View Full Version : Lịch sử tính của Đức Kitô
1-Từ một mẩu tin
Tờ báo The Times, ngày 3 tháng 1 năm 2006, đăng mẫu tin sau đây.
Bản tin này, sau đó, đã được loan khắp thế giới và đăng trên trang tin tức của Yahoo .
Nhà cháu thiết nghĩa hầu chắc các bạn ở VN cũng đã nghe biết tin này .
“Một quan toà bên Ý đã ra lệnh cho một linh mục phải hầu toà trong tháng này để chứng minh rằng Đức Giêsu có thật trong lịch sử.
Vụ kiện là do Luigi Cascioli, một nhà nông học đã về hưu sống tại thành phố Viterbo, miền bắc nước Ý, đã kiện linh mục Enrico Righi là đã “lạm dụng lòng tin bình dân”.
Điều lý thú là cả hai một thời là bạn đồng môn trong chủng viện, nhưng sau Cascioli trở thành người vô thần năng nổ. Ông đã viết cuốn The Fable of Christ - Huyền thoại về ông Kitô , và ba năm trước đây đã kiện linh mục Righi vì trong tờ liên lạc của giáo xứ, linh mục đã tố cáo ông viết cuốn sách đặt lại vấn đề lịch sử tính của Đức Giêsu.
Trước đây quan toà đã bác bỏ vụ kiện, nhưng sau vì quyết định của Toà Hoà giải, Chánh án Gaetano Mautone cho rằng Cascioli có đủ lý do, nên quyết định nghe hai bên nguyên và bị điều trần vào cuối tháng.
Ý kiến của Cascioli lập lại quan điểm và sách báo của biết bao nhà vô thần từ lâu trong lịch sử, cho rằng không có chứng lý đáng tin cậy cho phép kết luận Đức Giêsu đã thực sự sống và chết vào thế kỷ thứ nhất tại Palestine, ngoại trừ những sách Phúc âm. Mà sách Phúc âm chỉ là những sách đạo đức viết ra vì niềm tin. Cho nên Kitô giáo không đặt trên nền tảng nào.
Vụ kiện đơn phương của Casciloi đã đưa đến việc mở lại phiên toà tháng Tư vừa rồi khi ông nộp đơn tố cáo dưới tội danh: “lợi dụng niềm tin bình dân” và “mạo danh”, cả hai đều là tội danh theo hình luật của Ý.
Ông lý luận rằng mọi chứng cớ minh chứng Đức Giêsu có thật trong lịch sử rút ra từ những nguồn tài liệu nào khác ngoài Kinh Thánh mà bắt nguồn từ những tác giả sống sau thời của Đức Giêsu, vì họ đều không phải là những “mục chứng” nên không đáng tin cậy.
Cascioli cho rằng các tác giả kitô hữu thời đầu đã “lẫn lộn” giữa Giêsu và Gioan người Gamala, vốn là một người theo Do thái giáo nổi dậy chống lại Lamã vào thế kỷ thứ nhất tại Palestine. Như vậy các giáo chức trong Giáo hội đầu mang tội “mạo danh”.
Các sử gia Lamã như Tacitus và Suetonius có nhắc đến một ông “Christus” hay “Chrestus” nhưng cả hai ông này đã viết sau “ông-gọi-là-Giêsu” ấy một thời gian khá lâu, nên hai ông chỉ hoàn toàn dựa vào những điều hai ông “nghe lại”.
Linh mục Righi thì cho rằng có rất nhiều chứng cớ trong các sách báo trong đạo ngoài đời minh chứng Đức Kitô có thật trong lịch sử. Từ 2000 năm nay, đã có hàng triệu người cách này hay cách khác tin rằng Đức Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là Người.
Linh mục Righi nói: “Nếu ông Cascioli không thấy mặt trời vào giữa trưa, thì ông đâu có thể kiện cáo tôi vì tôi thấy mà ông ấy không thấy !”
Cascioli nói rằng các Sách Phúc âm đầy rẫy những bất nhất. Cả đến danh sách 12 tông đồ mà cũng không giống nhau.
Ông nói ông sẽ rút lại việc kiện cáo nếu linh mục Righi đến toà vào cuối tháng này với đầy đủ chứng cớ bất khả bác chứng minh Đức Giêsu có thật trong lịch sử.”
Nếu muốn đọc các lập trường của Cascioli, các Bác có thể vào trang nhà của Cascioli
http://www.luigicascioli.it/home_eng.php (http://www.luigicascioli.it/home_eng.php)
2- Một câu hỏi
Bản tin nhắc nhà cháu một điều rất thực rằng, ông Cascioli không phải là người đầu tiên, và chắc chắn cũng không phải là người cuối cùng cho rằng Đức Kytô không hề có thật trong lịch sử. Ngài chỉ là một huyền thoại. Và dĩ nhiên Kytô giáo (nhà cháu muốn nói tất cả những ai tin vào Đức Kytô, cả Công giáo, lẫn Tin Lành ) đã tin vào một cái bóng ma không hề có thực! Như thế đã 2000 năm.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên và kinh khủng hơn là , nếu như ngay lúc đọc bản tin ấy lần đầu tiên, nhà cháu tự hỏi , giá mà nhà cháu bị lôi ra toà vì cái tội danh như linh mục Righi trên kia, thì nhà cháu có thể lập tức trả lời suông sẻ với những lý chứng hùng hồn và đáng tin, bất khả bác, để mà tự do ra về được không ?
Đó là phát giác khiến nhà cháu e ngại: vốn liếng giáo lý của chính mình quá mỏng. Và biết bao ông bà cha mẹ bạn bè bà con của mình trong làng trong xóm, vốn có niềm tin tự thưở lọt lòng, có thể trả lời suông sẻ trước toà cho lời lên án của Cascioli ?
Cascioli đã nêu lên một vấn nạn giáo lý cho tôi hôm nay, buộc tôi phải tìm hiểu thấu đáo câu trả lời cho riêng tôi hôm nay .
Mời các Bác cùng góp tiếng giúp nhà cháu ...
3- Một lẩn thẩn :
Tại sao lại không đòi chứng minh hai Bà Trưng là có thật trong lịch sử ?
Hai Bà Trưng
Giáo sư sử học Lê Văn Lan
Hai Bà Trưng là tên gọi tắt, suy tôn hai nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Đó là hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn vào loại sớm nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam cũng như trong lịch sử nhân loại, chống xâm lược, nô dịch. Họ trở thành những nữ hoàng đầu tiên, cai quản quốc gia, dân tộc, sau khi đất nước được giải phóng, hồi đầu thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.
Sử cũ đều chép Hai Bà là dòng dõi lạc tướng (người đứng đầu bộ lạc) Mê Linh (miền đất rộng, giữa Ba Vì và Tam Đảo) thời Hùng Vương. Truyền thuyết nói Hai Bà là con gái bà Man Thiện, cũng là một phụ nữ đảm lược, quê hương ở vùng Ba Vì. Ngọc phả ở các làng Hạ Lôi và Hát Môn - những nơi có đền thờ chính của Hai Bà - đều chép Hai Bà là chị em sinh đôi và sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất (năm 14 sau công nguyên). Các sử cũ cũng chép rằng Trưng Trắc có chồng là Thi Sách, dòng dõi lạc tướng Chu Diên (miền đất dọc sông Đáy). Đây là kết quả của một cuộc "hôn nhân chính trị", nhân đấy mà liên kết được lực lượng của hai miền đất quan trọng nhất của non sông thời bấy giờ.
Lực lượng liên kết ấy là hạt nhân của một cuộc khởi nghĩa đồng loạt, rộng lớn, mãnh liệt, nổ ra vào mùa xuân năm Canh Tý (năm 40 sau Công Nguyên) nhân việc Thái thú (quan cai trị nhà Hán) ở Giao Chỉ (miền đồng bằng Bắc Bộ) là Tô Định giết hại Thi Sách. Nhưng nguyên nhân cơ bản của cuộc khởi nghĩa là vì tinh thần yêu nước, giải phóng và khôi phục nền độc lập cho đất nước, chống áp bức, thống trị và nô dịch, đồng hóa của nhà Hán (Trung Quốc) Vào một sáng mùa xuân năm 40, tại đất Mê Linh, Hai Bà Trưng đã làm lễ tế cờ khởi nghĩa. Trong tiếng trống đồng trầm hùng, âm vang lời thề của Hai Bà trước giờ xuất binh:
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này.
"Trưng Trắc là người can đảm, hùng dũng" (lời thừa nhận của bộ chính sử chép về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào loại cổ nhất của Trung Quốc) đã cùng em gái đứng đầu cuộc khởi nghĩa liên kết được sức mạnh toàn dân (trong đó có đông đảo phụ nữ, như các nữ tướng: Thánh Thiên, Lê Chân, Bát Nàn, Thiều Hoa...) và toàn quốc (không chỉ gồm Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là miền đất Việt Nam ngày nay, từ nam Trung Bộ trở ra, mà cả đất Hợp Phố bây giờ là nam Quảng Đông - Trung Quốc).
Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã quét sạch giặc thù khỏi bờ cõi và được tôn làm vua, đứng đầu đất nước độc lập trong thời gian ba năm.
Sau đó, nhà Hán sai lão danh tướng Phục Ba tướng quân Mã Viện cầm đầu đại quân sang tái xâm lược, Hai Bà Trưng đã dũng cảm đương đầu cùng quân giặc, tổ chức kháng chiến đánh những trận lớn từ Tây Vu, Lãng Bạc đến Cấm Khê và cuối cùng đã hy sinh anh dũng vào mùa hè năm Quý Mão (năm 43 sau công nguyên), để lại tấm gương oanh liệt nghìn thu. Hiện nay ở nhiều địa phương trong cả nước có đền thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà.
Giáo sư sử học Lê Văn Lan
(Văn hóa tổng hợp)
Bài trên trích đăng từ dactrung.net .Những chỗ có gạch dưới là do nhà cháu nhấn mạnh.
Có ai đã từng đặt nghi vấn liệu... hai Bà Trưng có thật trong lịch sử hay không?
Nhà cháu tẩn mẩn đưa ra câu hỏi này, là vì hai Bà sống đồng thời với Chúa Giêsu. Một Vị sống tại vùng Cận Đông, còn hai Vị kia sống tại miền Viễn Đông.
Không những sống cùng thời, mà hoàn cảnh sống của các Vị ấy có nhiều nét tương tự; đất nước của các Vị ấy, đương thời, đều bị một đế quốc khác đô hộ, cai trị. Và việc cai trị có phần hà khắc. Cuộc sống nổi bật của các Vị cũng chỉ kéo dài chừng khoảng vài ba năm, rồi đều kết thúc bằng những cái chết khốc liệt.
Nhưng trong khi hầu như không có ai (ít là theo sức nhà cháu biết được) đặt vấn đề liệu hai Bà Trưng có thật trong lịch sử không? thì Vị kia, Đức Giêsu, người xứ Palestine liên tục bị đặt thành “nghi ngờ” trong lịch sử.
Tại sao vậy? Có điều gì không công bằng chăng? Có điều gì thiên kiến chăng?
Cả hai trường hợp đều ít nhiều để lại những dấu vết, và ảnh hưởng của hai cuộc đời còn ít nhiều tồn đọng sang những thế hệ sau. Vậy mà chẳng có ai kiện quốc gia VN, hay những giáo sư dạy sử trên khắp hai miền đất nước VN rằng họ đã bịa đặt, “lạm dụng lòng tin tưởng của dân chúng”? Và tuyên bố Hai Bà Trưng không hề có trong lịch sử.
Sau cuộc đời ngắn ngủi của các vị ấy, đất nước VN, cũng như Palestine, vẫn còn bị đô hộ. Sự thể trước sau xem chừng như không có gì khác nhau. Vậy tại sao người ta cứ chĩa mũi dùi vào Đức Kitô?
Trước khi đào sâu vấn đề hơn, ít ra chúng ta đều thấy ảnh hưởng của Đức Kytô để lại cho hậu thế và trong lịch sử nhiều và mạnh hơn là hai Bà Trưng. Nghĩa là thoạt nhìn, hẳn Đức Giêsu phải có nhiều chứng cớ hùng hồn và rõ ràng hơn là hai Bà chứ!
Vậy tại sao người ta lại cứ đặt vấn đề về lịch sử tính của Đức Giêsu hơn bất cứ ai khác?
4- Một ý kiến :
Nhà cháu nhớ cuốn sách “Thượng Đế của người Vô thần”, bản dịch của Giang Trung Kiên, sách phát hành đầu năm 1975.
Nhà cháu tiếc quá, khi đi xa không chịu mang theo cuốn này.
Sách gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả. Đại ý các tác giả ấy minh chứng rằng những người vô thần không thực sự hẳn là vô thần như họ tưởng.
Hoặc họ chối bỏ sự hiện hữu một Thượng Đế theo họ định nghĩa,
Hoặc chỉ vì sự hiện hữu của Thượng Đế “quấy rầy” họ.
