PDA

View Full Version : Thánh Vinh Sơn Nguyễn Thời Điểm (1762-1838)


admin
04-11-2007, 09:15 PM
Thánh Vinh Sơn NGUYỄN THỜI ĐIỂM (1762-1838)
Linh Phong


Ngày 19.06.1988, tại giáo đô Rôma, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong lên bậc hiển thánh 117 Chân Phước tử đạo Việt Nam. Hàng năm, Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ này vào ngày 24.11 để ghi nhớ nhật kỳ 24.11.1960 là ngày Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam. Trong 117 Thánh, có ba vị nhận phúc tử đạo vào ngày 24.11.1838 tại Sác Diêm Điền phía tây Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đó là: Thánh Giám Mục Borie Cao, Thánh Linh Mục Vũ Đăng Khoa, và Thánh Linh Mục Nguyễn Thời Điểm.

Chúng tôi mạo muội trình bày mấy điều dị biệt trong các bản tiểu sử viết về Thánh Điểm, vị có tên trong sổ Các Thánh Tử Đạo của giáo phận Vinh, cũng có tên trong sổ Các Thánh Tử Đạo của giáo phận Huế.
Để trình bày mấy điều dị biệt trong các bản tiểu sử viết về Thánh Điểm, chúng tôi dựa vào:

1. Thừa sai Belleville Thọ (Năm 1911 là Giám Mục giáo phận Vinh), "Truyện Sáu Ông Phúc Lộc," in tại nhà in Nazareth, Hồng Kông, 1910; được Linh Mục Tiến Sĩ sử học Trương Bá Cần in lại toàn bộ trong Lịch Sử Giáo Phận Vinh, TP. HCM, 1998, chương VIII, tr. 299-424. Sẽ viết tắt: T.L.1.
2. Linh Mục Cao Vĩnh Phan, Lịch Sử Giáo Phận Vinh, Hội Ái Hữu Giáo Phận Vinh Bắc California, USA., 1996. Sẽ viết tắt: T.L.2.
3. Kỷ Yếu Năm Thánh Giáo Phận Vinh, Tòa Giám Mục Giáo Phận Vinh, 1992. Sẽ viết tắt: T.L.3.
4. Thiên Hùng Sử, Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam San Jose, CA, USA., 1990. Sẽ viết tắt: T.L.4.
5. Linh Mục Nguyễn Văn Hội và nhiều tác giả, Tiểu Sử Các Linh Mục Giáo Phận Huế, Tập I, Bản Ronéo, Văn Phòng Tòa Tổng Giám Mục Giáo Phận Huế, 1981. Sẽ viết tắt: T.L.5.
6. Linh Mục Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, Quyển I, USA., 1997. Sẽ viết tắt: T.L.6.


I. TÊN LÓT, NĂM SINH, và QUÊ QUÁN
1. TÊN LÓT: Có tài liệu viết Thì, có tài liệu viết Thế, có tài liệu viết Thời.
Theo T.L.6, tr. 447, cước chú 3: "Nguyễn Thì Điểm được gọi trại ra là Nguyễn Thế Điểm vì húy tên vua Tự Đức. Trong Đại Nam Thực Lục viết là Nguyễn Điểm dụng ý bỏ chữ Thì vì húy Tự Đức."
T.L.1, tr. 378: "... theo "Truyện Sáu Ông Phúc Lộc," là Nguyễn Thì Điểm, theo Linh Mục Trần Ngọc Thụ, cáo thỉnh viên vụ án phong thánh của Việt Nam trong "Lịch Sử Giáo Hội Việt Nam," tập I, là Nguyễn Thế Điểm. Nhưng trong giáo phận Vinh quen gọi là Nguyễn Thời Điểm." Thế nhưng trên tấm bia ở mặt tiền Đền Thánh trong khuôn viên Dòng Mến Thánh Giá Hướng Phương vẫn ghi là Nguyễn Thì Điểm (Hình số 2)!
Khi còn trong trại cải tạo, qua một số báo Công Giáo và Dân Tộc, được dùng để gói quà, chúng tôi đọc được một lá thư của Đức cha Trần Xuân Hạp, Giám Mục giáo phận Vinh, có nội dung chứng minh tên lót của Thánh Điểm là Thời.
Cũng là tiếng Hán Việt cả, nhưng người Việt Nam mình quen dùng thì giờ, thời điểm hơn.

