PDA

View Full Version : Làm Sao Tha Thứ?”


admin
03-04-2006, 09:04 PM
"Làm Sao Tha Thứ?” (http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M75/MARANATHA_75.htm#lam_sao_tha_thu)


THỰC HÀNH THA THỨ QUA 12 GIAI ĐOẠN


Lm. John Monbourquette O.M.I.-

Tóm lược: Lm. Trần Trung Liêm, O.P.



Tầm quan trọng của tha thứ: Một thế giới không có tha thứ sẽ rơi vào một trong bốn tình trạng sau:

1. Trường tồn hóa nỗi đau
2. Sống với sự oán hận triền miên
3. Sống chôn vùi trong quá khứ
4. Tìm cách trả thù

“Muốn hạnh phúc trong một giây lát? Hãy trả thù. Muốn hạnh phúc dài lâu? Hãy tha thứ.” (Henry Lacordaire, O.P.)

Quyển sách “Làm Sao Tha Thứ?” là kết quả của một nghiên cứu và suy tư lâu dài được nuôi dưỡng bởi những kinh nghiệm điều trị và những kiến thức chuyên môn của tác giả; mục đích là để cung cấp một hướng dẫn thực tiễn giúp người đọc tha thứ qua các giai đoạn cụ thể. Sau đây là những lý do chính làm cho cuốn sách này được ra đời.

“Tôi đã dùng tâm lý trị liệu cho một trung niên 55 tuổi, là một giáo sư đại học và là người đạo đức. Niềm say mê công việc và những vấn đề gia đình của ông đã làm cho ông suy sụp trong sự trầm uất, dẫn đến bệnh loét bao tử. Sau 10 lần trị liệu, bệnh nhân đã học được cách giải tỏa nỗi đau bằng cách diễn tả cụ thể sự thất vọng và tức giận đối với người vợ nghiện rượu, đứa con trai nghiện ma túy và đứa con gái say mê điên khùng một chàng trai mà ông ghét cay ghét đắng. Một lần tôi dùng đến kỹ thuật các chiếc ghế trống, mà mỗi chiếc ghế thay thế cho một thành phần trong gia đình của ông, và tôi gợi ý ông nói chuyện và tha thứ cho mỗi người trong bọn họ. Lần đó là một lần trị liệu rất cảm động. Nhiều lần, ông đã khóc nức nở khi nói lên lời tha thứ; và rồi ông cũng đã xin mỗi người trong bọn họ tha thứ cho ông về sự vắng mặt quá nhiều và sự thiếu quan tâm của ông với việc nhà. Hai tuần sau buổi trị liệu ấy, ông báo cho tôi hay rằng các vết loét dạ dày của ông đã liền sẹo. Tôi thật quá ngạc nhiên, làm sao sự tha thứ lại có hiệu lực chữa lành cả những căn bệnh thể lý!

Nhận thấy quyển sách này rất thực dụng giúp các Kitô hữu có thể sống trọn vẹn và hạnh phúc hơn, chúng tôi xin tóm tắt và cô đọng những tư tưởng chính của tác giả. Hy vọng có thể làm một chút quà cho độc giả trong Mùa Chay 2006. Sách “Làm Sao Tha Thứ” có 2 phần chính: phần đầu trình bày bản chất của sự tha thứ và phần hai trình bày 12 giai đoạn để thực hành tha thứ. Chúng tôi chỉ xin tóm tắt chương III “Những Quan Niệm Sai Lầm Về Tha Thứ” của phần một, sau đó sẽ tóm tắt phần thực hành qua 12 giai đoạn của tác giả.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M75/MARANATHA_75.htm#lam_sao_tha_thu)

admin
19-05-2006, 09:54 PM
NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ THA THỨ

1. Tha thứ không phải là quên đi (not forgetting):

“Tôi không thể tha vì tôi không thể quên.” “Hãy lật sang trang mới”, “Đừng buộc mình vào sỉ nhục đó, hãy tiếp tục sống.” Những kiểu nói và hành động như trên là không lối thoát bởi vì:i. Quên điều sỉ nhục sẽ cản trở việc tha thứ vì mình sẽ không còn biết phải tha thứ gì.
ii. Nếu tha đồng nghĩa với quên thì điều gì sẽ xẩy ra cho những người có trí nhớ tự nhiên tuyệt vời.

Hành trình tha thứ đòi một trí nhớ tốt và một ý thức thật rõ ràng về điều xúc phạm.
Tha thứ giúp chữa lành ký ức: khi tha thứ, ký ức về thương tổn sẽ mất đi tính cay độc của nó, biến cố đau thương sẽ dần dần liền sẹo, và việc gợi nhớ lại điều xúc phạm không còn gây đau đớn nữa.2. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận (not denial):

Khi bị xúc phạm, phản ứng thông thường là xây cho mình một thành lũy để tránh bị đau đớn và những tình cảm tương tự. Phản ứng tự vệ này thường có vẻ là sự chối bỏ điều xúc phạm. Nếu phản xạ tự vệ kéo dài thì nó có thể trở thành nỗi u uất và làm cho ta mang bệnh; rồi vì chán nản nên cũng không cảm thấy cần chữa trị, và đương nhiên không muốn tha thứ.
Edith Stauffer trong Unconditional Love and Forgiveness định nghĩa tha thứ: “Tha Thứ, chính là hủy bỏ mọi yêu sách, điều kiện và mong muốn khỏi trí khôn, vì chúng làm ách tắc thái độ của tình yêu.”
Phải chăng để tha thứ, trước hết, phải chối bỏ một phần chính mình? Nếu thế thì rất nguy hiểm! Tha thứ chân thật cần chú ý đến những cảm tính nữa (tức giận, xấu hổ).3. Tha thứ đòi hỏi nhiều hơn hành vi ý chí (more than willpower): Hãy xét hai trường hợp sau:

