PDA

View Full Version : Thánh Mẫu Điện Giáo Xứ Tân Hoà


admin
29-11-2007, 05:36 PM
Kiến Trúc và Nghệ thuật Theo Văn Hoá Việt.

1. Lý do khảo sát kiến trúc.
Kiến trúc và nghệ thuật là cách biểu lộ tâm tính của con người mở ra với thiên nhiên cũng như là cách con người tìm cách hoà hợp với thiên nhiên. Amos Rapaport nhận thấy rằng: “Các môi trường nhân tạo có nhiều mục đích, che chở con người và các hoạt động của con người, tài sản của họ khỏi sức mạnh của thiên nhiên, chống lại các kẻ thù của con người cũng như chống lại thú dữ, thiết lập nơi chốn, sáng tạo khu vực an toàn cho con người trong một thế giới nguy hiểm và trần trụi, nhấn mạnh đặc tính xã hội và địa vị của con người cư ngụ trong đó.
Như vậy, để hiểu rõ cách đầy đủ về kiến trúc, cần có cái nhìn bao quát hơn và xét đến các nhân tố văn hoá xã hội, hiểu theo nghĩa rộng nhất, quan trọng hơn cả là khí hậu, kỹ thuật và kinh tế. trong bất cứ trường hợp nào, chính sự tác động qua lại của tất cả các yêu tố này giải thích cách tốt nhất sự hình thành các ngôi nhà. Không có sự giải thích đơn lẻ nào là đầy đủ, vì những ngôi nhà – ngay cả những ngôi nhà nhỏ bé nhất, khiêm tốn nhất, vẫn chứa đựng trong nó những ý nghĩa thật lớn lao, lớn hơn những vật liệu, kết cấu. Đó là những thể chế, những hiện tượng cơ sở văn hoá. Con người suy nghĩ về môi trường trước khi xây dựng. Tư tưởng quyết định không gian và thời gian, vai trò và các hoạt động tương quan nhân sinh. Dùng vật chất để biểu hiện ý tưởng là truyền đạt một sứ điệp, dùng ý tưởng để triển khai kiến trúc là cách mã hoá nhắc nhở người sau về cách hành động và xử thế, truyền đạt ước mong của người kiến tạo nên nó mong ước đời sau thành tựu”.
Steen Eiler Rasmussen nói về “kiến trúc có thể tồn tại mà không nhất thiết phải có sự hỗ trợ của kiến trúc sư; mà đôi khi kiến trúc sư tạo ra những ngôi nhà mà không phải kiến trúc, kiến trúc tự nó tồn tại bởi con người bình thường làm ra nó và dễ hiểu đối với mọi người”.
Đức Hồng y Ratzinger phát biểu rằng: “Đức Tin tự nó là văn hoá. Không có đức tin trần trụi, cũng chẳng có văn hoá thuần tuý”.
Xác định văn hoá Việt trước khi áp dụng và trình bày niềm tin Tin Mừng vào nền văn hoá là cố gắng đem nền văn hoá Đức Tin (ra khỏi mồ) vào trong văn hoá Đạo Mẫu để khai sáng là một nỗ lực không ngừng của Giáo Xứ Tân Hoà. Nơi đây có cung điện để dâng kính Mẹ Maria, có thiên nhiên bao quanh như diễn tả của lòng phong nhiêu, cùng với Nhà Chầu Thánh Thể để chiêm ngưỡng mầu nhiệm Tình Yêu làm nên sự sống, với tất cả hồn Việt, xin được cùng dâng lên Mẹ, để qua Mẹ dâng lên Thiên Chúa.
Kiến trúc không chỉ là phần xây dựng Thánh Mẫu Điện, nhưng được xây dựng trên tổng thể gồm ao Đức Bà, cảnh vật thiên nhiên, núi Đức Mẹ, dưới núi trong lòng núi là Nhà Chầu Thánh Thể, mang hình ảnh cái giếng đầu làng trong sắc thái văn hoá dân tộc. Diện tích phủ xanh trên 40% trên tổng diện tích sử dụng, cũng theo tỷ lệ mật độ cây xanh chiếm 2-3 so với công trình xây dựng xi măng cốt sắt, gạch đá.

admin
29-11-2007, 05:38 PM
(2...) (http://www.tanhoa.conggiao.net/NGHETH/kientruc.htm)

3. So sánh mô hình kiến trúc Nhà Thờ Phương Tây và Phương Đông.

Kiến trúc Tây Phương từ phong cách Byzantin, Gothique, đến cổ điển, Baroque và Rocco, không có phong cách nào mà không mang tính biểu hiện bằng trang trí hoặc chính bản thân công trình kiến trúc. Kiến trúc Nhà thờ Phương Tây, mang tính biểu lộ, chọn vị trí cao, những vòm cây thấp và vườn cỏ bao quanh, những mái tháp vươn lên cao. Đông Phương mang tính ẩn mình chọn vị trí bao quanh, những vòm cây lớn phủ xanh công trình kiến trúc, những mái tháp thường cũng thấp. Đỉnh cao của công trình kiến trúc Nhà Thờ thường biểu hiện nơi tháp chuông. Chuông Tây Phương chủ yếu vang xa, được treo trên chiếc tháp cao, Chuông Đông Phương mang tiếng âm, trầm và ngân vọng, treo ở tầm thấp. Thường thì hai tính cách được phối trí hài hoà giữa và Đông và Tây trong các kiến trúc Nhà Thờ Đông Phương hiện đại.


<TABLE cellSpacing=2 cellPadding=2 border=0><TBODY><TR><TD width=30></TD><TD align=middle rowSpan=4>http://www.tanhoa.conggiao.net/ALBUM/NHATHO/images/%2442.jpg</TD></TR></TBODY></TABLE>

Điện Thánh Mẫu Tân Hoà dùng ba quả chuông kích thước khác nhau đúc ở Pháp, mang mẫu chuông Tây, nhưng treo trong tháp Đông Phương, khoảng giữa của cửa Tam Quan, độ cao 15 m 5, cao không phải là cao, thấp cũng không là thấp, tầm trung của không gian, giữa những khu nhà cao 12 m của dân chúng chung quanh khu vực. Ngoài chuông Tây, Điện Thánh mẫu còn có một Hồng Chung, treo ở tầng thấp, không dùng quả đánh trong lõi chuông nhưng dùng đòn đánh vào chuông từ bên ngoài.


<TABLE cellSpacing=2 cellPadding=2 border=0><TBODY><TR><TD width=30></TD><TD align=middle rowSpan=4>http://www.tanhoa.conggiao.net/ALBUM/NHATHO/images/%244A.jpg</TD></TR></TBODY></TABLE>

Sắc thái của kiến trúc Tây Phương mang tính nhìn xa trông rộng, sắc thái kiến trúc Đông Phương mang nét đắm chìm trong suy tư. Vươn cao và trầm tư là hai tính cách được phối trí cùng nhau, điểm cao nhất của công trình kiến trúc hơi vươn cao hơn một chút so với tầm cao của những vườn cây, tỷ lệ tốt nhất cho độ cao giữa kiến trúc và độ cao cây xanh thiên nhiên theo tỷ lệ 3/2 là hợp lý. Như vậy công trình nhìn từ xa vẫn nhận ra và khoảng gần vẫn khuất.

Kiến trúc Đông Phương ở tầm thấp mang tính phòng thủ, kiến trúc Tây Phương ở tầm cao mang tính chinh phục. Tầm thấp biểu hiện tinh thần hướng nội, tầm cao biểu hiện tinh thần hướng ngoại. Tầm thấp mang tính hài hoà với thiên nhiên, biểu lộ đặc tính hoà hợp để sống hơn là đàn áp để sống như ở tầm cao.


