admin
03-04-2006, 01:39 PM
Thứ Tư, ngày 13/02/1980
18. Sự trong trắng nguyên thuỷ và tình trạng lịch sử của con người
Bài suy niệm hôm nay gồm tóm những gì đã thâu lượm được qua các cuộc phân tích đa dạng từ trước tới bây giờ. Những phân tích này được phát sinh từ câu trả lời của Ðức Giêsu cho những người chất vấn (xem Mt 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10) và Mc 10,1-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10:1-12&FontSize=Txt10)) về sự bất khả phân ly và tính đơn nhất của hôn nhân. Và Người đã bảo họ phải xem xét kỹ càng tới điều đã có “từ thuở ban đầu”. Chính vì lý do này mà trong các loạt bài suy niệm ở đây, chúng ta đã cố gắng xây dựng lại thực tại của sự hiệp nhất, hay nói đúng hơn là thực tại của sự hiệp thông nhân vị mà người nam và nữ đã sống ngay “từ thuở ban đầu”. Và sau đó, chúng ta đã cố gắng đi sâu vào nội dung của đoạn Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10), thật cô đọng: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng, mà không thấy xấu hổ”.
Những lời này muốn nói về việc trao tặng sự trong trắng nguyên thuỷ. Và có thể nói được rằng chúng cũng mặc khải một cách tổng hợp những đặc điểm của sự trao tặng đó. Trên nền tảng đó, thần học đã xây dựng hình ảnh tổng quát về sự công chính và trong trắng nguyên thuỷ của con người, trước tội nguyên tổ, bằng cách áp dụng phương pháp khách quan, đặc điểm của siêu hình học và nhân loại hoc siêu hình. Nhưng trong lần phân tích này, chúng ta sẽ cố gắng chú tâm tới khía cạnh chủ quan của con người. Mặt khác, những phần sau này lại có vẻ sát với văn bản gốc hơn, nhất là sát với câu chuyện thứ hai theo truyền thống Giavê kể về cuộc sáng tạo.
Nếu để ra ngoài một vài lối chú giải thì hình như đã quá rõ là “kinh nghiệm thân xác”, như khi được suy ra trong bản văn bản cổ của Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) và ngay cả Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10), có ý chỉ một mức độ “thần linh hoá” con người. Điều nói đây thì khác hẳn với những gì nói trong cùng văn bản sau khi phạm nguyên tội (x. St 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10)) mà chúng ta biết được là nhờ kinh nghiệm của con người lịch sử. Và đây cũng lại là một mức độ “thần linh hoá” khác. Nó chứa một kết cấu khác của sức mạnh nội tâm con người. Nó bao hàm một quan hệ hồn-xác khác và nó cũng chứa đựng một tương quan khác giữa cảm xúc, linh thiêng và tình cảm, tức là một mức độ rung động nội tâm khác đối với ân huệ của Chúa Thánh Thần. Tất cả những điều đó tạo điều kiện và cùng lúc định nghĩa cho tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, đã cho phép chúng ta hiểu rõ câu chuyện của Sách Sáng Thế hơn. Thần học cũng như Huấn quyền Giáo hội đã mặc cho những sự thực nền tảng đó một hình thức đặc biệt.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Khi phân tích về thuở ban đầu trên bình diện của khoa thần học thân xác, chúng ta đã dựa trên nền tảng lời của Đức Kitô mà chính Người đã nói về “thuở ban đầu”. Khi Người nói rằng: “Các ông không đọc thấy điều này sao: thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra có nam có nữ” (Mt 19,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19,4&FontSize=Txt10)), Người đã dạy bảo và vẫn còn dạy bảo chúng ta phải luôn quay trở về cái chiều kích sâu xa của mầu nhiệm sáng tạo. Và chúng ta đã làm như thế với một nhận thức rõ rệt về ân huệ của sự trong trắng nguyên thuỷ, đặc điểm của con người trước khi phạm nguyên tội. Một rào chắn khó vượt qua đã ngăn cách chúng ta với những gì con người, xét như là nam và nữ nhờ quà tặng ân sủng đã được kết hợp với mầu nhiệm sáng tạo, và [rào chắn ấy cũng ngăn cách chúng ta] với những gì cả hai (nam và nữ) đã trở thành cho nhau, như là quà tặng cho nhau. Tuy nhiên chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu thêm về tình trạng trong trắng nguyên thuỷ trong mối quan hệ với tình trạng của con người lịch sử sau khi đã phạm nguyên tội: “status naturae lapsae simul et redemptae” (tình trạng tự nhiên đã bị phá hỏng nhưng đồng thời đã được cứu chuộc).
