PDA

View Full Version : Phần I - Bài 19. Con người bước vào thế giới như là chủ thể của chân lý và tình yêu


admin
03-05-2006, 08:13 PM
Thứ Tư, ngày 20/02/1980
Tiếng Anh (http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/audiences/catechesis_genesis/documents/hf_jp-ii_aud_19800220_en.html)

19. Con người bước vào thế giới như là chủ thể của chân lý và tình yêu

Sách Sáng Thế đã đưa ra việc người nam và người nữ được tạo dựng cho hôn nhân: “Người đàn ông lìa cha mẹ để gắn bó với vợ mình, và cả hai thanh một thịt” (St 2,24 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+2:24)). Điều này mở ra một viễn ảnh lớn về sự sáng tạo trong cuộc sống con người, một viễn ảnh không ngừng đổi mới qua trung gian của việc sinh sản, tức là tự-sinh-sôi-nẩy-nở. Viễn ảnh đó đã đâm rễ sâu trong ý thức của nhân loại và đặc biệt là trong sự thông hiểu ý nghĩa hôn phối của thân xác với phái tính nam và phái tính nữ. Trong mầu nhiệm sáng tạo, người nam và người nữ là quà tặng cho nhau. Sự trong trắng nguyên thuỷ diễn đạt và cũng đồng thời định rõ thế nào là luân thường (ethos) hoàn hảo của tự hiến.

Chúng ta đã nói về điều đó trong lần gặp gỡ trước. Qua luân thường (ethos) của tự hiến mà vấn đề “chủ thể” của con người, một chủ thể được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa, đã được giải thích rõ. Trong câu chuyện về cuộc sáng tạo (nhất là St 2,23-25 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+2:23-25)), người nữ không thể nào là một vật thể của người nam. Trước mặt nhau, với tất cả sự sung mãn của khách thể tính như là thụ tạo, cả hai vẫn luôn là “xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi”, và là nam và nữ, cả hai đều trần truồng. Chỉ có sự trần truồng nào mà làm cho người nữ thành một vật thể của người nam, hoặc ngược lại, mới là nguồn gốc của hổ thẹn. Việc mà họ không hề hổ thẹn có nghĩa là người nữ không phải là một “vật thể” của người nam và người nam không phải là một “vật thể” của người nữ.

Sự trong trắng bên trong như là một tâm lòng tinh tuyền đã ngăn cấm việc hạ phẩm giá người khác xuống mức độ của một đồ vật. Việc mà họ không cảm thấy hổ thẹn muốn nói rằng họ đã hiệp nhất trong ý thức của tự hiến. Họ cùng ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác của nhau, chính nơi ý nghĩa ấy sự tự do trao hiến được tỏ bày, và tất cả sự phong phú của nội tâm con-người-chủ-thể được thể hiện.

Sự thâm nhập vào nhau của cái “bản thân” nhân-vị-con-người, của người nam và người nữ, đã loại trừ một cách chủ quan mọi ý muốn thu hẹp người khác thành vật thể. Điều đó mặc khải cho thấy khía cạnh chủ quan của tình yêu. Và ta có thể nói đó là một tình yêu “khách quan” tới tột cùng, bởi vì nó được nuôi bằng chính “khách quan tính” của sự tự trao hiến cho nhau.

Sau khi đã phạm nguyên tội, người nam và người nữ đã mất ân sủng của sự trong trắng nguyên thuỷ. Việc khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác, thì đối với họ, sẽ không còn là một thực tại đơn sơ của mặc khải và của ân sủng. Tuy nhiên, ý nghĩa đó vẫn luôn là một lời mời gọi con người bằng luân thường (ethos) của sự tự trao hiến. Một sự tự trao hiến đã ghi sâu vào trong lòng con người như là một tiếng vọng xa xăm của sự trong trắng nguyên thuỷ. Và từ ý nghĩa hôn phối đó mà tình yêu con người trong toàn sự thực của tâm hồn và trong chủ thể tính thực thụ đã được tạo thành. Xuyên qua bức màn hổ thẹn, con người sẽ luôn tìm thấy lại chính mình như là một người nắm giữ mầu nhiệm về chủ thể, tức là về tự do hiến tặng. Đến độ mà con người sẽ bảo vệ tự do đó chống lại mọi ý muốn hạ thấp con người xuống tầm mức của một vật thể.