4. Điện Thánh Mẫu, mô hình nhà Việt.
Điện Thánh mẫu được xây dựng (mô hình 1995) trong một quan điểm của văn hoá Việt, đó là quan điểm:
Nhà cao cửa rộng: Theo nhận xét của những nhà nghiên cứu từ phương Tây đến Việt Nam, thấy rằng có: “Nhiều nhà cao cẳng, sàn nhà bằng ván”
“Nhà sàn chính là kiểu nhà phổ biến ở Việt Nam từ thời Đông Sơn, nó thích hợp cho miền sông nước lẫn miền núi. Nó không chỉ có tác dụng đối phó với môi trường sông núi ngập lụt quanh năm, mà còn tác dụng đối phó với thời tiết mưa nhiều gây lũ rừng ở miền cao và ngập lụt định kỳ ở miền thấp, khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, hạn chế và ngăn cản côn trùng, thú dữ (ruồi muỗi, sâu bọ, rắn rết, cá sấu, hổ báo,…). Vào thế kỷ XVII nhiều ngôi Đình như đình Đình Bảng (Hà bắc), Đình Chu Quyến (Hà Tây)… vẫn làm theo lối nhà sàn.”[1]
Nhà cao của Việt Nam gồm hai yêu cầu: sàn và nền cao hơn mặt đất, mái cao so với sàn nền. Sàn nền cao để chống ngập lụt ẩm ướt, côn trùng và còn một đặc điểm nữa là quen với phong thái kiểu nhà Việt Nam trong cách suy nghĩ. Nhà cao nhưng không cao hẳn nhằm tôn vẻ đẹp của ngôi nhà giữa thiên nhiên bởi vì khác với Tây Phương là thường có những ngôi nhà cao tầng, nhà của Việt Nam thường thích hợp là lối nhà trệt. Nhà Trệt tuy thấp nhưng đủ cao rộng để có không gian mở ra với thiên nhiên, bốn bề thoáng đãng và hoà với cây xanh để cảm thấy rằng không bị tù túng trong bốn bức tường. Thói quen này thường ăn sâu trong tâm thức người Việt, mặc dù đất chật người đông, người ta vẫn cố gắng mở ra nhiều cửa sổ nếu có thể để sẵn sàng hoà mình vào với thiên nhiên.
Từ triết lý sống đến tâm lý ở, chúng ta cũng có thể đi chiều hướng ngược lại từ tâm lý ở đến triết lý sống là ưa thích sự hài hoà. Từ đó, Luật Phong Thuỷ của Trung Hoa có ảnh hưởng đến tâm lý ở của người Việt Nam. Luật phong Thuỷ được phát biểu là tìm sự hài hoà giữa con người với thiên nhiên, hay nói cách khác tìm quy luật thiên nhiên để hài hoà cho cuộc sống con người.
Mái cao so với nền có tác dụng đón gió tránh nắng nóng và độ dốc của mái nhằm bảo đảm thoát nước nhanh khi mùa mưa đến. Ngoài ra theo tiêu chuẩn của người Việt nữa là nhà cao cừa rộng. Cửa không yêu cầu cao, nhưng yêu cầu rộng.
Cửa rộng có công dụng với thiên nhiên là đón gió tránh mùa nóng, thấp cửa để tránh bão và tránh mưa. Cửa rộng biểu lộ tinh thần hiếu khách của người Việt. Tinh thần này ảnh hưởng nhiều trong ngôn ngữ, cách xưng hô Ông, bà, chú bác, anh, chị, em.., mọi người đều có mối liên hệ ruột thịt, huyết thống. Ảnh hưởng tinh thần hiếu khách cũng thấy ở trong cách sống: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “gà cùng một mẹ”, “Nhịn miệng đãi khách”.
Nhà cao cửa rộng là cách diễn tả của tâm hồn Việt, trọng tinh thần cao thượng, biểu lộ tinh thần hiếu khách. Từ cách sống đến diễn tả trong cách ở là một chiều dài của thời gian được lưu truyền bởi những người đi trước và nối tiếp làm cho cuộc sống thêm phong phú. Như vậy, tính cách của ngôi nhà hiện đại thích ứng với môi trường mới nhưng vẫn có nét của thời gian xưa mang những đặc thù và tinh tuý.

admin
29-11-2007, 05:39 PM
5. Thánh Mẫu Điện theo kiến trúc Đình.

<TABLE cellSpacing=2 cellPadding=2 border=0><TBODY><TR><TD align=middle rowSpan=4>http://www.tanhoa.conggiao.net/ALBUM/NHATHO/images/DSCF0239.jpg</TD><TD vAlign=top align=left rowSpan=4>










</TD><TD width=30></TD></TR><TR><TD width=30></TD><TD></TD></TR><TR><TD width=30></TD><TD></TD></TR><TR><TD width=30></TD></TR></TBODY></TABLE>

Thánh Mẫu Điện lấy kích thước của Ngôi Đình Việt Nam làm tiêu chuẩn. Theo kích thước Ngôi Đình Việt Nam là hình vuông, biểu tượng Đất mang đặc tính Âm. Chiều dài của mỗi cạnh xây dựng là 37 m, quay mặt theo hướng Đông Nam, đủ ấm áp trong mọi mùa, nhận ánh sáng không đối diện nhưng đầy ánh sáng tránh ẩm thấp, tránh nắng nóng mùa hè, núp gió mùa Đông.
Đoạn cổ mái (giữa mái trên và mái dưới) được tính toán sao cho toàn bộ ánh sáng chiếu vào nội thất là ánh sáng âm, nghĩa là ánh sáng được hắt từ trần mái trên xuống, không một tia nắng nào rọi trực tiếp vào cung thánh. Từ đó, tạo một không gian dịu mát, chan hoà và êm đềm. Những hình ảnh thu được qua máy quay phim chụp hình trong các buổi lễ không bị vệt sáng phá ngang.
Chếch sang hướng Nam núi Đức Mẹ Ngự Bình, án ngữ như che chở đoàn con. Phía Tây để tránh nắng chiều có ao Đức Bà làm trong mát khí chiều. Hai chức năng của người Mẹ được đề cao, đó là sự phong nhiêu và nuôi dưỡng.
Riêng cấu trúc Thánh Điện, thay vì nhà cao cẳng được xây dựng thành tầng hầm để xe hơn 1000 m2, chiều cao tầng hầm 2m 6, tránh ẩm thấp và sử dụng được mặt bằng để xe trong tầng hầm. Phía ngoài hầm ốp đá chẻ, gây ấn tượng vững chắc. Cả Thánh Mẫu Điện được đặt trên nền đá vững chắc, có thể sánh ví như Toà Nhà Giáo Hội được xây trên nền đá và dâng kính Đức Mẹ Bảo Trợ, Đức Maria Mẹ của Giáo Hội.
Cấu trúc cửa vào Thánh Điện theo lối tam toà, cửa giữa và hai bên mái vòm cung theo cung vòm Roma, nửa vòng tròn. Mái vòm cửa tam toà kiến trúc theo mái cong, đầu góc mỗi mái mang hình bồ câu, tượng trưng hướng thượng với lòng khát mong hoà bình.
Chung quanh, Ngôi Thánh Mẫu Điện không có cửa, nhằm mở ra với không gian tự nhiên, mời gọi mọi người bước vào, không ngăn cách giữa Thiên - Địa – Nhân. Ở đây còn thấy chiều kích Truyền Giáo, đặc tính chính yếu của Giáo Hội. Giáo Hội mở ra với mọi người, đón nhận mọi người, Giáo Hội là Mẹ, Giáo Hội Công Giáo đ1ng về cả ý nghĩa lẫn hình thức. Điện Thánh mẫu được thiết kế như vậy, như muốn ngỏ với mọi người rằng: “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình, dạt dào…”[2]
Với kiến trúc Việt, ngôi Đình Việt Nam, theo tư duy ước lệ, biểu lộ tư duy số lẻ, vào trong sân đình là cổng tam quan, từ sân đình bước lên Đình là bậc tam cấp, vào trong Đình bước qua cửa tam toà. Theo ước lệ ấy Điện Thánh Mẫu được xây dựng, bước vào trong sân Điện là cổng tam quan, bước vào trong Thánh Điện, bước lên tam cấp gồm 15 bậc theo hệ số 3 x 5, qua cửa tam quan vào trong chính Điện. Từ Tam quan trước khi vào chính điện, không gian mở ra, một sảnh rộng, nơi đây dừng chân cho khách bộ hành, lắng lòng để chuẩn bị tâm tư cho cuộc vào “Bệ kiến Thánh Nhan”. Đây cũng là nơi chuẩn bị các lễ vật trước khi dâng tiến, cũng là tiền sảnh để cử hành nghi thức tiếp nhận dự tòng. Cửa chính vào trong Thánh Mẫu Điện dành riêng cho những người khoẻ mạnh, còn có hai lối vào trong Thánh Điện tiện ích cho người đau bệnh có thể đi lên bằng xe lăn, hoặc theo độ dốc dài, có thể bước lên bớt mệt nhọc. Hai lối đi biểu lộ tinh thần bác ái của tinh thần Kitô giáo, lòng bác ái đó mở ra với mọi người và cũng biểu lộ tinh thần nhân ái của người Việt, trân trọng các cụ cao tuổi (Kính lão đắc thọ) cũng như những người đau bệnh (thương người như thể thương thân), mọi người đều có chỗ của minh trong ngôi Đình, cũng như trong Thánh Điện.
Mái của những ngôi Đình lớn hoặc theo cung đình Huế, như Điện Thái Hoà, mái được chia làm ba tầng chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái “chồng diêm” hoặc là “trùng thiềm”. Giữa hai tầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh ba mặt của Ngôi Điện. Dải cổ diêm được phân thành từng ô hộc để trang trí hoa văn. Tại Thánh mẫu Điện, các khung tầng mái dưới, nơi đây đặt 14 chặng đàng Thánh Giá, không theo lối vòng như những Nhà Thờ khác thường đặt nhưng theo lối đặt chia theo hai cánh, thứ tự các chặng từ gian cung thánh xuống và xếp đặt từ chặng 1 đến 7 và từ 8 đến 14. Những khung giữa là bộ điêu khắc gỗ diễn tả công trình tạo dựng của Thiên Chúa (Mẫu điêu khắc của danh hoạ Michelangelo tại trần Nguyện Đường Sistine), hình tượng tạo dựng này được đặt trong Thánh Mẫu Điện, ngụ ý trình bày một cuộc sinh hạ mới trong Đức Giêsu Kitô, với sự cộng tác của Đức Maria xưa kia và hôm nay trong việc sinh ra các tâm hồn các tín hữu, để trở thành người em của Đức Giêsu trong gia đình nhân loại và trở nên người con trong gia đình Thiên Chúa.
Bộ mái được phân chia ba tầng mái, theo cách cấu trúc truyền thống, như thế để tránh nhìn thấy sự nặng nề của bộ mái mà còn tạo ra cảm giác thanh thoát, càng lên cao càng đổ rỗng để hoà vào với cõi trời mênh mông. Mái được làm bằng bêtông cốt thép, nhưng phủ lợp phía trên bằng ngói đỏ, các lớp ngói làm bộ mái vừa nhẹ nhàng vừa biểu lộ lòng cung kính của đất thấp đối với trời cao.
Nội thất của Điện Thánh Mẫu rộng thênh thang, 34 m mỗi chiều, mái cao tạo sự thanh thoát, chiều ngang rộng biểu lộ lòng vô biên mở ra với tạo vật và với con người.
Chính Điện, gian cung thánh, bước lên tam cấp gồm 5 bậc, diện tích 15m x 6m. Bàn Thờ bằng đá Cẩm Thạch đặt giữa chính Điện. Nếu cung điện của vua là chiếc ngai, thì trong Thánh Mẫu Điện, trọng tâm là Bàn Thờ, biểu lộ Đức Giêsu Kitô hiện diện, chính Ngài là Tư Tế, là Của Lễ: “Con tự hiến thánh con, để họ cũng được hiến thánh”. Nếu trong Điện Thái Hoà, phía trên ngai là treo bửu tán bằng pháp lam ngũ sắc trang trí hình chín con rồng, chung quanh còn rủ các riềm bằng gỗ chạm trổ cửu long sơn son thếp vàng, thì trong ngôi Thánh Mẫu Điện, là đặt Thánh Giá có treo Đức Giêsu chịu đóng đinh giữa tâm điểm của mặt Trống Đồng làm bằng đá, biểu hiện Đức Kitô là trọng tâm của Đức Tin Kitô giáo cũng là trọng tâm của nền văn hoá Việt. Cả hai chiều kích văn hoá biểu đạt đức tin và đức tin biểu lộ trong văn hoá đều có trọng tâm là Đức Kitô Giêsu chịu đóng đinh, như Thánh Phaolô xác tín: “tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá”[3] . Đây là lối diễn tả đặc trưng của ngôi Điện Thánh Mẫu, và cũng là nội dung sống đức tin giữa lòng dân tộc mà Cha Chánh Xứ Dom. Bùi Minh Sơn muốn biểu lộ và thiết tha sống.

