PDA

View Full Version : Phần I. Bài 18. Sự trong trắng nguyên thuỷ và tình trạng lịch sử của con người


admin
03-04-2006, 01:39 PM
Thứ Tư, ngày 13/02/1980


18. Sự trong trắng nguyên thuỷ và tình trạng lịch sử của con người

Bài suy niệm hôm nay gồm tóm những gì đã thâu lượm được qua các cuộc phân tích đa dạng từ trước tới bây giờ. Những phân tích này được phát sinh từ câu trả lời của Ðức Giêsu cho những người chất vấn (xem Mt 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10) và Mc 10,1-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10:1-12&FontSize=Txt10)) về sự bất khả phân ly và tính đơn nhất của hôn nhân. Và Người đã bảo họ phải xem xét kỹ càng tới điều đã có “từ thuở ban đầu”. Chính vì lý do này mà trong các loạt bài suy niệm ở đây, chúng ta đã cố gắng xây dựng lại thực tại của sự hiệp nhất, hay nói đúng hơn là thực tại của sự hiệp thông nhân vị mà người nam và nữ đã sống ngay “từ thuở ban đầu”. Và sau đó, chúng ta đã cố gắng đi sâu vào nội dung của đoạn Sách Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10), thật cô đọng: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng, mà không thấy xấu hổ”.

Những lời này muốn nói về việc trao tặng sự trong trắng nguyên thuỷ. Và có thể nói được rằng chúng cũng mặc khải một cách tổng hợp những đặc điểm của sự trao tặng đó. Trên nền tảng đó, thần học đã xây dựng hình ảnh tổng quát về sự công chính và trong trắng nguyên thuỷ của con người, trước tội nguyên tổ, bằng cách áp dụng phương pháp khách quan, đặc điểm của siêu hình học và nhân loại hoc siêu hình. Nhưng trong lần phân tích này, chúng ta sẽ cố gắng chú tâm tới khía cạnh chủ quan của con người. Mặt khác, những phần sau này lại có vẻ sát với văn bản gốc hơn, nhất là sát với câu chuyện thứ hai theo truyền thống Giavê kể về cuộc sáng tạo.

Nếu để ra ngoài một vài lối chú giải thì hình như đã quá rõ là “kinh nghiệm thân xác”, như khi được suy ra trong bản văn bản cổ của Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) và ngay cả Sáng Thế 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10), có ý chỉ một mức độ “thần linh hoá” con người. Điều nói đây thì khác hẳn với những gì nói trong cùng văn bản sau khi phạm nguyên tội (x. St 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10)) mà chúng ta biết được là nhờ kinh nghiệm của con người lịch sử. Và đây cũng lại là một mức độ “thần linh hoá” khác. Nó chứa một kết cấu khác của sức mạnh nội tâm con người. Nó bao hàm một quan hệ hồn-xác khác và nó cũng chứa đựng một tương quan khác giữa cảm xúc, linh thiêng và tình cảm, tức là một mức độ rung động nội tâm khác đối với ân huệ của Chúa Thánh Thần. Tất cả những điều đó tạo điều kiện và cùng lúc định nghĩa cho tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, đã cho phép chúng ta hiểu rõ câu chuyện của Sách Sáng Thế hơn. Thần học cũng như Huấn quyền Giáo hội đã mặc cho những sự thực nền tảng đó một hình thức đặc biệt.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)


Khi phân tích về thuở ban đầu trên bình diện của khoa thần học thân xác, chúng ta đã dựa trên nền tảng lời của Đức Kitô mà chính Người đã nói về “thuở ban đầu”. Khi Người nói rằng: “Các ông không đọc thấy điều này sao: thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra có nam có nữ” (Mt 19,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19,4&FontSize=Txt10)), Người đã dạy bảo và vẫn còn dạy bảo chúng ta phải luôn quay trở về cái chiều kích sâu xa của mầu nhiệm sáng tạo. Và chúng ta đã làm như thế với một nhận thức rõ rệt về ân huệ của sự trong trắng nguyên thuỷ, đặc điểm của con người trước khi phạm nguyên tội. Một rào chắn khó vượt qua đã ngăn cách chúng ta với những gì con người, xét như là nam và nữ nhờ quà tặng ân sủng đã được kết hợp với mầu nhiệm sáng tạo, và [rào chắn ấy cũng ngăn cách chúng ta] với những gì cả hai (nam và nữ) đã trở thành cho nhau, như là quà tặng cho nhau. Tuy nhiên chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu thêm về tình trạng trong trắng nguyên thuỷ trong mối quan hệ với tình trạng của con người lịch sử sau khi đã phạm nguyên tội: “status naturae lapsae simul et redemptae” (tình trạng tự nhiên đã bị phá hỏng nhưng đồng thời đã được cứu chuộc).