Qua phạm trù hậu nghiệm lịch sử, chúng ta cố gắng hiểu ý nghĩa nguyên thuỷ của thân xác. Chúng ta cố gắng nắm chắc sự liên quan giữa ý nghĩa và bản chất của sự trong trắng nguyên thuỷ trong “kinh nghiệm thân xác”, như đã được nêu rõ ràng ở câu chuyện kể trong Sách Sáng Thế. Chúng ta đi đến kết luận rằng điều quan trọng và tất yếu là phải xác định rõ sự liên quan đó. Không những chỉ đối với “tiền sử thần học” của con người, lúc mà cuộc sống của hai người luôn thấm nhuần ân sủng của sự trong trắng nguyên thuỷ, mà còn phải xác định rõ liên quan đó trong mối quan hệ với khả năng mặc khải cho chúng ta biết về cội rễ muôn đời của con người và đặc biệt là khía cạnh thần học của luân thường đạo lý (ethos) về thân xác.
Con người đi vào thế giới và đi vào trong khuôn mẫu mật thiết nhất của tương lai và lịch sử của chính mình với ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác mình trong phái tính nam và phái tính nữ. Sự trong trắng nguyên thuỷ nói rằng ý nghĩa của nó đã được tạo nên “theo cách luân thường”, và hơn thế nữa, chính nó còn tạo thành tương lai của đạo lý (ethos) con người. Điều này rất quan trọng cho khoa thần học thân xác. Đó là lý do tại sao chúng ta phải xây dựng khoa thần học này trên “thuở ban đầu” bằng cách theo thật sát những lời Đức Kitô dạy.
Trong mầu nhiệm sáng tạo, người nam và người nữ được “trao tặng” cách đặc biệt cho nhau bởi Đấng Tạo Hoá. Được như thế không những chỉ trên bình diện của đôi vợ chồng đầu tiên và của sự hiệp thông nhân vị đầu tiên, nhưng còn trong toàn viễn ảnh của hiện hữu gia đình nhân loại. Sự kiện nền tảng của hiện hữu con người ở mọi thời của lịch sử là Thiên Chúa đã “tạo nên con người có nam có nữ”. Người đã luôn tạo con người như thế và họ sẽ luôn phải như thế. Hiểu được ý nghĩa nền tảng ở trong mầu nhiệm sáng tạo đó, như là ý nghĩa hôn phối của thân xác (và những nhân tố nền tảng của ý nghĩa đó) thì rất quan trọng. Điều đó rất cần thiết để biết rõ con người là ai, con người phải là gì, và con người phải hành động trong khuôn khổ nào. Đó là những điều rất quan trọng và chính yếu cho tương lai của luân thường đạo lý con người.
Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) kể rằng cả hai, nam và nữ, đã được tạo dựng cho hôn nhân: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”. Và như thế, một viễn ảnh lớn của sự sáng tạo đã được mở ra. Đó chính là viễn ảnh của cuộc hiện hữu con người, một viễn ảnh không ngừng đổi mới qua trung gian của việc sinh sản mà ta có thể gọi là tự-sinh-sôi.
Viễn ảnh này đã đâm rễ sâu vào trong ý thức của nhân loại (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)) và nhất là ý thức hôn phối của thân xác (St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10)). Trước khi trở thành vợ chồng (Sách Sáng Thế 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10) nói cụ thể hơn về vấn đề này), người nam và người nữ đã trỗi dậy từ mầu nhiệm sáng tạo như là anh và em trong một gia đình nhân loại. Ý nghĩa hôn phối của thân xác trong phái tính nam và phái tính nữ mặc khải cho chúng ta bề sâu của tự do, một sự tự do tự hiến.