2. NĂM SINH: T.L.5, tr. 48 viết: "Sinh [...] năm 1758. [...]. Báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 12, tháng 5. 1970 lại ghi sinh năm 1761."
Nhưng T.L.1, tr. 379 cho biết: "Theo tờ sớ các quan Đồng Hới, người sinh ra năm Ất Dậu, năm 1765. Còn tính theo tuổi người xưng khi phải giam, mà Đức cha Cao chép lại, là 77 tuổi, thì người sinh ra năm Nhâm Ngọ, là năm 1762."
Vậy trong các năm 1758, 1761, 1762, và 1765, Thánh Nguyễn Thời Điểm sinh vào năm nào?
Theo T.L.1. thì thánh nhân:
- Thụ phong Linh Mục khi đã ngoài 40 tuổi (tr. 379; T.L.5. nói sinh năm 1758 và thụ phong Linh Mục độ năm 1816 (tr. 48); như vậy là vào khoảng 58 tuổi).
- Quản xứ Cồn Nâm ước chừng 30 năm (tr. 380).
- Quản xứ Lũ Đăng vài năm (tr. 382).
- Năm 1836 quản xứ Đan Sa (tr. 382).
- Bị bắt ngày 27.07.1838; nhận phúc tử đạo ngày 24.11.1838 (tr. 382-383; T.L.2, tr. 168).
Dựa vào 5 chi tiết trên đây thì ngài sinh vào năm 1762 (Nhâm Ngọ) như ngài đã xưng khi phải giam, mà Đức Cha Borie Cao đã ghi lại.

3. SINH QUÁN: T.L.5, tr. 48 viết "Sinh tại An Do Tây (cửa Tùng, Quảng Trị) [...]. Cha A.Delveau ghi là An Do Nam."
T.L.1, tr. 379: "người Quảng Trị tỉnh, Minh Linh huyện, An Do xã, giáp nam."
Nhiều tài liệu khác cũng nói ngài sinh tại giáp Nam. Như vậy là Thánh Nguyễn Thời Điểm sinh năm 1762 tại giáp Nam, xã An Do, huyện Minh Linh (Cửa Tùng), tỉnh Quảng Trị.
Tỉnh Quảng Trị thời bấy giờ thuộc giáo phận Đàng Trong, bao gồm giáo phận Huế bây giờ, tại sao ngài lại là linh-mục của giáo phận Tây Đàng Ngoài, giáo phận Vinh ngày nay?

admin
04-11-2007, 09:16 PM
II. NGHĨA PHỤ và CHỦNG VIỆN

T.L.1, tr. 379 viết: "Người đã khai cho các quan tỉnh Đồng Hới, lúc phải cầm tù rằng: Trước hết người theo Đạo Trưởng Chiêu, là người Nghệ An, và đi ở chú với cụ ấy nơi làng Mĩ Hòa trong Bình Chính.
"Danh Sáng, giúp người, cũng kể lại rằng: "Cụ Điểm học La Tinh tại nhà trường Hướng Phương." Song le lúc người học La Tinh, chưa đem nhà trường vào trong Bình Chính, đang ở ngoài Nghệ, vì quân Tây Sơn chưa phá."
T.L.2, tr. 167, cũng tương tự: "Thưở nhỏ, ngài đi chăn trâu thuê và vì hiếu học, không tiền, nên phải vừa chăn trâu vừa học. Người được Linh Mục Chiêu, quê Nghệ An, phụ trách làng Mỹ Hòa, Bình Chính, nuôi nấng và cho ăn học tại trường Hướng Phương, và trường Trang Nứa."