Một bé trai bị nhốt trong phòng và buộc phải xin lỗi chị nó vì đã lục lọi nhật ký rồi sau đó chọc ghẹo chị.
Một cô giáo tách riêng hai đứa trẻ đang cãi nhau trong sân chơi và buộc chúng lập tức phải tha thứ nhau.
Nhiều người cho rằng tha thứ giống như một liều thuốc thần diệu có khả năng sửa đúng những sai phạm.
Phải chăng tha thứ là một hành vi của ý chí mà thôi? Phải chăng nó có thể thu xếp mọi xung đột cách tức thời và dứt điểm? Tha thứ kiểu này chỉ là để làm dịu đi nỗi lo lắng của nhà giáo hơn là giáo dục đứa trẻ. Tha thứ không những là hành vi của ý chí mà còn là kết quả của một tiến trình dài đồng thời cần phải huy động mọi quan năng của con người: cảm tính, con tim, trí tuệ, phán đoán, trí tưởng tượng, và nhất là đức tin.4. Tha thứ không thể bị bắt buộc (Cannot be given on command):

Hoặc tha thứ là tự do tự nguyện, hoặc là không có tha thứ. Một số mục tử hay bị cám dỗ là bắt buộc người ta tha thứ một cách tự do.
Không thể giản lược sự tha thứ vào một bó buộc luân lý; làm như thế là đánh mất đặc tính nhưng không và tự phát của tha thứ.
Lời nguyện xin tha thứ cho chúng con, như chúng con tha thứ cho những kẻ đã xúc phạm chúng con, thường được giải thích: tha thứ cho người khác là điều kiện để mình được Thiên Chúa tha thứ. Vậy hóa ra, sự tha thứ của Thiên Chúa bị điều kiện hoá bởi những tha thứ nhỏ nhoi của con người? Và lòng quảng đại của Thiên Chúa dựa trên luật có đi có lại của con người? Nếu không có sự tha thứ của con người thì họ phải chịu những hình phạt là chính họ cũng không được tha thứ sao?5. Tha thứ không đem ta trở lại tình trạng như trước khi bị xúc phạm (not take us back to before offence's situation):

Nhiều người hiểu lầm tha thứ có nghĩa là hoà giải và hoà giải có nghĩa là trở lại tình trạng như trước; và như vậy, hành động tha thứ hệ tại việc tái lập các mối quan hệ giống hệt những mối quan hệ chúng ta đã có trước khi xúc phạm xẩy ra. Trong những mối quan hệ ruột thịt thì hoà giải phải là hậu quả của tha thứ; nhưng tự bản chất, tha thứ không đồng nghĩa với hoà giải.
Với một người vắng mặt, không biết mặt, hay đã qua đời, chúng ta có thể tha thứ cho họ nhưng không thể hoà giải với họ nữa. Có những cha mẹ đã tha thứ cho kẻ sát nhân mà họ chẳng bao giờ biết mặt, những kẻ đã cướp đi mạng sống của con cái họ.
Không thể múc lại trọn vẹn chén nước đã đổ. Hoặc là chúng ta sẽ buộc phải tin là đã chẳng có gì xẫy ra - trong trường hợp này, chúng ta tái thiết lập một tương quan dựa trên một sự lừa dối; hoặc chúng ta lợi dụng cuộc đối đầu đó để xét lại phẩm chất của tương quan ấy và tái thiết lập nó trên một nền tảng vững chắc hơn.6. Tha thứ không đòi phải từ chối quyền lợi của mình (not giving up our rights):

Một thiếu phụ phản ứng khi nghe nói về tha thứ: “Cha nên thận trọng khi nói về tha thứ. Thật là nguy hiểm và ghê tởm khi tha thứ cho những kẻ bất lương; vì như thế, chẳng phải là khuyến khích chúng tái phạm sao?”
Benard Shaw đã từng nói: “Tha thứ là chỗ ẩn núp cho những kẻ lừa đảo.” (haven of crooks). Đôi khi các tín hữu bị trách cứ là đồng hóa tha thứ với một hình thức nhượng bộ cho những yêu sách của công lý, nhất là khi họ có khuynh hướng quá dễ dàng đưa cả ‘má bên kia.’
Tha thứ có liên quan mật thiết với công lý. Tha thứ phát xuất từ lòng khoan dung tự nguyện còn công lý nhằm tái lập trên nền tảng khách quan các quyền lợi của người bị thiệt hại.
Tha thứ mà không chống lại bất công, thì chẳng phải là dấu hiệu của sức mạnh và can đảm, mà là dấu hiệu của sự yếu nhược và dung thứ cho sai lầm. Điều này chỉ khuyến khích tội phạm tiếp tục phạm tội.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M75/MARANATHA_75.htm#lam_sao_tha_thu)

admin
19-05-2006, 09:55 PM
7. Tha thứ không có nghĩa là biện giải cho đối phương (not to excuse the offender):

