái hiến pháp, chống lại tu chính luật đầu tiên của Hiến Pháp Hoa Kỳ bảo đảm tự do tôn giáo và tự do ngôn luận. Viện nghiên cứu Pew ở Hioa Kỳ đã thực hiện vào tháng 7 năm 2005 một cuộc thăm dò cho thấy 64% người Mỹ ủng hộ việc giảng dạy Kế Hoạch Thông Minh thêm vào thyết tiến hoá và 38% muốn rằng không nên giảng dạy thuyết tiến hóa trong các trường công lập. Cũng vào năm 2005, nhiều gia đình ở Pensylvannia đã khiếu nại một hội đồng nhà trường vì đã quyết định cho trình bày Kế Hoạch Thông Minh. Toà án liên bang Harrisbourg đã xử họ thắng kiện trong một án lệnh ngày 20.12.2005 do thẩm phán John Jones. Ngày nay tầm mở rộng chính thức của thuyết tạo dựng đã bị hạn chế. Không còn bang nào ở Hoa Kỳ ghi nó vào chương trình giảng dạy ngang nhau giữa thuyết tạo dựng và tiến hoá.nhưng các trưởng tư thục vẫn hưởng tự do về vấn đề nầy.
BTHT
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.