1. NGHĨA PHU

Quê Thánh Điểm ở An Do, cửa Tùng; Linh Mục Chiêu quê ở Nghệ An làm mục vụ ở Mỹ Hòa, cửa Gianh. Hai cửa sông này cách nhau 110 km tính theo đường chim bay. An Do thuộc Đàng Trong cả về lãnh thổ chính trị và tôn giáo; Nghệ An và Mỹ Hòa thuộc Đàng Ngoài về mặt chính trị, và thuộc giáo phận Tây Đàng Ngoài.
Lại nữa, như ở mục I,2 trên đây, Thánh Điểm sinh vào năm 1762 là vào khoảng thời gian Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy trong thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777). Đây chính là nguyên cớ cho 3 anh em Tây Sơn dấy binh vào năm 1771. Cũng vì vậy mà vào năm 1774, quân chúa Trịnh từ Đàng Ngoài, do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy, vượt sông Gianh, vào chiếm Phú Xuân. Giữa 2 gọng kềm, quân Tây Sơn và quân Trịnh, chúa Nguyễn, thân nhân và quần thần phải chạy dần vào Gia Định. Chúa Nguyễn Phúc Thuần và thân tộc bị Tây Sơn giết sạch (trừ Nguyễn Phúc Ánh, sau này là vua Gia Long, thoát lọt) vào năm 1777 gần chùa Kim Cương (T.L.6, tr. 345). Đến năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra chiếm Phú Xuân; quân Trịnh phải rút về Đàng Ngoài. Thừa thắng xông lên, Nguyễn Huệ cho quân vượt sông Gianh, ra Thăng Long (Hà Nội) diệt Trịnh, và đến năm 1788, vua Quang Trung Nguyễn Huệ lại tổng chỉ huy đại binh ra Thăng Long đánh đuổi quân Thanh và dứt điểm triều Lê, xóa lằn ranh sông Gianh. Trên tuyến tiến quân, vua Quang Trung đã dừng lại tại Nghệ An để tuyển thêm quân. Cũng cần nhớ thêm: Vua Quang Trung có gốc gác từ Nghệ An, và nhà vua có ý định lập kinh đô tại Nghệ An.
Với điều kiện địa lý (cửa Tùng – cửa Gianh), lịch sử, và quân sự như vậy, khó có thể Thánh Điểm từ An Do ra Mỹ Hòa "ở chú" với Linh Mục Chiêu. Lại nữa, liệu có Linh Mục Chiêu coi sóc Mỹ Hòa không?
Trong Danh Sách Các Linh Mục Giáo Phận Vinh Trước Khi Lập Giáo Phận (1846) không có Linh Mục nào mang tên Chiêu (T.L.3, tr. 76-77).
T.L.2, tr. 244, có Linh Mục Giacôbê Chiêu hay Phan sinh tại Kẻ So, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An; học tại Thái Lan và thụ phong tháng 12. 1732, "đi phụ trách Nghệ An," qua đời ngày 07.11 nhưng không biết năm nào. "Đi phụ trách Nghệ An" tức là không phụ trách Bắc Bố Chính trong đó có làng Mỹ Hòa.
Một điểm nữa: Mỹ Hòa được nâng thành giáo xứ vào năm 1880; trước đó chỉ là một giáo họ thuộc giáo xứ Nhân Thọ (Thọ Đơn) (T.L.1, tr. 273; T.L.2, tr. 528; T.L.3, tr. 32). Ở vào giai đoạn còn rất hiếm hoi, liệu có thể có 1 Linh Mục đặc trách mục vụ cho 1 "họ lẻ" như vậy không?
Vậy bởi đâu một thanh niên thuộc giáo phận Đàng Trong lại trở thành 1 Linh Mục của giáo phận Tây Đàng Ngoài (gồm các giáo phận Hà Nội, Hưng Hóa, Phát Diệm, Thanh Hóa, và Vinh ngày nay)?
T.L.3, tr. 63-64, cho biết: "...Thuở nhỏ chăn trâu mà rất chăm học, sáng dạ. Sau đi theo Linh Mục xứ An Do là thừa sai Longer Gia, về sau làm Giám Mục Đàng Ngoài. Vì thế, Vinsente Điểm cũng đi theo ra Đàng Ngoài và thụ phong Linh Mục ở Đàng Ngoài."
Bắc Bố Chính (giáo hạt Bình Chính ngày nay) được thừa sai Đắc Lộ truyền giáo trong tuần Bát Nhật Phục Sinh năm 1629. Vì là vùng đất thị chiến cho nên từ đó cho đến năm 1788 rất ít thừa sai và Linh Mục Việt Nam đến hoạt động truyền giáo và mục vụ ở vùng này. Năm thì mười họa mới có một vị chợt đến rồi lại chợt đi, hơn nữa ở Đàng Ngoài vào thời đó cũng hiếm hoi thừa sai và Linh Mục Việt Nam. Thấy được nỗi cô đơn đó, nên sau khi vua Quang Trung xóa được lằn ranh ngăn chia Bắc-Nam, các đấng bản quyền đã điều chuyển thừa sai Longer Gia quản xứ An Do thuộc giáo phận Đàng Trong ra làm "bề trên ở Hướng Phương" (T.L.3, tr.9), và ngài đã đem thanh niên Nguyễn Thời Điểm theo.
Vậy thừa sai Longer Gia (sau này là Giám Mục Tây Đàng Ngoài) là nghĩa phụ của Thánh Điểm.