Đó không phải là lỗi của hắn. Hắn đã không hiểu biết, đã bị ảnh hưởng bởi môi trường, bởi lối giáo dục’ (xét như thế thì không ai phải chịu trách nhiệm về bất cứ hành vi nào của y vì y không bao giờ được hoàn toàn tự do, tự ý).
Tha thứ không có nghĩa là làm nhẹ trách nhiệm luân lý của người gây xúc phạm, hay biện giải cho hắn.
Biện giải cho đối phương thường là một sự ngụy trang mà nạn nhân dùng để làm vơi bớt nỗi đau của mình (nếu kẻ xúc phạm đã cố tình, cố ý, thì thật là điều xỉ nhục quá lớn và mình lại là một kẻ tồi như thế hay sao?).
Biện giải như vậy một mặt khinh thường kẻ xúc phạm (ngu dốt, không biết) mặt khác làm giảm giá trị của y. Nó góp phần hạ nhục (làm cho người gây xúc phạm bớt tính người) hơn là giải thoát (xem Kịch La Grâce của Gabriel Marcel, Davy 1959, 115).8. Tha thứ không phải là tỏ ra mình trội hơn về mặt luân lý (not demonstrate moral superiority):

Có những hành vi tha thứ lại hạ nhục đối phương hơn là giải thoát hắn và như thế có thể biến thành một hành vi tinh tế của sự trội hơn về mặt luân lý. Mặc lốt của lòng khoan dung, có thể nó che đậy một ước muốn quyền lực.
Tha thứ để loè quần chúng. Kẻ tha thứ muốn phô trương sự cao cả luân lý của mình (tốt lành, thánh thiện) hầu làm nổi bật sự đê tiện, hèn hạ của kẻ gây ra xúc phạm. Càng sử dụng sự tha thứ vào mục đính ấy, càng tự châm biếm mình.
Sự tha thứ đích thực phát xuất từ sự khiêm tốn và mở lối cho sự hoà giải đích thực; ngược lại, sự tha thứ giả tạo chỉ kéo dài cái tương quan giữa kẻ thống trị và người bị trị.
“Nếu anh đã không tha thứ cho tôi vì yêu tôi, anh muốn tôi làm chi với sự tha thứ của anh?” (Lời nói của nhân vật nữ Claude của Gabriel Marcel, Un Homme de Dieu - A Man of God).
Tha thứ thực sự trên hết và trước hết phải là một hành vi của sức mạnh nội tâm. Chúng ta cần sức mạnh nội tâm để nhận ra và chấp nhận sự thương tổn của mình chứ không ngụy trang nó bằng một dáng vẻ tốt lành.9. Tha thứ không là phó mặc cho Thiên Chúa (not leaving it up to God):

Ta thường nói Tha thứ thuộc về Thiên Chúa (To forgive is divine or Only God can forgive). Không thể viện cớ để trút đổ hoàn toàn trách nhiệm tha thứ lên cho Thiên Chúa. Thiên Chúa không làm thay cho chúng ta hành động này.
Chạy đến với Thiên Chúa là một yếu tố cốt yếu trong tiến trình tha thứ, nhưng ta cũng phải chuẩn bị mình để đón nhận hồng ân này của Chúa.
Sự tha thứ vừa là việc của con người vừa là việc của Thiên Chúa. Tự nhiên và ân sủng không loại trừ nhau; chúng hợp tác với nhau và kiện toàn nhau● (còn tiếp)Tác giả: Lm. John Monbourquette O.M.I, Giáo sư tại Saint Paul University, Ottawa, Canada.


Nguyên bản Pháp Ngữ: COMMENT PARDONNER? xuất bản năm 1992.


Bản dịch Anh ngữ do: Kathy Poor & Bernadette Gasslein, Nxb. Novalis tái bản năm 2002.


Tóm lược: Fr. Jos. Trần Trung Liêm, O.P, Calgary, Canada, 2006

admin
19-05-2006, 10:03 PM
LÀM SAO THA THỨ? (II)


Lm. John Monbourquette O.M.I. - Tóm lược: Lm. Trần Trung Liêm, O.P.

(Tác giả: Lm. John Monbourquette O.M.I, Giáo sư tại Saint Paul University, Ottawa, Canada.
Nguyên bản Pháp Ngữ: COMMENT PARDONNER? xuất bản năm 1992.
Bản dịch Anh ngữ do: Kathy Poor & Bernadette Gasslein, Nxb. Novalis tái bản năm 2002.
Tóm lược: Fr. Jos. Trần Trung Liêm, O.P, Calgary, Canada, 2006)


III. CHUYỂN HƯỚNG:

1.- Tha thứ chính mình:

• “Ghét mình thì không thể tha thứ cho mình, không thể làm cho mình hiện hữu và là mình.- Georges Bernamos.


• “Điểm cốt yếu trong việc trị liệu, chính là học tha thứ cho mình.”

i. Nhận ra sự tự thù hận (self-hatred): Nhốt trong chính mình, ta không thể tha thứ cho bất cứ ai khác. Người trong tuyệt vọng cùng cực thường có khuynh hướng đổ lỗi cho chính mình; không tha thứ cho mình vì nghĩ họ đã tự để mình vướng vào trong sự sỉ nhục ấy.

ii. Nguồn gốc sự coi thường chính mình (lack of self-exteem):

• Thất vọng vì đã không thể sống đúng được những tôn chỉ, ước muốn hoặc lý tưởng mình đã đặt ra.

• Những nhận định tiêu cực (bằng lời hay không bằng lời) từ cha mẹ hoặc những người mình khính ngưỡng trong đời sống.

