View Full Version : Linh đạo Xi-tô và tinh thần Khổng giáo
admin
17-05-2006, 06:18 PM
LINH ĐẠO XI-TÔ VÀ TINH THẦN KHỔNG GIÁO
DẪN NHẬP
Chúng ta ai cũng đã có dịp quan sát một cánh chim bay trên bầu trời, ngang qua chỗ mình đứng. Thực tế đã có đường bay của một con chim, nhưng đồng thời cũng chẳng còn lại một con đường nào của nó cả, khi chim đã bay qua.
Lại có dịp quan sát một con tàu rẽ sóng ra khơi; ai trong chúng ta chỉ được tàng tích cho một người khác thấy vết đi của tàu trên nước từ hôm qua? Cũng vậy, cuộc sống con người là một dòng chảy luôn luôn thay đổi và luôn có đó như một hành trình tiến đến hoàn thành. Con đường mà con người phải đi đến, nó vừa rất đẹp của những sờ đụng cụ thể; nhưng đồng thời cũng vừa cao siêu do cảm nghiệm của những khát vọng tuyệt đối đem lại. Nói cụ thể hơn, đây là một hành trình được xây nên bởi hoàn cảnh “văn hóa” và “Niềm tin” của con người sống trong đó. Chúng ta không thể phủ nhận đường bay của một con chim bay; và cũng chẳng thể chối từ được đường rẽ sóng của một con tàu vừa mới ra khơi; vì chúng ta dõi mắt được theo nó. Cũng vậy, trong hành trình của cuộc sống con người, cái mà chúng ta như thể sờ đụng đến cách cụ thể, đó là “Văn hoá” nơi mỗi cuộc sống của họ.
Trong môi trường văn hoá này, từng cuộc sống của con người đã ngang qua nó để về chung kết cuộc đời. Ở trong đó, nó còn cái gì cao vượt sự đụng chạm của khả năng thực nghiệm. Người ta cứ sống và nhờ nó như một động lực không thể thiếu: Niềm Tin.
Cụ thể, cuộc sống của một Đan sĩ cũng vậy. Họ cũng luôn sống và hoàn thành cuộc đời trần thế với cái gì rất cụ thể và rất đẹp; nhưng đồng thời cũng chính ở trong đó họ không thể không nhờ động lực niềm tin đưa dẫn. Đặc biệt, với danh nghĩa là Đan sĩ Xi-tô Việt Nam; xem ra hai thực tại này đã rõ ràng có giới hạn của nó -Văn hóa và Niềm tin – đồng thời, nó cũng không thể tách rời nhau trong cuộc sống của họ. Thực tế của sự quyện hợp này trong cuộc sống của Đan sĩ, có thể có nhiều cách gọi tên; nhưng với Ki-tô đạo, người ta gọi tên nó là: “Linh đạo”.
Vậy, con đường mà được gọi tên với chiều kích siêu việt ở trên- không gì khác – nó chính là “Văn hóa” giao duyên với thực tại niềm tin của một con người trong cuộc sống. Vậy, chúng ta có lý do để tìm hiểu chữ “Đạo” của cuộc sống Đan sĩ Xi-tô Việt Nam hôm nay với Tinh Thần Khổng giáo trong đó.
Đề tài sẽ được tìm hiểu qua:
Tinh Thần Khổng giáo
Linh đạo Xi-tô Việt Nam
Và cuối cùng là sự giao duyên giữa Linh Đạo Xi-tô Việt Nam với Tinh Thần Khổng giáo trong cuộc sống người Đan sĩ Xi-tô Việt Nam hôm nay.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 06:26 PM
I. TINH THẦN KHỔNG GIÁO
1. Thân thế và sự nghiệp của Khổng Tử
Khổng Tử sinh năm 551 và qua đời năm 479; tên thật là Khâu, tự là Trọng Ni. Ông được sinh ra tại nước Lỗ –nơi bảo tồn được nhiều di sản văn hóa nhà Chu. Thời đại của ông là thời “vương đạo” suy vi, “bá đạo” nổi lên; chế độ tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo lý suy đồi. Vua chúa các nước chư hầu tranh dành nhau, chiến tranh gây nên đau thương cùng cực cho bằng dân thiên hạ. Khổng Tử muốn đem tài sức của mình ra giúp vua, chủ trương lập lại trật tự lễ nghĩa nhà Chu. Nhưng không được vua nước Lỗ trọng dụng, ông bỏ nước Lỗ đi đến các nước chư hầu khác trình lên các vua phương sách trị nước của mình, mong chấn chỉnh lại trật tự xã hội. Nhưng không được vua nước nào trọng dụng, càng cuối đời, ông càng thấy bất lực trong công việc chính trị, ông đành về lại nước Lỗ mở trường dạy học và viết sách. Trong quá trình dạy học ông đã đào tạo được hàng chục nhà Nho học nỗi tiếng sau này. Đặc biệt, ông đã san định các kinh quan trọng trong nền di sản tư tưởng văn hóa, triết học của Trung Quốc đó là: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và soạn ra kinh Xuân Thu. Sau này học trò của ông đã gi chép các lời Thầy dạy: giáo huấn của ông và kết thành cuốn Luận Ngữ; đây là cuốn sách quan trong để tìm hiểu nghiên cứu về Khổng giáo.