2. CHỦNG VIỆN

T.L.2, tr. 167, viết: "... ăn học tại trường Hướng Phương và Trang Nứa." T.L.1, tr. 379, lại nói: "Song le lúc người học La Tinh, chưa đem nhà trường vào trong Bình Chính, đang ở ngoài Nghệ, vì quân Tây Sơn chưa phá."
T.L.3, tr. 33, cho biết: "Đức Cha De Bourges đã lập tại tỉnh Nghệ An quãng 1691-1692, một Tiểu Chủng Viện," và tr. 34: "Trang Nứa là nơi khi trước nhà trường la tinh Nghệ An gọi là Nhà trường ông Thánh Giuse ở đó cho đến năm 1788." Năm 1788 là năm vua Quang Trung kéo đại binh ra Bắc đánh đuổi quân Thanh và dứt điểm triều Lê, có dừng lại ở Nghệ An để tuyển thêm quân. Năm ấy thừa sai Longer Gia và thanh niên Nguyễn Thời Điểm còn ở An Do thuộc Đàng Trong.
Về trường Thánh Giacôbê ở Hướng Phương là do thừa sai Guérard Đoan (Năm 1816, được Đức Cha Longer Gia Giám Mục giáo phận Tây Đàng Ngoài, chọn làm Giám Mục phó. T.L.1, tr. 35) lập vào năm 1803, "phải tháo gỡ và cho học trò về" vào năm1833 theo lệnh cấm đạo của vua Minh Mạng (T.L.2, tr. 287-288). Khoảng thời gian này, Thánh Điểm đã là Linh Mục.
T.L.1, tr. 379, cho biết: "Người giúp Đức cha Gia, không biết mấy năm, song phỏng cũng lâu." Chúng tôi nghĩ, sau năm 1788, thánh nhân được thừa sai Longer Gia đem theo ra ở Hướng Phương. Năm 1792, thừa sai Longer Gia được cử làm Giám Mục giáo phận Tây Đàng Ngoài, phải từ giã Hướng Phương để ra Hà Nội, và đã gửi Thánh Điểm vào học ở "tại chủng viện Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị), Nam Định thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài, và sau được thụ phong Linh Mục" (T.L.4, tr. 445) khi đã ngoài 40 tuổi, khoảng năm 1802, sau khi vua Gia Long thống nhất sơn hà.

admin
04-11-2007, 09:17 PM
III. VỊ MỤC TỬ TỐT LÀNH

Sau khi thụ phong, tân Linh Mục được bổ nhiệm vào quản xứ Cồn Nâm giáp Đàng Trong. "Ý Bề Trên đặt người ở đây cho tiện nhiều việc cho cả hai địa phận, vì người phần thì là người Đàng Trong, phần thì người có danh tiếng tài năng, lo được nhiều việc giỏi lắm; nhất là người rất có lòng đạo đức sốt sắng, thiên hạ kính phục lắm; người có lòng hiền hậu sốt mến, ai ai cũng khen, hay thương kẻ khó, đói cho ăn, khát cho uống. Cũng có nhiều người ngoại người lo cho trở lại. Lúc ấy chẳng thiếu người bổn đạo còn lòng theo đạo dòng, mà người dùng lòng khôn khéo lo cho về một mối. Các việc các họ và trong nhà đều thứ tự nghiêm trang phép tắc lắm, rất sáng danh sự đạo [...].
"Người làm lễ hằng ngày, năng đọc kinh lần hạt, nguyện ngắm. Người cũng hay giảng giải cho bổn đạo luôn; sốt sắng làm phúc cho người ta, và kẻ cứng cỏi thì sai các thầy đi khuyên dụ, đi đòi đến. Người cũng ra sức lo cho kẻ ngoại trở lại, và sai các thầy đi rửa tội cho con trẻ ngoại đạo.
[...]
"Tính khí người hiền lành; chẳng ai chê trách tiếng gì [...]. Dù lúc đã già cả cũng chẳng nghỉ gánh nặng, một cứ gắng chịu khó nhọc coi xứ chăm sóc con chiên. Và dù đã quá tuổi, thì cũng ăn chay một tuần hai ngày, ngày thứ tư và ngày thứ sáu" (T.L.1, tr. 380).
T.L.4, tr. 445, viết: "Mặc dù đã cao niên, với tinh thần hy sinh cao độ, ngài vẫn ăn chay mỗi tuần hai ngày, thứ tư và thứ bảy, hẳn là cố ý tôn kính Đức Maria và Thánh Giuse."


