admin
24-11-2007, 02:11 PM
Nhân học triết học hiện đại với vấn đề tồn tại người
Triết học thế kỷ XX đã trôi qua dưới khẩu hiệu "sự phồn vinh của nhân học". Những biến đổi trong cách tiếp cận nghiên cứu con người đã gắn liền với sự hình thành nhân học triết học. Con người trở thành trung tâm của vũ trụ, là chiếc chìa khoá để mở ra mọi vấn đề.
Nói cách khác, mọi vấn đề đều xoay quanh cái trục là con người. Nhưng, nhân học triết học có quan hệ với thực tại người không phải với tư cách khách thể của nhận thức khoa học (sinh học, tâm lý học, xã hội học, v.v.), mà với tư cách chủ thể của tự ý thức, chủ thể siêu tự nhiên (tức là với thế giới tinh thần của con người, với con người với tư cách một thực thể siêu hình học). Thế giới tinh thần này, theo nhân học triết học, vượt lên toàn bộ tồn tại tự nhiên, và về nguyên tắc là không quy được về tồn tại đó. Do vậy nhân học triết học: với một nghĩa nào đó, tự giải phóng mình khỏi sự phụ thuộc vào các quan niệm thuần tuý khoa học thực chứng.
Vậy nó quan niệm tồn tại siêu nhiên (người) với tư cách đối tượng cơ bản của mình là gì?
Sự cảm nhận thấy "cái Tôi" trong ý thức của mình có nghĩa là cảm nhận thấy rằng con người đã vượt lên trên những mối liên hệ nhân quả thống trị trong giới tự nhiên.
Con người không muốn chỉ là nhân hay quả phù hợp với các quy luật tự nhiên. Nó muốn tự do lựa chọn và làm chủ bản thân. Con người luôn đứng trước vô số trở ngại mà nó buộc phải khắc phục, chiến thắng hay né tránh. Nói về cá nhân tức là nói nó bị vô số mối nguy hiểm bao vây. Sự sống cấu thành, một mặt, từ sự cảm nhận thấy "cái Tôi" của mình và khát vọng bảo vệ nó; mặt khác, từ sự phản kháng lại ý muốn đánh mất ý thức về "cái Tôn của mình. Như vậy, tồn tại người với một nghĩa nào đó là mang tính nhị nguyên.
Mỗi bước đi của con người đều bị hạn chế bởi các điều kiện và các yêu cầu do môi trường tự nhiên và xã hội đề ra. Con người phục tùng chúng trong phần lớn trường hợp vì không thể không phục tùng và liên tục đấu tranh chống lại chúng. Nhưng chính những ngoại lệ từ quy tắc đó lại là cái đánh thức tính người đích thực nơi con người. Vì con người không ngừng tìm kiếm phương thức bộc lộ bản ngã (cái Tôi tự tại) của mình, nên bản ngã có tiền đề để không bị đánh mất vĩnh viễn. Trên thực tế, con người không bao giờ đánh mất bản ngã của mình trong đáy lòng mình, vì nó bao giờ cũng muốn quyết định, thực hiện sự lựa chọn của riêng mình. Như vậy, sự lựa chọn là một bộ phận cấu thành quan trọng của tồn tại người, là một trong những phạm trù phản ánh các đặc điểm quan trọng của sự hiện sinh người.
Nhân học triết học hiện đại bác bỏ cả kết luận cực đoan về khả năng coi thường môi trường tự nhiên và xã hội của con người, lẫn kết luận cực đoan xem con người là một sản phẩm thụ động của hoàn cảnh bên ngoài, có nghĩa vụ phải thích nghi với hoàn cảnh ấy. Con người thực ra luôn dao động giữa hai cực - sự cô độc hoàn toàn và sự hoà tan vào xã hội - cái thủ tiêu cá tính của nó. Con người không phải là "cái Tôi" hoàn toàn tự trị, có khả năng bỏ qua những người khác. Nhưng nó cũng không hoà tan vào những người khác, vì như thế sẽ không còn "cái Tôi" nữa. Con người thừa nhận sự tác động của xã hội và văn hoá đến mình, nhưng "cái Tôi" của nó phải là độc đáo trên cái nền của sự tác động ấy. Vì là người, nên mỗi chúng ta đều có tiềm năng phản xã hội. Nếu không phải trên thực tế thì cũng và trong tư duy, con người có khả năng biểu thị thái độ bất mãn với trật tự xã hội hiện tồn, song hoàn toàn không phải với mục đích phá huỷ bởi, như Đôxtôiépxki nói, cái quý nhất đối với con người là "tuỳ ý và tự do mong muốn" của riêng mình. Sự nghiệp sáng tạo của Đôxtôiépxki đã đưa ông trở thành người đầu tiên chỉ rõ tự do - tự do lựa chọn và tự quyết - là cái vô cùng quý giá đối với con người. Sự nghiệp sáng tạo của ông dường như hoà nhịp một cách kỳ lạ với thế kỷ XX, và không phải ngẫu nhiên mà người ta coi Đôxtôiépxki là nhà triết học của thế kỷ này(1).