• Những công kích do những khả thể có tính cách thiêng liêng hay nhân bản đã bị đè nén.

iii. Đồng hóa với kẻ tấn công (identifying with the aggressor): Đây là một hình thức tự vệ; giống như vì muốn không để mình trở thành nạn nhân bằng cách đặt mình trong vị trí của kẻ tấn công. Nhưng không may, vì ngay khi sự xúc phạm đã xẩy ra và qua đi, nạn nhân vẫn tự bắt bớ mình. Trong tâm lý trị liệu, lập đi lập lại câu nói được kẻ xúc phạm sử dụng cho đến khi nạn nhân nhận ra mình chính là nạn nhân (“Mày ngu quá!” “Tôi ngu quá!”)

iv. Tương quan giữa ta và sự tha thứ: Chấp nhận mình và tha thứ cho mình.

2.- Hiểu kẻ xúc phạm đến mình:

Hiểu kẻ xúc phạm có nghĩa là nhìn hắn cách thật rõ ràng và trong sáng để nhận ra mọi góc cạnh của nhân vị đó và những động lực thôi thúc hắn thực hiện điều sai trái ấy.


i. Thôi đổ lỗi: Ta thường nghĩ xấu về kẻ xúc phạm ta; và hành động xúc phạm của hắn thường thống trị ký ức ta khiến ta thường đồng hóa hắn với chính hàng động xúc phạm (ta biến hắn thành nó). Kết án kẻ khác làm ta không tập trung vào mình nhưng vào lỗi lầm của kẻ khác; nếu không kết án kẻ khác, ta dễ dàng thấy rõ mình và kẻ gây xúc phạm hơn. Do đó, lên án kẻ xúc phạm cũng là lên án chính ta vậy. (p. 137).

ii. Khám phá hơn về lai lịch của kẻ xúc phạm: “Chúa tha hết vì Chúa biết hết!” Hiểu biết về lai lịch của HẮN hữu ích cho tiến trình tha thứ; không phải để làm bớt tội cho hắn, nhưng để đối xử với hắn cảm thông hơn.

iii. Tìm ra ý hướng tích cực của hắn để đề nghị những cách hữu dụng cho việc điều trị; thí dụ: “người cha bạo hành vì ông muốn bảo vệ và kiểm soát được đứa con”, “tên trộm vặt nhỏ tuổi vì muốn chứng tỏ cho bạn bè thấy mình gan dạ” …

iv. Khám phá ra giá trị và phẩm giá của hắn: Ta thường giản lược HẮN vào hành động hủy hoại của hắn và nhìn hắn với con mắt khinh khi. Tuy nhiên, bất kể những lỗi lầm, hắn vẫn có khả năng thay đổi và sửa mình.

v. Chấp nhận là mình không hiểu biết hết mọi sự: Đối diện với mầu nhiệm sự sống con người, chúng ta phải biết rằng hiểu kẻ xúc phạm có nghĩa là chấp nhận rằng mình không thể biết mọi sự.

3.- Tìm ra trong cuộc sống mình ý nghĩa của sự xúc phạm :

Thất bại là mẹ thành công. Nhiều người đã cảm nghiệm là đời sống của họ chuyển hướng và nội tâm của họ trưởng thành hơn sau những khó khăn lớn lao.

• Khía cạnh hữu ích khi đời sống bị đảo lộn): Ta có cảm giác mình bị lay động tận căn: lối sống, lối suy nghĩ, sự xác tín… tất cả bị đảo lộn; tuy nhiên, cho dẫu đau thương đến thế nào, nó vẫn cho chúng ta niềm hy vọng: một giây phút hiểu biết qúi giá, một cơ hội thuận tiện để phá vỡ cái nhìn thiển cận của ta. Sự hiểu biết của ta thường che mắt hoặc giới hạn cái nhìn của ta.

• Những điều lợi ích đến từ sự mất mát: “Ta đã học được gì từ kinh nghiệm này?”“Ta đã trưởng thành như thế nào sau cơn túng quẫn đó?” “Đời sống của ta đã chuyển hướng ra sao?” Một khi ý nghĩa của sự xúc phạm được lộ hiện, một cái nhìn mới về cuộc sống bắt đầu được hình thành.

• Sự xúc phạm có khi giúp ta “biết mình” sâu xa hơn: Có 3 giai đoạn: trước khi xúc phạm xảy ra, ta đau buồn cho đời sống ta; đang khi chịu đựng (in-between time), cho ta cơ hội hiểu mình và hiểu viễn tượng tương lai của mình hơn; và giai đoạn còn lại là sắp xếp lại đời sống theo một khởi đầu mới. Giai đoạn “đang chịu đựng” là điểm quan yếu hơn cả vì khi cơn đau đã bớt sốt dẻo, ta cần đối diện với điều đã xẫy ra và hỏi: “Tại sao tôi lại đặt mình vào tình trạng dễ bị tổn thương đó?” và rồi hỏi: “Giờ đây, tôi muốn đời sống tôi ra sao?”



http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M75/MARANATHA_75.htm#lam_sao_tha_thu)

admin
19-05-2006, 10:05 PM
IV. CHIỀU KÍCH THIÊNG LIÊNG

4.- Biết mình xứng với sự tha thứ và đã được thứ tha (Recognize that you’re worthy of forgiveness and already forgiven):

• Ai đã cảm nhận được sự tha thứ mới có thể thực sự tha thứ - George Soares-Prabhu.