Nghĩa là việc có Thượng Đế hay không, không hề là một chuyên hoàn toàn thuần túy tư duy, lúc trà dư tửu hậu, lúc “rỗi hơi” thì bàn cho “vui cửa vui nhà”, “cho có chuyện mà nói”, nhưng nó ít nhiều đòi hỏi một thái độ sống thích đáng đi kèm.
Nghĩa là nếu chấp nhận Thượng Đế hiện hữu, tôi sẽ bị Ngài “quấy rầy”, buộc phải thay đổi lối sống ít nhiều.
Đó là một vấn đề hiện sinh, chứ không phải là một vấn nạn hoàn toàn thuần lý .
Thì chuyện bận tâm Đức Giêsu có thực hiện hữu hay không cũng thế. Sự hiện hữu của Ngài luôn luôn quấy rầy tôi, không để tôi dửng dưng .
Ấy là một chi tiết đầu tiên chúng ta cần lưu ý.
Chi tiết thứ hai như sau:
Vào trang nhà của Cascioli, nhà cháu tìm được những thông tin này, trong “Thư ngỏ gởi Vatican” , nhà cháu trích dẫn lại đây mà không dịch ra. Phần in đậm là của nhà cháu nhấn mạnh :
“Having changed the name of the Holy Inquisition by that of the " Santa Penitenzieria" after the occupation of Rome by the Italian army, during all XIX-th century, even if in a less bloody way, the Holy Mother Church preserved its political power due to the spiritual authority which it had on the gullible and blunt mass which had remained in its faith (thing which regrettably exists even today) and continued when even to impose his religious authority on that politic by the appeal on the renunciation, behind the threat of condemnations and temporal punishments deriving from the excommunication.
One of the last cases of renunciation was that of my grandfather Luigi Cascioli, Engineer and Architect who, as mayor of Roccalvecce, Sipicciano and Montecalvello, to avoid the excommunication which would have compromised its family, was obliged to renounce the allegiance to the Italian Government to swear allegiance to " the Holy Mother Church ". Both renunciations: the first in the year 1889 and the second in the year 1890. " In the name of God. So it is."
Me, undersigned by the present document , declare to retract, shape and sincerely I retract the illicit allegiance lent by me to the government, in the sense wanted by Santa Penitenzieria, when I assumed the function of mayor of Roccalvecce, the diocese of Bagnorea, and I promise, in the exercise of the same, to refrain me of any act against the law of God and the church and to repair this scandale*. "
Bagnorea on 5 April, 1889
( * the scandal is to have sworn allegiance to the Government)
Chúng ta hiểu thêm được động lực nào thúc đẩy Cascioli có thái độ quyết liệt như thế
5- Những luận cứ chống lại lịch sử tính của Đức Giêsu :
Đa số các sử gia và các nhà thần học không đặt vấn đề có hay không có Đức Giêsu trong lịch sử.
Kể theo thứ tự những người mà nhà cháu lục lọi được, thì ngay một hai thế kỷ đầu, đã từng có người thắc mắc không biết Đức Giêsu có thật trong lịch sử không. Cho đến các thời Cách mạng Pháp, các triết gia có đặt vấn đề.
Nếu chỉ kể sơ các vị viết bằng tiếng Anh, thì gần đây có các ông như Bruno Bauer, thần học gia người Đức với cuốn "Critique of the Gospels and History of Their Origin" John M. Robertson với cuốn "Christianity and Mythology" (1910)
Nổi tiếng nhất có ông G.A. Wells, giáo sư tiếng Đức tại Đại học University of London. Ông đã viết một loạt năm cuốn sách về vấn đề này, lý luận rằng Phaolô và các nhà lãnh đạo Kytô giáo đầu tiên tin rằng Đức Kytô đã sống trước họ rất lâu, có khi vào thế kỷ thứ 3 hay thứ 2 trước Công Nguyên. Vài cuốn của ông là “The Historical Evidence for Jesus," Prometheus, (1982); “Did Jesus Exist?” Buffalo: Prometheus Books, 1975; “The Jesus of the Early Christians.” Pemberton: 1971; “The Jesus Legend.” Chicago: Open Court, 1996.
Còn Michael Martin, trong cuốn "The case against Christianity" xuất bản năm 1991, kết luận rằng, chúng ta thiếu những chứng cớ hiển nhiên chứng minh Đức Kytô đã có thực trong lịch sử !
Earl Doherty, tác giả cuốn "The Jesus Puzzle. Did Christianity Begin with a Mythical Christ?", đã trong tờ báo Humanist in Canada cho rằng các Kytô hữu đầu tiên tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa , nhưng dưới mắt họ Ngài là vị thiêng liêng, chứ không phải người trần có xác phàm ! Ông viết : "If Jesus was a 'social reformer' whose teachings began the Christian movement, as today's liberal scholars now style him, how can such a Jesus be utterly lacking in all the New Testament epistles, while only a cosmic Christ is to be found?"
Danh sách còn dài và rất nhiều. Dĩ nhiên còn có Cascioli với cuốn “The Fable of Christ”
Tựu chung, sau đây là những điểm thường được nại ra để nói rằng Đức Kytô không có thật trong lịch sử :
1- Không có môt tài liệu nào đương thời với Đức Giêsu mà có nhắc đến Ngài : Nhất là khoảng các năm từ năm 7 trước Công Nguyên đến năm 33 sau Công Nguyên .
2- Nguồn Q: Từ các khảo cứu về sự thành hình các sách Phúc Âm và sự kiện Nhất Lãm (synoptique), cách học giả Kinh Thánh cho rằng có một nguồn tài liệu, mang tên là Q, "which included moral teachings, prophetic admonitions and controversy stories, plus a few miracles and anecdotes." Nguồn Q này được truyền khẩu, và chỉ được viết xuống thành văn bản vào khoảng năm 50 sau Công Nguyên. Trong nguồn Q, và trong các Phúc âm, không hề có một ngày tháng nào trong đời Ngài được lưu lại.
3-Trong một khảo luận ở cuốn "Historicity of Jesus" in "Encyclopedia of Unbelief," Prometheus, (1985), G.A. Wells chứng minh rằng các tác giả trong Kinh Thánh tin Đức Giêsu có thực, sống thực, nhưng lại không nhất trí được với nhau về ngày, giờ và các điạ điểm trong đời Ngài, để có thể xác tín Ngài đã từng sống vào đầu thế kỷ thứ Nhất. Phaolô không hề miêu tả một phép lạ nào của Đức Giêsu chữa bệnh, hay ghi lại một lời rao giảng nào của Ngài. Phaolô lại còn “đổ tội” cái chết của Đức Giêsu là do ma quỷ hơn là do người Lamã hay người Do thái.
4- Có những ý kiến khác nêu ra rằng, vì tuyên truyền cho niềm tin tôn giáomình nên các tín hữu đổ lỗi cho những người khác niềm tin mình, “người Do thái”, đã gây nên cái chết của Đức Kytô !
5-Không biết đâu chừng cái chết của Đức Kytô chưa chắc là đã có thực ! Các tín hữu đã bịa ra vậy để cố gắng chứng minh những lời tiên báo trong Cựu Ước được ứng nghiệm
6- Có những hành vi hay sự kiện không hề có thực nhưng các tín hữu bịa ra để tăng thêm niềm tin cho nhau. Ví dụ như việc Đức Giêsu dạy các môn đệ thi hành bí tích Rửa tội nhân danh Ba Ngôi
7-Họ lại còn sao chép các mẩu chuyện trong văn chương vùng Cận đông đương thời để tạo nên cái gọi là “huyền thoại Đức Giêsu vừa là người vừa là Thiên Chúa”. Chẳng hạn những mẩu chuyện về sinh con mà vẫn đồng trinh , chuyện Ngài sống lại ...
8-Vài phép lạ không hề xảy ra thực, nhưng được bịa ra để tăng thêm nét quan trọng cho thân thế Đức Giêsu. Chẳng hạn các phép lạ làm cho kẻ chết sống lại, chữa bệnh phung , chữa mù mắt, đuổi quỷ ám ...
9- Flavius Josephus: Một sử gia Do thái sinh khoảng năm 37 sau Công Nguyên. Trong cuốn “Antiquities of the Jews”, ông miêu tả Đức Giêsu như là một hiền nhân bị Philatô đóng đinh. Nhưng nhiều sử gia khác lại cho rằng đoạn văn này của ông bị sửa đổi, vì văn phong khôngcòn thuần nhất chổ đoạn ấy được thêm vào: "appears out of context, thereby breaking the flow of the narrative." theo như ý kiến của Michael Martin, trong cuốn "The case against Christianity," Temple University Press, (1993)
10- Cornelius Tacitus: Là một sử gia Lamã sống khoảng 55 đến năm120 sau Công Nguyên. Vào khoảng năm 112, ông viết cuốn Annals - Biên sử . Trong khi nhiều học giả cho rằng đây là chứng cớ đáng tin vì cuốn này có đề cập đến Đức Kytô. Nhưng lại có người khác cho rằng, có những chi tiết trong cuốn ấy rất có thể đến từ những trước tác công giáo trong thế kỷ thứ Hai. Như thế chứng cớ trong cuốn Annals khôngcòn hoàn toàn đáng tin nữa !
11-Suetonius: Ông này là tác giả cuốn The Lives of the Caesars viết vào khoảng120 sau Công Nguyên. Ông ghi lại rằng "Since the Jews constantly made disturbances at the instigation of Chrestus, [Emperor Claudius in 49 CE] expelled them from Rome." Đoạn này thường được dùng để minh chứng rằng có thật Đức Giêsu trong lịch sử, và cho rằng tên Đức Giêsu bị ghi lầm thành “Chrestus”. Nhưng có người vặn lại “Chrestus” là một tên Hy lạp thông dụng, nhiều người mang tên này. Nên có thể đây chỉ là tên một kẻ Do thái nào đó nổi loạn vào thời đó.
12- Ngoài những người kể trên, còn có khoảng 40 sử gia khác trong vòng hai thế kỷ đầu Công Nguyên. Vậy mà không còn ai ghi chép hay nhắc đến Đức Kytô !
Như thế người ta kết luận: không hề có Đức Giêsu trong lịch sử .
6- Một nhận xét
Khi trả lời cho những câu hỏi đặt vấn đề có hay không có Đức Giêsu trong lịch sử, chúng ta thường nghe trích dẫn câu chuyện về Shakespeare.
Vào năm 1910, cuốn sách mang đề tựa "Bacon Is Shakespeare" của Sir Edwin Durning-Lawrence (New York, John McBride Co.) được xuất bản, cho rằng chính Bacon là Shakespeare.
Trong một lớp Văn Chương Anh, một cậu học sinh đặt vấn đề với giáo sư rằng: “Rất có thể Shakespeare thực sự không phải là tác giả những bản kịch kiệt xuất mà người ta thường gán cho ông.”
Ông giáo gầm lên: “Này anh, nếu Shakespeare không viết những kịch tác ấy, thì phải có người nào đó sống cùng thời, cùng chỗ, mang cùng tên viết nên những tác phẩm ấy!”
Nói cho ngay người nào đưa ra ý kiến cho rằng Đức Giêsu chỉ là một huyền thoại đã có cái nhìn rất cao kiến: Muốn loại trừ Kitô giáo, chỉ cần loại trừ Đấng Sáng lập.
A-
Chúng ta bắt đầu phần trả lời với nhận xét của Michael Grant. Ông không phải là nhà thần học, nên điều ông nhận định không thể bị gán cho là có thiên kiến. Nhà khảo cứu về sử HyLạp và Lamã nổi tiếng này cho biết rằng chứng cớ minh chứng Đức Giêsu có thật trong lịch sử thì nhiều gấp bội phần những nhân vật khác trong xã hội cổ đại (xem trong Grant, Michael. "Greek and Roman Historians: Information and Misinformation". London: Routledge, 1995.)
Meier, John P. trong cuốn “A Marginal Jew: Rethinking the Historical Jesus". New York: Doubleday, 1991, còn nhấn mạnh thêm rằng: Những điều chúng ta biết được về A lịch Sơn Đại Đế chỉ có thể tóm gọm trong vài trang giấy. Vậy mà không ai nghi ngờ rằng ông có hay không có thực!
Về biến cố Đức Giêsu bị đóng đinh, Harvey Harvey, A. E. trong cuốn “Jesus and the Constraints of History” Philadelphia: Westminster, 1982. trg 11, viết "It would be no exaggeration to say that this event is better attested, and supported by a more impressive array of evidence, than any other event of comparable importance of which we have knowledge from the ancient world. - Không hề quá đáng khi nói rằng biến cố này được chứng thực và được hỗ trợ bởi một loạt vô số các bằng chứng nhiều hơn bất cứ biến cố có tầm quan trọng tương đương nào khác trong thế giới cổ đại.”