Và từ đây mà có sự hiệp thông nhân vị, trong đó cả hai đã gặp nhau và tự trao hiến cho nhau với trọn vẹn chủ thể tính của mình. Cả hai đã lớn mạnh như là những chủ-thể-nhân-vị. Họ làm cho nhau tăng trưởng cũng chính là nhờ qua thân xác và qua sự trần truồng mà không xấu hổ. Trong sự hiệp thông nhân vị này, chúng ta cũng thấy tất cả chiều sâu của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người (của con người đầu tiên và cũng là của tất cả mọi người). Nhưng cũng chính lúc đó, sự đơn độc nguyên thuỷ đã trở nên thấm đẫm và lớn rộng thêm một cách tuyệt vời nhờ sự trao tặng của người khác. Nếu người nam và người nữ ngừng trở thành quà tặng vô vị lợi cho nhau, như trong mầu nhiệm sáng tạo, thì họ sẽ nhận thức được là họ “đang trần truồng” (x. St 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10)). Và từ đó mà trong lòng họ bắt đầu thấy xấu hổ vì trần truồng, việc mà họ không hề cảm thấy khi còn ở trọng trạng thái trong trắng nguyên thuỷ.
Sự trong trắng nguyên thuỷ diễn đạt và đồng thời cũng cấu tạo thành luân thường đạo lý hoàn hảo của sự trao hiến.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) “Những ai không nhìn nhận rằng Ađam con người đầu tiên, vì bất tuân lệnh Chúa trong vườn địa đàng đã đánh mất tức khắc sự thánh thiện và công chính mà trong tình trạng đó con người đã được tạo dựng nên… kẻ ấy là lạc giáo” (Công Đồng Trentô, Sess. V con. 1, 2: D.B. 788, 789).
“Hai nguyên tổ được dựng nên trong trạng thái thánh thiện và công chính… Trạng thái công chính nguyên thuỷ được trao ban cho hai nguyên tổ cách nhưng không và hoàn toàn siêu nhiên… Các vị nguyên tổ được tạo dựng trong một trạng thái tự nhiên không tì vết, tức là vô nhiễm đối với dục vọng, ngu muội, đau khổ và chết chóc… và họ được hưởng một niềm hạnh phúc tuyệt vời… Những ân ban vô tì vết nơi các nguyên tổ thì nhưng không và ngoại nhiên.” (A. Tanquerey, Synopsis Theologiae Dogmaticae [Paris: 1943], 24, pp. 545-549).
18. Sự trong trắng nguyên thuỷ và tình trạng lịch sử của con người
Bài suy niệm hôm nay gồm tóm những gì đã thâu lượm được qua các cuộc phân tích đa dạng từ trước tới bây giờ. Những phân tích này được phát sinh từ câu trả lời của Ðức Giêsu cho những người chất vấn (xem Mt 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10) và Mc 10,1-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10:1-12&FontSize=Txt10)) về sự bất khả phân ly và tính đơn nhất của hôn nhân. Và Người đã bảo họ phải xem xét kỹ càng tới điều đã có “từ thuở ban đầu”. Chính vì lý do này mà trong các loạt bài suy niệm ở đây, chúng ta đã cố gắng xây dựng lại thực tại của sự hiệp nhất, hay nói đúng hơn là thực tại của sự hiệp thông nhân vị mà người nam và nữ đã sống ngay “từ thuở ban đầu”. Và sau đó, chúng ta đã cố gắng đi sâu vào nội dung của đoạn Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10), thật cô đọng: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng, mà không thấy xấu hổ”.
Những lời này muốn nói về việc trao tặng sự trong trắng nguyên thuỷ. Và có thể nói được rằng chúng cũng mặc khải một cách tổng hợp những đặc điểm của sự trao tặng đó. Trên nền tảng đó, thần học đã xây dựng hình ảnh tổng quát về sự công chính và trong trắng nguyên thuỷ của con người, trước tội nguyên tổ, bằng cách áp dụng phương pháp khách quan, đặc điểm của siêu hình học và nhân loại hoc siêu hình. Nhưng trong lần phân tích này, chúng ta sẽ cố gắng chú tâm tới khía cạnh chủ quan của con người. Mặt khác, những phần sau này lại có vẻ sát với văn bản gốc hơn, nhất là sát với câu chuyện thứ hai theo truyền thống Giavê kể về cuộc sáng tạo.