Nhưng giờ đây, chúng ta vẫn còn đứng trước bậc thềm của lịch sử trần thế của con người. Người nam và người nữ chưa vượt qua ngưỡng cửa của ý thức điều lành điều dữ. Họ đang chìm sâu trong mầu nhiệm sáng tạo. Mầu nhiệm sâu xa ẩn dấu trong tim họ là sự trong trắng, ân sủng, tình yêu và công chính: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+1:31)).

Con người xuất hiện trong thế giới hữu hình như là một biểu lộ thâm sâu nhất về quà tặng của Thiên Chúa, bởi vì con người mang trong mình chiều kích nội tâm của quà tặng. Với quà tặng ấy con người đã mang vào thế gian hình ảnh giống Thiên Chúa cách đặc biệt của mình. Và nhờ giống Thiên Chúa, con người đã siêu việt hoá và chế ngự được “tính hữu hình”, thân xác tính, phái tính nam hoặc phái tính nữ và sự trần truồng của mình trong thế gian. Suy niệm về sự giống hình ảnh Thiên Chúa này cũng là một nhận thức nguồn cội về ý nghĩa hôn phối của thân xác, toả khắp mầu nhiệm sự trong trắng nguyên thuỷ.

Trong chiều kích đó, một phép bí tích trọng yếu đã được tạo dựng và được hiểu như là một dấu chỉ. Một dấu chỉ để truyền lại cho thế giới hữu hình một mầu nhiệm vô hình ẩn dấu trong Thiên Chúa từ thời vô thuỷ. Đó là mầu nhiệm về chân lý và tình yêu, một mầu nhiệm của sự sống Thiên Chúa, mà con người được tham dự vào. Trong lịch sử con người, sự trong trắng nguyên thuỷ bắt đầu từ việc tham phần đó và nó cũng là cội nguồn của sự hạnh phúc nguyên thủy. Bí tích đó, như là một dấu chỉ hữu hình, được thiết lập với con người, như là một thân xác, nhờ phái tính nam và phái tính nữ có thể thấy được. Thân xác đó, và chỉ có thân xác đó mới có thể biến đổi thành hữu hình những gì vô hình: linh thiêng và thần thánh. Nó được tạo dựng để biến đổi thành thực tại hữu hình trong thế gian mầu nhiệm ẩn dấu từ thời vô thuỷ nơi Thiên Chúa. Vì thế mà thân xác là dấu chỉ của mầu nhiệm ấy.

Và do đó, tính cách bí tích của cuộc sáng tạo, tính cách bí tích của thế giới đã được mặc khải trong con người được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa. Nhờ thân xác tính, phái tính nam và phái tính nữ, con người trở thành một dấu chỉ của chương trình chân lý và tình yêu mà cội nguồn là chính Thiên Chúa đã được mặc khải trong mầu nhiệm sáng tạo. Trước bối cảnh rộng lớn đó, chúng ta đã hoàn toàn hiểu những lời đã thiết lập nên bí tích hôn nhân trong Sách Sáng Thế 2,24 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+2:24): “Người đàn ông lìa cha mẹ để gắn bó với vợ mình và cả hai thành một thịt”.