Việc thực hiện sự lựa chọn là cái biểu thị sự tự do của con người. Nhưng, khi lựa chọn hành vi, lối ứng xử này hay khắc, cá nhân lựa chọn chính bản thân mình. Nó tạo dựng mình, tạo ra bộ mặt tinh thần của mình. Tồn tại cấu thành từ vô số hành vi lựa chọn chính là sự sống của cá nhân, hay là bản thân cá nhân trong vận động. Như vậy cùng với tự do, trách nhiệm cũng xuất hiện. Đó trước hết là trách nhiệm về mình, về số phận của mình. Mỗi người tự đáy lòng mình đều biết rằng chỉ có bản thân nó chịu trách nhiệm về số phận, về những thành công và thất bại của mình, thậm chí cả trong trường hợp nó muốn đổ lỗi cho người khác hay cho hoàn cảnh. Nhưng vấn đề không chỉ có thế, G.P.Xáctơrơ có viết: "Tôi chịu trách nhiệm... về bản thân tôi và về mọi người. Tôi tạo ra cho mình một hình ảnh người xác định mà tôi lựa chọn. Tôi lựa chọn mình, tôi lựa chọn con người nói chung"(2). Nói cách khác, với Xáctơrơ thì con người, bằng hành động của mình, không những lựa chọn số phận của mình và bản thân mình, mà còn tác động theo một cách nào đó đến người khác. Hành động thế này hay thế khác, con người dường như muốn nói với người khác: "Hãy hành động như vậy”. Con người còn định trước cho nó một mô hình ứng xử cụ thể: "Lựa chọn mình, tôi lựa chọn con người nói chung". Điều đó có nghĩa là tồn tại người được đặc trưng bởi “lo âu” (G.P. Xáctơrơ), "quan tâm" (M.Haiđơgơ) hay "gánh nặng" (H.Berđiaép).
Các khái niệm này chứng tỏ sự sống của con người là không thể thiếu gánh nặng trách nhiệm: về bản thân, về người thân, về Tổ quốc của mình và tối đa là về toàn thể nhân loại. Nhiều người chạy trốn trách nhiệm này, làm ra vẻ không cảm nhận thấy nó, nhưng nó không buông tha họ. Con người không thể hoàn toàn chạy trốn khỏi lo âu, khỏi sự quan tâm và trách nhiệm. Điều đó chỉ có ở những người bị bệnh tâm thần, nghiện ma tuý, song cũng không phải tuyệt đối. Thực ra thì bệnh tâm thần, tự sát, say rượu và nghiện ma tuý là ý đồ chạy trốn khỏi gánh nặng cuộc đời và chứng tỏ gánh nặng ấy đã vượt quá mức mà con người có khả năng chịu đựng. Tuy nhiên, ngay cả trong xã hội hoàn hảo nhất thì con người vẫn phải gánh vác những nghĩa vụ, phải quan tâm và lo âu. Chính vì vậy mà lo âu, quan tâm hay trách nhiệm không phải là các phạm trù xã hội, mà là các phạm trù hiện sinh. Chúng biểu thị cái vốn có ở sự sống với tư cách là sự sống của con người, không phụ thuộc vào thời gian, vị trí và chế độ kinh tế - xã hội. Sự sống bao giờ cũng là một gánh nặng. Do vậy, nó đòi hỏi con người phải có lòng dũng cảm để sống, phải kiên định chịu đựng gánh nặng của cuộc đời. Điều đó có liên quan tới tồn tại con người mà từ đáy lòng mình, nó là một sinh vật cô độc.