Đương thời, Khổng tử không thành công trên đường chính trị, nhưng trên lĩnh vực giáo dục ông được nhân dân Trung Quốc xưng tụng một danh hiệu vô cùng cao quý : “Vạn thế sư biểu” (vị thầy tiêu biểu của mọi thế hệ).
Hôm nay, thế giới vẫn xem Khổng tử là nhà giáo dục vĩ đại, phương pháp giáo dục của ông vẫn mang giá trị nhất định. Đến thời nhà Hán tư tưởng của ông đã giúp duy trì được sự ổn định chíng quyền. Tư tưởng của ông không chỉ có giá trị đối với nhân dân Trung Quốc mà nó còn ảnh hưởng sâu đậm đến nhiều nền văn hóa khác trên thế giới, đặc biệt với các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam chúng ta[1].
2. Tinh Thần Khổng Giáo qua đạo Hiếu và Lễ nghi
Hầu hết các nhà nghiên cứu Nho Giáo đều thừa nhận học thuyết đạo đức, chính trị xã hội của Nho gia rất phong phú. Trong đó có hai Đức được xem là hạt nhân chính yếu của Nho giáo: Đức nhân – Lễ.
a. Đức Nhân
Khổng tử đã bàn rất nhiều về Đức Nhân , chính ông đã đưa vào trong đó một nội dung vô cùng phong phú. Vì thế mà người ta vẫn thường nói: người có đức nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện. Nhân là nghĩa rộng nhất của đạo làm người. Đạo làm người có hàng trăm hàng vạn đường, song theo Nho giáo, chung quy lại là những điều đối với chính mình và những điều đối với tha nhân.
Đối với mình, trong sách luận ngữ có viết: “Trước hết chính mình phải làm những việc khó, sau đó hưởng thành quả, như thế mới được gọi là Nhân”[2]. Nơi khác ông lại nói: “Người có đức nhân là người tề chỉnh; rộng lượng khoan dung, tín đức, lònh thành, siêng năng, cần mẫn, bố thí, thi ân”(Luận Ngữ Thiên Dương Hóa). Nghiêm trang tề chỉnh khiến người ta không giám khinh nhờn; rộng lượng khoan dung khiến người ta thu phục; tín đức lòng thành khiến người ta tin cậy ; thi ân bố đức sẽ làm người khác bị sai khiến; cần mẫn và siêng năng sẽ đem lại nhiều điều bổ ích.
Đối với tha nhân; nguyên tắc suốt đời người có đức phải là “ái nhân”. Khổng tử dạy : “Người Nhân muốn tự lập lấy mình thì cũng phải lo lập cho người; muốn thành đạt cho mình thì cũng phải lo thành đạt cho người. Người Nhân ứng xử với mình thế nào thì cũng phải ứng xử với người như vậy” (LN, Thiên Ung Dã).
Đánh giá về vai trò của đức nhân, Khổng tử cho rằng: “Nếu tâm của con người luôn hướng về Đức Nhân thì không bao giờ con người nghĩ đến chuyện phản loạn, miệng không nói những điều xằng bậy và thân không dấn vào việc ác tà” (LN Thiên Lý Nhân). Như vậy, Nhân là Đức quan trọng nhất, là cơ bản nhất của Nho Giáo, song có thể nói: đức nhân chỉ dừng lại ở nguyên tắc phổ quát. Cái cụ thể của Đức nhân chính là đạo Hiếu.
Chữ Hiếu được người Trung Quốc nói đến rất sớm. Trước thời Khổng tử người ta đã đã đề cập đến chữ Hiếu như là quan hệ giữa người với người; nó là sợi dây nối liền bề dưới với bề trên, nối liền con người với tổ tiên, thần thánh. Đến thời Khổng Tử chữ Hiếu được nâng lên như chuẩn mực đạo đức. Theo ông, Hiếu có lúc là cội nguồn của Nhân và có lúc Hiếu với Nhân là một. Luận ngữ có viết: bậc quân chủ luôn chú vào việc gốc. Cái gốc vững vàng thì đạo lý từ đó mà sinh ra. Hiếu đễ là cái gốc của Đức Nhân đó chăng? (Ln Thiền Học Nhi). Hiếu theo Khổng tử còn được coi là vô vi vô cải.
Vô vi là phụng sự cha mẹ không trái với Lễ. Sách Luận Ngữ chép: “Mạng Ý Tử hỏi về Hiếu , Khổng tử đáp: Đó là vô vi; Khổng Tử giải thích thêm: Phận làm con, khi cha mẹ còn sống phải phụng dưỡng cha mẹ theo Lễ, khi cha mẹ qua đời phải chôn cất theo Lễ, khi thờ cúng phải theo Lễ”(Ln, Thiên Vi Chính). Theo Lễ trước hết phải có tâm, phải có lòng thành. Khổng tử nói: Đời này hễ thấy ai nuôi được mẹ cha thì người ta khen là có hiếu, nhưng những giống cầm thú người ta cũng nuôi chúng vậy. Khi nuôi cha mẹ mà không kính trọng thì có gì để phân biệt với việc nuôi cầm thú này”(…).