Qua phạm trù hậu nghiệm lịch sử, chúng ta cố gắng hiểu ý nghĩa nguyên thuỷ của thân xác. Chúng ta cố gắng nắm chắc sự liên quan giữa ý nghĩa và bản chất của sự trong trắng nguyên thuỷ trong “kinh nghiệm thân xác”, như đã được nêu rõ ràng ở câu chuyện kể trong Sách Sáng Thế. Chúng ta đi đến kết luận rằng điều quan trọng và tất yếu là phải xác định rõ sự liên quan đó. Không những chỉ đối với “tiền sử thần học” của con người, lúc mà cuộc sống của hai người luôn thấm nhuần ân sủng của sự trong trắng nguyên thuỷ, mà còn phải xác định rõ liên quan đó trong mối quan hệ với khả năng mặc khải cho chúng ta biết về cội rễ muôn đời của con người và đặc biệt là khía cạnh thần học của luân thường đạo lý (ethos) về thân xác.

Con người đi vào thế giới và đi vào trong khuôn mẫu mật thiết nhất của tương lai và lịch sử của chính mình với ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác mình trong phái tính nam và phái tính nữ. Sự trong trắng nguyên thuỷ nói rằng ý nghĩa của nó đã được tạo nên “theo cách luân thường”, và hơn thế nữa, chính nó còn tạo thành tương lai của đạo lý (ethos) con người. Điều này rất quan trọng cho khoa thần học thân xác. Đó là lý do tại sao chúng ta phải xây dựng khoa thần học này trên “thuở ban đầu” bằng cách theo thật sát những lời Đức Kitô dạy.

Trong mầu nhiệm sáng tạo, người nam và người nữ được “trao tặng” cách đặc biệt cho nhau bởi Đấng Tạo Hoá. Được như thế không những chỉ trên bình diện của đôi vợ chồng đầu tiên và của sự hiệp thông nhân vị đầu tiên, nhưng còn trong toàn viễn ảnh của hiện hữu gia đình nhân loại. Sự kiện nền tảng của hiện hữu con người ở mọi thời của lịch sử là Thiên Chúa đã “tạo nên con người có nam có nữ”. Người đã luôn tạo con người như thế và họ sẽ luôn phải như thế. Hiểu được ý nghĩa nền tảng ở trong mầu nhiệm sáng tạo đó, như là ý nghĩa hôn phối của thân xác (và những nhân tố nền tảng của ý nghĩa đó) thì rất quan trọng. Điều đó rất cần thiết để biết rõ con người là ai, con người phải là gì, và con người phải hành động trong khuôn khổ nào. Đó là những điều rất quan trọng và chính yếu cho tương lai của luân thường đạo lý con người.

Sách Sáng Thế 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) kể rằng cả hai, nam và nữ, đã được tạo dựng cho hôn nhân: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”. Và như thế, một viễn ảnh lớn của sự sáng tạo đã được mở ra. Đó chính là viễn ảnh của cuộc hiện hữu con người, một viễn ảnh không ngừng đổi mới qua trung gian của việc sinh sản mà ta có thể gọi là tự-sinh-sôi.

Viễn ảnh này đã đâm rễ sâu vào trong ý thức của nhân loại (St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10)) và nhất là ý thức hôn phối của thân xác (St 2,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:25&FontSize=Txt10)). Trước khi trở thành vợ chồng (Sách Sáng Thế 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10) nói cụ thể hơn về vấn đề này), người nam và người nữ đã trỗi dậy từ mầu nhiệm sáng tạo như là anh và em trong một gia đình nhân loại. Ý nghĩa hôn phối của thân xác trong phái tính nam và phái tính nữ mặc khải cho chúng ta bề sâu của tự do, một sự tự do tự hiến.