B-
Một con người siêu hạng, đã từng để lại một ảnh hưởng trên toàn cầu trong mọi lãnh vực như Đức Giêsu, thì tại sao lại có quá ít, rất ít, đến độ hầu như chẳng còn ai ngoài thế giới Kitô giáo - nghĩa là ngoài các sách Tin Mừng và các Giáo phụ - nhắc đến?
Xin thưa:
1- Chúng ta phải lưu ý chi tiết quan trọng này: qua lăng kính của các nhà viết sử đương đại, ông “Giêsu làng Nagiareth” chẳng là gì! Ngài chỉ là một người đúng với thành ngữ “vô danh”!
Ngài không hề đứng trước Nguyên Lão viện Rôma mà thuyết trình. Ngài không hề trước tác những tác phẩm triết học lỗi lạc bằng thứ ngôn ngữ bác học Hy lạp. Ngài chưa từng đi ra khỏi ranh giới xứ Palestine. Ngài chẳng gia nhập một đảng phái chính trị hay nhóm cách mạng nào. Chỉ sau này nhờ các Kytô hữu mà Ngài được người ngoài cuộc biết đến!
Nếu so sánh cho dễ tưởng tượng, ta có thể ví Ngài như một anh thợ mộc làng chài Lương Sơn cuối chân đèo Rù Rì vào những năm 1950-1970! Có gì đáng nói hay có ai đáng để ý tại Lương Sơn vào khoảng thời gian 30 năm ấy?
Sanders, E.P. trong cuốn The Historical Figure of Jesus. New York: Penguin Press, 1993. trang 3, khi so sánh Đức Giêsu với AlịchSơn, đã nhận ra chi tiết này: "Alexander so greatly altered the political situation in a large part of the world that the main outline of his public life is very well known indeed. Jesus did not change the social, political and economic circumstances in Palestine ..the superiority of evidence for Jesus is seen when we ask what he thought. - A lịch Sơn đã thay đổi sâu xa tình thế chính trị một vùng rộng lớn trên toàn cầu nên những nét chính đời sống công khai của ông được biết đến là điều dĩ nhiên. Đức Giêsu không thay đổi chút gì trên đời sống xã hội chính trị và kinh tế của vùng Palestine (các môn đồ của Ngài mới làm chuyện đó) Chứng cớ vượt trội để minh chứng Ngài chỉ được xem xét khi chúng ta hỏi về tư tưởng của Ngài".
Murray Harris trong cuốn “Three Crucial Questions About Jesus.” Grand Rapids: Baker, 1994. trang 24-27, còn nhận xét một cách chí lý rằng: "Roman writers could hardly be expected to have foreseen the subsequent influence of Christianity on the Roman Empire and therefore to have carefully documented - Các sử gia La mã không thể tiên liệu được ảnh hưởng thâm sâu của Kitô giáo trên đế quốc Lamã để mà lo thu thập tài liệu đầy đủ” về cội nguồn là Đức Kitô.
Vì thế chúng ta hiểu tại sao Đức Giêsu chẳng chiếm được một hàng chữ nào trong các sử liệu cổ xưa!
2- Đức Giêsu lại là một tử tội. Điều này càng khiến Ngài là một người bên lề xã hội, không được ai thèm để ý quan tâm.
Ngài chịu hành hình cực kỳ khốc liệt: Tử hình thập tự. Cả dưới mắt người La mã và Do thái, “chết treo” là một điều minh chứng kẻ ấy bị nguyền rủa, bị chúc dữ: “Khi một người có tội đáng phải án chết đã bị xử tử, và anh (em) đã treo nó lên cây, thì xác nó không được để qua đêm trên cây, nhưng anh (em) phải chôn ngay hôm ấy, vì người bị treo là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa.” (Đnl 21,23)
Thêm một khía cạnh khác, Đức Giêsu, khi cho mình là đấng Messaih, cũng ít nguy hiểm dưới mắt Lamã, hơn những kẻ tiếm xưng khác (xem thêm trong Sanders, E.P. The Historical Figure of Jesus. New York: Penguin Press, 1993.)
“Thời gian trước đây, có Thêu-đa nổi lên, xưng mình là một nhân vật và kết nạp được khoảng bốn trăm người; ông ta đã bị giết, và mọi kẻ theo ông cũng tan rã, không còn gì hết. Sau ông, có Giu-đa người Ga-li-lê nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với mình; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác.” (Cv 5,36-37 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Act 5:36-37)) Xem đoạn trích dẫn trên, chúng ta thấy đối phó với những bọn này, quân đội Lamã còn được huy động để tiêu diệt. Còn trường hợp của Đức Giêsu, chẳng một người lính nào bị quấy rầy!
Dưới con mắt của Lamã, Đức Giêsu chỉ là một trong nhiều ngàn tội nhân hằng ngày bị hành hình thập tự trên khắp đế quốc!
3- Lại còn phải tính thêm rằng Đức Giêsu chỉ là người lang thang trên các nẻo đường quê mà rao giảng. Dĩ nhiên thời ấy không hề có radio, TiVi hay các hãng Thông tấn xã, nghĩa là Ngài không hề dùng bất cứ một tổ chức có sẵn nào để rao truyền thông điệp của Ngài, ngoại trừ vài lần Ngài giảng trong các Hội đường! Còn thì ngoài ra, Ngài thường giảng dạy ở bờ biển, trên núi, ngoài đồng cỏ, nghĩa là bên ngoài các nơi thị tứ vốn là những nơi mà Ngài cố tránh né. Một người như thế thì làm sao mà các sử gia Lamã và giới thượng lưu La mã biết tới?
4- Những điều Ngài rao giảng thường không phù hợp với những định chế tôn giáo đương thời. Dưới con mắt những đồng hương Do thái Ngài là kẻ “phá rối” nhiều hơn là một rabbi đáng nể vì. Có người còn cho rằng Ngài “khùng”! Có sử gia nào lại bận tâm đến một người “không thật tính” trên đường quê Palestine?
5- Cuối cùng chúng ta thấy Đức Giêsu lại “đánh bọn” với “những kẻ tội lỗi, bọn đĩ điếm và xấu nết, ngồi ăn chung cùng bàn với họ.” Ngài chỉ là anh thợ mộc chân quê.
C-
Blaiklock, E. M. trong cuốn “Jesus Christ: Man or Myth?” Nashville: Thomas Nelson Publishers, 1984. trang 13-16, còn lưu ý chúng ta một điểm thú vị ghi lại đại ý như sau :
Nói cho ngay, chúng ta còn giữ được rất ít những tài liệu trước tác vào khoảng thế kỷ thứ Nhất Công Nguyên. Về các tài liệu ngoài-Kytô giáo, Blaiklock chỉ kê khai dùm chúng ta được những trước tác sau đây :
1- Một cuốn sử nghiệp dư về Roma do Vellius Paterculus, một sĩ quan trong quân đội của Tiberius đã về hưu viết ra, được phổ biến vào khoảng năm 30 Công Nguyên ngay khi Đức Giêsu bắt đầu đời công khai.
2- Một mảnh bia kí có nhắc tên Philatô.
3- Các truyện ngụ ngôn của Phaedrus, một người nô lệ gốc xứ Macedonie đã được giải phóng, viết vào thập niên 40 Công Nguyên.
4- Các thập niên 50 và 60 Công Nguyên, có các trước tác về triết học, và vài bức thư của Seneca letters; một bài thơ của cháu ông là Lucan; một cuốn sách về nghề nông của Columella, một người lính phục viên.
Còn phải kể đến một vài đoạn của cuốn truyện Satyricon của Gaius Petronius; một vài đoạn văn châm biếm của Persius; cuốn Historia Naturalis của Pliny the Elder; Vài đoạn chú thích về Cicero của Asconius Pedianus, và cuối cùng, cuốn Tiểu sử Alexander Đại Đế của Quinus Curtius.
Trong các tác giả nêu trên, may ra chỉ có Seneca là có ít nhiều lý do để đề cập đến Đức Giêsu. Nhưng vì ông có xích mích cá nhân với Hoàng đế Nerô – Ông vốn là gia sư của Nero, sau bị Nero buộc phải tự tử, vào năm 65, vì cho là có dính líu trong vụ mưu sát mình - chúng ta có quyền nghi ngờ rằng ông chẳng có chút quan tâm hay có thời gian để viết về Đức Giêsu.
5- Trong các thập niên 70 và 80 Công Nguyên A.D., chúng ta còn giữ được vào bài thơ và vài bài trào phúng của Martial. Thời này có tác phẩm của Tacitus và Josephus như “Against Apion”, “Wars of the Jews”. Trong các tác phẩm này , không hề có biến cố nào có chút ít liên hệ để có thể nhắc đến tên “Giêsu”.
6- Sang thập niên 90, chúng ta có thơ của Statius; mười hai tập sách về tu từ của Quintillian; và cuốn tiểu sử Tacitus viết về Agricola, nhạc phụ của ông.
Cuối cùng phải kể đến các trước tác của Tacitus về xứ Germany.
Như thế, nếu dựa vào số ít tài liệu như thể cho cả một đế quốc Lamã quan trọng và rộng lớn vào thế kỷ thứ nhất Công nguyên, mà vì các trước tác ấy, vốn đã ít ỏi, lại không nói gì, đề cập chi đến Đức Giêsu, để rồi cho rằng Ngài chẳng hề có thực trên đời, thì quả là môt kết luận thiếu nghiêm túc.
Khác nào chúng ta kết luận không hề có hai Bà Trưng trong lịch sử.
D-
Lẽ ra nhà cháu còn bàn thêm thật chi tiết về đoản văn trích dẫn từ cuốn Annals của Tacitus. Ông là một sử gia Lamã, sống vào thế kỷ thứ hai Công Nguyên. Những ghi chú của ông trong cuốn Annals rất hữu ích. Chỉ tiếc rằng những trước tác của ông về khoảng thời gian những năm 29-32 lại bị thất lạc. Dầu vậy, còn lại một đoạn ông viết về chuyện Hoàng đế Nerô đổ tội cho các người Kytô hữu đã gây nên cuộc hoả hoạn đốt thành Roma vào năm 64 Công Nguyên, nguyên cớ đưa đến cuộc bách hại Kytô giáo kéo dài ba trăm năm.
Đa số các học giả cho rằng đây là đoạn văn quý giá, và là chứng cớ rõ rệt minh chứng lịch sử tính của Đức Giêsu.
Ấy là chưa kể đến sử gia Josephus vốn là người Do thái. Trong các tác phẩm của ông, chúng ta thấy ông nhắc tới các nhân vật chung quanh Đức Giêsu như các Tư tế Anna và Caiphas, Tổng trấn Poncius Pilate, Vua Hêrôđê, Gioan Tẩy giả, trong đoạn trích dẫn từ bộ Antiquities, tập 10, chương 9, đoạn 1 nổi tiếng của ông:
Antiquities 20.9.1 But the younger Ananus who, as we said, received the high priesthood, was of a bold disposition and exceptionally daring; he followed the party of the Sadducees, who are severe in judgment above all the Jews, as we have already shown. As therefore Ananus was of such a disposition, he thought he had now a good opportunity, as Festus was now dead, and Albinus was still on the road; so he assembled a council of judges, and brought before it the brother of Jesus the so-called Christ, whose name was James, together with some others, and having accused them as law-breakers, he delivered them over to be stoned.
Nhưng những người hoài nghi lại cho rằng đoạn văn đã bị các kytô hữu sửa đổi.
Vì cuộc tranh luận mang nặng tính chuyên môn, nên nhà cháu ngại các Bác cho rằng ... Bèn thôi, chẳng ghi lại đây.
Có chi tiết quan trọng này, mà chúng ta không nên coi nhẹ: Đó là các chứng cớ từ những trước tác ngoài Kitô giáo, không mang lại điều gì mới hơn, khác hơn các chứng cứ từ các sách Tin Mừng.
Vấn đề bây giờ là dựa vào các trước tác Kitô giáo, như cách sách Tin Mừng và các thư Phaolô, để chứng minh lịch sử tính của Đức Giêsu.
Làm sao nói cho trọn vấn đề, vì đây, môn “Lịch sử tính của Phúc âm – Historicité des Évangiles “ là cả một môn học?
Dù có nhiêu khê chúng ta vẫn phải bàn một chút, kẻo lỡ có bị lôi ra toà làm chứng, ít ra chúng ta đã có ôn sơ qua bài, chuẩn bị cho câu trả lời.
Vậy chúng ta trả lời bằng cách thử trả lời cho vấn nạn các sách Tin Mừng đáng tin đến mức nào?
Sẵn đây chúng ta đặt vấn đề “burden of proof - bên nào phải đưa ra bằng chứng” nghĩa là
1- Chúng ta nên giả thiết các sách Tin Mừng là đáng tin cho đến khi chúng bị chứng minh rằng không đáng tin?
2- Hay chúng ta nên xem các sách Tin Mừng là không đáng tin, cho đến khi các sách ấy được chứng minh là đáng tin?
Cả hai thái độ đều cân bằng như nhau. Nghĩa là cả hai quan điểm đều phải đưa ra bằng chứng.