Nếu để ra ngoài một vài lối chú giải thì hình như đã quá rõ là “kinh nghiệm thân xác”, như khi được suy ra trong bản văn bản cổ của Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) và ngay cả Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10), có ý chỉ một mức độ “thần linh hoá” con người. Điều nói đây thì khác hẳn với những gì nói trong cùng văn bản sau khi phạm nguyên tội (x. St 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10)) mà chúng ta biết được là nhờ kinh nghiệm của con người lịch sử. Và đây cũng lại là một mức độ “thần linh hoá” khác. Nó chứa một kết cấu khác của sức mạnh nội tâm con người. Nó bao hàm một quan hệ hồn-xác khác và nó cũng chứa đựng một tương quan khác giữa cảm xúc, linh thiêng và tình cảm, tức là một mức độ rung động nội tâm khác đối với ân huệ của Chúa Thánh Thần. Tất cả những điều đó tạo điều kiện và cùng lúc định nghĩa cho tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, đã cho phép chúng ta hiểu rõ câu chuyện của Sách Sáng Thế hơn. Thần học cũng như Huấn quyền Giáo hội đã mặc cho những sự thực nền tảng đó một hình thức đặc biệt.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Khi phân tích về thuở ban đầu trên bình diện của khoa thần học thân xác, chúng ta đã dựa trên nền tảng lời của Đức Kitô mà chính Người đã nói về “thuở ban đầu”. Khi Người nói rằng: “Các ông không đọc thấy điều này sao: thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra có nam có nữ” (Mt 19,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19,4&FontSize=Txt10)), Người đã dạy bảo và vẫn còn dạy bảo chúng ta phải luôn quay trở về cái chiều kích sâu xa của mầu nhiệm sáng tạo. Và chúng ta đã làm như thế với một nhận thức rõ rệt về ân huệ của sự trong trắng nguyên thuỷ, đặc điểm của con người trước khi phạm nguyên tội. Một rào chắn khó vượt qua đã ngăn cách chúng ta với những gì con người, xét như là nam và nữ nhờ quà tặng ân sủng đã được kết hợp với mầu nhiệm sáng tạo, và [rào chắn ấy cũng ngăn cách chúng ta] với những gì cả hai (nam và nữ) đã trở thành cho nhau, như là quà tặng cho nhau. Tuy nhiên chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu thêm về tình trạng trong trắng nguyên thuỷ trong mối quan hệ với tình trạng của con người lịch sử sau khi đã phạm nguyên tội: “status naturae lapsae simul et redemptae” (tình trạng tự nhiên đã bị phá hỏng nhưng đồng thời đã được cứu chuộc).
Qua phạm trù hậu nghiệm lịch sử, chúng ta cố gắng hiểu ý nghĩa nguyên thuỷ của thân xác. Chúng ta cố gắng nắm chắc sự liên quan giữa ý nghĩa và bản chất của sự trong trắng nguyên thuỷ trong “kinh nghiệm thân xác”, như đã được nêu rõ ràng ở câu chuyện kể trong Sách Sáng Thế. Chúng ta đi đến kết luận rằng điều quan trọng và tất yếu là phải xác định rõ sự liên quan đó. Không những chỉ đối với “tiền sử thần học” của con người, lúc mà cuộc sống của hai người luôn thấm nhuần ân sủng của sự trong trắng nguyên thuỷ, mà còn phải xác định rõ liên quan đó trong mối quan hệ với khả năng mặc khải cho chúng ta biết về cội rễ muôn đời của con người và đặc biệt là khía cạnh thần học của luân thường đạo lý (ethos) về thân xác.
Con người đi vào thế giới và đi vào trong khuôn mẫu mật thiết nhất của tương lai và lịch sử của chính mình với ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác mình trong phái tính nam và phái tính nữ. Sự trong trắng nguyên thuỷ nói rằng ý nghĩa của nó đã được tạo nên “theo cách luân thường”, và hơn thế nữa, chính nó còn tạo thành tương lai của đạo lý (ethos) con người. Điều này rất quan trọng cho khoa thần học thân xác. Đó là lý do tại sao chúng ta phải xây dựng khoa thần học này trên “thuở ban đầu” bằng cách theo thật sát những lời Đức Kitô dạy.