Và từ đây mà có sự hiệp thông nhân vị, trong đó cả hai đã gặp nhau và tự trao hiến cho nhau với trọn vẹn chủ thể tính của mình. Cả hai đã lớn mạnh như là những chủ-thể-nhân-vị. Họ làm cho nhau tăng trưởng cũng chính là nhờ qua thân xác và qua sự trần truồng mà không xấu hổ. Trong sự hiệp thông nhân vị này, chúng ta cũng thấy tất cả chiều sâu của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người (của con người đầu tiên và cũng là của tất cả mọi người). Nhưng cũng chính lúc đó, sự đơn độc nguyên thuỷ đã trở nên thấm đẫm và lớn rộng thêm một cách tuyệt vời nhờ sự trao tặng của người khác. Nếu người nam và người nữ ngừng trở thành quà tặng vô vị lợi cho nhau, như trong mầu nhiệm sáng tạo, thì họ sẽ nhận thức được là họ “đang trần truồng” (x. St 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10)). Và từ đó mà trong lòng họ bắt đầu thấy xấu hổ vì trần truồng, việc mà họ không hề cảm thấy khi còn ở trọng trạng thái trong trắng nguyên thuỷ.

Sự trong trắng nguyên thuỷ diễn đạt và đồng thời cũng cấu tạo thành luân thường đạo lý hoàn hảo của sự trao hiến.

-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) “Những ai không nhìn nhận rằng Ađam con người đầu tiên, vì bất tuân lệnh Chúa trong vườn địa đàng đã đánh mất tức khắc sự thánh thiện và công chính mà trong tình trạng đó con người đã được tạo dựng nên… kẻ ấy là lạc giáo” (Công Đồng Trentô, Sess. V con. 1, 2: D.B. 788, 789).
“Hai nguyên tổ được dựng nên trong trạng thái thánh thiện và công chính… Trạng thái công chính nguyên thuỷ được trao ban cho hai nguyên tổ cách nhưng không và hoàn toàn siêu nhiên… Các vị nguyên tổ được tạo dựng trong một trạng thái tự nhiên không tì vết, tức là vô nhiễm đối với dục vọng, ngu muội, đau khổ và chết chóc… và họ được hưởng một niềm hạnh phúc tuyệt vời… Những ân ban vô tì vết nơi các nguyên tổ thì nhưng không và ngoại nhiên.” (A. Tanquerey, Synopsis Theologiae Dogmaticae [Paris: 1943], 24, pp. 545-549).

admin
29-10-2009, 09:05 PM
XVIII

SỰ VÔ TỘI NGUYÊN THỦY VÀ
TÌNH TRẠNG LỊCH SỬ CỦA CON NGƯỜI

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac18.jpg1. Chúng ta tiếp tục suy tư trên cơ sở giả thiết tất cả những gì đã gặt hái được cho tới nay qua những phân tích trước đây. Chúng phát xuất từ câu trả lời của Đức Giêsu cho những kẻ chất vấn Người (Tin mừng thánh Matthêu 19,3-9, và thánh Marcô 10,1-12), về vấn đề hôn nhân, về sự bất khả phân ly và tính duy nhất của hôn nhân. Thầy Giêsu đã khuyên họ xem xét kĩ lưỡng điều vốn có từ «thuở ban đầu». Và chính nhờ đó, trong những bài suy tư của chúng ta cho đến nay, chúng tôi đã cố tạo lại cách nào đó cái thực tại hiệp nhất, hay đúng hơn, hiệp thông ngôi vị, vốn được đôi bạn nam nữ sống «từ thuở ban đầu». Kế đến, chúng tôi đã thử đi sâu vào nội dung súc tích của câu St 2,25: «Bấy giờ, con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau».

Những lời đó nói đến hồng ân về sự vô tội (hay trong trắng) nguyên thủy, đồng thời tỏ lộ đặc tính của nó một cách tổng hợp. Trên cơ sở ấy, thần học đã xây dựng hình ảnh tổng thể về sự trong trắng và công chính nguyên thủy của con người trước khi có tội nguyên tổ, bằng cách áp dụng phương pháp khách thể hóa, vốn là đặc thù của siêu hình học và của nhân học siêu hình. Trong bài phân tích này, chúng tôi nghiêng về việc xét đến khía cạnh chủ thể tính nhân văn hơn. Vả lại, mặt ấy xem ra gần gũi với các bản văn nguyên thủy hơn, nhất là trình thuật thứ hai về tạo dựng, tức bản văn Giavít.