Y hệt như vấn đề có hay không có Thượng đế. Cả hai quan điểm đều có bổn phận phải đưa ra bằng chứng.
Nếu có ai cho rằng không có Thượng Đế thì người ấy hãy đưa ra bằng chứng. Cũng như các tín hữu, họ cũng phải trau dồi đức tin, trau dồi giáo lý để đưa ra những chứng cớ hữu lý cho niềm tin có Thượng đế của mình.
Trở lại vấn đề của chúng ta, nhà cháu có thể đưa ra những lý do sau đây để chứng minh là các sách Tin Mừng là đáng tin, cho đến khi có những chứng cớ ngược lại.
E-
1- Những ý kiến phản bác lịch sử tính của các sách Tin Mừng ít nhiều chịu ảnh hưởng của chủ trương “Giải huyền thoại – demythologize” của trường phái chú giải Bultmann nhấn mạnh đến phương pháp Phê bình hình thức- Form critics.
Bultmann cho rằng có sự cách biệt giữa Đức Giêsu trong lịch sử và Đức Giêsu của niềm tin. Khi gạn lọc Tin Mừng để tìm vào cái nội dung sứ điệp mà các Tông đồ rao giảng đầu tiên, gọi là “kerygma”, thì Bultmann cho rằng chính cộng đoàn tín hữu đầu tiên “vô danh” ấy tạo ra Tin Mừng và tạo ra Đức Giêsu.
Nếu mạnh miệng trả lời ngay thì chúng ta có thể lập luận ngược lại rằng: Nếu quả thực Đức Giêsu không hề có thực, và Ngài chỉ là một nhân vật huyền thoại do các môn đồ bịa đặt ra mà dựng đứng nên cho có, thì đáng nhẽ ra , khi bịa ra cuộc đời Ngài để có chứng cớ thì hẳn các vị viết Tin Mừng ấy phải nhất trí làm sao để cho câu chuyện họ bịa ra càng hợp nhau, càng giống nhau và càng giống như thật, thì mới càng dễ cho người khác tin chứ. “Chúng khẩu đồng từ, sư ông cũng chết” kia mà! Tại sao lại vụng về để lộ ra những điều không đồng nhất như thế?
Lập luận trên đây là để trả lời thẳng cho Cascioli.
+ Còn về ý kiến cho rằng các tác giả Tin Mừng không phải là các nhân chứng mục chứng, chúng ta có thể trả lời như sau:
Rất đồng ý như thế.
Có thể tóm lược rằng: những chi tiết về cuộc đời Đức Giêsu đến với chúng ta trải qua ba giai đoạn:
a) Nguyên thuỷ là toàn bộ những hành vi, cử chỉ, những lời rao giảng, nghĩa là đời sống thực của Đức Giêsu trong lịch sử. Khi ấy, Ngài có chọn và huấn luyện các môn đồ. Những vị này nghe, ghi nhớ và hiểu các giáo huấn ấy theo mầu nhiệm cứu chuộc.
b) Sau khi Đức Giêsu tử nạn và lên trời, các môn đồ ấy làm chứng biến cố sống lại của Ngài và rao giảng cho người khác về sứ điệp của Đức Giêsu đã rao giảng lúc sinh thời. Đừng quên chi tiết các Ngài được Chúa Thánh Thần soi dẫn cho được hiểu rõ ngọn ngành (xem Ga 16,13 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Yn 16:13)), và nhớ lại được những gì Đức Giêsu đã từng nói (xem Ga 14,26 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Yn 14:26)), rồi qua ánh sáng của biến cố Phục Sinh, các Ngài hiểu ra được ý nghĩa của những lời nói và những việc làm lúc sinh thời của Đức Giêsu. Các môn đệ lại truyền lại cho những người nghe các Ngài, những tín hữu tiên khởi, tất cả những chân lý ấy.
c) vào giai đoạn ba của truyền thống tông đồ này, thì các tác giả Tin Mừng, dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần ghi lại những biến cố lịch sử, và những lời rao giảng, nghĩa là “những chân lý mà Thiên Chúa muốn lưu lại vì sự cứu rỗi của chúng ta” (xem Flannery, A., (ed), Vatican council II: The Conciliar and Post Conciliar Documents, Dublin 1981, Dei Verbum no. 7, trang. 753. )
Dù các sách Tin Mừng có được viết ra sau này, nghĩa là các tác giả không phải là nhân chứng mục chứng đi nữa, thì lý chứng mạnh nhất để minh chứng Đức Giêsu có thật trong lịch sử:
Đó là các môn đệ, những người đã từng theo Đức Giêsu ngay từ ban đầu không thể nào bịa ra nhân vật Giêsu được.
Vì họ đã chấp nhận chịu chết để làm chứng rằng Ngài đã chết và sống lại.
Chẳng ai dám đành chịu chết vì điều hoàn toàn do mình bịa đặt ra.
Trần Duy Thực
16-05-2006, 02:52 PM
Anh KaTy viết :
“ Những ý kiến phản bác lịch sử tính của các sách Tin Mừng ít nhiều chịu ảnh hưởng của chủ trương “Giải huyền thoại – demythologize” của trường phái chú giải Bultmann nhấn mạnh đến phương pháp Phê bình hình thức- Form critics.
Bultmann cho rằng có sự cách biệt giữa Đức Giêsu trong lịch sử và Đức Giêsu của niềm tin. Khi gạn lọc Tin Mừng để tìm vào cái nội dung sứ điệp mà các Tông đồ rao giảng đầu tiên, gọi là “kerygma”, thì Bultmann cho rằng chính cộng đoàn tín hữu đầu tiên “vô danh” ấy tạo ra Tin Mừng và tạo ra Đức Giêsu.”
_____
Kính thưa anh KaTy và quý bạn,
Thực xin phép được nói thêm một chút về vai trò tích cực của thần học Bultmann...
1) Vào thời Khai Sáng, nhiều học giả bắt đầu đặt vấn đề niềm tin và lý trí. Họ cũng đặt vấn đề uy quyền của Giáo Hội (magistère, huấn quyền), và qua đó là quyền chú giải Kinh Thánh của huấn quyền, đã ở vị trí độc tôn trong suốt thời Trung Cổ. Họ suy nghĩ rằng Kinh Thánh cũng là một văn bản nằm trong lịch sử, do đó, ta có quyền phân tích mổ xẻ nó như bất cứ văn bản lịch sử nào khác. Điều này có nghĩa là ta có thể áp dụng những thành quả khoa học để phân tích. Và lẽ dĩ nhiên đối với những phương pháp và thành quả khoa học này, Giáo Hội không thể nào có đủ thẩm quyền để can thiệp vào.
2) Nói khác đi, khi đặt vấn đề như thế là ta đặt vấn đề Giêsu và lịch sử. Trường phái nghiên cứu và phê bình về lịch sử của KT gọi là historico-critique. Bultmann lại chủ trương khác đi, ông ta cho rằng Kinh Thánh không hẳn là một văn bản lịch sử, nhưng KT chính là tổng hợp những chứng cứ niềm tin của những người Kitô hữu đầu tiên (Les textes du Nouveau Testament sont moins des documents historiques que des témoignages de la foi des premiers chrétiens). Và Bultmann đã dùng phương pháp “khoa học” lịch sử để đưa ra thuyết démythysation (giải huyền thoại, phá huyền thoại), nhưng ông ta vẫn không hoàn toàn đồng ý với lối nhìn duy sử.
3) Khi phân tích và chú giải KT, Bultmann dựa vào 2 triết thuyết để triển khai nền thần học của mình : hiện tánh luận của Heidegger (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/TRIETHOC/ThongDienHoc/HermeneuticsChapter5.htm) và thông diễn học (herméneutique) (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/TRIETHOC/HermeneuticsChapter%201.htm) (* (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/TRIETHOC/ThongDienHoc/MainThongDienHoc.html)). Và nhờ thế, ông đã đưa ra 2 hướng đi rất mới với thời đó :
a) diễn đạt được quá trình hình thành của niềm tin của những người Kitô hữu đầu tiên, và nhờ thế, ông đã loại trừ được những yếu tố thần thoại của niềm tin.
b) đưa quan điểm hiện tính vào niềm tin, tức là đưa chủ thể tới tính nhân bản của mình, nhờ ân sủng và đức tin.
4) Mặc dù khi triển khai giáo thuyết phá-huyền-thoại, thì phần nào đó, Bultmann cũng có đi hơi xa và quá bạo. Nhưng :
a) Bultmann không bao giờ hồ nghi về sự hiện hữu trong không gian và trong thời gian của đức Giêsu. Nói cách khác, Bultmann không hồ nghi về lịch sử tính của đức Giêsu Kitô.
b) Ảnh hưởng tích cực và xây dựng của học thuyết phá-huyền-thoại tới nay vẫn còn, và vẫn còn được những nhà thần học rất gần với Huấn Quyền công nhận (như Kasper chẳng hạn)
5) Nói tóm lại. Bultmann không phủ nhận giá trị khoa học của trường phái historico-critique (1). Nhưng Bultmann không cho rằng trường phái này hoàn toàn đúng. Điều này không đồng nghĩa với việc cho rằng Bultmann phủ nhận tính lịch sử của đức Giêsu.
6) Và đây là cảm nghĩ riêng của Thực. Mặc dù đức Giêsu đã sống trong lịch sử, đã đi vào không gian và thời gian. Nhưng, thực tế cho ta thấy rằng, ta không thể nào thiết lập một cách thật chính xác về lịch sử của Người. Được bao nhiêu ông sử gia thì ta có bấy nhiêu cuộc đời Chuá Giêsu ! Do đó, tuy không phủ nhận giá trị lịch sử của Kinh Thánh, nhưng nếu bảo rằng KT cũng chỉ là một văn bản lịch sử như mọi văn bản lịch sử khác thì chưa được...
Bởi thế mới nảy sinh ra trường phái thông diễn Kinh Thánh (herméneutique biblique) và những trường lấy narratologie làm căn bản (2). Trong những trường phái này Kinh Thánh được xem như là một chuyện kể chứ không phải là một cuốn sử ... Một chuyện kể sống động và luôn sống trong lòng của những cộng đồng niềm tin. Một chuyện kể được Lời hằng sống linh ứng nhờ Thánh Linh.
Nhưng có lẽ Thực đã đi ra ngoài chủ đề đang bàn luận rồi ...
Xin cám ơn
_________________
(1) D’une façon grossière, on pourrait dire que la méthode historico-critique est tournée vers l’arrière du texte, c’est-à-dire vers son archéologie. Elle est également la rétrospection du texte en se penchant sur ses sources, autrement dit, le comment pour produire le texte le plus proche du texte source. De cet aspect disons « négatif » de la méthode, lisons quelques remarques de notre nouveau pape Benoît XVI, qui était à l’époque, le cardinal Ratzinger, chargé de la commission pontificale biblique : « Comme tout ce qui est humain, cette méthode comporte, avec ses possibilités positives, certains risques. La recherche du sens originel peut conduire à reléguer la Parole complètement dans le passé »
(2)Một cách rất khái quát, ta có thể cho rằng phương pháp historico-critique chú trọng tới lối nhìn lịch đại (diachronique), trong khi đó thông diễn và narratologie lại để ý nhiều hơn về lối nhìn đồng đại (synchronique). Nôm na dễ hiểu, điều này cũng có nghĩa là thông diễn để ý nhiều tới khía cạnh luôn sống động của Lời hằng sống đang sống giữa chúng ta, trong khi đó lối nhìn « sử học » lại để ý thứ tự trước sau của những dữ kiện lịch sử.
admin
18-05-2006, 08:32 PM
Mời các Bác đọc thêm trong trang Tuyển Tập Thần học, rõ ràng hơn và chi tiết hơn.
1. Các trình thuật Phúc Âm có cống hiến cho chúng ta một bản tường thuật cẩn thận và chính xác về giáo huấn cũng như những cử chỉ và việc làm của Đức Giêsu Nadarét không?
Câu hỏi này phức tạp, vì nó được đặt ra theo quan điểm tư tưởng tân thời về lịch sử (Thí dụ như ta hỏi có thật là hoàng đế Julius Cesar đã vượt qua sông Rubicon, hay tướng George Washington đã vượt qua sông Delaware hay không).
Nếu hiểu lịch sử theo nghĩa đó, thì điều chúng ta có thể trả lời ở đây chắc chắn sẽ rất là khiêm tốn. Lý do chính là vì trong Tân Ước có 4 bản tường thuật khác nhau nhưng lại đều có chủ ý kể lại cho chúng ta biết những điều Đức Giêsu đã nói và đã làm. Mặc dù các trình thuật ấy có nhiều điểm tương đồng, nhưng chúng cũng gồm nhiều điểm dị biệt.