IV. NGHĨA TỬ

"... cụ Điểm nuôi nấng dạy dỗ người nhà con cái nhiều, người Đàng Trong, Đàng Ngoài. Trong nhà thì dạy dỗ học trò, đọc sách khi ăn cơm, và học lẽ đạo. Con cái người có nhiều kẻ nên thân và có danh, người ta kể những người sau này làm thầy cả, là cụ Chỉnh, cũng gọi là cụ Thơ, địa phận Đàng Trong; cụ Tự, cụ Triêm, cụ Hiền, địa phận Đàng Ngoài. Cụ Hiền tử vì đạo lúc phân tháp (T.L.1, tr. 380-381).
Tiếp liền theo đó, tác giả cho biết Thánh Tôma Trần Văn Thiện cũng là nghĩa tử của Thánh Điểm. Và theo T.L.5, tr. 48, và T.L.4, tr. 139, thì Thánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng cũng là nghĩa tử của Thánh Điểm.
Theo danh sách các Linh Mục giáo phận Vinh trước khi thành lập giáo phận năm 1864 (T.L.3, tr. 76-77) chúng ta thấy có: Linh Mục Gioan Baotixita Tự quê ở Kẻ Nhím, thụ phong năm 1828 (số thứ tự 05).
Về Linh Mục Triêm, có hai vị: Phêrô Triêm quê ở Trang Chợ, thụ phong ngày 07.04.1810 (số thứ tự 05). Phêrô Triêm mất ngày 13.02.1861 (stt.52). Vị này, T.L.2, tr. 234, cho biết đó là Linh Mục Phêrô Nguyễn Bá Triêm, còn có tên Nguyễn Sử, sinh năm 1814, quê ở Thanh Dạ, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Thông giỏi La Tinh, dạy trường Trang Nứa (Trên kia chúng ta đã biết trường Trang Nứa chỉ tồn tại cho đến năm 1788, 24 năm trước khi Linh Mục Triêm chào đời!). Thời phân tháp về ở quê nhà. Bị bắt năm 1869. Bị trảm quyết tại Quán Bàu ngày 13.02.1861. Xác để tại Thanh Dạ. Nghĩa tử của cha Thánh Phêrô Lê Tùy. Làm mục vụ ở Vĩnh Phước và Lũ Đăng tỉnh Quảng Bình.
Linh Mục Phêrô Cao Hữu Hiền sinh năm 1813 tại Cao Lao, thuộc xứ Hướng Phương, hạt Bình Chính, tỉnh Quảng Bình. Nghĩa tử của Thánh Điểm. Bị bắt ở Nhành Nhanh, Thạch Hà thuộc tỉnh Hà Tĩnh năm 1861. Bị trảm quyết tại Quán Bàu ngày 17.05.1862. Xác để ở Xã Đoài. Làm mục vụ ở An Nhiên (T.L.2, tr. 238).
Hai Linh Mục Nguyễn Bá Triêm và Cao Hữu Hiền cùng 18 Linh Mục khác và 2 thầy giảng đã được Đức cha Pineau Trị (Giám Mục giáo phận Vinh) đệ trình Tòa Thánh năm 1909.
T.L.5, tr. 49, cho biết: Linh Mục Bùi Văn Chỉnh sinh tại Nam Tây, tỉnh Quảng Trị; tiền bối của 3 Linh Mục: Bùi Văn Ngôn, Bùi Quang Lợi, và Bùi Quang Lược. Không rõ thụ phong năm nào, nhưng năm 1828 có cuộc họp các Linh Mục Việt Nam tại Mỹ Hương, Quảng Bình, trong đó có ngài. Ngài quản xứ kẻ Sen và Kẻ Bàng ở Quảng Bình. Truyền khẩu cho rằng: ngài chết rũ trong tù tại tỉnh Quảng Ngãi. Theo T.L.1, tr. 381, thì cuối năm 1837 Linh Mục Chỉnh ở xứ Kẻ Sen, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, thay xứ vào Quy Nhơn. Vậy có thể trên đường vào nhận xứ, ngài đã bị bắt tại Quảng Ngãi, bị giam, và đã chết trong tù như truyền khẩu.
Khi viết về Thánh Điểm, T.L.5, tr. 48, cho biết Thánh nhân có một thầy giảng người Quảng Bình giúp việc ngài 7 năm; đó là thầy Matthêu Nguyễn Văn Đắc, quen gọi là Matthêu Nguyễn Văn Phượng. Phượng là tên người con gái đầu lòng. "Anh theo giúp cha Điểm suốt bảy năm liền một cách tận tụy như người con hiếu thảo. Đối lại, như một người cha ruột, cha Điểm đã mai mối cho anh cưới một thiếu nữ hiền hậu xứ Sáo Bùn, năm đó anh 22 tuổi" (T.L.4, tr. 139).
Đức Thánh Cha Pio X đã tôn phong ông Trùm Matthêu Nguyễn Văn Phượng lên bậc Chân Phước ngày 02.05.1909.
Nghĩa tử của Thánh Điểm có một người "tuổi trẻ và danh tiếng lắm," đó là Thánh Tôma Trần Văn Thiện sinh năm 1820 tại làng Trung Quán, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. T.L.1, tr.381, cho biết: "khi mới được 8 tuổi, là O (cô) người đưa ra cho cụ Điểm nuôi nấng dạy dỗ tập tành; người ở với cụ Điểm lâu năm, rồi cụ Chỉnh, cũng là con cụ Điểm, ở kẻ Sen (Bố Trạch), xin được, có ý cho vào học nhà trường nhỏ nhỏ, cố Kim, mới sang năm 1837, sắm sửa lập trộm kín tại làng Di Loan; song cuối cũng một năm âý, cụ Chỉnh thay xứ vào Quy Nhơn, và để chú ấy lại cho cố Vị ở Kẻ Bàng; cố Vị dạy học chú ấy tiếng La Tinh mấy tháng; rồi chú vâng lời Bề Trên vào làng Di Loan, juniô 1838."
Thánh Tôma Trần Văn Thiện được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tôn phong Chân Phước ngày 27.05.1900.
Tác giả "Truyện Sáu Ông Phúc Lộc" kết luận: "Các con cụ Điểm, dù một mình chú Thiện, thì làm sáng danh Chúa, sáng danh Hội Thánh là dường nào!" (T.L.1, tr. 381).