Tha thứ vừa là công việc của con người được thực hiện qua những nỗ lực tâm lý của ta, vừa là một quà tặng của Thiên Chúa để bù đắp cho sự yếu đuối của ta. Nếu người muốn tha không thể cảm nhận được rằng mình đã từng được tha thứ, thì làm sao người ấy có thể tha thứ?

• Cảm nghiệm tha thứ của bản thân cần thiết để ta tha thứ [chuyện của Corrie, nữ tù nhân của Đức Quốc Xã (p. 152-153)].

• Diễn tả cảm giác xứng đáng với sự tha thứ (Describing the feeling of being worthy of forgiveness): Lời nói không thể diễn tả được bản chất, sự thẳm xâu của kinh nghiệm tha thứ; chính vì thế, cảm giác này được gọi là “kinh nghiệm nền tảng”. Kinh nghiệm này giúp ta biết mình được công nhận và được tri ân không phải vì những tính cách ngoại tại, nhưng là vì chính bản chất của ta (như con cái trước mặt cha mẹ mình). Có hai cảm giác trái ngược nhau trong tiến trình này: khát vọng lớn lao để biết là mình được yêu đồng thời cũng được tha thứ, và một sự xác tìn là mình không xứng đáng được như vậy.

• Những trở ngại cho nhận biết ta được yêu thương:

o Người tự xem mình là không thể tha thứ được (who see themselves as unforgivable – Judas Iscariot);

o người không tin tình yêu là nhưng không (who do not believe that love is unmerited, freely given);

o người từ chối sự tha thứ (who reject forgiveness = they simply don’t feel the need for it because they seem to experience no individual or social guilt);

o và sau cùng là người chối bỏ cảm giác tội lỗi như là sự sai lầm tâm lý và cho rằng cảm giác tội lỗi và nhu cầu được tha thứ cho thấy tình trạng thiếu trưởng thành và tự do; họ lầm lẫn giữa tâm tư tội lỗi luôn thống trị và hủy hoại với cảm giác tội lỗi tự nhiên và hữu ích giúp cảnh thức chúng ta trước thực tại là chúng ta bị giới hạn và chỉ là những hữu thể có thể lầm lẫn. Một sự tự cảnh tỉnh thực sự như thế là một sự giải thoát vì nó giúp ta thiết lập một ý thức luân lý chân thực hơn.


5- Ðừng cố gắng để tha thứ (Stop trying so hard to forgive):
Hãy thả lỏng và trao phó cho Chúa – Thomas Kelly


• Ngoan cố: trở ngại đối với sự tha thứ (Stubbornness: an Obstacle to Forgiveness): Muốn cách ngang bướng là chỉ dựa vào ý chí và những khả năng của một mình ta trong tiến trình tha thứ cho thấy một sự chú ý không tốt lành vào bản thân mình.

• Đừng giảm trừ tha thứ vào một bó buộc luân lý (Don’t reduce forgiveness to a moral obligation): Tha thứ không thể là đối tượng của lệnh truyền hoặc luật lệ; nó phải là tự phát và tự do. Trong Tin Mừng Matthêu 18:21-22, Chúa Giêsu đã trình bày rất rõ khi trả lời cho câu hỏi “Phải tha thứ cho người ta bao nhiêu lần?” của Phêrô, là tha thứ không phát xuất từ bó buộc luân lý nhưng là từ mầu nhiệm của một tương quan mật thiệt giữa Thiên Chúa và nhân loại. Chỉ khi nào phát xuất từ trái tim tự do và đã được tha thứ, thì tha thứ mới là thật và chân chính.

6.- Mở lòng ra với ân sủng tha thứ (Open up to the Grace of Forgiveness)

Thay vì muốn làm chủ bằng cách chỉ dựa vào sức mình mà thôi, ta nên mở lòng ra nhận lãnh sự sống của Chúa, một sự sống là nguồn mạch của tình yêu và tha thứ.


• Từ Thiên Chúa công thẳng đến Thiên Chúa chân thật (From God as dispenser of justice to the Real God): Làm sao ta có thể tha thứ nếu ta theo một thiên chúa giả tạo: một thẩm phán không thương cảm, một ông thầy chuộng sự hoàn hảo, một nhân cách không vướng tì tích, một luân lý gia chuyên gieo hoảng loạn?

• Tình yêu của Chúa không bị giới hạn bởi sự tha thứ của chúng ta: Ý tưởng về một thiên chúa tính toán không phù hợp với Thiên Chúa giầu lòng thương xót. Nhiều người nghĩ để bảo đảm cho ơn cứu rỗi của mình, họ phải cố gắng tha thứ bằng mọi giá, ngay cả khi họ cảm thấy tha thứ là không thể. Và như vậy, hoặc là họ phải nhận là họ không thể tha thứ mà hệ luận là không xứng đáng để nhận sự tha thứ của Thiên Chúa, hoặc họ phải tự lừa dối mình để họ có thể thực hiện một sự tha thứ giả dối. Để tránh điều này, ta phải tin rằng Thiên Chúa luôn luôn đi tiên phong trong tha thứ và tha thứ không phải là một hành động của ý chí do nỗ lực của con người mà thôi. Trên hết, tha thứ chính là hoa trái của một sự cải hoán nội tâm, một sự mở rộng cho ân sủng tha thứ.