Triết học thế kỷ XX đã trôi qua dưới khẩu hiệu "sự phồn vinh của nhân học". Những biến đổi trong cách tiếp cận nghiên cứu con người đã gắn liền với sự hình thành nhân học triết học. Con người trở thành trung tâm của vũ trụ, là chiếc chìa khoá để mở ra mọi vấn đề.
Nói cách khác, mọi vấn đề đều xoay quanh cái trục là con người. Nhưng, nhân học triết học có quan hệ với thực tại người không phải với tư cách khách thể của nhận thức khoa học (sinh học, tâm lý học, xã hội học, v.v.), mà với tư cách chủ thể của tự ý thức, chủ thể siêu tự nhiên (tức là với thế giới tinh thần của con người, với con người với tư cách một thực thể siêu hình học). Thế giới tinh thần này, theo nhân học triết học, vượt lên toàn bộ tồn tại tự nhiên, và về nguyên tắc là không quy được về tồn tại đó. Do vậy nhân học triết học: với một nghĩa nào đó, tự giải phóng mình khỏi sự phụ thuộc vào các quan niệm thuần tuý khoa học thực chứng.
Vậy nó quan niệm tồn tại siêu nhiên (người) với tư cách đối tượng cơ bản của mình là gì?
Sự cảm nhận thấy "cái Tôi" trong ý thức của mình có nghĩa là cảm nhận thấy rằng con người đã vượt lên trên những mối liên hệ nhân quả thống trị trong giới tự nhiên.
Con người không muốn chỉ là nhân hay quả phù hợp với các quy luật tự nhiên. Nó muốn tự do lựa chọn và làm chủ bản thân. Con người luôn đứng trước vô số trở ngại mà nó buộc phải khắc phục, chiến thắng hay né tránh. Nói về cá nhân tức là nói nó bị vô số mối nguy hiểm bao vây. Sự sống cấu thành, một mặt, từ sự cảm nhận thấy "cái Tôi" của mình và khát vọng bảo vệ nó; mặt khác, từ sự phản kháng lại ý muốn đánh mất ý thức về "cái Tôn của mình. Như vậy, tồn tại người với một nghĩa nào đó là mang tính nhị nguyên.
Mỗi bước đi của con người đều bị hạn chế bởi các điều kiện và các yêu cầu do môi trường tự nhiên và xã hội đề ra. Con người phục tùng chúng trong phần lớn trường hợp vì không thể không phục tùng và liên tục đấu tranh chống lại chúng. Nhưng chính những ngoại lệ từ quy tắc đó lại là cái đánh thức tính người đích thực nơi con người. Vì con người không ngừng tìm kiếm phương thức bộc lộ bản ngã (cái Tôi tự tại) của mình, nên bản ngã có tiền đề để không bị đánh mất vĩnh viễn. Trên thực tế, con người không bao giờ đánh mất bản ngã của mình trong đáy lòng mình, vì nó bao giờ cũng muốn quyết định, thực hiện sự lựa chọn của riêng mình. Như vậy, sự lựa chọn là một bộ phận cấu thành quan trọng của tồn tại người, là một trong những phạm trù phản ánh các đặc điểm quan trọng của sự hiện sinh người.
Nhân học triết học hiện đại bác bỏ cả kết luận cực đoan về khả năng coi thường môi trường tự nhiên và xã hội của con người, lẫn kết luận cực đoan xem con người là một sản phẩm thụ động của hoàn cảnh bên ngoài, có nghĩa vụ phải thích nghi với hoàn cảnh ấy. Con người thực ra luôn dao động giữa hai cực - sự cô độc hoàn toàn và sự hoà tan vào xã hội - cái thủ tiêu cá tính của nó. Con người không phải là "cái Tôi" hoàn toàn tự trị, có khả năng bỏ qua những người khác. Nhưng nó cũng không hoà tan vào những người khác, vì như thế sẽ không còn "cái Tôi" nữa. Con người thừa nhận sự tác động của xã hội và văn hoá đến mình, nhưng "cái Tôi" của nó phải là độc đáo trên cái nền của sự tác động ấy. Vì là người, nên mỗi chúng ta đều có tiềm năng phản xã hội. Nếu không phải trên thực tế thì cũng và trong tư duy, con người có khả năng biểu thị thái độ bất mãn với trật tự xã hội hiện tồn, song hoàn toàn không phải với mục đích phá huỷ bởi, như Đôxtôiépxki nói, cái quý nhất đối với con người là "tuỳ ý và tự do mong muốn" của riêng mình. Sự nghiệp sáng tạo của Đôxtôiépxki đã đưa ông trở thành người đầu tiên chỉ rõ tự do - tự do lựa chọn và tự quyết - là cái vô cùng quý giá đối với con người. Sự nghiệp sáng tạo của ông dường như hoà nhịp một cách kỳ lạ với thế kỷ XX, và không phải ngẫu nhiên mà người ta coi Đôxtôiépxki là nhà triết học của thế kỷ này(1).