admin
29-11-2007, 05:40 PM
6. Di tích Lịch sử di dời:
Vấn đề xưa nhưng lâu rồi quên lãng, mới cũng không hẳn là mới, vì chưa nở rộ lên chung quanh việc di dời, bắt đầu từ căn nhà hai tầng lầu đúc bêtông đầu tiên tại Tân hoà thuộc SàiGòn. Một vấn đề có nhiều tiếng vang, chiếm nhiều trang báo, và có cả những đoạn phim truyền hình do đài HTV cũng như VTV thực hiện.
Khởi đầu từ một bài báo ngày 3 tháng 10 năm 1998 đăng tin có một thần đèn tại Miền Tây có danh là Hai Luỹ. Ông phát biểu trên trang báo: “ Có những trường hợp cần thiết đối với những di tích quý, đòi hỏi phải giữ nguyên vẹn và chấp nhận tốn kém, tôi có thể mang nguyên vẹn một ngôi nhà tới nơi khác, xa vài trăm mét mà không cần gỡ các khuôn hình đang treo trên vách”.
Từ câu chuyện đăng trên tờ báo, “chỗ chúng tôi tuy căn nhà không phải là di tích nhưng cần được dời đi để lấy mặt bằng tổng thể, chúng tôi bắt đầu hành trình đi tìm thần đèn để thực hiện ý tưởng táo bạo, dời căn nhà ba tầng sang một nơi khác”. Đó là ý định của vị Linh Mục Bùi Minh Sơn, chánh xứ Tân Hoà. Có thần đèn lại cần có một người can đảm để cho thần đèn trổ tài, như cả hai cần có có nhau, có võ và có đất dụng võ, linh mục chánh xứ và vài người trong Hội Đồng Mục Vụ thực hiện hành trình về phía Tây để tìm thần đèn. Con đường tìm kiếm khá vất vả, cần dùng đến vừa phương tiện bộ vừa phương tiện di chuyển trên sông, đi tới đâu hỏi thăm tới đó, sau ba ngày tìm kiếm đã gặp được ông. Một cái hẹn làm đổi thay cuộc đời ông thần đèn, từ ấy nhiều người biết đến ông.
Bắt đầu từ những trang báo và cũng tiếp tục từ những trang báo trên dòng thời sự nóng hổi:
Tuổi trẻ ngày 9 – 1 – 1999, bài báo mang tựa đề: Thợ Miền tây dời nhà ở TP. HCM. Theo tin đã đưa: “Sáng ngày 8 – 1 – 1999, căn nhà đúc một trệt hai lầu (10 x 13 m) đầu tiên ở TP. HCM đã được nhóm thợ dời nha ở ĐBSCL, do ông Nguyễn Cẩm Luỹ (Đồng Tháp) làm trưởng nhóm di dời cách xa vị trí toạ lạc gần 30 năm nay hơn 10 m. Căn nhà nằm trong khuôn viên Nhà Thờ Tân Hoà, số 525/92 Huỳnh Văn Bánh, P14 Phú Nhuận, được khởi công ngày 6 – 9 – 1999 sau hai tháng chuẩn bị. Theo ông Luỹ, căn nhà nặng khoảng 100 tấn phải được di chuyển trên 40 m, đi ngang qua một ao cá”.
Điều đặc biệt không chỉ là việc di dời nhưng còn đặc biệt hơn là việc di dời được thực hiện bằng sức người với Palăng và con đội trượt trên ống lăn.
Theo báo Người Lao Động số ngày 9 – 1 – 1999, điều ngoạn mục nhất là dời căn nhà qua ao nước, báo đăng tải lời của ông Luỹ: “Trước nay, tôi đã di dời trên 30 công trình lớn nhỏ, nhưng chỉ dời trên mặt đất. Tôi có thể nâng cao ngôi nhà lầu, sửa chữa nhà cao tầng bị nghiêng, xoay nhà đủ mọi hướng.. nhưng phải di dời qua ao nước như thế này thì chưa bao giờ làm”. Quả thực đây là những ngày ngoạn mục nhất, bởi nếu nghiêng đổ sẽ kể như lấp luôn ao và bao nhiêu điều phiền toái khác, không ai dám bảo đảm ngoại trừ một người liều là Vị Linh Mục chính xứ và một người gan là ông Hai Luỹ.
Công trình di dời bắt đầu những câu hỏi về pháp lý, theo báo Tuổi Trẻ ngày 16 – 1 - 1999:
Nhà cũ nhưng chỗ mới: Làm lại giấy chủ quyền nhà? Theo các chuyên viên thì trường hợp này thủ tục sẽ vướng nhiều vì chưa có một tiền lệ nào.
Đi xin cái mà luật chưa quy định? Giấy phép di dời!
Bất động sản thành động sản.
Các nhà khoa học tạm gọi là bằng cấp thì chào thua người nông dân nổi dậy. Ông Hai Luỹ chỉ mới học hết lớp 5, nhưng chiều dầy kinh nghiệm của nghề truyền thống đã làm nên chuyện, các kỹ sư thì chưa được học về lý thuyết di dời nên chào thua. Giáo sư Nguyễn Văn Đạt, trường Đại Học Kỹ thuật TP.HCM nghĩ: “ Lẽ ra, ông Hai Luỹ chưa nên triển khai ở Tp.HCM, vì đây là một thành phố lớn, có những đòi hỏi nghiêm túc và chặt chẽ hơn về thủ tục xây dựng cơ bản và quản lý đất đai, quy hoạch, kỹ thuật an toàn nơi dân cư đông đúc. Việc di dời một công trình như trong Nhà Thờ Tân Hoà ở Phú Nhuận là một dẫn chứng chưa nên làm khi chưa hội đủ điều kiện nói trên”.
Dù sao đi nữa cũng không có lý do gì để ngăn ngôi nhà lại không cho tiếp tục đi. Báo Tuổi Trẻ ngày 11- 2 – 1999, vẫn tiếp tục đưa tin ngôi nhà đã “Vượt qua ao nước thành công”.
Bây giờ đã ba năm trôi qua, hằng ngày ngôi nhà di dời vẫn là nơi phòng khách, Phòng lớp, nhà họp, nhà ăn, mỗi lần đều thấy điều gì đó đang âm thầm tuôn chảy nghe lòng ấm lại của những kỳ tích xưa. Dấu vết của trang sử mới Tân Hoà là của Mẹ.