• Sự tha thứ khiêm tốn từ Thiên Chúa của Đức Giêsu (The humble forgiveness of the God of Jesus): Để hiểu trọn vẹn đường lối tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta chỉ cần nhìn xem Đức Giêsu đối xử ra sao với tội nhân. Ngài đơn sơ, khiêm tốn và thông cảm. Thiên Chúa của Thánh Kinh cho thấy Ngài vừa có thể bị thương tổn vừa từ chối sự bù đắp của chúng ta đối với Ngài. “Chúng ta không thể bắt chước sự tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng gần Thiên Chúa nhiều hơn, một phần nào đó của Thiên Chúa sẽ rơi rớt trên chúng ta” (Jacques-Marie Pohier).

V. ĐIỀU GÌ TỐT HƠN

7.- Quyết định chấm dứt hoặc đổi mới quan hệ:

Quan hệ mới được hàn gắn, cần nhiều chăm sóc và cẩn trọng hơn. – La Rochefouca


• Đừng lẫn lộn tha thứ với hoà giải (Don’t confuse forgiveness and reconciliation): Không nên nghĩ tha thứ hàm chứa rằng mọi sự sẽ trở thành bình thường như chưa có gì xẩy ra; lý do rất đơn giản: tương quan đó đã chết. Như thế, ta chỉ có thể hoặc là làm cho nó vững mạnh thêm hoặc là thiết lập một dạng thức tương quan khác.

• Tha thứ và chấm dứt một quan hệ: Tha thứ là một thực tại của con tim; vì thế cần phải thực hiện tha thứ để tâm được bình và thanh thản, cho dẫu kẻ xúc phạm có đó hay có muốn nhận hay không. Ngay cả khi hoà giải là điều không thể thực hiện được thì tha thứ vẫn hữu ích: nạn nhân sẽ được hoà giải với chính mình và không còn cảm thấy bị chìm ngập trong cay cú và ước muốn trả thù; sau đó, khi ngưng không phán đoán nhưng tìm cách để hiểu kẻ xúc phạm, nạn nhân sẽ khám phá ra phương diện tích cực của nỗi đau. Thông thường sự xúc phạm gây ra bởi những người thân sẽ giúp ta ý thức là ta đã có sự lệ thuộc không tốt lành vào người đó.

• Kẻ xúc phạm có thể trưởng thành hơn qua tiến trình hoà giải (The offender can grow through the process of reconciliation): Cả người xúc phạm và nạn nhân đều phải tham gia. Kẻ xúc phạm cần nhận trách nhiệm và chứng tỏ mình muốn lắng nghe và thông cảm với nạn nhân; thêm vào đó, kẻ xúc phạm phải sửa lại điều sai, điều bất công và sẵn lòng thay đổi.

• Nạn nhân trưởng thành qua tiến trình hòa giải: “Tại sao tôi lại dấn mình vào trong bất hạnh đó?” là một câu hỏi chính đáng. Người bị xúc phạm cũng phải tìm ra sự thật về mình và phải lợi dụng kinh nghiêm không may này để xem xét lại một số thái độ và cách sống trong các tương quan của mình.

• Thay đổi quan hệ sau thời gian sống cách ly: Khi không thể chấm dứt hay kiện cường liên hệ, ta nên thiết lập một mối giây mới


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M75/MARANATHA_75.htm#lam_sao_tha_thu)

admin
19-05-2006, 10:37 PM
LÀM SAO THA THỨ?


Lm. John Monbourquette O.M.I.- Tóm lược: Lm. Trần Trung Liêm, O.P.



MƯỜI HAI GIAI ĐOẠN ĐỂ THỰC HÀNH THA THỨ

Mười hai giai đoạn thực hành này được gom lại thành bốn phần:

1/ Ngưng gây thương tổn [giai đoạn 1],
2/ chăm sóc thương tổn [giai đoạn 2-5],
3/ chuyển hướng thương tổn [giai đoạn 6-8],
4/ chiều kích thiêng liêng {g.đoạn 9-11];

4 phần này hướng đến quyết định cụ thể và dứt khoát trong tương quan với kẻ đã gây ra xúc phạm [g.đoạn 12].

I. NGƯNG GÂY THƯƠNG TỔN

1. Không trả thù và chấm dứt những hành động xúc phạm.

Dĩ oán, oán trập trùng; dĩ ân báo oán, oán tiêu tan – Kinh Phật

· Quyết định không tìm cách báo thù:

Kẻ báo thù sẽ phải đào hai cái huyệt và giả như có trả được thù cũng không thể nguôi được giận = không làm cho kẻ chết sống lại; ngược lại còn lôi kéo theo một chuỗi những cay đắng và bất hạnh.

o Chú tâm và dành nghị lực vào quá khứ = hiện tại của bạn không còn chỗ và tương lai của bạn trống rỗng;
o Tinh thần trả đũa khơi thêm vết thương và ngăn cản bạn vui hưởng sự bình an và yên tĩnh cần cho tiến trình chữa lành;
o Bạn sẽ bắt chước kẻ xúc phạm đến bạn = bạn thương tổn hơn và lại làm mình giảm giá trị;
o Sự trả thù khiến bạn có hành động gây thương tổn làm cản trở việc tăng trưởng nhân cách và bóp nghẹt hết mọi sáng kiến của bạn;
o Trừng phạt họ sẽ làm cho bạn cảm thấy mình có lỗi sợ bị những người khác sẽ trả đũa;
o Sợ kẻ thù trả đũa;
o Làm cho bạn thêm oán hận là tình cảm gây nên khủng hoảng và bệnh tật.