Trong mầu nhiệm sáng tạo, người nam và người nữ được “trao tặng” cách đặc biệt cho nhau bởi Đấng Tạo Hoá. Được như thế không những chỉ trên bình diện của đôi vợ chồng đầu tiên và của sự hiệp thông nhân vị đầu tiên, nhưng còn trong toàn viễn ảnh của hiện hữu gia đình nhân loại. Sự kiện nền tảng của hiện hữu con người ở mọi thời của lịch sử là Thiên Chúa đã “tạo nên con người có nam có nữ”. Người đã luôn tạo con người như thế và họ sẽ luôn phải như thế. Hiểu được ý nghĩa nền tảng ở trong mầu nhiệm sáng tạo đó, như là ý nghĩa hôn phối của thân xác (và những nhân tố nền tảng của ý nghĩa đó) thì rất quan trọng. Điều đó rất cần thiết để biết rõ con người là ai, con người phải là gì, và con người phải hành động trong khuôn khổ nào. Đó là những điều rất quan trọng và chính yếu cho tương lai của luân thường đạo lý con người.
Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) kể rằng cả hai, nam và nữ, đã được tạo dựng cho hôn nhân: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”. Và như thế, một viễn ảnh lớn của sự sáng tạo đã được mở ra. Đó chính là viễn ảnh của cuộc hiện hữu con người, một viễn ảnh không ngừng đổi mới qua trung gian của việc sinh sản mà ta có thể gọi là tự-sinh-sôi.
Viễn ảnh này đã đâm rễ sâu vào trong ý thức của nhân loại (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)) và nhất là ý thức hôn phối của thân xác (St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10)). Trước khi trở thành vợ chồng (Sách Sáng Thế 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10) nói cụ thể hơn về vấn đề này), người nam và người nữ đã trỗi dậy từ mầu nhiệm sáng tạo như là anh và em trong một gia đình nhân loại. Ý nghĩa hôn phối của thân xác trong phái tính nam và phái tính nữ mặc khải cho chúng ta bề sâu của tự do, một sự tự do tự hiến.
Và từ đây mà có sự hiệp thông nhân vị, trong đó cả hai đã gặp nhau và tự trao hiến cho nhau với trọn vẹn chủ thể tính của mình. Cả hai đã lớn mạnh như là những chủ-thể-nhân-vị. Họ làm cho nhau tăng trưởng cũng chính là nhờ qua thân xác và qua sự trần truồng mà không xấu hổ. Trong sự hiệp thông nhân vị này, chúng ta cũng thấy tất cả chiều sâu của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người (của con người đầu tiên và cũng là của tất cả mọi người). Nhưng cũng chính lúc đó, sự đơn độc nguyên thuỷ đã trở nên thấm đẫm và lớn rộng thêm một cách tuyệt vời nhờ sự trao tặng của người khác. Nếu người nam và người nữ ngừng trở thành quà tặng vô vị lợi cho nhau, như trong mầu nhiệm sáng tạo, thì họ sẽ nhận thức được là họ “đang trần truồng” (x. St 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10)). Và từ đó mà trong lòng họ bắt đầu thấy xấu hổ vì trần truồng, việc mà họ không hề cảm thấy khi còn ở trọng trạng thái trong trắng nguyên thuỷ.
Sự trong trắng nguyên thuỷ diễn đạt và đồng thời cũng cấu tạo thành luân thường đạo lý hoàn hảo của sự trao hiến.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) “Những ai không nhìn nhận rằng Ađam con người đầu tiên, vì bất tuân lệnh Chúa trong vườn địa đàng đã đánh mất tức khắc sự thánh thiện và công chính mà trong tình trạng đó con người đã được tạo dựng nên… kẻ ấy là lạc giáo” (Công Đồng Trentô, Sess. V con. 1, 2: D.B. 788, 789).
“Hai nguyên tổ được dựng nên trong trạng thái thánh thiện và công chính… Trạng thái công chính nguyên thuỷ được trao ban cho hai nguyên tổ cách nhưng không và hoàn toàn siêu nhiên… Các vị nguyên tổ được tạo dựng trong một trạng thái tự nhiên không tì vết, tức là vô nhiễm đối với dục vọng, ngu muội, đau khổ và chết chóc… và họ được hưởng một niềm hạnh phúc tuyệt vời… Những ân ban vô tì vết nơi các nguyên tổ thì nhưng không và ngoại nhiên.” (A. Tanquerey, Synopsis Theologiae Dogmaticae [Paris: 1943], 24, pp. 545-549).