Những khác biệt giữa các Phúc Âm Nhất Lãm Mác-cô, Mát-thêu, và Lu-ca với Phúc Âm thánh Gio-an ra t là rõ ràng (Thí dụ trong thời gian công khai rao truyền Tin Mừng, Đức Giêsu đã lên Giêrusalem một lần hay nhiều lần? Ngài đã bị giết trong ngày lễ Vượt Qua hay ngày hôm trước?) đương nhiên là Phúc Âm thánh Gio-an được soạn ra với chủ đích khác với chủ đích khẳng định trong câu sau đây, là câu đã gợi hứng cho vấn nạn đặt ra cho chúng ta: Những điều này đã được viết ra để anh chị em tin rằng Đức Giêsu là đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và khi tin như thế, anh chị em có được sự sống trong danh Ngài (20,13).
Hơn nữa, Đức Giêsu của Phúc Âm thứ bốn không nói năng giống như Đức Giêsu của ba Phúc Âm Nhất Lãm. Trong Phúc Âm Thánh Gio-an, Đức Giêsu tự diễn tả qua các diễn văn dài và trang trọng. Ngài thường dùng thứ ngôn ngữ biểu tượng, những kiểu nói Ta là, hay ám chỉ Thiên Chúa Cha, và không dùng đến dụ ngôn. Trong số các đoạn liên quan tới sinh hoạt rao giảng công khai của Đức Giêsu như được ghi lại trong Phúc Âm thánh Gio-an, có ít đoạn tương đồng với các trình thuật của ba Phúc Âm Nhất Lãm.
Không kể trình thuật liên quan đến những ngày cuối cùng cuộc đời Đức Giêsu tại Giêrusalem, các liên lạc Đức Giêsu có với Gio-an Tẩy Giả vào thời gian đầu (Trình thuật này cũng gồm nhiều khác biệt quan trọng: cf. Ga 3,26 ; 4,2), việc chữa lành con của vị quan triều đình tại làng Capharnaum (6, 16-21), và một số chi tiết đó đây không quan trọng lắm, người ta nhận thấy rằng không thể nào thực sự nói tới việc đối chiếu song song giữa Phúc Âm thánh Gio-an và ba Phúc Âm Nhất Lãm được.
Bên trong Truyền Thống Nhất Lãm, có nhiều điểm tương đồng, khiến chúng ta có thể bị cám dỗ coi những điều được kể là các sự kiện đã thật sự xảy ra như vậy. Tuy nhiên, cả ở đây nữa, cũng có nhiều dị biệt. Và trong số đó, có những dị biệt quan trọng không cho phép chúng ta khẳng định rằng các trình thuật Phúc Âm là bản tường thuật các sự kiện cách cẩn thận và chính xác. Sau đây là vài thí dụ điển hình: các trình thuật về cuộc đời thơ ấu của Đức Giêsu trong Phúc Âm thánh Mát-thêu và thánh Luca khác nhau đến không tài nào hòa hợp nổi; trong Phúc Âm Mát-thêu tin con trẻ sinh ra được báo cho thánh Giuse biết, còn trong Phúc Âm Lu-ca, thì lại được báo cho Đức Maria biết.
Nhưng mà cũng đâu có thể yêu sách là sứ điệp phải được báo cho cả hai người ! Thế rồi trình thuật Mt 2 khác với trình thuật Lc 2 biết bao nhiêu! Thêm vào đó là kiểu ghi chép khác nhau lời Chúa Giêsu nói về việc cấm ly dị (có luật trừ hay không có luật trừ), con số lời xin trong kinh Lạy Cha (7 trong văn bản của Mát-thêu, 5 trong văn bản Lu-ca ), đoạn cuối gây vấn đề rắc rối của Phúc Âm Mác-cô: Phúc Âm Mác-cô có thể chấm dứt ở chương 16 câu 8, với trình thuật mộ trống nhưng không có Đức Giêsu phục sinh hiện ra. Kết luận là nếu lấy việc tường trình cẩn thận chính xác về các sự kiện làm tiêu chuẩn phê phán, thì chúng ta không thể coi các trình thuật Phúc Âm là kiểu mẫu cho loại tường trình này được.
Còn hơn thế nữa. Giả dụ chúng ta chỉ hạn chế bản tường thuật các lời nói và việc làm của Đức Giêsu vào các nhân tố tương đồng giữa các văn bản Phúc Âm mà thôi, thì cũng vẫn còn có vấn đề. Vấn đề đầu tiên gây tranh luận là chất liệu các trình thuật cuộc tử nạn (bữa tiệc cuối cùng Đức Giêsu dùng với đoàn Tông đồ; Ngài bị bắt, bị điệu ra trước giới lãnh đạo Do Thái và quan Philatô; ông Phêrô chối Thầy; Đức Giêsu bị đóng đinh, chết và mai táng trong mộ, và sau cùng cảnh khám phá ra mộ trống).
Ngoại trừ một số ít đoạn khác liên quan tới cuộc đời rao giảng công khai (thí dụ: cảnh Đức Giêsu lãnh phép rửa, thánh Phêrô tuyên xưng lòng Tin như được kể lại dưới nhiều hình thức khác nhau), truyền thống liên quan tới Đức Giêsu phần lớn được ghi nhận trong một hình thức phản ảnh cùng lúc các tương đồng và các dị biệt. Hơn nữa sự kiên tương đồng trong các trình thuật của ba Phúc Âm Nhất Lãm, liên quan tới cuộc sống công khai rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu, lại làm nảy sinh ra vấn đề các liên hệ và tùy thuộc giữa chúng với nhau. Và người ta tự hỏi không biết là các trình thuật nhất lãm ấy có chính xác và đáng tin cậy hơn trình thuật của Phúc Âm Gio-an hay không.
Cho dù có đưa ra giải pháp nào của vấn đề nhất lãm đi nữa (giả thuyết hai tài liệu gốc, lý thuyết hai tài liệu gốc được sửa lại, các giả thuyết của các học giả Griesbach, Léon-Dufour hay Boismard), thì ngày nay hầu như không có ai phản đối tương quan tùy thuộc lẫn nhau giữa các sách Phúc Âm Mát-thêu, Mác-cô và Luca nữa. Chỉ có thái độ chủ-văn-tự ngây thơ mới còn cho rằng các Phúc Âm Nhất Lãm lấy nguồn từ những truyền thống chuyền miệng độc lập mà thôi.
Nhưng nếu có sự tùy thuộc nhau giữa các Phúc Âm Nhất Lãm, thì các khác biệt phân rẽ chúng lại cho thấy là chúng không trình bày các sự kiện cách hoàn toàn khách quan.
Nghĩa là đã có bàn tay của một soạn giả can thiệp vào việc biên soạn chúng, bằng cách thay đổi hay viết ra chất liệu từng được chuyền miệng, với những lý do không luôn luôn phù hợp với tính chất xác thực của lịch sử.
admin
18-05-2006, 08:33 PM
Đàng khác, hiện nay chẳng có nhà chú giải Tân Ước nào lại còn thử bênh vực lập trường cho rằng các trình thuật Phúc Âm liên quan tới Đức Giêsu, là do các soạn giả hoàn toàn bịa đặt ra (chỉ trừ một số tác giả như J.M. Allegro, A. Augstein và một số vị khác mà thôi).
Đàng sau bối cảnh các trình thuật của các Phúc Âm Nhất Lãm cũng như của Phúc Âm Gio-an có cả một truyền thống lịch sử. Tuy nhiên chủ ý của các nhà chú giải hiện đại không phải là rút tỉa ra từ trình thuật này hay trình thuật kia những gì đã thực sự xảy ra, cho bằng lượng định giá trị gia tài trình thuật liên quan tới Đức Giêsu chứa đựng trong các truyền thống ấy. Sự hiện hữu của các trình thuật khác nhau trong gia tài Kitô tiên khởi cho thấy chúng đã không được soạn ra chỉ để nhắc lại các việc liên hệ tới Đức Giêsu.
Từ ngày các biến cố xảy ra cho đến khi biên soạn ra các trình thuật, đã có khoảng cách thời gian ít nhất là một thế hệ những người Kitô rao giảng về Đức Giêsu, và đã có truyền thống chuyền miệng hay truyền thống viết liên quan tới Đức Giêsu rồi. Nội dung của việc rao giảng và các truyền thống đó là nhớ lại những gì Đức Giêsu đã nói và đã làm. Nhưng việc nhắc nhớ đó không khỏi hòa lẫn với những suy tư, nghiền gẫm, hay là được soi sáng bởi lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô phục sinh, cũng như bởi khoa Kitô học đang hồi phát triển, hoặc là phản ánh tiếng vọng của các cuộc tranh luận sau này xảy ra trong lòng Giáo Hội hay giữa Giáo Hội và Hội đường Do Thái, của các công tác truyền giáo và các cuộc bách hại.
Những hiện tượng này không hẳn phải loại bỏ tính chất trung thành trong cung cách tường trình các sự kiện. Nhưng sau cùng có bốn văn bản được soạn ra. Mỗi văn bản nêu bật những điểm khác nhau. Và chúng không cho chúng ta cái cảm tưởng là chúng được biên soạn với mục đích tường trình chính xác mọi điều đã xảy ra. Các nhân tố ngoại tại nêu trên đã để lại dấu vết trong các trình thuật và cho thấy là các trình thuật này đã được biên soạn với những chủ đích khác nhau, như ghi thấy trong phần mở đầu Phúc Âm Lc 1,1-4 (Luca nhấn mạnh đến ý niệm aspháleia chắc chắn trong trình thuật của mình), hay trong Phúc Âm Gio-an 20,23.
admin
18-05-2006, 08:34 PM
2. Thực tế mà nói, chúng ta nghiệm biết được những gì về Đức Giêsu lịch sử?
Các nguồn tài liệu về lịch sử Đức Giêsu Nadarét mà chúng ta hiện có thì rất hạn hẹp. Chúng được một vài tài liệu cổ ngoài Kinh Thánh tình cờ ghi lại, liên quan tới một số chi tiết, và thỉnh thoảng cũng được gặp thấy trong các Phúc Âm ngụy thư biên soạn sau này. Có khi chúng chỉ là những điểm chỉ dẫn rải rác, cũng có trong các tài liệu khác của Tân Ước, và có thể được coi là những truyền thống lịch sử trung thực mà các Phúc Âm lấy lại.
Những đoạn tài liệu hay của các nhà văn cổ xưa, độc lập với Tân Ước, và nhắc đến Đức Giêsu, thì có thể đếm được trên đầu ngón tay. Trong tập Niên Sử của mình, sử gia Romala Tacitus đã dành vài hàng để nói về "Kitô" người sáng lập ra "một thứ đạo dị đoan độc hại". Ông nhắc đến người Kitô-giáo bị hoàng đế Nêron kết tội chủ mưu vụ đốt phá thành Roma, và vụ xử tử của Kitô dưới thời quan khâm sai Ponxiô Pilatô, dưới triều đại hoàng đế Tibêriô (Annales 15, 44,3).
Sử gia Suetonius trong cuốn sách Cuộc đời hoàng đế Claudio thì kể rằng người Do thái đã bị hoàng đế Claudio trục xuất khỏi thành Roma, vì một vụ bạo động (xô sát giữa người Do thái và người Kitô gốc Do thái?) do một người là Chrestus (Người thời đó có thói quen đọc chữ a tiếng Hy lạp như là chữ i, ở đây cố ý đọc ngược lại nên Christus trại ra thành Chrestus) gây ra vào khoảng năm 49 trong kỷ nguyên của chúng ta (Vita Claudii 25.4).
Tài liệu Nhân chứng Flavio (Testimonium Flavianum) trong bộ sử Thời Cổ Do Thái của sử gia Giôsêphô có nói về Đức Giêsu như là một người khôn ngoan, nếu được phép gọi Ngài là một người, bị quan Pilatô kết án tử, vì Ngài bị các nhân vật cao cấp trong chúng ta tố cáo với ông ấy (Antiquitates 18.3,3 & 63-63). Nhưng phần đông dư luận cho rằng ít nhất một phần chứng từ, nếu không nói là tất cả, đã bị các Kitô hữu thêm vào sau này. Còn có một tài liệu khác của sử gia Giôsêphô (Ant. 20.9.1 & 200) không bị sửa chữa, nói đến cái chết của thánh Giacôbê anh em của ông Giêsu gọi là Kitô. Sau này nhà văn Pliniô Trẻ ghi rằng vào thời ông, các Kitô hữu hát thánh ca chúc tụng ông Kitô như là một vì Thần Minh" (Christo quasi deo: Ep. 10.96,7).