· Khiến thôi đi những hành động gây xúc phạm:

Bắt đối phương chấm dứt những hành động gây xúc phạm chẳng phải là một hình thức trả thù trá hình hay sao? – Không! Đó là cách thức bạn tôn trọng chính mình mà lại không tấn công đối phương.

o Bao lâu thái độ xúc phạm còn tiếp tục thì việc nghĩ đến muốn tha thứ là vô hiệu. Làm sao chúng ta có thể tha thứ khi chúng ta thường xuyên là nạn nhân của bạo lực và xúc phạm?
o Tha thứ trong những trường hợp ấy là vất bỏ quyền lợi mình và là người hèn nhát.
o Tìm cách liên lạc với đương sự: nói chuyện diện đối điện, điện thoại, viết thư…
o Chạy đến công lý: tìm những người bạn giúp; đến với nhóm tương trợ
o Nếu cần thì phải nhờ đến quyền trên.

II. CHĂM SÓC CÁC THƯƠNG TỔN

2.Nhận biết thương tổn và sự nghèo nàn của mình - Recognize Your Pain and Poverty.

“Sự thật sẽ giải thoát anh em.” (Gioan 8:32)

Bạn sẽ không bao giờ thành công trong việc tha thứ, nếu bạn vẫn cứ khăng khăng phủ nhận việc bạn đã bị xúc phạm và tổn thương, giống như người bệnh không chấp nhận mình bị bệnh để được chữa trị.

· Cơ chế tự vệ:
o Trên bình diện sinh học: cơ thể điều động các kích thích tố tự nhiên để chống lại đau đớn.
o Tâm lý: cảm giác sẽ tê dần để giúp cơ thể tồn tại.

· Kháng cự ý thức
o Cố quên: là một sức kháng cự do khả năng nhận thức thúc đẩy. Chạy trốn, lẩn tránh, không muốn đương đầu với nỗi đau có thể tạm thời làm nhẹ bớt nỗi đau nhưng nó có thể tạo điều kiện cho một sự bùng nổ đắng cay hơn trong tương lai.
o Biện hộ: ngụy tạo ra những lời xin lỗi để làm trách nhiệm của kẻ xúc phảm được giảm bớt đi.

· Kháng cự tình cảm (xấu hổ, thẹn):
o Hổ thẹn là một cảm tính kháng cự khi nội tâm của ta bị đưa ra ánh sáng. Hổ thẹn giúp ta biết mình bị thương tổn, vô lực, vô năng, và lệ thuộc như thế nào.
o Chúng ta cần phải nhận ra tính hổ thẹn của mình để chấp nhận nó, hiểu biết nó, thương cảm nó, và hoán chuyển nó.

3.Chia sẻ thương tổn của mình với người khác

· Tại sao phải chia sẻ nội tâm bị thương tổn?
o Điều khó chịu nhất khi bị thương tổn là cảm giác mình phải chịu đựng một mình; khi chia sẻ với người khác, mình không còn đơn độc nữa.
o Khi chia sẻ sẽ làm cho bạn sống lại biến cố thương tổn cách bình tĩnh hơn; bạn sẽ thấy nó bớt đe dọa hơn và có thể chịu đựng được hơn.
o Có được cái nhìn khách quan hơn và nhìn thương tổn trong một bối cảnh rộng hơn để có thể chế ngự nó tốt hơn.
o Bạn có thể rút ra được từ những cuộc trao đổi của bạn với một người biết lắng nghe mà không phê phán bạn, sự chấp nhận vô điều kiện của họ sẻ xoa dịu bạn. Từ việc họ chấp nhận bạn với lòng trắc ẩn, bạn sẽ sẵn sàng hơn để đón nhận chính mình với lòng bao dung.

· Chia sẻ với chính kẻ gây nên xúc phạm: Người gây nên xúc phạm phải: 1) nhìn nhận lỗi, 2) biểu lộ sự ân hận, 3) quyết định không tái phạm nữa. Lỗi lầm đã thú nhận là đã được tha thứ một nửa rồi!

· Khi không thể chia sẻ với kẻ gây ra xúc phạm (hắn không muốn, vắng mặt, đã qua đời…):
o Có thể dùng ngôn ngữ thinh lặng của con tim để làm dịu nỗi đau và sự thù hận ngõ hầu tha thứ hắn.
o Chuyển vị: một người khác đóng vai kẻ xúc phạm, rồi bắt đầu xin lỗi nạn nhân và hứa sẽ thương yêu, nâng đỡ nạn nhân.
o Nếu chuyển vị không thành công, có thể viết thư mà không gởi đi, hoặc đối thoại với chiếc ghế trống mà tưởng tượng rằng kẻ gây nên xúc phạm đang ngồi ở đó.
o Nếu kẻ xúc phạm vẫn cứ ngoan cố: hãy trao phó y cho Chúa! “Lạy Chúa, trong sự bất lực của con, con xin trao phó …. (kể tên người gây ra xúc phạm) cho lòng nhân hậu bao la của Chúa, ngõ hầu Chúa biến điều thiệt hại họ đã làm cho con thành lợi ích, và chớ gì ý Chúa được thành sự.”

admin
19-05-2006, 10:38 PM
4.Xác định rõ mất mát của mình để thương khóc nó.