2. Không như một số chú giải nào đó, điều sau đây xem ra là khá rõ ràng: đó là «kinh nghiệm về thân xác» - điều mà chúng ta có thể rút ra từ các bản văn cổ St 2,23 và St 2,25 – cho thấy con người đã đạt tới một mức độ «tâm linh hóa» khá cao nào đó rồi, khác với tình trạng cũng bản văn ấy nói tới sau khi phạm tội nguyên tổ (St 3), tình trạng mà chúng ta đã biết đến từ kinh nghiệm của con người «lịch sử». Trong tình trạng nguyên thủy đó, con người sống một mức độ tâm linh rất khác, hình thành nên bởi những sức mạnh bên trong chính con người phối hợp với nhau, khác với tình trạng hiện nay. Con người nguyên thủy sống tương quan giữa xác và hồn như ở một mức độ khác, một tỉ lệ cân xứng nội tại giữa các cảm giác, tình cảm và tâm linh ở tầm mức khác, nghĩa là những giác quan nội tại qui hướng về các ơn huệ của Chúa Thánh Thần ở một tần suất khác. Tất cả những điều ấy thích ứng và đồng thời xác định tình trạng vô tội nguyên thủy của con người, và cũng giúp ta hiểu hơn trình thuật của Sáng thế. Thần học cũng như Huấn quyền của Giáo hội đã cho những chân lí nền tảng này một hình thức riêng [1].

3. Trong khi phân tích cái «thuở ban đầu» theo hướng thần học thân xác, chúng ta dựa trên lời của Đức Kitô, những lời chính từ miệng Người đã tham chiếu đến «thuở ban đầu». Người nói : «các ông không đọc thấy điều này sao: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ?”» (Mt 19,4). Như thế, Người đã truyền cho chúng ta và vẫn luôn truyền cho chúng ta hãy quay về với mầu nhiệm tạo dựng sâu thẳm. Và chúng ta đã làm điều đó với ý thức trọn vẹn về ơn huệ tình trạng vô tội nguyên thủy, tình trạng riêng của con người trước khi phạm tội. Dẫu có hàng rào ngăn cách không thể vượt qua giữa chúng ta với tình trạng của con người nam va nữ xa xưa lúc bấy giờ (nhờ ơn huệ của tình trạng ân sủng gắn liền với mầu nhiệm tạo dựng), tình trạng cả hai người vốn là quà tặng cho nhau, thế nhưng chúng ta cũng thử tìm hiểu tình trạng vô tội nguyên thủy ấy như thế nào trong mối liên hệ với tình trạng «lịch sử» của con người sau khi phạm tội : «status naturae lapsae simul et redemptae» (tình trạng của bản tính vừa đã sa ngã vừa được cứu chuộc).

Từ tình trạng «hậu nghiệm lịch sử» (a posteriori storico), chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa nguyên thủy của thân xác, và mối liên hệ giữa thân xác với bản tính vô tội nguyên thủy trong «kinh nghiệm thân xác», như đã được trưng ra một cách thật ý nghĩa trong trình thuật của Sách Sáng thế. Chúng ta kết luận rằng điều quan trọng và thiết yếu là xác định mối liên hệ này, quan trọng không những đối với «tiền sử thần học» của con người trong đó cuộc sống lứa đôi hầu như được thấm nhập hoàn toàn bởi ân sủng vô tội nguyên thủy. Nó còn quan trọng thiết yếu vì có thể mạc khải cho chúng ta biết những cội rễ thường tồn của ethos [thiên hướng – N.D.] của thân xác, về phương diện nhân văn và (nhất là) về thần học.

4. Con người bước vào trong thế giới, và có thể nói, đã đi vào mạng lưới thâm sâu nhất của tương lai và lịch sử mình, với ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác mình, một thân xác với giới tính nam và nữ của mình. Sự vô tội nguyên thủy bộc lộ ý nghĩa ấy làm nên tình trạng «đạo đức» (etica) và hơn thế nữa, về phần mình, nó làm nên tương lai của ethos con người. Điều ấy hết sức quan trọng đối với thần học thân xác. Đó là lí do tại sao chúng ta phải xây dựng thần học thân xác này «từ thuở ban đầu», trong khi theo đuổi cẩn thận những lời chỉ dẫn của Đức Kitô.