*
* *

Tạm thời, khi chưa có chứng liệu chính xác hơn, chúng ta tóm lược:
Thánh Vinh Sơn Nguyễn Thời Điểm sinh năm 1762 (Nhâm Ngọ) trong một gia đình nghèo nhưng đạo hạnh, tại giáp Nam, xã An Do, huyện Minh Linh (gần cửa Tùng), tỉnh Quảng Trị; cha tên Trường, thọ 99 tuổi; có hai chị em, một lấy chồng mà không con, một ở đồng trinh.
Thuở nhỏ, chăn trâu thuê nhưng ham học, sáng trí. Sau năm 1788, thừa sai Longer Gia, quản xứ An Do được cử ra làm quản hạt Bình Chính tại Hướng Phương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; ngài đã đem Thánh nhân đi theo. Năm 1792, thừa sai Longer Gia được Tòa Thánh tuyển làm Giám Mục Giáo phận Tây Đàng Ngoài; ngài gửi Thánh Điểm vào học tại chủng viện Vĩnh Trị, tỉnh Nam Định. Thánh nhân thụ phong Linh Mục khoảng năm 1802; được bổ nhiệm quản xứ Cồn Nâm 30 năm, Lũ Đăng 2 năm, và Đan Sa được 3 năm. Ý Bề Trên là để ngài tiện lo mục vụ cho cả hai giáo phận.
Nghĩa tử của ngài, thuộc giáo phận Huế gồm có: Thánh Tôma Trần Văn Thiện, Thánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng, và Linh Mục Bùi Văn Chiểu chết rủ trong tù tại Quảng Ngãi; thuộc giáo phận Vinh gồm có: Linh Mục Cao Hữu Hiền tử đạo, Linh Mục Tự, và Linh Mục Triêm.
Ngài bị bắt tại núi Cát Thánh Giuse gần giáo xứ Đan Sa ngày 27.07.1838, bị xử "giảo quyết" tại Sác Diêm Điền ở phía Tây Đồng Hới tỉnh Quảng Bình ngày 24.11.1838; được phong Chân Phước ngày 27.05.1900, và phong Hiển Thánh ngày 19.06.1988. Hài cốt của Thánh Điểm được đặt tại Đền Thánh trong khuôn viên Dòng Mến Thánh Giá Hướng Phương.

San Jose, Lễ Mông Triệu, 2000