· Xác định chính xác sự mất mát của mình: Bình tâm xác định xem điều gì làm ta bực mình và sự mất mát của ta là gì, lớn bao nhiêu… Rất nhiều khi những giải thích của chúng ta về biến cố xúc phạm làm ta khó chịu hơn là chính biến cố đó. Nhiều người nghĩ mình là nguyên nhân duy nhất và chính yếu gây ra một biến cố không may và tự trách mình rồi lãnh hoàn toàn trách nhiệm…

· Ngưng đổ lỗi cho mình:
o Ý thức rằng mất mát đó không phải là tất cả; xúc phạm đó không xúc phạm hoàn toàn con người (hữu thể) bạn mà chỉ một phần, một tính cách nào đó thôi.
o Không phải chỉ mình bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm về sự xúc phạm.
o Phải xác tín rằng không một lỗi lầm nào mà không thể đền bù được. Thay vì tự dằn vặt mình vì một thất bại (hay xúc phạm), hãy khám phá ra điều bạn có thể học từ thất bại đó.
o Sai lầm có thể làm cho bạn trở nên khoan dung hơn với người khác.

· Chữa lành những thương tổn thời thơ ấu: Những thương tổn thời thơ ấu và nguyên nhân gây ra chúng ta tưởng đã không còn nhớ nhưng hệ quả là những hành vi cứng cỏi và phản ứng tự vệ của ta.

5. Chấp nhận sự giận dữ và lòng muốn báo thù của mình - Accept anger and the desire for revenge

Đàng sau một tha thứ giả tạo là sự hung bạo bị đè nén.

· Thông thường từ ngữ “giận dữ” gợi lên nơi ta những cảnh bạo lực khủng khiếp và làm cho ta sợ chính tình cảm này.

· Đè nén cơn giận và ước muốn báo thù thì không thể có tha thứ thực sự mà chỉ là tự lừa dối mình, đồng thời biến tha thứ thành một sự lừa lọc.

· Bao lâu không nhìn nhận sự tức giận của mình và rút ra lợi ích tốt nhất có thể, thì tức giận có thể biến thành oán giận và hận thù.

· Tức giận là một phản ứng mạnh mẽ nội tâm và nó chứa đựng những yếu tố tích cực. Như là một phản ứng tự nhiên chống lại bất công, tức giận thúc đẩy chúng ta tìm đến với sự chân thật và giúp ta loại bỏ những chướng ngại ngăn cản lòng yêu tha nhân.

i. Khía cạnh tiêu cực (Destructive effects of repressed anger): Khi một cảm xúc bị dồn nét, sớm hay muộn nó sẽ trỗi dậy dưới những hình thức lệch lạc:
· Cơn giận bị kiềm chế có thể đổi đối tượng và tấn công những người vộ tội… (Giận cá chém thớt); thôi thúc hướng đến bạo lực dễ nổi lên từ sự tích lũy các cơn giận nho nhỏ bị dồn nén;
· Đổ lỗi cho Thiên Chúa hay người khác;
· Quay ra nguyền rủa và chống lại chính mình: tự buộc tội mình, tự trừng phạt mình;
· Có thể mặc lấy hình thức che đậy khác như chê bai, chỉ trích, càu nhàu, lạnh lùng, hiềm khích, hờn dỗi;
· Làm tiêu hao rất nhiều năng lực của ta, đồng thời cũng dễ gây ra những căng thẳng tâm lý và nhiều khi còn là căn nguyên của những cơn bệnh tâm-thể lý.

ii. Sự hữu ích của “tức giận”: “Tức giận” là một phản ứng do bản năng muốn sống còn về thể lý, tâm lý và luân lý; hậu quả (hữu ích hay nguy hại) là tùy ở cách ta dùng nó. Được sử dụng đúng cách, nó giúp những tương quan giữa ta và người thân tiến triển tốt đẹp. Khi “tức giận” được giải tỏa đúng cách, nó giúp tái lập tương quan, loại bỏ những chướng ngại cho đối thoại và yêu thương.

iii. Phản ứng chống lại bất công, cảnh giác tôi không cho phép người khác phạm đến tôi và giúp tôi có sức đương đầu với sự dữ và bất công

iv. Sử dụng hữu hiệu “tức giận”: Không có cảm tính nào tự nó là tiêu cực và đáng cho ta hổ thẹn vì nó. Những cảm tính được thiết lập do những năng lực tích cực của con người cần được nhận diện, điều khiển và sử dụng đúng mức. Bị đè nén, chúng thường tạo ra một loạt các cảm tính và hình ảnh khác mà các nhà chuyên môn gọi là “mặc cảm.”

· Nhiều người không muốn loại bỏ “sự cay cú” vì họ nghĩ làm như thế là họ phản bội chính mình và nuôi dưỡng nó trong lòng là duy trì nhân phẩm của mình và ngăn ngừa được sự sĩ nhục trong tương lai. Có người còn nghĩ “cay cú” và “thù hặn” thúc bách họ chứng tỏ là mình xứng đáng và có khả năng; tuy nhiên, giống như một hoả tiễn, “cay cú” có thể cho ta một sức bật nhất thời, nhưng lại bị hủy diệt trong chốt lát. (còn tiếp)

Tác giả: Lm. John Monbourquette O.M.I, Giáo sư tại Saint Paul University, Ottawa, Canada.


Nguyên bản Pháp Ngữ: COMMENT PARDONNER? xuất bản năm 1992.


Bản dịch Anh ngữ do: Kathy Poor & Bernadette Gasslein, Nxb. Novalis tái bản năm 2002.


Tóm lược: Fr. Jos. Trần Trung Liêm, O.P, Calgary, Canada, 2006