Sau cùng còn có một tài liệu của sách Talmud Babylon thuộc thế kỷ thứ III sau Tây lịch (Sanhedrin 43a) nhắc đến Giêsu, người đã làm ảo thuật và lôi kéo dân Israel chối đạo thật, người đã có các môn đệ, và đã bị treo vào ngày áp lễ Vượt qua. Tất cả những tài liệu ngoài Kinh Thánh này đều ra t khúc mắc, vì nhiều khi chúng bí hiểm, khi khác lại bóng gió, hoặc chỉ là những thêm thắt không trung thực. Tuy nhiên ngay cả khi có chú tâm đủ đến các vấn đề đó, các văn bản ngoài Kinh Thánh này, vì độc lập đối với các trình thuật tân ước, cùng lắm chỉ giúp xác định một vài điểm liên quan tới cuộc tử nạn và cũng đã được các Phúc Âm nhắc đến, như: Đức Giêsu bị kết án tử dưới thời quan Pilatô: giới lãnh đạo Do thái vùng Palestina có dính líu tới vụ án của người; ông Giêsu được các tín đồ coi như là "đấng Kitô" và như là một vị "thần".
Phúc Âm theo thánh Tôma, ngụy thư, mà chúng ta có được một văn bản
bằng tiếng Copt thuộc thế kỷ IV (xem J.M.ROBINSON, The Nag Hammadi Library in English, New York, Harper & Row, 1977, 116-130) và một số mảnh văn bản bằng tiếng Hy lạp, trong văn bản thuộc thế kỷ thứ II hay thứ III (xem J.A. FITZMYER, Essays on the Semitic Background of the New Testament, London, Chapman, 1971, 355-433) gán cho Đức Giêsu 114 câu nói, thường được mở đầu bằng kiểu nói Đức Giêsu đã nói. Phần đông các ngôn từ này được nối liền với nhau cách ra t lỏng lẻo, thuộc thời gian sau các Phúc Âm quy điển và rõ ràng là lệ thuộc các văn bản Phúc Âm. đôi khi các tư tưởng hay các kiểu nói mang sắc thái của thuyết Ngộ đạo, phản ánh môi trường làm phát sinh ra chúng. Tuy nhiên Phúc Âm ngụy thư này có nhiều chỗ lại ghi được những lời nói hay những dụ ngôn dưới một hình thức nguyên thủy hơn là những lời nói hay dụ ngôn trong các Phúc Âm quy điển. Nghĩa là chúng không bị soạn giả thêm thắt và phản ánh nỗi bận tâm của các thánh sử (thí dụ xin so sánh lời số 64 với Mt 22,1-14 và Lc 14, 16-24). Nhưng nguyên thủy hơn có nhất thiết là phải trung thực hơn hay không? Cũng có thể lắm chứ, nhưng ai mà dám chắc được điều đó?
Ngay cả trong Tân Ước, chúng ta cũng tìm thấy những chứng tích nằm ngoài truyền thống Phúc Âm, nhưng lại nói về cuộc đời và sinh hoạt rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu. Những chứng tích này rõ ràng là độc lập đối với truyền thống Phúc Âm, vì đôi khi chúng được ghi lại trước truyền thống này nữa. (đây tôi không xét đến những gì tìm gặp thấy trong sách Công Vụ Tông đồ, vì ra t nhiều chi tiết của sách này chỉ là tiếng vọng tác phẩm đầu tiên của thánh sử Lu-ca mà thôi).
Trong phần tài liệu đích thực của thánh Phaolô, biên soạn trước Phúc Âm cổ xưa nhất là Phúc Âm thánh Mác-cô, chúng ta có thể ghi nhận được một số yếu tố không những liên quan tới Tin Mừng tiên khởi công bố cái chết, việc an táng, sự sống lại và những lần hiện ra của Chúa Giêsu Phục Sinh (1Cr 15, 3-5) mà thôi, nhưng cả tới bữa tiệc ly, Ngài dùng với các môn đệ và việc lập bí tích Thánh Thể trong đêm Ngài bị nộp nữa (1Cr 11, 23-25), cũng như những điểm đề cập tới những khổ đau của Chúa (Pl 3,10), và thập giá (1Cr 1,17-18; Pl 2,8 ), tới cuộc đóng đinh (Gl 2,20; 1 Cr 1,23), cái chết (1 Tx 5,10; 1 Cr 11,26; Rm 6,3), và việc an táng ngài (1Cr 15,4).
Người ta cũng thấy có một chỗ ám chỉ sự kiện Đức Giêsu bị treo trên cây gỗ (Gl 3,13). Khi đưa ra lời xét xử nghiêm khắc đối với các người đồng đạo của mình, thánh Phaolô nhắc đến các người Do thái đã giết Đức Giêsu (1Tx 2, 14-15).
Thánh nhân cũng biết về rất nhiều lời nói của Đức Giêsu liên quan đến luật cấm ly dị (1Cr 7, 10-11), bí tích Thánh Thể (1Cr 11, 23-25), và ngày tận thế (1Tx 4,15). Trong thư gửi giáo đoàn Côlôx ê có thể thư này là một tài liệu thứ-Phaolô (deutéro-paulinien) người ta thấy có chỗ ám chỉ Đức Giêsu bị đóng đanh trên thập giá (2,14). Trong thư gửi Ti-mô-thê, là bức thư chắc chắn thuộc bộ "thứ-Phaolo”, có thấy nhắc đến sự kiện Đức Giêsu bị điệu ra trước mặt quan Philatô (1 Tm 6,13). Xin xem thêm cả 1 Pr 2,24 (Cf.Cv 5,30 ; 10,39 ; 13,29); và Dt 6,6 ; 13,12.
admin
18-05-2006, 08:34 PM
Điều đáng nêu bật trong các ám chỉ tìm thấy trong nguồn tài liệu ngoài các Phúc Âm này, lại một lần nữa, là số lớn trong các nhân tố đều hầu hết chú ý vào việc xác nhận những câu chuyện về cuộc tử nạn, trong khi ít thấy có nhân tố bàn đến các câu chuyện kể lại các biến cố còn lại của cuộc đời Đức Giêsu (có lẽ ngoại trừ một số lời nói của Ngài: xin xem D. L. DUNGAN, The Sayings of Jesus in the Churches of Paul, Philadelphia, Fortress, 1971).
Nếu ta duyệt xét các dữ kiện do các Phúc Âm quy điển cung cấp, liên hệ tới các việc làm và lời nói của Đức Giêsu, thì cần phải chú ý đến những gì đã trình bày trên đây (vấn nạn số 1), liên quan tới các tài liệu Tân Ước. Vì có chủ đích riêng, nên các tài liệu này hoàn toàn khác biệt với một bản tường trình với chi tiết đầy đủ về các biến cố.
Tự nó, các tài liệu này bao gồm trước hết là các chứng từ Đức tin, và việc loan báo nhằm phổ biến Đức tin ấy. Chúng không cung cấp cho chúng ta một bản phác họa trình thuật lại các sự kiện cuộc sống trần gian và công việc rao giảng của Đức Giêsu thành Nadarét. Thật ra, chúng không nói gì về dáng vẻ bề ngoài của Ngài, hay về kiểu cách đi đứng, cũng như không đá động gì đến ý thức lịch sử của Đức Giêsu.
Được biên soạn ít nhất là một thế hệ sau cái chết của Đức Giêsu, các Phúc Âm không phải là một chứng từ đầu tay liên quan tới ý thức của Ngài, hay phản ánh trực tiếp tính tình của Ngài. Chúng không giống như là một băng ghi âm, hay như là một biên bản tốc ký tại chỗ. Trong thế kỷ XX này của chúng ta, người ta thường thấy các độc giả Phúc Âm dựa trên những bút tích này để tìm cách phân tích tâm lý Đức Giêsu lịch sử, hay để đưa ra các dự phóng liên quan tới ý thức của Ngài. Nhưng họ lại ít khi nhận ra những vấn nạn gắn liền với các kiểu cách đặt vấn đề như vậy. Tìm cách phân tích tâm lý thánh Phaolô thành Tarso thì dễ hơn là phân tâm Đức Giêsu thành Nadarét nhiều. Bởi vì ít nhất chúng ta cũng có được vài bức thư đích thực của thánh nhân, qua đó còn có thể nhận ra một số nét tính tình của Ngài. Nhưng trong trường hợp Đức Giêsu, thì lần duy nhất thấy Ngài viết, đó là lúc Ngài viết lên trên đất với ngón tay, và chắc hẳn là trên cát (Ga 8,6.8 ) và thánh sử lại cũng không để ý kể lại cho chúng ta biết Đức Giêsu viết cái gì nữa !
Tuy nhiên, các nhà chú giải Phúc Âm ngày nay đều đồng ý rằng có thể coi là lịch sử: một số cảnh sống trong đời công khai của Đức Giêsu, một số lời nói của Ngài, hay đúng hơn là một số câu và các dụ ngôn, cũng như phần nòng cốt của trình thuật về cuộc tử nạn của Ngài. Thế rồi cũng còn phải duyệt xét từng đoạn một liên quan tới các nhân tố kể trên. Công tác duyệt xét này giúp phân biệt ra được các thêm thắt trau chuốt do những người biên soạn cho vào sau này.
Liên quan tới giáo huấn của Đức Giêsu nói chung, cần phải dùng các tiêu chuẩn tiêu cực sau đây: thuộc giáo huấn của Ngài: tất cả những gì không phát xuất rõ ràng từ Kinh Thánh Cựu Ước hay từ các giáo huấn đồng thời của người Do thái; những gì không phản ánh các bận tâm của các cuộc tranh luận xẩy ra trong Giáo Hội tiên khởi, sau thời Đức Giêsu liên quan tới một vấn đề hay một trường hợp riêng rẽ nào đó. Ngưới ta cũng dùng nhiều tiêu chuẩn khác để tầm nguyên giáo huấn của Đức Giêsu. Nhưng những tiêu chuẩn này ít được chấp nhận hơn. đó là: nguyên tắc dựa trên nhiều chứng từ độc lập đối với nhau, và nguyên tắc dựa trên sắc thái đặc biệt của lời kêu gọi hoán cải hướng tới sự chờ đợi thời cánh chung.
Có thể phác họa cái nhìn ngắn gọn về những gì chúng ta biết được liên quan đến Đức Giêsu lịch sử như sau: Đức Giêsu là một người Do thái sống tại đất Palestina, sinh ra từ một phụ nữ tên là Maria, vợ của một bác thợ mộc tên là Giuse. Ngài đã sống tại Nadarét, trong vùng Galilêa, bắc Palestina, sinh ra ra t có lẽ là dưới thời vua Hêrốt Cả (37-4 trước Tây lịch). Ngài đã bắt đầu cuộc sống rao giảng công khai vào năm thứ 15 đời hoàng đế Tibêriô (28 sau TL), cùng lúc và có liên hệ với thánh Gio-an Tẩy Giả (Lc 3,1). Sinh hoạt này của Đức Giêsu, ít ra là trong thời gian đầu, tập trung tại Capharnaum, vùng Galilêa, trong lãnh địa của quan thủ hiến Hêrốt Antipa. Ông này là người đã bỏ tù và xử tử thánh Gio-an Tẩy Giả, dưới thời quan phủ doãn Ponxiô Pilatô (26-36 sau TL), trong thời gian ông Caipha giữ chức thượng tế (18-36 sau TL). Không thể xác định được thời gian hoạt động rao giảng của Đức Giêsu đã kéo dài bao lâu. Nhưng ít ra nó đã có thể kéo dài ba năm (theo trình thuật ba lần lễ Vượt qua như kể trong Phúc Âm thánh Gio-an 2,13-23; 6,4 (?); 11,55; nhưng các Phúc Âm Nhất Lãm thì chỉ ghi lại có một lễ Vượt qua ). Là bậc thầy Do thái tại Palestina, Đức Giêsu chịu ảnh hưỏng tư tưởng Do thái thời Ngài, liên quan đến các lãnh vực tôn giáo, luân lý và khải huyền. đôi khi Ngài bất đồng ý kiến với các bậc thầy khác liên quan đến thái độ đối với đền thờ, Luật Mô-sê, việc tuân giữ ngày Sabát, và các truyền thống của cha ông. Sự khác biệt ấy tỏ lộ cách rõ ràng, gay cấn, đối với các người biệt phái, người Xađuxê và những kẻ khác tự giới thiệu với dân chúng như là lớp người có nhiệm vụ giải thích Kinh Thánh Cựu Ước.
Ngài đã quy tụ chung quanh mình một nhóm môn đệ, trong số đó nổi bật nhất là ông Simon con Giô-na (hay là Gio-an). Trong số các môn đệ này, Đức Giêsu chọn riêng ra một nhóm 12 người để kết thân với họ và để họ hợp tác chặt chẽ với công trình của mình. Tuy nhiên, chúng ta không thể xác định rõ ràng gì hơn về liên hệ giữa họ với nhau và với các môn đệ khác. Cũng khó mà khẳng định là họ có một lối sống nhất định hay không. Tâm tình ghê sợ tỏ hiện nhiều lần đối với Giuđa Iscariốt trong các trình thuật Tân Ước một trong số 12 môn đệ (Mc 14,10.20.43; Ga 6,70-71; xem Mc 6,13.19; Mt 10,2.4; Lc 6,13.16) chứng minh cho thấy Đức Giêsu đã chọn lựa và đào tạo nhóm 12 trong thời gian Ngài hoạt động rao giảng. Sau đó Đức Giêsu đã dẫn họ về Giêrusalem, và trong những ngày lưu lại đây, một hôm kia, vào dịp lễ Vượt qua, Ngài bị bắt, do sự thông đồng của Giuđa Iscariốt với giới lãnh đạo Do thái.