Việc thực hiện sự lựa chọn là cái biểu thị sự tự do của con người. Nhưng, khi lựa chọn hành vi, lối ứng xử này hay khắc, cá nhân lựa chọn chính bản thân mình. Nó tạo dựng mình, tạo ra bộ mặt tinh thần của mình. Tồn tại cấu thành từ vô số hành vi lựa chọn chính là sự sống của cá nhân, hay là bản thân cá nhân trong vận động. Như vậy cùng với tự do, trách nhiệm cũng xuất hiện. Đó trước hết là trách nhiệm về mình, về số phận của mình. Mỗi người tự đáy lòng mình đều biết rằng chỉ có bản thân nó chịu trách nhiệm về số phận, về những thành công và thất bại của mình, thậm chí cả trong trường hợp nó muốn đổ lỗi cho người khác hay cho hoàn cảnh. Nhưng vấn đề không chỉ có thế, G.P.Xáctơrơ có viết: "Tôi chịu trách nhiệm... về bản thân tôi và về mọi người. Tôi tạo ra cho mình một hình ảnh người xác định mà tôi lựa chọn. Tôi lựa chọn mình, tôi lựa chọn con người nói chung"(2). Nói cách khác, với Xáctơrơ thì con người, bằng hành động của mình, không những lựa chọn số phận của mình và bản thân mình, mà còn tác động theo một cách nào đó đến người khác. Hành động thế này hay thế khác, con người dường như muốn nói với người khác: "Hãy hành động như vậy”. Con người còn định trước cho nó một mô hình ứng xử cụ thể: "Lựa chọn mình, tôi lựa chọn con người nói chung". Điều đó có nghĩa là tồn tại người được đặc trưng bởi “lo âu” (G.P. Xáctơrơ), "quan tâm" (M.Haiđơgơ) hay "gánh nặng" (H.Berđiaép).
Các khái niệm này chứng tỏ sự sống của con người là không thể thiếu gánh nặng trách nhiệm: về bản thân, về người thân, về Tổ quốc của mình và tối đa là về toàn thể nhân loại. Nhiều người chạy trốn trách nhiệm này, làm ra vẻ không cảm nhận thấy nó, nhưng nó không buông tha họ. Con người không thể hoàn toàn chạy trốn khỏi lo âu, khỏi sự quan tâm và trách nhiệm. Điều đó chỉ có ở những người bị bệnh tâm thần, nghiện ma tuý, song cũng không phải tuyệt đối. Thực ra thì bệnh tâm thần, tự sát, say rượu và nghiện ma tuý là ý đồ chạy trốn khỏi gánh nặng cuộc đời và chứng tỏ gánh nặng ấy đã vượt quá mức mà con người có khả năng chịu đựng. Tuy nhiên, ngay cả trong xã hội hoàn hảo nhất thì con người vẫn phải gánh vác những nghĩa vụ, phải quan tâm và lo âu. Chính vì vậy mà lo âu, quan tâm hay trách nhiệm không phải là các phạm trù xã hội, mà là các phạm trù hiện sinh. Chúng biểu thị cái vốn có ở sự sống với tư cách là sự sống của con người, không phụ thuộc vào thời gian, vị trí và chế độ kinh tế - xã hội. Sự sống bao giờ cũng là một gánh nặng. Do vậy, nó đòi hỏi con người phải có lòng dũng cảm để sống, phải kiên định chịu đựng gánh nặng của cuộc đời. Điều đó có liên quan tới tồn tại con người mà từ đáy lòng mình, nó là một sinh vật cô độc.