Trước bối cảnh rộng lớn đó, chúng ta cũng hiểu rõ hơn những lời của Sách Sáng Thế 2,25 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+2:25): “Cả hai đều trần truồng, nhưng không biết xấu hổ”. Với tất cả chiều sâu của ý nghĩa nhân loại học của nó, những lời đó đã biểu lộ sự việc mà, cùng với con người, sự thánh thiện đã đi vào thế giới hữu hình được tạo dựng cho con người. Bí tích của thế giới và bí tích của con người trong thế giới đã đến từ Thiên Chúa, cội nguồn của mọi thánh thiện. Và đồng thời, bí tích đó cũng được thiết lập cho sự thánh thiện. Được liên kết với kinh nghiệm về ý nghĩa hôn phối của thân xác, sự trong trắng nguyên thuỷ cũng là sự thánh thiện đó, một sự thánh thiện đã cho phép con người diễn đạt sâu xa thân xác của mình. Được như thế là nhờ tự trao hiến chân thành. Và do đó, ý thức về tự trao hiến là nhân tố của “bí tích thân xác”. Trong thân xác của mình, như là nam hoặc nữ, con người cảm nhận mình chính là chủ thể của sự thánh thiện.

Với ý thức về ý nghĩa của thân xác của riêng mình, con người, là nam và nữ đã đi vào thế giới như là một chủ thể của chân lý và tình yêu. Ta có thể nói là Sách Sáng Thế 2,23-25 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+2:23-25) đã kể lại một lễ hội đầu tiên của nhân loại trong sung mãn nguyên thuỷ của kinh nghiệm về ý nghĩa hôn phối của thân xác. Đó là một lễ hội của nhân loại đã có nguồn gốc từ chân lý và tình yêu Thiên Chúa, trong mầu nhiệm sáng tạo. Nhưng rồi, chân trời của tội lỗi và sự chết đã sớm trải dài trên lễ hội nguyên thuỷ đó (xem St 3 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+3)). Và như thế, từ mầu nhiệm sáng tạo, chúng ta đã rút ra được một hy vọng đầu tiên: rằng kết quả của chương trình chân lý và tình yêu của Thiên Chúa đã được mặc khải “từ thuở ban đầu” không phải là sự chết, mà là sự sống, rằng không phải là sự huỷ hoại của thân xác được tạo dựng “giống hình ảnh Thiên Chúa” là đáng kể mà chính là lời “mời gọi hưởng phúc vinh quang” (x. Rm 8,30 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Roma+8:30)).

Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ

admin
29-10-2009, 09:07 PM
XIX

VỚI BÍ TÍCH THÂN XÁC
CON NGƯỜI CẢM THẤY MÌNH LÀ CHỦ THỂ CỦA SỰ THÁNH THIỆN

1. Sách Sáng thế cho thấy rằng cả hai người đàn ông và người đàn bà đã được tạo dựng nên cho cuộc hôn phối: «...Người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ và gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ nên một xương một thịt» (St 2,24).

Từ đó một viễn tượng sáng tạo lớn lao được mở ra cho cuộc sống nhân loại, được đổi mới luôn nhờ «sinh sản» hay «tự sản». Viễn tượng đó bám rễ sâu vào trong tâm thức của nhân loại và cả trong ý thức đặc biệt của con người về ý nghĩa hôn phối của thân xác có giới tính nam và nữ. Người đàn ông và người đàn bà trong mầu nhiệm tạo dựng là tặng phẩm được trao ban cho nhau. Sự vô tội nguyên thủy biểu lộ và đồng thời xác định ethos hoàn hảo của tặng phẩm.

Chúng ta đã nói điều đó trong chương trước. Qua ethos của tặng phẩm, ta thấy lộ ra một phần của vấn đề về «chủ thể tính» (soggettività) của con người, kẻ được tạo dựng theo hình ảnh giống như Thiên Chúa. Trong trình thuật tạo dựng (đặc biệt là trong đoạn St 2,23-25) hẳn là «người đàn bà» không chỉ là «một đối tượng» hay một đồ vật (oggetto) đối với người đàn ông. Cả hai trước mặt nhau dù vẫn hoàn toàn là những đối tượng thọ tạo, nhưng người kia là «xương của xương tôi, thịt của thịt tôi», và là người khác giới với tôi (đàn bà/đàn ông), và cả hai trần truồng. Chỉ có một sự trần truồng làm người phụ nữ thành một «đối tượng» hay một sự vật cho người đàn ông (ham muốn) và ngược lại, mới là nguồn của mọi xấu hổ. Việc cả hai người «không cảm thấy xấu hổ» có nghĩa là người đàn bà đã không là «một đồ vật» (đối tượng) đối với người đàn ông, và ngược lại người đàn ông cũng như thế đối với người đàn bà. Sự trong trắng/vô tội trong tâm hồn cũng như «lòng trong sạch» của người này, một cách nào đó, đã không thể hạ thấp người kia xuống chỉ như một đồ vật một đối tượng. Nếu như «họ không cảm thấy xấu hổ», thì điều đó có nghĩa là họ sống cách sâu xa tâm thức trao ban (coscienza del dono), họ ý thức ý nghĩa hôn phối của thân xác của nhau, qua đó sự tự do của trao ban được diễn tả ra và toàn thể sự phong phú nội tâm của con người như là chủ thể (soggetto) được hiển lộ. Cái «tôi» (tự ngã) của mỗi người, người đàn ông và người đàn bà, đi sâu vào bên trong nhau như thế, như làm cho con người chủ thể không thể hạ giá người khác thành một «đồ vật» được. Điều đó bộc lộ cái dung mạo chủ thể của tình yêu ấy. Có thể nói rằng tình yêu này là «khách quan» (oggettivo) ở tận chiều sâu, vì nó được nuôi dưỡng bởi chính «tính khách quan» (oggettività) của tặng phẩm dành cho nhau.

2. Sau khi con người, nam và nữ, đầu tiên phạm tội, họ sẽ mất ân sủng vô tội nguyên thủy. Việc khám phá ra ý nghĩa hôn phối của thân xác đối với họ sẽ không còn là một thực tại đơn giản của mạc khải và ân sủng. Thế nhưng, ý nghĩa ấy sẽ vẫn còn như là một cam kết mà ethos của tặng phẩm trao ban cho con người, được ghi khắc sâu xa trong tâm hồn con người, như là tiếng vọng lại của sự vô tội nguyên thủy. Từ ý nghĩa hôn phối ấy tình yêu con người sẽ hình thành, trong sự thật bên trong của nó và trong sự xác thực chủ quan của nó. Nhờ bức màn của xấu hổ, con người sẽ tái khám phá liên tục chính mình như người bảo vệ mầu nhiệm chủ thể, nghĩa là mầu nhiệm của sự tự do trao ban. Như thế là để bảo vệ nó để không bị rơi vào bất kì quan điểm nào xem tặng phẩm chỉ như là một đối tượng (sự vật) thuần túy.

3. Nhưng giờ đây, ta thấy mình đang đứng trước bậc thềm của lịch sử thế trần của con người. Người đàn ông và người đàn bà vẫn còn chưa bước qua thềm nhà ấy để hướng tới nhận thức thiện và ác. Họ vẫn còn ngập lặn trong mầu nhiệm tạo dựng, và thấp thoáng trong cõi thâm sâu của mầu nhiệm ẩn chứa trong tâm hồn họ là sự trong trắng, ân sủng, tình yêu và sự công chính : «Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm ra quả là rất tốt đẹp !» (St 1,31). Con người xuất hiện trong thế giới hữu hình này như một diễn tả cao nhất của tặng phẩm thần linh, bởi lẽ nó mang trong mình chiều kích nội tâm của tặng phẩm. Và với nó, con người đem vào thế giới cái họa ảnh (giống) đặc biệt của Thiên Chúa nơi bản thân mình. Với nó, con người siêu vượt và thống trị trên cả cái “sắc tướng” (visibilità) của mình trong thế gian, trên cả xác thịt của mình, giới tính nam-nữ của mình, sự trần truồng của mình. Một phản ảnh của họa ảnh này còn là sự ý thức nguyên thủy về ý nghĩa hôn phối của thân xác, thấm nhập bởi mầu nhiệm vô tội nguyên thủy.

4. Như thế, trong chiều kích đó, một bí tích nguyên thủy được thiết lập, được hiểu như là dấu chỉ thông truyền một cách hữu hiệu mầu nhiệm vô hình ẩn giấu nơi Thiên Chúa từ muôn thuở, vào trong thế giới hữu hình này. Đây là mầu nhiệm của Sự Thật và Tình Yêu, mầu nhiệm của sự sống thần linh, mà con người được tham dự thực sự. Trong lịch sử của con người, sự vô tội nguyên thủy khai mào sự tham dự này và nó cũng là nguồn mạch của hạnh phúc nguyên thủy. Bí tích, như là dấu chỉ hữu hình, được thiết lập với con người xét như là một «thân xác», nhờ giới tính nam và giới tính nữ «hữu hình» của mình. Thật vậy, thân xác và chỉ có thân xác, mới có khả năng làm cho điều vô hình – như cái tâm linh và thần linh – thành hữu hình. Thân xác đã được tạo dựng để chuyển giao vào trong cái thực tại hữu hình của thế giới, mầu nhiệm được giấu kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa, và như thế nó là dấu chỉ của mầu nhiệm ấy.

5. Do đó, trong con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, chính bí tích của tạo thành, bí tích của thế giới, theo nghĩa nào đó, đã được tỏ lộ ra. Quả thật, con người nhờ thân xác với giới tính nam-nữ của nó đã trở thành dấu chỉ hữu hình của nhiệm cục Sự Thật và Tình Yêu, có nguồn mạch nơi chính Thiên Chúa và đã được tỏ lộ ra trong mầu nhiệm tạo thành. Trên nền hậu cảnh rộng lớn này mà chúng ta hiểu trọn vẹn hơn những lời căn bản của bí tích hôn phối, được trình bày trong câu St 2,24 («người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt»). Trên nền rộng lớn này mà chúng ta hiểu hơn nữa rằng những lời của câu St 2,25 («con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau»), nhờ ý nghĩa nhân học sâu xa của những lới ấy, diễn tả sự kiện rằng cùng với con người sự thánh thiện cũng đi vào thế giới hữu hình, một thế giới được tạo dựng cho con người. Bí tích thế giới, và bí tích con người trong thế giới, xuất phát từ nguồn suối thần linh là sự thánh thiện, và đồng thời nó được thiết lập cho sự thánh thiện. Sự vô tội nguyên thủy, nối kết với kinh nghiệm về ý nghĩa hôn phối của thân xác, là chính sự thánh thiện, vốn là điều giúp con người diễn tả mình ra cách sâu xa với thân xác của mình, và điều đó có được chính là nhờ sự «thành thật trao hiến» chính bản thân mình. Ý thức trao hiến là điều kiện, như trong trường hợp ở đây, của «bí tích thân xác». Nơi thân xác mình, của một người nam hay của một người nữ, con người cảm thấy mình là chủ thể của sự thánh thiện.

6. Với ý thức về ý nghĩa thân xác của mình đó, con người nam cũng như nữ, bước vào thế giới như một chủ thể của sự thật và tình yêu. Có thể nói rằng đoạn St 2,23-25 tường thuật lại lễ hội đầu tiên của nhân loại với kinh nghiệm nguyên thủy tròn đầy về ý nghĩa hôn phối của thân xác. Đó là một lễ hội của nhân loại với nguyên ủy phát xuất từ những nguồn mạch Sự Thật và Tình Yêu thần linh tuôn đổ vào trong chính mầu nhiệm tạo thành. Dẫu từ rất sớm sủa, biên giới của tội lỗi và sự chết đã lan rộng trên cánh đồng của lễ hội nguyên thủy ấy (St 3), nhưng ngay từ mầu nhiệm tạo thành chúng ta đã kín múc được một niềm hy vọng đầu tiên. Đó là, hoa trái của chương trình của Thiên Chúa (nhiệm cục thần linh) về Sự Thật và Tình Yêu, vốn được mạc khải «từ thuở ban đầu», là Sự Sống chứ không phải Sự Chết, là «ơn gọi hưởng vinh quang» chứ không phải là sự tiêu diệt của thân xác con người vốn được tạo dựng theo «hình ảnh của Thiên Chúa» (x. Rm 8,30).

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=752