Đức Giêsu bị giới lãnh đạo Do thái Giêrusalem tra hỏi, giải nộp cho quan Pilatô thủ hiến xứ Giuđêa, và bị kết án tử hình, chịu đóng đinh trên thập giá bên ngoài thành Giêrusalem, rồi được mai táng trong mộ cùng ngày hôm ấy.
Vài ngày sau người ta tìm thấy mộ trống không, và chẳng bao lâu sau, các môn đệ kể lại rằng: trong những lần Ngài hiện ra, họ thấy Ngài còn sống, vì đã được đỡ dậy khỏi sự chết (1Cr 15,4).
Thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô chương 15,5-7 còn lưu lại danh sách các nhân chứng của Đức Giêsu phục sinh: Kêpha (nhân chứng chính thức đầu tiên Lc 24,34), nhóm 12 môn đệ, thánh Gia-cô-bê, tất cả các Tông đồ. Thánh Phaolô thành Tarso, nhà văn cổ xưa nhất của Tân Ước khẳng định là Tin mừng ngài rao giảng, ơn gọi (Gl 1,12.16) trở thành Tông đồ dân ngoại của ngài (Rm 11,13), và cách gián tiếp, quan niệm của ngài về Giáo hội như là mình của Chúa Kitô (1Cr 12,27-28 ), bắt nguồn từ cuộc sống và hoạt động rao giảng của Đức Giêsu lịch sử.
Nhưng đối với thánh nhân, Đức Giêsu đã trở thành Chúa Giêsu (1Cr 9,1).
F-
Tạm dành về sau những liệt kê các chi tiết trong các sách Tin Mừng làm chứng cho lịch sử tính của Đức Giêsu, nhà cháu thấy còn một lý chứng khá thú vị do một nhân vật đưa ra.
Ông này chỉ nói có một câu thôi.
Hay nói cho ngay, Tân Ước chỉ ghi lại một câu nói của ông. Nhưng câu nói này đã làm chứng một cách không ai có thể bác bỏ rằng Đức Giêsu hoàn toàn có thật :
Đó là ông Gamaliel, mà sách Tông đồ Công vụ ghi lại như sau :
“34 Bấy giờ có một người Pha-ri-sêu tên là Ga-ma-li-ên đứng lên giữa Thượng Hội Đồng; ông là một kinh sư được toàn dân kính trọng. Ông truyền đưa các đương sự ra ngoài một lát.35 Rồi ông nói với Thượng Hội Đồng: "Thưa quý vị là người Ít-ra-en, xin quý vị coi chừng điều quý vị sắp làm cho những người này.36 Thời gian trước đây, có Thêu-đa nổi lên, xưng mình là một nhân vật và kết nạp được khoảng bốn trăm người; ông ta đã bị giết, và mọi kẻ theo ông cũng tan rã, không còn gì hết.37 Sau ông, có Giu-đa người Ga-li-lê nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với mình; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác.38 Vậy giờ đây, tôi xin nói với quý vị: hãy để mặc những người này. Cứ cho họ về, vì nếu ý định hay công việc này là do người phàm, tất sẽ bị phá huỷ;39 còn nếu quả thật là do Thiên Chúa, thì quý vị không thể nào phá huỷ được; không khéo quý vị lại thành những kẻ chống Thiên Chúa." Họ tán thành ý kiến của ông. “ (Cv 5,34-39)
Trên đây là trích dẫn Gamaliel đưa ra nhận định của mình về công việc rao giảng của Phêrô về Chúa Giêsu. Nhận xét như thế, là một cách nào đó, ông đã bênh vực các tông đồ.
Ngoài chỗ này, không còn nơi nào khác nhắc đến Gamaliel, trừ một vài chỗ trong các trước tác được viết ra hàng trăm năm sau của truyền thống Do thái giáo.
Nghĩa là nếu cứ theo lý luận cho rằng được viết ra muộn màng, và người viết không phải là nhân chứng vật chứng, để rồi kết luận Gamaliel không có thực thì, chúng ta sẽ trả lời sao với các người Do thái ngày nay ?
Đối với truyền thống Do thái, Gamaliel là một khuôn mặt kiệt xuất. Người Do thái nhận định về ông rằng:"Ngày ông mất đi, lòng kính trọng sách Luật ( = Kinh Thánh) không còn, và sự tinh sạch cũng như lòng đạo đức cũng tàn lụi theo ! - When he died the honor [outward respect] of the Torah ceased, and purity and piety became extinct" (Sot.ah xv: 18 )
Vậy mà ông không hề được ai nhắc đến.
Lẽ ra sử gia Do thái Josephus phải nhắc tới ông trong tác phẩm của mình mới là phải lẽ. Mà tên ông cũng không tìm thấy trong một hàng nào của Tacitus, Plutarch, Quintillian, Seneca, Pliny, Juvenal, Arrian, Petronius, Appian, Lucanus, Silius Italicus, Ptolemy....
Lại càng không thể cho rằng người Do thái đã bịa ra nhân vật này. Không, ông chính là ông nội của Gamaliel of Jabneh, còn gọi là Gamaliel Trẻ, người khai sáng ra trường phái Jabneh, là trung tâm của truyền thống Do thái Giáo và các khảo cứu về Do thái giáo sau khi Đền thờ bị phá hủy.
Ông lại là hậu duệ của Hillel, người sáng lập ra trường phái Hillel, một trong hai trường phái lớn, đối nghịch với trường phái Shammai, trong cách chú giải Luật .
Vậy nếu không thể nghi ngờ về sự hiện hữu của Gamaliel, mà ông này lại làm chứng cho Đức Giêsu, thì câu kết luận hẳn sẽ là hiển nhiên .
H-
Một vài sự kiện trong Tin Mừng cho phép chúng ta kết luận sách Tin Mừng đáng tin. Nghĩa là chúng chứa đựng những chi tiết về việc thật người thật .
1- Tác giả Tin Mừng thứ ba là Luca. Ngài cũng là tác giả của cuốn Tông Đồ công vụ. Đây là điểm đặc biệt: Luca không chỉ là một sử gia, mà còn là một sử gia cẩn thận. Ngài viết:
“Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta.2 Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta.3 Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài,4 mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc.” (Lc 1,1-4)
Đoạn mở đầu này được viết bằng một văn phong Hy Lạp cổ điển, như văn phomg của các sử gia Hy lạp nổi tiếng khác thường dùng. Sau đoạn mở đầu này, Ngài chuyển sang một lối văn thông dụng và bình dân hơn.
Nhưng nội dung đoạn văn ngắn này đã đủ để nói lên cho độc giả biết điều Ngài nhắm tới khi viết tác phẩm này. Để được thế Ngài đã tìm tòi tra cứu sâu xa tận nguồn là các nhân chứng mục chứng.
Dĩ nhiên Luca không phải là mục chứng cuộc đời Đức Giêsu. Nhưng vào đầu chương 16 cuốn Tông Đồ công vụ do ngài viết ra, sau khi kể rằng Phaolô đã tới Troas (bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) người kể chuyện đột nhiên chuyển sang danh xưng ngôi thứ nhất số nhiều:
“Ban đêm, ông Phao-lô thấy một thị kiến: một người miền Ma-kê-đô-ni-a đứng đó, mời ông rằng: "Xin ông sang Ma-kê-đô-ni-a giúp chúng tôi! "10 Sau khi ông thấy thị kiến đó, lập tức chúng tôi tìm cách đi Ma-kê-đô-ni-a, vì hiểu ra rằng Thiên Chúa kêu gọi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho họ.
11 Xuống tàu ở Trô-a, chúng tôi đi thẳng đến đảo Xa-mốt-ra-kê, rồi hôm sau đến Nê-a-pô-li.12 Từ đó chúng tôi đi Phi-líp-phê là thị trấn quan trọng nhất trong hạt ấy của tỉnh Ma-kê-đô-ni-a, và là thuộc địa Rô-ma. Chúng tôi ở lại thành đó mấy ngày.13 Ngày sa-bát, chúng tôi ra khỏi cổng thành, men theo bờ sông, đến một chỗ chúng tôi đoán chừng có nơi cầu nguyện. Chúng tôi ngồi xuống nói chuyện với những phụ nữ đang họp nhau tại đó.” (TđCv 16:11-15)
Khi người viết xưng “chúng tôi”, thì chúng ta hiểu rằng chính tác giả, người kể chuyện và viết lại cuốn Tông Đồ công vụ, đã cùng đi với Phaolô trong những cuộc hành trình truyền giáo ấy.
Câu chuyện được kể tiếp tục như thế cho đến chương 21, tác giả - nghĩa là Luca - cùng với Phaolô về lại Giêrusalem. Như thế họ có dịp gặp được các nhân chứng mục chứng của Đức Giêsu. những người như các bà Gioanna, Suzanna, Mary Magdala, Maria mẹ ông Giacôbê, và nhất là “Maria, Mẹ Chúa Giêsu.” mà Luca tiếp tục nhắc đến trong cuốn Tin Mừng theo Luca của Ngài .
Colin Hemer, trong cuốn The Book of Acts in the Setting of Hellenistic History. ed. Conrad H. Gempf, Wissenschaftliche Untersuchungen zum Neuen Testament 49 (Tübingen: J. C. B. Mohr, 1989), chương 4-5 đã cẩn thận duyệt qua từng chi tiết mà Luca ghi lại một cách chính xác, từ những nhân vật địa phương cho tới từng thành phố đường phố mà Luca đã từng qua, từ những chuyến hải hành của đoàn thương thuyền Alexandria dọc lên bờ biển Địa trung hải để kết luận cho chúng ta thấy rằng Luca là một sử gia hạng cừ khôi. (Xin đọc thêm các bài “Những cuộc hành trình truyền giáo của Phaolô”.)
Ông đã đồng thuận với nhận định của William M. Ramsay, trong cuốn The Bearing of Recent Discovery on the Trustworthiness of the New Testament (London: Hodder & Stoughton, 1915), trang 222, “Luke is a historian of the first rank . . . . This author should be placed along with the very greatest of historians."
Nhất là giáo sư A. N. Sherwin-White, trong cuốn Roman Society and Roman Law in the New Testament (Oxford: Clarendon Press, 1963), các trang 188-191, đã phải viết: "For Acts the confirmation of historicity is overwhelming. Any attempt to reject its basic historicity even in matters of detail must now appear absurd.”
Nếu điều ấy đúng cho cuốn Tông Đồ Công Vụ thì lịch sử tính của sách Tin Mừng theo Luca, cùng một tác giả, hẳn là khó mà phản bác được.
I-
Một đôi chi tiết ngay trong các sách Tin Mừng chứng minh cho ta thấy lịch sử tính của Đức Giêsu .
Đức Giêsu tự ý thức mình là “Con Thiên Chúa”.
Nhiều nhà phê bình tận căn cho rằng sau khi Đức Giêsu chết rồi, các tín hữu tiên khởi mới tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, chứ Đức Giêsu, như được miêu tả trong sách Tin Mừng, không hề cho rằng mình là Con Thiên Chúa.
Giả thiết này không thể đứng vững, vì là những người Do thái giáo chân truyền trước khi tin vào Đức Giêsu, họ không thể gán cho một con người mà họ từng biết là “Con Thiên Chúa” nếu như chính người đó không tự xưng là thế.
Đối với Do thái giáo, là một tôn giáo độc thần, Thiên Chúa là Duy Nhất.
Các tín hữu đầu tiên khó mà hiểu và tin được Đức Giêsu là “kurios – Chúa” nếu điều ấy đã không thực sự bắt nguồn từ chính lời Ngài phát ngôn .
Cả ngay khi Ngài còn sống, trước đông đủ Hội đồng cộng toạ (Synedrin), “khi mọi người hỏi: “"Vậy ông là Con Thiên Chúa sao? " Người đáp: "Đúng như các ông nói, chính tôi đây." (Lc 22,70-71), Ngài đã bị coi là phạm thượng rồi.
Lại càng khó xảy ra hơn nữa, nếu giả thiết chính các tín hữu đầu tiên bịa ra “con người Giêsu” rồi lại gán cho Ngài đã tự xưng mình một cách phạm thượng rằng “mình là Con Thiên Chúa”.
Đơn giản là họ không thể, không dám nghĩ đến điều quái đản so với đương thời ấy.
Khai triển thêm dòng tư tưởng này, chúng ta có thể trưng ra bằng cớ sau:
Trong dụ ngôn ông chủ vườn nho sai con mình đi thu tiền thuế, bị bọn thợ giết đi. Ai cũng hiểu rằng Ngài ám chỉ mình chính là người Con ấy và Thiên Chúa là người chủ vườn nho.
Đến khi Ngài cho biết: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” (Mt 11,27)
Nếu Giáo hội biạ ra Đức Giêsu, là Đấng Sáng lập, thì phải “biết” Ngài chứ, tại sao cộng đoàn tín hữu đầu tiên, giáo hội sơ khai ấy lại đặt vào miệng Đấng mình biạ ra một câu làm giảm uy tín của mình như thế ?
Nhất là sau đó Đức Giêsu còn nói về ngày thế mạt rằng: “Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi.” (Mt 24,36) thì rõ ràng chi tiết này minh chứng quả thực có một con người Giêsu bằng xương bằng thịt đã từng nói câu này.
Vì không thể nào các tín hữu đầu tiên, hay giáo hội thời sơ khai, nếu quả thật đã bịa ra Đấng Sáng Lập, mà lại “vụng về” hay “cả gan” gán cho Đấng Sáng Lập của mình một sự thiếu kiến thức như thế!
Con Thiên Chúa mà lại không biết điều ấy sao?
K-
Nhà cháu cảm thấy lý chứng thú vị nhất để chứng minh Đức Giêsu có thật trong lịch sử lại là cái mộ trống của Ngài.
Mà nói đến sự kiện Đức Giêsu sống lại, chúng ta lại đụng chạm đến nhiều ý kiến hoặc phản bác, cho rằng không hề có sự sống lại, hoặc giảm thiếu tầm quan trọng của lịch sử tính của sự kiện sống lại trong niềm tin Kytô giáo.
Nhà cháu muốn nhấn mạnh rằng đức tin của chúng ta dựa vào một sự kiện lịch sử: đó là sự kiện Đức Giêsu sống lại.
Và nhà cháu dùng từ “sự kiện”, theo nghĩa là c’est un fait historique, a historical fact ! để nhấn mạnh rằng Đức Giêsu đã chết thật sự và đã sống lại thực sự.
Không phải ai cũng chấp nhận như thế đâu: Nhiều người cho rằng niềm tin hậu phục sinh nảy sinh từ một niềm xác tín chủ quan, hay do một cảm nghiệm thiêng liêng cá nhân nào đó chứ không hề bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ vật lý bằng xương bằng thịt với Đức Kytô sống lại!
Thái độ này do nhiều nguồn gốc, mà
một là cách tiếp cận thần học của chủ trương giải huyền thoại của Bultmann,
và hai là do chủ trương duy lý, cho rằng niềm tin không chấp nhận những gì là mầu nhiệm hay siêu nhiên. Tôi chỉ tin những gì cắt nghĩa được!
Toàn thể các thái độ ấy đều hàm ngụ rằng : Đức Kytô của đức tin không phải là Đức Kytô trong lịch sử.
2.
Vả lại, sự kiện sống lại không thể được xem xét như một biến cố riêng lẽ. Muốn hiểu thấu đáo một sự kiện đặc biệt chừng đó lại mang nhiều ý nghĩa siêu hình và chất chứa sức mạnh cứu rỗi, chúng ta phải hiểu biến cố ấy trong toàn bộ nhiệm cục Cứu chuộc.
Thiếu cái nhìn tổng quát này, hay chỉ nhấn mạnh vào đức tin hậu phục sinh, mà ít chú trọng đến chính sự kiện sống lại, thì đó là một thái độ thiếu sót và có thể nói là phản lịch sử.
Chính Đức Kytô đã cho ta bài học này khi Ngài đi trên đoạn đường về làng Emmaus :
“Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.” (Lc 24:25-27)
Ngài không bận tâm phân tích sự kiện cái mồ hôm qua Ngài đang được an táng mà nay chỉ còn trống không, hay phân tích những lời báo tin hay làm chứng của các bà sáng ngày đầu tuần. Ngài chỉ chú giải Cựu Ước để giúp các môn đồ hiểu những gì xảy ra mấy ngày vừa qua tại Giêrusalem!
Sau khi đã nhấn mạnh thế rồi, bây giờ chúng ta nhờ một người nói hộ chúng ta.
Ông này ban đầu chẳng thích gì những tín hữu của Ông Giêsu. Không những không thích mà còn giết hại họ. Như thế rõ ràng ông ta không hề có chút thiên kiến nào.
Ông viết:
“Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh,4 rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.5 Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai.6 Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ.7 Tiếp đến, Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ.8 Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.” (1 Co 15,3-8)
Đoạn văn này được viết khoảng năm 57 Công nguyên, nghĩa là chỉ sau cái chết của Đức Kytô chưa đến 30 năm. Như thế đây là một lời chứng về Đức Kytô và sự sống lại của Ngài cổ xưa nhất mà chúng ta có được.
Chúng ta thử so sánh với những người và các vụ việc vào tháng 4 năm 1975 đến nay . Hẳn là những người và việc xảy ra trong những ngày ấy còn rất sống động. Và nhiều người, rất nhiều người hiện đang còn sống. Nếu chúng ta có kể chuyện sai lạc, thiếu gì người sẽ lên tiếng phản bác...
Chả nói chi đâu xa, những kỷ niệm về những ngày tháng sống trong TCV SB từ năm 1963 đến nay, 43 năm, vậy mà nhà cháu vẫn nhớ như in trong đầu. Có ghi lại sai sót điều chi, nhiều bác sẽ lên tiếng cải chính liền liền ...
Ông ấy là Phaolô.
Khi nói về sự kiện sống lại, ông nhắc tên Phêrô, rồi Giacôbê, rồ nhóm Mười Hai, nghĩa là các nhân chứng mục chứng hàng đầu, hiện đang còn sống . Không những thế còn có đến gần 500 ngừời đã tiếp xúc được với Đức Giêsu sống lại.
Nhà cháu không muốn nhắc lại đây các sư kiện khác mà các bác biết rồi, như là:
Sự kiện thứ nhất: Sau khi chết trên thập tự, Đức Giêsu được Giuse người làng Arimathia an táng. Nghiã là cả những người Do thái không tin Ngài, hay các tín hữu đầu tiên, ai cũng có thể kiểm chứng nơi chôn cất Ngài.
Điều đó cũng có nghĩa là, nếu quả thực Ngài không hề sống lại thì làm sao mà dám rao giảng rằng Ngài đã thực sự sống lại, khi mà người ta có thể tới cái mồ ấy để kiểm tra cái xác chết có còn nằm tại đó hay không.
Sự kiện thứ hai: Vào sáng ngày đầu tuần, sự kiện cái mồ trống rỗng là do các bà phát giác đầu tiên và về kể lại. Thời đó, trong xã hội do thái, lời nói làm chứng các phụ nữ không đáng tin, không đáng giá trước toà. Nếu nhóm tín hữu đầu tiên biạ chuyện, thì họ chẳng thể nào trao một trọng trách quan yếu như thế vào miệng mấy phụ nữ được.
Sự kiện thứ ba: Trong nhiều dịp khác nhau, và nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều cá nhân và nhiều nhóm người đã gặp thấy Đức Giêsu sau khi sống lại. Ít ra là Phêrô và các tông đồ. Đoạn văn trên của Phaolô đã kể lại điều đó. Và kể lại như một sự kiện có thực mà niền tin của ông dựa vào như là một chứng cớ bất khả bác.
Sự kiện thứ tư: Các môn đồ mục chứng ban đầu cũng phải tin rằng Ngài đã sống lại tuy họ có đủ các lý do để không tin như thế . Là người Do thái, họ chưa từng nghe thấy có ai sống lại trước giờ . Họ đã nản lòng bỏ cuộc trở về nhà như hai môn đệ làng Emmaus (Lc 24). Bà Maria Magdala thì hoàn toàn không nghĩ ra được Giêsu đã sống lại mà cứ cho rằng đó là người làm vườn (Ga 20,13). Phêrô nghe tin báo mồ trống, thì không tin, ông phải chạy đến tận nơi xem xét. Còn Gioan chỉ tin, sau khi đã xem xét cẩn thận khăn liệm và vải liệm được xếp gọn cẩn thận (Ga 20,5-8).
L-
Để kết thúc cho loạt bài này, nhà cháu nhắc lại đây câu chuyện Đức Giêsu chìa tay cho Thomas và giục ông: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." (Ga 20:27 )
Không chỉ đưa tay cho Thomas, mà Ngài còn giơ tay cho các tông đồ để chứng thực sự kiện. Ngài còn ăn cả cá nướng :
“Người nói: "Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực?39 Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây? "40 Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem.41 Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: "Ở đây anh em có gì ăn không? "42 Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng.43 Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông.” (Lc 24,38-42)
Đức Kytô phục sinh đích thân tìm tới với các tông đồ, và đưa ra bằng chứng Ngài có thật (dĩ nhiên) và sống lại thật. Ngài không ngại trưng ra một chứng cớ.
Như thế hệ luận thần học chúng ta rút ra được rõ ràng là “đức tin ban đầu là một xác tín dựa trên một sự kiện, một điều có thực trong lịch sử. Đức tin không dựa trên một huyền thoại hay một khái niệm, một ý tưởng do các tông đồ nghĩ ra hay do các tín hữu tiên khởi bịa ra trong những ngày đầu hoang mang tại Giêrursalem, để bù đặp nỗi trống vắng do cái chết của Đức Giêsu để lại”
Đấy không phải là lời của nhà cháu, mà là ý của ĐGH Gioan Phaolô đệ Nhị trong bài nói chuyện ngày mồng Một tháng Hai năm 1989, đoạn 1.
Ban đầu các tông đồ không dễ dàng nhìn nhận như thế, nghĩa là không dễ tin Đức Giêsu đã sống lại. Phải cần một thời gian sửng sốt, thậm chí có người hoài nghi – câu Kinh Thánh nói rõ: “các ông còn chưa tin” - và rồi, khi không thể phản bác được sự kiện sờ sờ trước mặt là Đức Kytô đang ở giữa họ, đang giơ tay bị đâm thủng cho họ, đang ăn cá nướng kia, thì họ mới chịu tin ...
Karl Adam trong cuốn The Christ of Faith, London (1956), trang 350, nhận xét dùm chúng ta rằng các tông đồ đã có niềm tin sau khi kiểm chứng bằng các giác quan của con người mình. Họ đã nghe, thấy, rờ, và ngửi được mùi cá nướng Ngài nhai: “The disciples do not hand down their testimony of the Transfigured One from hearsay, or from some occult proceedings; they have themselves consciously seen him, heard him and touched him. They have learned of his resurrection by way of sober sense perception, which is the only guarantee of genuine objective empirical knowledge."
Và đức tin của chúng ta hiện nay là đức tin đã được nghe và tuyền lại từ đức tin của các tông đồ ấy. Đức tin ấy lại đã dựa trên sự kiện lịch sử - sự kiện sống lại của một con người lịch sử là Đức Giêsu Kytô làng Nagiareth.
Có vậy họ mới đành chấp nhận chết cho điều tai đã nghe, mắt đã thấy!
***
Không nói thì các Bác cũng nhận thấy ngay rằng loại bài vừa rồi chỉ là lục lọi lại tài liệu cũ, nhớ đến đâu ghi ra đến đấy. Không có trật tự, và còn nhiều thiếu sót.
Dĩ nhiên còn nhiều bằng chứng hùng hồn khác, mà vì năng lực kém cỏi chăng biết mà trưng ra đây.
Nhưng ít ra các bác có thể coi đây là điểm khởi đầu.
Nếu các Bác muốn có những chứng cớ tường tận hơn, thì nên:
1 - Đào sâu thêm cuộc tranh luận về tính khả tín của đọan văn chứng cớ của Tacitus, của Josephus.
2- Khai triển thêm những chứng cớ của lịch sử tính các sách Tin Mừng. Từ những lý thuyết về cách thành hình văn bản, lý thuyết về Nhất lãm , về hai Nguồn, ba Nguồn, nguồn Q, và nguồn Tin Mừng Matthêu Aram, tới những bản chỉ thảo còn lưu lại, các codex nổi tiếng như codex Vaticanus, Sinaiticus..
3- Chứng cớ từ Phaolô và các thư của Ngài.
4- Chứng cớ từ ảnh hưởng của Ngài trên đời sống xã hội và văn hoá, văn minh của toàn thế giới.
5- Chứng cớ từ các nhà tuẫn giáo.
6- Chứng cớ từ những khuôn mặt khả ái như Mẹ Têrêsa...
7- Và chứng cớ cuối cùng, quan trọng nhất cho bạn, là chính... bạn.
Nếu đời sống chúng ta chưa đủ sức thuyết phục kẻ khác tin rằng thực sự có Đức Kytô trong lịch sử, thì do lỗi của chúng ta một phần không nhỏ.
Những người công kích niềm tin Kytô giáo như Cascioli hay Dan Brown quấy rầy chúng ta đã đành, mà nhà cháu thiết nghĩ, chính Đức Kytô quấy rầy chúng ta nhiều hơn.
Ngài không để chúng ta yên trong hiện trạng: “Cha Ta và Ta làm việc không ngừng”...
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.