admin
29-11-2007, 05:40 PM
7. Vật liệu trang trí: Đá và gỗ lim.
Công trình đá có từ rất lâu đời trong các nền văn minh cổ, thời đại đồ đồng, các kiến trúc đầu tiên đã ra đời để dâng kính thần linh. Các kiến trúc này được xây dựng bằng đá (thường bằng những thanh đá hoặc những tảng đá lớn) gồm các loại hình: cột đá, phòng đá, lan can đá.
Cột đá được dựng lên dùng để kỷ niệm những người đã khuất có tên gọi là Menhia, tin vào sự sống trường tồn mà tuổi của đá làm biểu hiện.
Phòng đá, ban đầu thường nhỏ, chiều ngang không quá 2m, chiều cao không quá 1, 5 m, thường được dựng lên trên mộ cổ, cũng đi từ ý niệm linh hồn bất tử để tưởng nhớ người quá vãng. Từ thưở xa xưa, con người đã dùng đá để biểu lộ sự bất tử, và có rất nhiều di tích còn lại cho ngày hôm nay. Có thể thấy trong kiến trúc cổ những công trình đá vĩ đại như các kim tự tháp tại Ai Cập đánh dấu nền văn minh sông Nil và Lưỡng Hà Địa.
Về mỹ thuật trên đá đã có từ xa xưa khoảng 40.000 năm TCN đã có những tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, chạm trổ trên đá. Các tác phẩm trên đá có rất nhiều sứ điệp của người xưa mà ngày nay vẫn còn chưa khám phá ra hết ý nghĩa của nó.
Trong văn hoá Việt người ta nhận thấy, công trình đá có mặt rất xa xưa trong các nhà mồ và rất nhiều nơi, như nhà mồ Tây nguyên, lăng tẩm, các vật dụng nhỏ như đồ dùng sinh hoạt.
Trong quần thể Nhà Thờ Phát Diệm, một công trình kiến trúc đỉnh cao của Văn hoá Việt và của đời sống đức tin hội nhập văn hoá, hạng mục chính để làm nên tính đặc trưng ấy, đó là Nhà Thờ đá (Nhà Thờ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ, xây năm 1883, ngẫu nhiên và trùng hợp lạ lùng là Điện Thánh Mẫu cũng là ngôi Nhà Thờ được sử dụng chất liệu đá để xây dựng và trang trí, cả hai được dâng cho Đức Maria), toàn bộ các chi tiết Nhà Thờ đều làm bằng đá, ngoại trừ cửa ra vào.
Đưa mỹ thuật đá ứng dụng trong nội thất Điện Thánh Mẫu dùng đá làm nền, dùng đá làm những tấm bình phong điều hoà gió, chắn mưa, dùng đá chạm trổ như trống đồng, bàn thờ, bục giảng, chân bệ hoa nến, các hoa văn chân cột, dùng đá điêu khắc, chạm trổ tượng thờ như tượng Đức Mẹ chạm trổ từ phôi đá 5m chiều dài 2m chiều ngang.
Các công trình tác phẩm nghệ thuật đá do anh Hoàn, người gốc quê Ninh Bình, là thành viên của Hội Điêu khắc Việt Nam, thực hiện. Cuộc gặp gỡ anh Hoàn là cuộc gặp gỡ đầy thú vị, trước đây anh Hoàn đã vào Nam thi công tượng đài Công Nông ở ngã Bảy Ngô Gia Tự, Quận 10, một lần nữa anh vào Nam thi công tượng đài bà mẹ liệt sỹ ở nghĩa trang liệt sỹ Thành Phố, xa lộ Hà Nội. Trong lần tìm về quê gốc của những con người thực hiện Nhà Thờ Đá Phát Diệm, chúng tôi gặp lại anh và đội ngũ anh em nghệ nhân, các công trình được hình thành từ ý tưởng, thiết kế và bàn tay nghệ nhân. Công trình đá gồm có nhiều khoản mục, thực hiện trong một thời gian dài gần 10 năm, sẽ trình bày trong sách khác từng chi tiết.
Công trình gỗ do anh Vũ Văn Tạ, anh Vũ văn Vạn, thuộc Họ Trị Sở, Giáo xứ Hoà Lạc, Giáo phận Phát Diệm thực hiện. Do tính chất nghề mộc, chạm trổ trên gỗ gia truyền, cụ Phó Muôn là người đã tham gia vào công trình Nhà Thờ gỗ Phát Diêm, lưu truyền sang đời con cháu là cụ Vũ Văn Cần tham gia vào bảo trì công trình gỗ nhà Thờ Phát Diệm, đến đời anh Tạ và anh Vạn thì trùng tu Nhà thờ Phát Diệm từ năm 1999 đến 2001, mọi hoa văn trang trí trên cột và trên hoạ tiết cửa đều đã nằm sẵn trong trí nhớ và đem vào thực hiện trên gỗ. Những hoạ tiết hoa văn đi theo lối truyền thống gồm ngũ quả: Nho, miến, Phật thủ, Hồng, Cúc. Bộ tứ quý hoặc tứ đại cảnh: bao gồm Xuân, Hạ, Thu, Đông, ứng với Mai, Trúc, Cúc, Thông.
Những nét chạm trổ trên cột và trên cửa đều rất công phu và tỷ mỷ được thực hiện trên gỗ Lim, là loại gỗ rất quý.
Bộ ghế tràng kỷ truyền thống của các gia đình khá giả ngày xưa, hoặc chỉ có ở những nơi đình chùa lớn, do anh Bình cũng quê gốc Ninh Bình thực hiện, những bộ tràng kỷ được chạm trổ theo tứ đại cảnh trong 4 ô khung trên mặt tựa của ghế. Hình thành những bộ tràng kỷ này, được đặt trong Thánh Mẫu Điện nhằm tôn cao địa vị của con người trong công trình cứu độ của Thiên Chúa, mỗi con người là hoạ ảnh và hình ảnh của Thiên Chúa được đặt vào trong trần thế với vai trò làm chủ và cai quản thiên nhiên. Theo đúng tinh thần đường hướng Mục Vụ của Công Đồng Vat II: “Con người là trọng tâm của Giáo Hội”. Đây cũng là một công trình lớn và công phu, chuyển từ Ninh Bình vào bằng xe tải.
Toàn bộ sân Điện được lót bằng đá cẩm thạch thiên nhiên, cầu thang được lót đá hoa cương thiên nhiên.
Gỗ và đá là hai vật liệu lấy từ thiên nhiên, mang trong mình trọn vẹn tính thiên nhiên, không qua bàn tay con người làm thay đổi kết cấu và chất liệu (Không xay, trộn, ép, đúc…). Các vật liệu mang tính thiên nhiên vào công trình, Thánh Mẫu Điện như muốn cả thiên nhiên đất trời vào trong toàn thể kiến trúc, để con người trong Điện cảm thấy gần gũi với Đất Trời, hoà quyện vào trong vũ trụ, “Muôn thọ tạo ơi, cùng tôi hát lên một bài, ca tụng Thiên Chúa..”
Mười hai cột chính của Thánh Mẫu Điện được bọc bằng chất liệu gỗ, việc trang trí này làm nổi bật lên ý nghĩa của mười hai trụ cột Giáo Hội, Muời hai cột trụ này gánh toà nhà Giáo Hội, xoay quanh và ở trong lòng Điện Thánh Mẫu, Giáo Hội được ấp ủ trong lòng Trinh Nữ Maria, phía trên cung Thánh, hai cặp cột được bố trí ở hai bên, diễn tả hai cặp anh em trong Nhóm 12 môn đệcủa Chúa Giêsu. Gia đình Giáo Hội liên kết anh chị em với nhau trong trần thế để cùng tiến vào trong Nước Trời làm anh chị em với nhau trong gia đình Thiên Chúa.
Nhìn chung trong các công trình đá và gỗ đều thực hiện cách công phu và tỷ mỉ, có sức bền với thời gian.

admin
29-11-2007, 05:41 PM
8. Tranh đá.
Những hình ảnh, bằng màu tự chế hay bằng nét khắc thô sơ, trên vách đá nhẵn dựng đứng hoặc nằm ngang, thể hiện những nhát cắt giản dị nhất của cuộc sống cổ xưa. Vâng, chắc bạn đã đoán ra: Đấy chính là tranh đá.

Ngắm bắn nai. Tác giả thậm chí còn vẽ cả cỏ trong bụng nai nữa đấy.

Có rất nhiều thuật ngữ được sử dụng để nói về tranh đá. Một số học giả chỉ gọi đây là chữ tượng hình, bởi vì chữ tượng hình còn được dùng để chỉ những hình vẽ trên nhiều chất liệu khác nữa, chẳng hạn như da thú, gỗ và xương. Chạm đá được dùng bên ngoài khu vực Bắc Mỹ để nhắc tới loại nghệ thuật gọt đẽo trên đá nhằm tạo ra hình ảnh. Thông dụng hơn là thuật ngữ khắc đá, dùng để chỉ cùng khái niệm với chạm đá. Nhưng dù là dùng thuật ngữ nào đi nữa, tất cả các từ nhắc tới ở trên đều dùng để chỉ những biểu tượng (bạn có thể gọi nó là tranh hay hình vẽ tuỳ ý) mà người xưa tạo nên trên mặt đá.
Có hai cách để tạo thành tranh đá (rất hiếm khi cả hai cách cùng được áp dụng để tạo một bức tranh đá): dùng màu để vẽ lên mặt đá, hoặc đục, cào, cạo và rạch lên đá để tạo hình vẽ mong muốn. Tại một số vùng, các "tác giả" thậm chí còn lợi dụng những chỗ nhô ra, thụt vào hoặc vết nứt trên đá để thể hiện một đặc điểm nào đó trong bức vẽ. Tranh đá còn được chia thành hai loại là mang đi được và không mang đi được: loại thứ nhất được tạo nên trên vách đá của hang, động, còn loại thứ hai là trên công cụ bằng đá như rìu, dao và bàn kê.
Hầu hết màu sắc của tranh đá có nguồn gốc từ khoáng chất. Màu đỏ được làm từ oxit sắt (hay còn gọi là hematit) hoặc đất son. Màu trắng được tạo từ đất diatomit hoặc thạch cao, màu đen từ than củi hoặc oxit mangan. Màu sắc được nghiền nhỏ, sau đó trộn với "keo" (nước, mỡ động vật, nước quả...) để chế biến thành sơn. "Nghệ sĩ" dùng ngón tay hoặc lông đuôi thú để bôi sơn lên vách đá, hoặc thậm chí dùng nguyên cục màu để tạo đường nét mang màu sắc như ý muốn.
Tranh đá xuất hiện tại nhiều khu vực khác nhau trên thế giới: châu Mỹ, châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Úc, trong đó châu Phi thực sự là một kho tàng lớn về tranh đá. Trong thế giới tranh đá, mỗi phiến đá đều có hồn; hay nói cách khác, chúng mang ý nghĩa văn hóa riêng. Theo các nhà sử học và hang động học, giới thầy tu đạo Shaman là tác giả của một số tranh gần đây, với mục đích sử dụng lực lượng siêu nhiên để can thiệp vào cuộc sống con người. Tuy nhiên, rất nhiều bức tranh cổ xưa chỉ đơn thuần thể hiện những hoạt động trong cuộc sống hàng ngày như săn bắt, hái lượm hoặc vui chơi. Nhờ những bức tranh này, các nhà khoa học có thể xác định được tác giả thuộc nhóm người nào, sống vào giai đoạn nào, có những tập quán gì, và tập quán đó tồn tại trong bao lâu, v.v...

http://www.tanhoa.conggiao.net/ALBUM/NHATHO/images/%245F.jpg

Bức tranh này thể hiện một cảnh sinh hoạt tôn giáo.

Vì lý do này, kỹ thuật xác định niên đại của tranh đá đóng một vai trò quan trọng trong công tác nghiên cứu hang động học và hình vẽ cổ xưa. Gần đây, nhóm nghiên cứu thuộc ĐH Newcastle và ĐH Quốc gia Australia đã tìm ra kỹ thuật carbon vô tuyến, xác định chính xác hơn niên đại của tranh đá. Nhờ đó, họ phát hiện ra rằng khu vực Ukhahlamba-Drakensberg, "mỏ" tranh đá đẹp nhất, nhiều nhất trên sa mạc Sahara có niên đại 3.000 năm tuổi chứ không phải chỉ xấp xỉ 1.000 năm như trước đây. TS Aron Mazel, thành viên nhóm nghiên cứu, lạc quan: "Với kỹ thuật mới này, chúng tôi hy vọng sẽ thu thập được nhiều thông tin chính xác về các bức tranh ở đây theo hệ thống. Biết đâu, chúng tôi lại chẳng khám phá ra những "bộ sưu tập" tranh ghi lại quá trình tiến hóa của cư dân nơi đây?"[4]
Tranh đá tại Tân Hòa do anh Hòan và nhóm thi công từ tháng 2 – 2002 tại Ninh Bình đến ngày 10 – 3 – 2004, bộ sưu tập tranh đá mới xong một phần hai công trình và được chở vào ráp tại Thánh Mẫu Điện Tân Hòa (Phú Nhuận, Sài Gòn). Bộ tranh đá này bao gồm 8 bức, mỗi bức gồm 3 bức lớn khổ 2m – 0,8m, bốn bức nhỏ khổ 1,7m – 0,5m, cài vào với nhau bằng những trụ đá, được đặt trên bệ đá của mỗi bức dài 6,3m, cao 0, 5m. Mỗi bức được kết cấu theo hình của một tờ sớ cuộn tròn viết ngang và được trải rộng ra. Nội dung của các bức này được sắp đặt theo những biến cố trong Cưu Ước và Tân Ước, tạo thành những bức tranh đá. Ngoài những bức tranh được thể hiện, khung là những nét hoa văn được điêu khắc. Theo ý kiến của nhóm thợ đá, đây là một công trình khó thể hiện lại được vì nhiều lý do, về thiếu nhân lực, phôi đá, nghệ nhân…


9. Bốn nguyên tắc cơ bản.
Nghệ thuật hình khối bao gồm hội hoạ và điêu khắc. Nghệ thuật điêu khắc chạm trổ mang tính biểu tượng ước lệ, nhằm đạt nội dung hơn hình thức, điều cốt yếu chứ không nét phụ trợ, khác với lối tả thực của phương Tây. Nghệ thuật hình khối có 4 nguyên tắc chính:
Thượng hạ tương phù:
Hình thức biểu lộ có trên có dưới, có tiến có lùi, có tầng thấp và cao, có gốc có ngọn, diễn tả có đầu có đuôi. Theo cách này, các nét chạm trổ trên cột trong nội thất Thánh Mẫu Điện, được thực hiện dưới chân cột chạm hình núi, từ đất núi mọc lên các loài cây, hoa lá, trái theo chiều dọc theo kích thước cột.
Tả hữu tương ứng:
Trái phải đều có tương ứng với nhau, tránh nhất bên trọng nhất bên khinh, có chiều qua và lại, có tương giao, có thân hữu, có nối kết, tất cả những nét đó biểu lộ tính hài hoà. Trên cửa chính hai cánh vào Thánh Mẫu Điện, người thợ chạm khắc, cánh trái và cánh phải như nhau.
Phì sâu tương chế:
Là nguyên tắc dầy mỏng đi với nhau, rộng và hẹp tương xứng, sâu nông hài hoà. Cho nên có thể thấy trên điều khắc giữa bề nổi và bề chìm thường đan xen với nhau trên những hoạ tiết, chiều rộng và hẹp của hoạ tiết hài hoà. Trong dân gian người ta thường nói: “ở rộng người cười, ở hẹp người chê”, một vừa hai phải, đó là châm ngôn của người biết chừng mực.
Nội ngoại tương quan:
Hình thức và nội dung đi với nhau, nội tâm và hoạt động diễn tả hài hoà, cảnh vật hoà hợp, thiên nhiên bốn mùa nối tiếp. Ví dụ trên hoạ tiết của bức Phượng Hổ tao ngộ diễn tả nội dung dân gian:
Con Phượng Hoàng bay trên cao nói với Hổ:
“Giang sơn thảo mộc nhà ta cả”.
Con Hổ dưới đất nói với con Phượng Hoàng trên cao:
“Trời cho ướt cánh khôn bay có ngày”
Về ý diễn tả của bức điêu khắc là sống cần có nhau, đừng vội bay cao mà tự tôn khinh khi những kẻ còn dưới thấp, dù có cao nhưng cũng chẳng qua khỏi mắt Trời. Kẻ ở thấp cũng đừng mặc cảm, dẫu sao vẫn có Trời soi xét. Hài hoà mà sống đó mới là triết lý sống của người khôn ngoan.

admin
29-11-2007, 05:41 PM
10. Tính biểu trưng của hình khối:
Phép “Hai góc nhìn”:
Nhìn từ trên xuống và nhìn ngang qua, lối diễn tả đặc trưng nhằm đặc tả nhấn mạnh, để làm nổi bật trọng tâm của đề tài với sự đầy đủ và trọn vẹn của nó, không kể đến tính hợp lý.
Ví dụ, Chim Việt trên trống đồng Đông Sơn, bay trên cao vừa thấy cả thân toàn vẹn từ đầu đến chân theo chiều ngang, vừa thấy hai cánh thăng bằng như từ trên nhìn xuống.
Hoặc như bức chạm gỗ đánh cờ ở Đình Ngọc Canh: Thấy theo chiều ngang hai người chơi cờ và người xem không khuất một ai, nhìn từ trên xuống thấy rõ tư thế ngồi của từng người. Theo nguyên tắc này thợ chạm trổ đã thực hiện trên những hoạ tiết điêu khắc của tác phẩm Phượng Hoàng và Hổ tao ngộ:
Nhìn kỹ hoạ tiết sẽ thấy đôi cánh của con Phượng Hoàng, cũng như con Hổ phía dưới theo góc nhìn ngang, hướng nhìn từ trên xuống, theo góc nhìn của Phượng Hoàng, thấy rõ cả hai tai, bốn chân của con Hổ. Lối tả này bộc lộ rõ quan điểm của lối điêu khắc truyền thống, khi hỏi tại sao làm như thế, những người thợ chỉ biết trả lời, cha ông họ vẫn làm như vậy mà họ là những người tiếp nhận từ truyền thống ấy. Không phải là vấn đề làm theo truyền thống từ lý thuyết nhưng họ khởi đi từ thực hành theo lối truyền thống và khi đem lý thuyết vào và thấy trúng như cách họ được hấp thụ từ nền văn hoá. Có nhiều điều ngạc nhiên nữa khi thấy những người thợ điêu khắc gia truyền thực hiện những gì họ đang làm.
Lối nhìn xuyên vật thể: Trên trống Đồng Đông Sơn , hình nhà bên ngoài lại tả rõ những người trong nhà, người giã gạo, người thì vui chơi. Đúng ra theo cách nhìn bình thường làm sao có thể nhìn thấy người trong nhà đang làm gì vì nhà nào chẳng có vách ngăn không cho thấy người bên trong. Lối tả này không nhắm tả thực nhưng nhằm làm cho ngôi nhà thêm sinh động bởi có con người trong đó đang sinh hoạt.
Lối nhìn phóng to thu nhỏ: nhằm đặc tả những phần quan trọng của tác phẩm, trong bức tranh “đám cưới chuột”, tác giả muốn miêu tả quyền hành của con mèo, nên phóng đại con mèo lên nhiều lần, trong khi đó nếu so sánh với con ngựa chú chuột đang cưỡi, con mèo lớn hơn con ngựa gấp nhiều lần. Phần phóng to cho biết vị trí và trọng tâm của tác phẩm đó.
Trên vòm cửa chính, tác phẩm điêu khắc cho thấy cây Huệ được phóng to nhiều lần mọc ngay chính giữa, núi được thu nhỏ, cây huệ lớn hơn núi nhìn sơ qua sẽ không biết là bông gì, nhìn rõ hơn là bông huệ hoá. Muốn đặc tả điều gì qua lối diễn tả đó, chắc ai cũng đóan được phần nào, Hoa Huệ gắn liền với những đức tính của Thánh Giuse và phẩm hạnh của Đức Mẹ. Là cửa ngõ vào thiên đàng cho những người đi đàng nhân đức.
Phép mô hình hoá:
Thường diễn tả theo bộ Tứ linh, ngũ hành, bát vật…Những cách diễn tả này đi liền với quan niệm chữ phúc và đức, lành và dữ, thiện và ác…
Phép liên tưởng: Mỗi con vật trong tứ linh biểu lộ một ước muốn của con người, qua hình ảnh của một sự vật làm liên tưởng đến ước mơ khác. Con dơi gần với chữ phúc, người ta mượn hình ảnh của con dơi để diễn tả chữ phúc. Trên mâm ngũ quả người ta dùng năm thứ quả đồng âm mà khác nghĩa như: Cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung. Phép liên tưởng dùng rất nhiều trong các dấu chỉ và bất cứ ai cũng dùng tới để thay lời mình nói.

admin
29-11-2007, 05:42 PM
11. Hoa Văn Trống Đồng.
Trống Đồng là báu vật của tâm hồn Việt được đưa lên ngay chính giữa Thánh Mẫu Điện, chạm khắc trên mặt đá đường kính 10 m.
Mặt Trống Đồng được trang trí xếp lớp theo những đường tròn đồng tâm. Những vòng tròn cổ xưa ghi lại từ những quan sát trong thiên nhiên: một trái cây rơi hay một chiếc lá rơi giữa mặt hồ tạo thành sóng vòng tròn đồng tâm, một xoáy tròn của thân gỗ cắt ngang, một mặt trời hằng ngày chiếu sáng…Nghệ nhân là những người đưa những hình ảnh ấy vào hoạ tiết để diễn tả một cảm xúc, một hình tượng văn hoá.

<TABLE cellSpacing=2 cellPadding=2 border=0><TBODY><TR><TD align=middle rowSpan=4>http://www.tanhoa.conggiao.net/ALBUM/NHATHO/images/DSCF0189.jpg</TD><TD vAlign=top align=left rowSpan=4>







</TD><TD width=30></TD></TR><TR><TD width=30></TD><TD></TD></TR><TR><TD width=30></TD><TD></TD></TR><TR><TD width=30></TD></TR></TBODY></TABLE>

Trên mặt Trống Đồng đặc biệt nhất là các nét hoa văn vừa dùng để trang trí vừa là biểu lộ một nền văn hoá truyền thống. Trống Đồng làm nên không để đánh nhưng là biểu tượng lễ thiêng cầu mùa của nền văn hoá lúa nước. Môtip trang trí Trống Đồng gồm có: Hoạ tiết hình học, hình tượng và tượng.
Hoạ tiết Hình Học là những đường tròn, đường thẳng, đường dích dắc, đường xiên, chấm, đường lượn sóng. những hoạ tiết hình học là những nét trang trí thấy nhiều trong các nền văn hoá, tuỳ theo sự lựa chọn của mỗi dân tộc thích dùng như thế nào.
Trên mặt Trống Đồng truyền thống, người ta thấy phổ biến nhất là hoạ tiết đường tròn nối tiếp nhau từng cặp bằng đường tiếp tuyến chéo. Hai vòng tròn nối tiếp nhau theo cách đó giống hình chữ S, nằm ngang hoặc nằm ngửa. các cặp chữ S nằm sấp ngửa, nối tiếp giáp vòng tròn. Các hoạ tiết hình học này thấy trên mặt Trống Đồng Ngọc Lũ, Trống Hoàng Hạ.
Hình Tam giác: Được nối tiếp nhau trên mặt Trống tạo thành dải băng răng cưa. Hình tam giác một nổi một chìm đảo ngược đan kẽ nối tiếp nhau giáp vòng tròn. Tính nổi chìm biểu hiện đặc tính Âm – Dương, kết hợp hài hoà. Có người cho rằng hình tam giác biểu hiện cho hình núi, tính cách hướng thượng của tầm vóc con người.
Băng rẻ quạt chủ yếu là nằm trong khoảng trống giữa hai cánh sao ở trung tâm mặt Trống. Băng rẻ quạt hình thành từ chữ V, có khi thấy một hình chấm hay quả tim ở góc nhọn chữ V, và vì thế người ta cũng liên tưởng đến hình ảnh của bộ lông con Công đang xoè ra rực rỡ. Những trái tim được phóng lớn trên mặt Trống Tân Hoà được biểu trưng cho muôn tấm lòng hướng về Đức Kitô, là trung tâm của mọi nền văn hoá và là Trung tâm của lịch sử cứu độ.
Đoạn thẳng song song: Hoạ tiết hình học bằng những đoạn thẳng song song tạo nên một ấn tượng nhẹ nhàng thanh thoát nằm ngay đường viền của mặt Trống. Những đoạn thẳng song song nói lên nhiều ý nghĩa của đời sống cộng đồng, cùng hướng về, cùng đồng hành, cùng được quy tụ bởi một trọng tâm…
Gié lúa, gân lá: là một sự kết hợp bởi một đoạn thẳng và hai hàng vạch ngắn song song, chạy xiên thì tạo thành gân lá, thay những vạch đó bằng những hạt bầu dục thì ra gié lúa. Gân lá và gié lúa đan xen nhau biểu hiện một mùa màng bội thu, diễn tả hạnh phúc của đời sống khi được đầy phúc lộc của Trời. Đó cũng là biểu hiện ngày lễ hội tạ ơn Trời sau mùa gặt hái. Trên hoa văn trang trí của mặt Trống Tân Hoà thì biểu hiện hiến lễ tạ ơn Thiên Chúa.

admin
29-11-2007, 05:42 PM
Các Hình Tượng:
Ngôi sao: Giới khoa học gọi là mặt trời nhằm lý giải về tín ngưỡng thờ thần mặt trời. Hình tượng ngôi sao nằm ở trung tâm mặt trống, gồm ba phần, tâm, tia, và khoảng cách giữa các tia. Tâm trống hình tròn, từ tâm trống toả ra các tia, theo các loại trống I, III, IV Héger thì chủ yếu là 12 cánh.
Tuỳ theo cách gọi ngôi sao hay mặt trời mà người ta giải mã các hình tượng trên mặt Trống Đồng. Có rất nhiều bộ giải mã Trống Đồng khác nhau nhưng có điểm chung là liên quan đến tín ngưỡng. Có nhiều mẫu mặt trống, Ngôi sao đúc chìm như mẫu trống Làng vạc I, II và trống Việt Khê. Ngôi sao là một mô týp âm và chính những chữ V đúc nổi tạo nên dáng ngôi sao, người ta lý giải Trống đúc không phải để đánh mà là một biểu trưng.
Cũng theo cách tương tự, không phải mọi Trống làm nên để đánh mà là một biểu trưng, mặt Trống Đồng tạc bằng đá tại Thánh Mẫu Điện làm để biểu trưng một niềm tin trong nền văn hoá dân tộc.
Đặt chữ JHS vào trung tâm của mặt Trống Đồng, nhằm lý giải không chỉ mặt trống nhưng còn là toàn thể công trình kiến trúc. Phía trước bề nổi của Trống Đồng là Thập Giá Tử Nạn của Chúa Giêsu. Là câu trả lời và cùng đích chung cuộc cho mọi nền văn hoá. Như trên đã giới thiệu, trên Trống Đồng có chạm trổ hình con thuyền đưa linh, nghĩa là biểu tượng cho nền văn hoá từ việc con người biết chôn người chết. Một nền văn hoá ra khỏi mồ bắt nguồn từ cuộc Tử Nạn và Sống Lại của Chúa Giêsu.
Những cánh sao bao gồm 12 cánh, con số 12 này chỉ nhiều điều: Số chi tộc dân Do Thái được tuyền chọn, Số các Tông Đồ… Là một dân tế tự được mời gọi hiến thánh cho Thiên Chúa, bắt nguồn từ con số 12 để làm cho cả hoàn vũ này trở thành dân Tư Tế, dân được thánh hiến cho Thiên Chúa. Là tiếp nối sứ vụ của các Thánh Tông Đồ làm chứng và rao truyền việc Chúa chịu chết và sống lại cho tới khi Chúa lại đến trong mọi nền văn hoá, đặc biệt trong nền văn hoá Đất Việt nơi cộng đoàn Giáo xứ Tân Hoà được mời gọi làm chứng.
Hoa Bốn Cánh: là hình tượng người ta gọi là hoa Chanh, hoa Thị. Trên thực tế không dễ dàng phân biệt được như thế. Bởi vì, bốn cánh tròn gọi là hoa Chanh, bốn cánh bầu thì gọi là hoa Thị. Có khi liên kết lại thì thành hình tượng đồng tiền, liên hoàn cắt nhau thành hình thấu kính. Loại hoa văn đồng tiền như thế đã phát hiện nhiều vào thời Nhà Trần. Các hoa văn này muốn nói lên sức sống dồi dào của đất cưu mang.
Hoa sen: Hoa sen là hình hoa có gương sen, có khi được biểu lộ rõ nét bằng các chấm trong vòng tròn như hình gương có hạt sen chung quanh có có cánh hoa hoặc hình cung tròn như dạng cánh hoa thông thường. có khi chỉ có hình gương sen, giữa là hình tròn nhỏ chung quanh có hình cánh sen hay cũng có thể hiểu là hình các hạt sen biến dạng. Hình tượng chung tương đối giống những đầu ngói ống sen gặp trong các kiến trúc thời Lý. Trong triều Lý Phật Giáo gần như là quốc giáo, Vì theo cách hiểu “Đạo của vua là Đạo của dân”, Phật Giáo phát triển mạnh, hình tượng hoa sen cũng xuất hiện nhiều trên các nét hoa văn trang trí.
Trống Đồng tại Thánh Mẫu Điện, thay cánh hoa sen bằng những cành bông Huệ, cũng cùng một ý nghĩa nhưng quen thuộc với người Công Giáo, biểu hiện đặc tính trong sạch như cánh hoa sen, “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Hình Đồng Tiền: đó là hình tròn ở giữa có lỗ vuông, thường trang trí riêng rẽ. Hình đồng tiền dính vào mỏ chim bay trên trống Thôn Mống (loại I Héger). Gần với hoa Chanh, liên hoàn, loại hoa văn này thấy nhiều trên trống đồng II Héger, như đã thấy tâm không là hình vuông thì không phải là hoa văn đồng tiền.
Hình chim Việt: hai dạng đang bay và đậu.
Hình chim đang bay có khác nhau về mỏ và cánh. loại mỏ quắm và ngắn như mỏ Vẹt (Trống Đồng Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ) hoặc mỏ nhọn như mỏ Bồ Câu hay Gà (Trống Châu Nga loại II Héger). Hình cánh chim có 3 dạng cơ bản:
Xoè cánh ngang thành đường thẳng, vát váo thành hai đường xiên, kéo dài gặp nhau thì thành hình tam giác (Đông Sơn loại I, và Hoàng Hạ).
Dạng cánh chim gồm hai phần rõ ràng xoè ngang và xụp xiên xuống như cánh chim thật. Dạng này phổ biến và là dạng chim mỏ dài cánh hai đoạn, đuôi dài, chân dài mà người ta nhận dạng này xác đáng là dạng cò bay.
Dạng thứ ba hoàn toàn nhìn chim bay theo chiều nghiêng. Đó là chim mỏ ngắn trên trống loại II và IV Héger.
Hình chim đứng: Khác nhau ở tư thế và mỏ. Có hai loại cổ dài và cổ ngắn. Theo chiều nhìn nghiêng, cánh xếp vào thân nên không thể hiện thành nét, thân hình quả trứng, chân chỉ là hai đoạn thẳng sơ sài không vẽ bàn chân.các con chim mỏ nhọn thường cúi xuống dưới đất.
Nho và lúa miến tượng trưng cho Hy lễ của nhân loại dâng lên Thiên Chúa, Nho Miến là thành quả của công lao con người dưới thế, với nỗ lực vun trồng làm cho trần thế này tràn ngập ân cứu độ của Thiên Chúa. Đây là những hoa văn trang trí thêm vào để diễn tả niềm cảm mến tri ân, lối đặc tả của người Kitô giáo.
Tượng: Trên các trống Đồng người ta thấy tượng không nhiều lắm, thường thấy nhất là tượng cóc, có lẽ là ảnh hưởng Phật Giáo, và dân gian gọi con cóc là : “Cậu ông Trời”. Tượng cóc, có loại 1 con hoặc hai con cõng nhau, thường thì có 4 con, hoạ hiếm cũng có khi thấy 3 con. Ngoài tượng cóc còn thấy tượng voi, xuất hiện trong văn hoá Đông Sơn trên chuôi dao găm Làng Vạc, trên Trống Đồng Đông Sơn thì không có, chỉ đến trống loại II Héger thì mới thấy.
Thay thế tượng trên Trống Đồng bằng tượng chịu nạn của Chúa Giêsu treo từ bên ngoài trước tâm Trống là một nét mới giới thiệu Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ Duy Nhất cho mọi nền văn hoá.
Giải mã bố cục mặt trống người ta thấy: Ba miền khác nhau; Vùng bầu trời ở chính giữa, vùng đất con người sinh sống và vùng đất thiên nhiên bao quanh con người.
Đặt Mặt Trời vào tâm Trống là điểm quy tụ và sinh nguyên mọi loài. Chung quanh của mặt trời những vòng tròn đồng tâm, diễn tả lễ hội của thiên nhiên ưu đãi, con người hạnh phúc, ngoài cùng đàn chim Việt đang bay hoặc đang đứng, nói đến một thời gian của đường dài lữ hành. Người Việt tin rằng chết không phải là hết nhưng là nối một linh thiêng khác vào đời.
Đặt Đức Kitô vào tâm vòng tròn là mở lối cho lịch sử của nhân loại một hướng đi rõ rệt. Như đã thấy, từ nơi Người tạo nên những sóng vòng tròn đồng quy, và cũng từ những vòng tròn đồng quy hướng về Người, như khởi điểm và là đích điểm của lịch sử thời gian và siêu thời gian.

admin
29-11-2007, 05:43 PM
12. Chú giải Câu Đối và Hoành Phi.
Trước khi bước vào Thánh Mẫu Điện, trên hai hàng cột ta có thể thấy hai hàng chữ:
“Tiến đường tế vọng từ thân tượng.
Phủ thủ kiền tư thánh tâm nhân.”
Dịch nghĩa:
“Vào Thánh Đường chiêm ngưỡng Mẹ từ bi.
Cúi đầu lặng suy trái tim Mẹ nhân từ”.
Thánh Đường đặc biệt dâng kính Mẹ Maria, nên dùng những lời tốt đẹp nhất để diễn tả lòng của những người con tri ân tình Mẹ thương bao la. Bởi đó, bên tượng Mẹ Maria, có thêm hàng chữ:
“Đức như nhật nguyệt chiếu hoàn vũ.
Ân tự sơn hà nhuận thế nhân”.
Dịch nghĩa:
Đức độ sáng tỏ như mặt trời, mặt trăng chiếu toả khắp cùng thế giới. Ân tình cao sâu tựa núi sông thắm đượm lòng thế nhân.
Trong văn hoá Đạo Mẫu người ta luôn quan niệm: “Mẫu hiền di đức”. Chính người Mẹ làm nên những đức hạnh trao di sản cho con cháu. Mẹ Maria là người Mẹ tuyệt diệu của thế nhân, đã để lại cho đoàn con ân và đức của Mẹ làm di sản quý giá tô thắm trần gian. Phải chăng Hàn Mặc Tử đã không diễn tả hết chiều sâu này khi dùng bút xuất thần ca ngợi Mẹ chí Thánh, ngay cả trong những lúc đau thương của cuộc sống: vẫn là “chưa bưa, chưa đã, chưa nguôi được chí trăng sao”, “Lút trí khôn và ám ảnh hương lòng”.
Văn hoá gia đình là do những người cha và người mẹ tạo nên và vun đắp. Với người phụ nữ, Đức Maria là mẫu gương của đời sống âm thầm phục vụ và cầu nguyện. Người phụ nữ Việt Nam, xưa kia và nay cũng thế, làm điều gì cũng nhằm để phúc cho con cháu. Điều này dường như là tự nhiên bởi vì nó đã ăn sâu vào trong tâm hồn Việt đến nỗi khi nói đến nghệ thuật làm mẹ là người ta nói đến việc tích đức ấy cho con cháu.
Một bên là mẹ, một bên là cha, đại diện cho các bà Mẹ là Đức Maria, đại diện cho những người cha là Thánh Giuse. Thường người ta nói vai trò của người cha trong gia đình nhạt nhoà hơn người mẹ. Thật ra không phải thế, khi khảo cứu tính cách của trẻ em được định hình, người ta nhận thấy, một tình huống xảy ra, tuỳ theo có mẹ hay cha ở bên cạnh, đứa trẻ sẽ tuỳ theo mà phản ứng. Nếu mẹ đứng ở đó trẻ sẽ khóc, nhưng nếu có cha ở đó đứa trẻ lại tỏ ra can đảm không thèm khóc. Cũng vậy, cách giáo dục con trẻ của người cha thì khác với mẹ, khi con trẻ tập đi thì mẹ dẫn từng bước, người cha thì vừa giữ vừa buông, khi con trẻ loay hoay chưa biết chơi, người mẹ chỉ tận tình, người cha nhìn xem con trẻ làm thế nào đã rồi hướng dẫn từ xa…Nói chung thiếu người cha cương nghị trong gia đình, con trẻ lớn lên, ít tự tin, ít dám đương đầu với khó khăn, trẻ sẽ gặp nhiều trở ngại hơn. Những nghiên cứu ấy cho thấy rằng vai trò giáo dục của người cha trong gia đình rất quan trọng. Người cha nhiều gương xấu sẽ rất nguy hiểm cho con trẻ, chúng nhận được nơi người cha tính cọc cằn, sự thô lỗ, tính rượu chè… Cần có một mẫu gương để nhắc nhở vai trò người cha, mẫu gương ấy không ai khác chính là Thánh Giuse.
Hai hàng cột phía trong ca ngợi công trình yêu thương của Thiên Chúa, trích trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan: “Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời!”[5]
Hai câu đối: “Toàn năng trí dũng tôn uy qui ngã chủ, thiên thu bất hư. Tán tụng quang vinh xưng tạ ư Thiên phụ, vạn cổ thường tân”.
Dịch nghĩa: Lạy Chúa của con, Chúa là Đấng Toàn Năng, Toàn Trí, Toàn Dũng, Cao cả, Uy Nghi, ngàn năm bất diệt. Con ngợi khen, nguyện Danh Cha cả sang, tuyên xưng, cảm tạ Chúa Cha trên trời, muôn đời mãi mãi như (mới) hôm nay.
Biến cuộc sống thành lời Tạ Ơn Thiên Chúa là hành vi cao nhất của việc Tế Tự, và cũng là hành vi làm sáng Danh Cha hơn tất cả trong hành trình dưới thế.

Câu Hoành Phi:
“Triệu Tạo càn Khôn”.
Dịch nghĩa: Thiên Chúa Là Tình Yêu sáng tạo nên mọi loài.
Theo vị trí sắp đặt, chúng ta thấy diễn tiến từ sáng tạo đến cứu độ, theo chiều từ trên xuống, đó là lịch sử theo thời gian; còn đối với người xem, nhìn theo chiều hướng cảm nghiệm đến nhận thức, từ cứu độ đến sáng tạo.
Cảm nhận gần, từ hình tròn mang hình ảnh quả bầu mẹ, trực diện chi tiết điêu khắc mặt Trống Đồng biểu lộ văn hoá Việt, dẫn đến nhận thức Thiên Chúa Là Đấng Cứu Độ qua Thập Giá, để đi đến một nhận thức xa hơn, Thiên Chúa Cứu Độ cũng là Thiên Chúa Tình yêu sáng tạo. Như vậy, cũng gợi ý lên con đường tu đức của Đông Phương trong sách Trung Dung, Tử Tư viết:

“Quân tử chi đạo, thí như hành viễn,
tất tự nhĩ, thí như đăng cao, tất tự ty”
(Tử Tư, Trung Dung)
Đời sống nội tâm của con người,
giống như đi xa, phải từ chỗ gần,
giống như lên cao, đi từ chỗ thấp.
Có thể nói, đó là bản tóm kết bố cục của Ngôi Thánh Mẫu Điện. Đi từ nội dung trình bày Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi như Gia đình, đến việc thực hành làm cho Giáo Xứ là một cộng đồng gia đình được tham dự vào Gia Đình Thiên Chúa.

Giáo xứ Tân Hoà