Trong mầu nhiệm tạo dựng, người đàn ông và người đàn bà được Đấng Tạo Hóa «trao ban» cho nhau một cách đặc biệt. Điều đó không chỉ ở trong phạm vi cặp vợ chồng đầu tiên và sự hiệp thông ngôi vị đầu tiên, nhưng trong toàn bộ viễn tượng của cuộc sống và gia đình nhân loại. Sự kiện căn bản của cuộc sống con người trong mọi giai đoạn của lịch sử của mình, đó là Thiên Chúa «đã tạo dựng họ có nam có nữ», và quả thật Ngài luôn luôn tạo dựng con người với cách thức như thế và luôn luôn là như thế. Hiểu những ý nghĩa nền tảng ẩn chứa trong chính mầu nhiệm tạo dựng, cũng như ý nghĩa hôn phối của thân xác (và những điều kiện nền tảng của ý nghĩa ấy) là điều quan trọng và thiết yếu để biết con người là ai và con người phải là ai, và từ đó biết phải tổ chức sinh hoạt của mình như thế nào. Đó là điều thiết yếu và quan trọng cho tương lai của ethos con người.

5. Đoạn St 2,24 cho thấy rằng cả hai người đàn ông và người đàn bà đã được tạo dựng nên cho cuộc hôn phối: «bởi thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ và gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ nên một xương một thịt». Từ đó mở ra một viễn tượng sáng tạo lớn lao. Chính viễn tượng cuộc sống của con người ấy được liên tục làm cho mới nhờ «sự sinh sản» [procreazione] (hoặc ta cũng có thể nói, nhờ «sự tự sản» [autoriproduzione]). Viễn tượng đó bám rễ sâu vào trong tâm thức của nhân loại (x. St 2,23) và trong ý thức đặc biệt về ý nghĩa hôn phối của thân xác (St 2,25). Người đàn ông và người đàn bà, trước khi là chồng là vợ (cụ thể điều đó chỉ được nói tới ở St 4), từ mầu nhiệm tạo dựng họ xuất hiện trước hết như là anh em chị em trong cùng nhân tính. Hiểu ý nghĩa hôn phối của thân xác với giới tính nam và nữ của nó biểu lộ cho người ta thấy sự tự do thâm sâu của họ, sự tự do của trao ban.

Từ đó khai mào sự hiệp thông các ngôi vị, trong đó người ta gặp gỡ nhau và trao ban cho nhau hoàn toàn với trọn vẹn con người chủ thể mình. Như thế cả hai triển nở như là những con người–chủ thể, và giúp nhau triển nở qua thân xác và qua sự «trần truồng» mà không bị xấu hổ. Trong sự hiệp thông các ngôi vị đó, sự đơn độc nguyên thủy thâm sâu (của con người đầu tiên và của tất cả mọi người) được bảo đảm hoàn toàn, nhưng đồng thời sự đơn độc ấy một cách kì diệu được thấm nhập và mở rộng ra bởi tặng phẩm tha nhân. Nếu người đàn ông và người đàn bà không còn là tặng phẩm vô cầu trao ban cho nhau như xưa kia nữa trong mầu nhiệm sáng tạo, bấy giờ họ sẽ nhận ra nhau rằng mình «trần truồng» (x. St 3). Và bấy giờ nảy sinh trong tâm hồn họ sự xấu hổ vì trần truồng, là điều mà họ chưa từng cảm thấy trước đó trong tình trạng vô tội nguyên thủy. Sự vô tội nguyên thủy vừa bộc lộ vừa tạo nên ethos hoàn hảo của tặng phẩm trao ban. Chúng ta sẽ còn trở lại luận cứ này.

-------------------------
[1] «Si quis non confitetur primum hominem Adam, cum mandatum Dei in paradiso fuisset transgressus, statim sanctitatem et justitiam, in qua constitutus fuerat, amisisse... anathema sit» (Conc. Trident., Sess. V, can. 1, 2; D.B. 788, 789). (Dịch: «Nếu ai không tuyên tín rằng Ađam, con người đầu tiên, sau khi đã phạm giới răn của Chúa trong vườn địa đàng và lập tức mất đi sự thánh thiện và sự công chính mà Chúa đã thiết lập... thì bị tuyệt thông» (Cđ Trentô, kỳ họp thứ 5 (17/6/1546), điều 1, 2; DB 788, 789).

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch