admin
13-05-2006, 01:45 PM
Thứ Tư, ngày 05/03/1980
20. Phân tích về sự nhận biết và sinh sản
Chúng tôi muốn thêm vào những phân tích về thuở ban đầu trong Kinh Thánh một đoạn rất ngắn rút ra từ chương 4 của sách Sáng Thế. Tuy nhiên, để làm được điều đó, trước tiên chúng ta phải dẫn chứng những lời mà Đức Kitô đã nói với những người Pharisêu (xem Mt 19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19&FontSize=Txt10) và Mc 10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10&FontSize=Txt10))[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) và chúng ta sẽ suy niệm trong bối cảnh đó. Những lời này liên quan tới bối cảnh của cuộc sống con người mà cái chết và sự huỷ hoại thân xác sau đó đã trở thành định mệnh chung của con người (theo những lời “ngươi sẽ trở về bụi đất” của St 3,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:19&FontSize=txt10)). Đức Kitô căn cứ trên “thuở ban đầu”, trên chiều kích nguyên thuỷ của mầu nhiệm sáng tạo, khi mà chiều kích đó đã bị huỷ bỏ bởi mầu nhiệm tội ác (mysterium iniquitatis) tức là bởi tội lỗi, và cùng một trật cũng bởi sự chết, mầu nhiệm sự chết (mysterium mortis).
Có thể nói được rằng tội lỗi và sự chết đã đi vào lịch sử con người xuyên qua ngay tâm điểm của sự hiệp nhất được cấu thành ngay từ thuở ban đầu, bởi người nam và người nữ được tạo dựng và được mời gọi để trở thành “một thịt” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=txt10)). Ngay từ lúc khởi đầu loạt bài suy niệm này, chúng ta đã thấy Đức Kitô đã căn cứ trên thuở ban đầu để dẫn dắt chúng ta vượt qua lằn ranh của nguyên tội để đi tới sự trong trắng nguyên thuỷ. Và như thế, Người đã cho phép chúng ta tìm thấy tính kế tục và liên hệ giữa hai tình huống đó. Và qua đó mà bi kịch thời nguyên thuỷ đã nảy sinh, đồng thời với việc mặc khải về mầu nhiệm con người cho con người lịch sử.
Điều này cho phép chúng ta, sau khi đã phân tích trạng thái trong trắng nguyên thuỷ, bước qua phần phân tích cuối cùng tức là phần phân tích về “nhận biết và sinh sản”. Nếu nói theo chủ đề thì nó gắn liền với lời chúc phúc sinh sản tràn đầy đã kể trong câu chuyện thứ nhất về cuộc tạo dựng nên con người, nam và nữ (xem St 1,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27-28&FontSize=txt10)). Mặt khác, trên bình diện lịch sử, điều đó liên hệ tới chân trời của tội lỗi và sự chết. Như Sách Sáng Thế dạy (xem St 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10)), điều đó đã đè nặng trên ý thức về ý nghĩa của thân xác và trên việc huỷ bỏ giao ước đầu tiên với Đấng Tạo Hoá.
Trong chương 4 sách Sáng Thế, tức là trong khung cảnh của văn bản nguồn Giavê, chúng ta đọc: “Adong nhận biết Evà vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Cain. Bà nói: “nhờ Đức Chúa mà tôi đã được một người”. Bà lại sinh ra Aben, em ông” (St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=txt10)). Nếu chúng ta đặt việc sinh con trên trái đất liên hệ với sự nhận biết thì chúng ta đã dựa trên lối dịch sát nghĩa của văn bản. Theo cách dịch đó, sự hiệp nhất trong hôn nhân đã được định nghĩa như là nhận biết. “Adong nhận biết Evà vợ mình” là cách dịch chữ jadac [2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) của tiếng Sêmít.
Ta có thể cho rằng ngôn ngữ sơ khai nghèo nàn thiếu thốn nhiều thành ngữ diễn đạt những sự kiện khác nhau. Tuy nhiên, vẫn luôn đầy ý nghĩa việc mà chồng và vợ hiệp nhất thân mật thành một thịt đã được định nghĩa như là nhận biết. Và như thế, từ sự nghèo nàn ngôn ngữ, một ý nghĩa sâu thẳm đặc biệt đã trỗi lên. Nó đã thoát ra từ tất cả những ý nghĩa đã phân tích.
Đương nhiên, khi chúng ta suy tư về thân xác con người trong phái tính nam và phái tính nữ, tức là trong giới tính, thì điều đó rất quan trọng đối với cái gọi là “cổ hình”. Do đó, qua cụm từ nhận biết dùng trong St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10) và cũng thường được dùng trong toàn Kinh Thánh, quan hệ hôn nhân chồng vợ -tức là việc họ trở thành “một thịt” từ hai giới tính- đã được nâng lên và đưa tới một chiều kích đặc biệt của nhân vị. Sáng Thế 4,1-2 chỉ nói đàn ông nhận biết vợ mình như để nhấn mạnh sự việc đó cho riêng người đàn ông. Nhưng chúng ta cũng có thể nói về tính hỗ tương của việc nhận biết mà cả hai nam và nữ đã tham dự với chính thân xác và giới tính của mình. Chúng ta có thể thêm vào đấy một loạt văn bản tiếp sau đã dùng một ngôn ngữ giống như trong chương này của sách Sáng Thế (x. St 4,17 và 4,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:17 ; St 4:25&FontSize=txt10)). Điều đó đã đưa thẳng tới những lời của Mẹ Maria thành Nazaret đã nói trong ngày Truyền Tin: “Việc đấy xảy ra cách nào vì tôi không hề biết người nam?” (Lc 1,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 1:34&FontSize=Txt10))
Từ ngữ “nhận biết” xuất hiện lần đầu tiên trong Sáng Thế 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10). Với từ ngữ đó, chúng ta đang đối diện một là với thành ngữ chỉ thẳng vào sự dụng ý của con người (bởi vì dụng ý là một đặc tính của nhận biết), hai là với toàn thực tại của hiệp nhất và cuộc sống vợ chồng. Trong thực tại cuộc sống đó, nam và nữ trở thành “một thịt”.
Khi nói là nhận biết, dù chỉ vì ngôn ngữ nghèo nàn, Kinh Thánh đã chỉ cho thấy bản chất thâm sâu nhất của thực tại đời sống hôn nhân. Bản chất đó vừa được xem như là một yếu tố vừa là một kết quả của tất cả những ý nghĩa mà chúng ta đã cố gắng theo dõi từ buổi khảo luận đầu tiên. Nó là thành phần của ý thức về ý nghĩa của thân xác của mỗi người. Trong Sáng Thế 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=txt10), khi trở thành “một thịt”, nam và nữ đã trải nghiệm một cách đặc biệt ý nghĩa của thân xác mình. Và như thế, cả hai dường như trở thành một chủ thế của hành động và kinh nghiệm đó. Nhưng trong sự hiệp nhất đó, hai chủ thể vẫn thực sự khác nhau. Và như thế, điều đó cho phép chúng ta quả quyết rằng “chồng nhận biết vợ” và cả hai “nhận biết” nhau. Họ đã tỏ lộ chính mình cho nhau trong sâu thẳm đặc biệt của cái tôi của mỗi người. Và như thế, với một cách thức đơn thuần, người nữ “được trao tặng” để cho người nam nhận biết, và người nam cũng thế.
Nếu muốn giữ tính liên tục đối với những phân tích từ trước tới bây giờ (nhất là những phân tích cuối đã giải thích con người theo chiều kích của quà tặng), chúng ta phải nhận xét rằng, theo sách Sáng Thế, quà được tặng cho (datum) và ân huệ (donum) thì tương đương như nhau.
Tuy nhiên, Sáng Thế 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=txt10) để ý nhiều hơn tới quà tặng được trao (datum). Trong sự nhận biết hôn nhân, người nữ được trao cho người nam, và người nam được trao cho người nữ, bởi vì thân xác và giới tính dự phần vào cấu trúc và nội dung của sự nhận biết. Và như thế, thực tại hiệp nhất hôn nhân mà nam và nữ trở thành một thịt đã hàm chứa một khám phá vừa mới và, có thể nói được rằng, vừa quyết định cho ý nghĩa của thân xác trong phái tính nam và phái tính nữ. Nhưng về sự khám phá này, có đúng không khi chỉ nói rằng đó là một “cuộc sống tính dục chung”? Chúng ta phải để ý rằng mỗi người, nam và nữ, không phải chỉ là một vật thể thụ động được định nghĩa bằng thân xác và giới tính của mình và như thế, được định nghĩa bởi “thiên nhiên”. Nhưng ngược lại, bởi vì họ là một người nam và một người nữ, cho nên mỗi người trong họ đã “được trao cho” người kia như là một chủ thể duy nhất và đơn thuần, như là “mình”, như là một nhân vị.
Giới tính không những chỉ quyết định cá tính thể xác mà đồng thời còn quyết định tới bản sắc nhân vị và tính cụ thể của con người. Chính trong bản sắc nhân vị và tính cụ thể đó, như một “bản thân” nam hoặc nữ, mà con người được “nhận biết” đúng như những lời trong Sách Sáng Thế 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10): “Đàn ông… gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một thịt”. Như St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10) và những văn bản Kinh Thánh sau đó đã nói, sự nhận biết đó đã đi tới cội rễ sâu thẳm nhất của cá tính và của cụ thể tính mà nam và nữ đã có được nhờ giới tính của mình. Cụ thể tính đó chỉ rõ tính duy nhất và tính đơn thuần của nhân vị.
Và đó là lý do tại sao phải suy tư về lời lẽ hùng hồn của văn bản Kinh Thánh và về thành ngữ “nhận biết” này. Mặc dù cách sử dụng ngôn ngữ đó có vẻ thiếu chính xác, nó cũng đã cho phép chúng ta dừng lại trên chiều sâu và kích thước của một khái niệm mà với ngôn ngữ hiện đại, dù rất chính xác, cũng không diễn tả hết điều đó.
_____
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Phải để ý tới việc mà trong buổi nói chuyện với những người Pharisêu (Mt 19,7-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:7-9&FontSize=Txt10) và Mc 10,4-6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10:4-6&FontSize=Txt10)) Đức Kitô đã đưa ra lập trường đối với việc thực thi luật Moisê liên hệ tới cái gọi là “chứng từ ly dị”. Những lời “vì lòng dạ các người chai đá”, mà Đức Kitô đã nói, phản ánh không những “lịch sử của lòng dạ” mà còn nói lên tất cả sự phức tạp của lề luật trong Cựu ước đã luôn tìm một “thoả hiệp nhân bản” trong lãnh vực tế nhị này.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) “Nhận biết” (jadac) trong ngôn ngữ Kinh Thánh không chỉ có nghĩa là nhận biết thuần trí thức, mà còn là một nhận biết cụ thể, ví dụ như kinh nghiệm khổ đau (xem Is 53,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is 53:3&FontSize=Txt10)) và kinh nghiệm tội lỗi (Kn 3,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=kn 3:11&FontSize=Txt10)), kinh nghiệm chiến tranh và hoà bình (Tl 3,1 và Is 59,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tl 3:1 ; Is 59:8&FontSize=Txt10)). Từ kinh nghiệm đó mà nảy sinh ra xét đoán luân lý: “ nhận biết điều lành điều dữ” (St 2,9-17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:9-17&FontSize=Txt10)).
“Nhận biết” đi vào lãnh vực của quan hệ liên nhân vị khi bàn về sự tương thân trong gia đình và đặc biệt là trong quan hệ vợ chồng. Nhất là khi nói về việc ăn ở với nhau, cụm từ đó nhấn mạnh tới cương vị làm cha của những nhân vật nổi tiếng và nguồn gốc của những người con (x. St 4,1.25; 4,17; 1 Sm 1,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1,25 ; St 4:17 ; 1 Sm 1:19&FontSize=Txt10)) như là những dữ kiện chính đáng cho bản gia phả mà truyền thống tư tế (được di truyền đối với dân Do Thái) đã xem là rất quan trọng.
Tuy nhiên, “nhận biết” có thể có nghĩa là những quan hệ tình dục khác, ngay cả khi chúng không hợp pháp (x. Ds 31,17 và 1 Sb 19,5 và Tl 19,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ds 31:17 ; 1 Sb 19:5 ; Tl 19:22&FontSize=Txt10)).
Khi dùng trong câu phủ định, cụm từ đó muốn nói là không có quan hệ tình dục, nhất là khi nói về các trinh nữ (xem thí dụ như 1 V 2,4 và Tl 11,39 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 V 2:4 ; Tl 11:39&FontSize=Txt10)). Trong lãnh vực này, Tân ước đã dùng hai thành ngữ Do Thái khi nói về Thánh Giuse (Mt 1,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 1:25&FontSize=Txt10)) và Mẹ Maria (Lc 1,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 1,34&FontSize=Txt10)).
Khía cạnh quan hệ hiên sinh của “nhận biết” lại cho cụm từ đó một ý nghĩa rất đặc biệt khi chủ thể và khách/vật thể là chính Thiên Chúa (thí dụ như Tv 139; Gr 31,34; Hs 2,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv 139 ; Gr 31:34 ; Hs 2:22&FontSize=Txt10) và Ga 14,7-9 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Jn 14:7-9); 17,3 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Jn 17:3)).
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
----
* Ký hiệu các Sách Kinh Thánh (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_legende.htm)
20. Phân tích về sự nhận biết và sinh sản
Chúng tôi muốn thêm vào những phân tích về thuở ban đầu trong Kinh Thánh một đoạn rất ngắn rút ra từ chương 4 của sách Sáng Thế. Tuy nhiên, để làm được điều đó, trước tiên chúng ta phải dẫn chứng những lời mà Đức Kitô đã nói với những người Pharisêu (xem Mt 19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19&FontSize=Txt10) và Mc 10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10&FontSize=Txt10))[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) và chúng ta sẽ suy niệm trong bối cảnh đó. Những lời này liên quan tới bối cảnh của cuộc sống con người mà cái chết và sự huỷ hoại thân xác sau đó đã trở thành định mệnh chung của con người (theo những lời “ngươi sẽ trở về bụi đất” của St 3,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:19&FontSize=txt10)). Đức Kitô căn cứ trên “thuở ban đầu”, trên chiều kích nguyên thuỷ của mầu nhiệm sáng tạo, khi mà chiều kích đó đã bị huỷ bỏ bởi mầu nhiệm tội ác (mysterium iniquitatis) tức là bởi tội lỗi, và cùng một trật cũng bởi sự chết, mầu nhiệm sự chết (mysterium mortis).
Có thể nói được rằng tội lỗi và sự chết đã đi vào lịch sử con người xuyên qua ngay tâm điểm của sự hiệp nhất được cấu thành ngay từ thuở ban đầu, bởi người nam và người nữ được tạo dựng và được mời gọi để trở thành “một thịt” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=txt10)). Ngay từ lúc khởi đầu loạt bài suy niệm này, chúng ta đã thấy Đức Kitô đã căn cứ trên thuở ban đầu để dẫn dắt chúng ta vượt qua lằn ranh của nguyên tội để đi tới sự trong trắng nguyên thuỷ. Và như thế, Người đã cho phép chúng ta tìm thấy tính kế tục và liên hệ giữa hai tình huống đó. Và qua đó mà bi kịch thời nguyên thuỷ đã nảy sinh, đồng thời với việc mặc khải về mầu nhiệm con người cho con người lịch sử.
Điều này cho phép chúng ta, sau khi đã phân tích trạng thái trong trắng nguyên thuỷ, bước qua phần phân tích cuối cùng tức là phần phân tích về “nhận biết và sinh sản”. Nếu nói theo chủ đề thì nó gắn liền với lời chúc phúc sinh sản tràn đầy đã kể trong câu chuyện thứ nhất về cuộc tạo dựng nên con người, nam và nữ (xem St 1,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27-28&FontSize=txt10)). Mặt khác, trên bình diện lịch sử, điều đó liên hệ tới chân trời của tội lỗi và sự chết. Như Sách Sáng Thế dạy (xem St 3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3&FontSize=Txt10)), điều đó đã đè nặng trên ý thức về ý nghĩa của thân xác và trên việc huỷ bỏ giao ước đầu tiên với Đấng Tạo Hoá.
Trong chương 4 sách Sáng Thế, tức là trong khung cảnh của văn bản nguồn Giavê, chúng ta đọc: “Adong nhận biết Evà vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Cain. Bà nói: “nhờ Đức Chúa mà tôi đã được một người”. Bà lại sinh ra Aben, em ông” (St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=txt10)). Nếu chúng ta đặt việc sinh con trên trái đất liên hệ với sự nhận biết thì chúng ta đã dựa trên lối dịch sát nghĩa của văn bản. Theo cách dịch đó, sự hiệp nhất trong hôn nhân đã được định nghĩa như là nhận biết. “Adong nhận biết Evà vợ mình” là cách dịch chữ jadac [2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) của tiếng Sêmít.
Ta có thể cho rằng ngôn ngữ sơ khai nghèo nàn thiếu thốn nhiều thành ngữ diễn đạt những sự kiện khác nhau. Tuy nhiên, vẫn luôn đầy ý nghĩa việc mà chồng và vợ hiệp nhất thân mật thành một thịt đã được định nghĩa như là nhận biết. Và như thế, từ sự nghèo nàn ngôn ngữ, một ý nghĩa sâu thẳm đặc biệt đã trỗi lên. Nó đã thoát ra từ tất cả những ý nghĩa đã phân tích.
Đương nhiên, khi chúng ta suy tư về thân xác con người trong phái tính nam và phái tính nữ, tức là trong giới tính, thì điều đó rất quan trọng đối với cái gọi là “cổ hình”. Do đó, qua cụm từ nhận biết dùng trong St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10) và cũng thường được dùng trong toàn Kinh Thánh, quan hệ hôn nhân chồng vợ -tức là việc họ trở thành “một thịt” từ hai giới tính- đã được nâng lên và đưa tới một chiều kích đặc biệt của nhân vị. Sáng Thế 4,1-2 chỉ nói đàn ông nhận biết vợ mình như để nhấn mạnh sự việc đó cho riêng người đàn ông. Nhưng chúng ta cũng có thể nói về tính hỗ tương của việc nhận biết mà cả hai nam và nữ đã tham dự với chính thân xác và giới tính của mình. Chúng ta có thể thêm vào đấy một loạt văn bản tiếp sau đã dùng một ngôn ngữ giống như trong chương này của sách Sáng Thế (x. St 4,17 và 4,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:17 ; St 4:25&FontSize=txt10)). Điều đó đã đưa thẳng tới những lời của Mẹ Maria thành Nazaret đã nói trong ngày Truyền Tin: “Việc đấy xảy ra cách nào vì tôi không hề biết người nam?” (Lc 1,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 1:34&FontSize=Txt10))
Từ ngữ “nhận biết” xuất hiện lần đầu tiên trong Sáng Thế 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10). Với từ ngữ đó, chúng ta đang đối diện một là với thành ngữ chỉ thẳng vào sự dụng ý của con người (bởi vì dụng ý là một đặc tính của nhận biết), hai là với toàn thực tại của hiệp nhất và cuộc sống vợ chồng. Trong thực tại cuộc sống đó, nam và nữ trở thành “một thịt”.
Khi nói là nhận biết, dù chỉ vì ngôn ngữ nghèo nàn, Kinh Thánh đã chỉ cho thấy bản chất thâm sâu nhất của thực tại đời sống hôn nhân. Bản chất đó vừa được xem như là một yếu tố vừa là một kết quả của tất cả những ý nghĩa mà chúng ta đã cố gắng theo dõi từ buổi khảo luận đầu tiên. Nó là thành phần của ý thức về ý nghĩa của thân xác của mỗi người. Trong Sáng Thế 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=txt10), khi trở thành “một thịt”, nam và nữ đã trải nghiệm một cách đặc biệt ý nghĩa của thân xác mình. Và như thế, cả hai dường như trở thành một chủ thế của hành động và kinh nghiệm đó. Nhưng trong sự hiệp nhất đó, hai chủ thể vẫn thực sự khác nhau. Và như thế, điều đó cho phép chúng ta quả quyết rằng “chồng nhận biết vợ” và cả hai “nhận biết” nhau. Họ đã tỏ lộ chính mình cho nhau trong sâu thẳm đặc biệt của cái tôi của mỗi người. Và như thế, với một cách thức đơn thuần, người nữ “được trao tặng” để cho người nam nhận biết, và người nam cũng thế.
Nếu muốn giữ tính liên tục đối với những phân tích từ trước tới bây giờ (nhất là những phân tích cuối đã giải thích con người theo chiều kích của quà tặng), chúng ta phải nhận xét rằng, theo sách Sáng Thế, quà được tặng cho (datum) và ân huệ (donum) thì tương đương như nhau.
Tuy nhiên, Sáng Thế 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=txt10) để ý nhiều hơn tới quà tặng được trao (datum). Trong sự nhận biết hôn nhân, người nữ được trao cho người nam, và người nam được trao cho người nữ, bởi vì thân xác và giới tính dự phần vào cấu trúc và nội dung của sự nhận biết. Và như thế, thực tại hiệp nhất hôn nhân mà nam và nữ trở thành một thịt đã hàm chứa một khám phá vừa mới và, có thể nói được rằng, vừa quyết định cho ý nghĩa của thân xác trong phái tính nam và phái tính nữ. Nhưng về sự khám phá này, có đúng không khi chỉ nói rằng đó là một “cuộc sống tính dục chung”? Chúng ta phải để ý rằng mỗi người, nam và nữ, không phải chỉ là một vật thể thụ động được định nghĩa bằng thân xác và giới tính của mình và như thế, được định nghĩa bởi “thiên nhiên”. Nhưng ngược lại, bởi vì họ là một người nam và một người nữ, cho nên mỗi người trong họ đã “được trao cho” người kia như là một chủ thể duy nhất và đơn thuần, như là “mình”, như là một nhân vị.
Giới tính không những chỉ quyết định cá tính thể xác mà đồng thời còn quyết định tới bản sắc nhân vị và tính cụ thể của con người. Chính trong bản sắc nhân vị và tính cụ thể đó, như một “bản thân” nam hoặc nữ, mà con người được “nhận biết” đúng như những lời trong Sách Sáng Thế 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10): “Đàn ông… gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một thịt”. Như St 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10) và những văn bản Kinh Thánh sau đó đã nói, sự nhận biết đó đã đi tới cội rễ sâu thẳm nhất của cá tính và của cụ thể tính mà nam và nữ đã có được nhờ giới tính của mình. Cụ thể tính đó chỉ rõ tính duy nhất và tính đơn thuần của nhân vị.
Và đó là lý do tại sao phải suy tư về lời lẽ hùng hồn của văn bản Kinh Thánh và về thành ngữ “nhận biết” này. Mặc dù cách sử dụng ngôn ngữ đó có vẻ thiếu chính xác, nó cũng đã cho phép chúng ta dừng lại trên chiều sâu và kích thước của một khái niệm mà với ngôn ngữ hiện đại, dù rất chính xác, cũng không diễn tả hết điều đó.
_____
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Phải để ý tới việc mà trong buổi nói chuyện với những người Pharisêu (Mt 19,7-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:7-9&FontSize=Txt10) và Mc 10,4-6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10:4-6&FontSize=Txt10)) Đức Kitô đã đưa ra lập trường đối với việc thực thi luật Moisê liên hệ tới cái gọi là “chứng từ ly dị”. Những lời “vì lòng dạ các người chai đá”, mà Đức Kitô đã nói, phản ánh không những “lịch sử của lòng dạ” mà còn nói lên tất cả sự phức tạp của lề luật trong Cựu ước đã luôn tìm một “thoả hiệp nhân bản” trong lãnh vực tế nhị này.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) “Nhận biết” (jadac) trong ngôn ngữ Kinh Thánh không chỉ có nghĩa là nhận biết thuần trí thức, mà còn là một nhận biết cụ thể, ví dụ như kinh nghiệm khổ đau (xem Is 53,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is 53:3&FontSize=Txt10)) và kinh nghiệm tội lỗi (Kn 3,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=kn 3:11&FontSize=Txt10)), kinh nghiệm chiến tranh và hoà bình (Tl 3,1 và Is 59,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tl 3:1 ; Is 59:8&FontSize=Txt10)). Từ kinh nghiệm đó mà nảy sinh ra xét đoán luân lý: “ nhận biết điều lành điều dữ” (St 2,9-17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:9-17&FontSize=Txt10)).
“Nhận biết” đi vào lãnh vực của quan hệ liên nhân vị khi bàn về sự tương thân trong gia đình và đặc biệt là trong quan hệ vợ chồng. Nhất là khi nói về việc ăn ở với nhau, cụm từ đó nhấn mạnh tới cương vị làm cha của những nhân vật nổi tiếng và nguồn gốc của những người con (x. St 4,1.25; 4,17; 1 Sm 1,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1,25 ; St 4:17 ; 1 Sm 1:19&FontSize=Txt10)) như là những dữ kiện chính đáng cho bản gia phả mà truyền thống tư tế (được di truyền đối với dân Do Thái) đã xem là rất quan trọng.
Tuy nhiên, “nhận biết” có thể có nghĩa là những quan hệ tình dục khác, ngay cả khi chúng không hợp pháp (x. Ds 31,17 và 1 Sb 19,5 và Tl 19,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ds 31:17 ; 1 Sb 19:5 ; Tl 19:22&FontSize=Txt10)).
Khi dùng trong câu phủ định, cụm từ đó muốn nói là không có quan hệ tình dục, nhất là khi nói về các trinh nữ (xem thí dụ như 1 V 2,4 và Tl 11,39 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 V 2:4 ; Tl 11:39&FontSize=Txt10)). Trong lãnh vực này, Tân ước đã dùng hai thành ngữ Do Thái khi nói về Thánh Giuse (Mt 1,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 1:25&FontSize=Txt10)) và Mẹ Maria (Lc 1,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 1,34&FontSize=Txt10)).
Khía cạnh quan hệ hiên sinh của “nhận biết” lại cho cụm từ đó một ý nghĩa rất đặc biệt khi chủ thể và khách/vật thể là chính Thiên Chúa (thí dụ như Tv 139; Gr 31,34; Hs 2,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv 139 ; Gr 31:34 ; Hs 2:22&FontSize=Txt10) và Ga 14,7-9 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Jn 14:7-9); 17,3 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Jn 17:3)).
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
----
* Ký hiệu các Sách Kinh Thánh (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_legende.htm)