Vô cải là nối chí, nối nghiệp cha mình, rồi khi cha mất phải xem cái chí của cha, khi cha mất phải làm việc của cha, để ba năm không được đổi hướng việc làm ấy… (Ln, Thiền Học Nhi).
Có thể nói, Hiếu theo Khổng tử là phục tùng không điều kiện, đó là bổn phận làm con đối với cha mẹ.[3]
Như vậy, Nhân là Đức cao quý của con người, và nguồn gốc của Nhân lại chính là Hiếu, hay nói một cách cụ thể, đức Nhân chính là Hiếu.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 06:27 PM
b. Lễ
Nhiều học giả am hiểu về Khổng Giáo đã cho rằng, Nhân và Lễ là hai đức hay hai thực thể không tách rời nhau. Nhân là nội dung, còn Lễ là hình thức để biểu hiện nội dung ấy. Lễ theo nghĩa chung nhất của Khổng giáo thì chính là cái định ra sự phân minh trong trật tự xã hội, trật tự gia đình, cũng là cái định sự phân chia trong giao tiếp: không có lễ không thể thờ thần của trời đất cho đúng thứ bậc; không có lễ không thể phân biệt vua – tôi, trên- dưới, lớn- bé, không thể phân biệt được tinh thần trai gái, cha, con trong xã hội được (Lễ Ký, Ai Công Vân). Với quy định hết sức chặt chẽ và tỉ mỷ cho mọi hành vi, hành động và đồ dùng trong cuộc sống, lễ từng ngày từng giờ tác động đến tâm tư tình cảm của con người, góp phần tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi. Nhờ có sự quy định của lễ, trật tự xã hội được thiết lập, bổn phận của mỗi người được phân minh, người ta sống đúng bậc mình, làm đúng việc mình… Như vậy , trong gia đình cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, ngoài xã hội vua ra vua, tôi ra tôi…vậy là chính danh định phận.
Lễ đóng vai trò quan trọng trong việc kìm hãm đam mê của cá nhân. Khổng tử nói: “Tính của người bình thường không thì xa xỉ, thiếu thì hạ tiện, không ngăn cấm thì dâm đảng, không có tiết độ thì phạm sai lầm, để buông thả lòng dục thì hư hỏng. Cho nên ăn uống phải có hạn lượng, mặc phải có tiết chế, ở phải có tiết độ, có pháp độ, đồ đạc xe cộ phải định mức. Đấy là để phòng nguồn loạn” (Khổng tử, tập ngữ, chương Tề Hầu Vấn).
Với những công dụng như vậy: “Lễ ngăn cấm điều tà đạo, từ khi nó chưa hình thành, lễ giúp con người tiến gần điều thiện, tránh xa điều ác mà bản thân con người không biết” (Lễ Ký, chương Kinh giải). Để giải thích cho sự tồn tại của lễ là phù hợp quy luật khách quan. Tuân tử cho rằng: “Trời đất là nguồn gốc của sự sống, tổ tiên là nguồn gốc của giống nòi, vua và thầy là nguồn gốc của bình, trị. Không có trời đất thì sự sống ở đâu mà có? Không có vua, thầy thì bình trị ở đâu mà được thiết lập? Vì vậy, muốn yên, trên thì thờ trời, dưới thờ đất, tôn kính tổ tiên, kính trọng vua, thầy, đó là gốc của lễ” (…).
Đối với Khổng giáo, đức Nhân là cao quý nhất của con người; là đức mà con người không ngừng phải vươn tới. Thế nhưng, yếu tố quan trọng nhất để thực hiện đức Nhân đấy chính là làm mọi việc cho đúng lễ.
3. Giá trị của Khổng giáo trong xã hội hôm nay
Tư tưởng đạo đức của Nho giáo đã ảnh hưởng hầu như toàn bộ Châu Á, đặc biệt các nền văn hóa Đông Á, như Nhật, Nam Triều Tiên, Việt Nam.Các nước này đã chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo cách sâu đậm.
Vì vậy, dầu hôm nay, thể chế chính trị phong kiến - vua tôi - không còn nữa thì học thuyết chính danh của Nho gia vẫn có giá trị nhất định, vẫn chi phối các mối quan hệ trong gia đình, trong xã hội. Học thuyết về “Ngũ Luân” (năm mối quan hệ cơ bản trong xã hội: vua-tôi, vợ-chồng, cha-con, anh-em, bạn-bè), “Ngũ Thường” (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), nếu bỏ đi một số nội dung không hợp thời thì tư tưởng, đạo đức của học thuyết vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục, duy trì tôn tri trật tự trong gia đình và xã hội.
Có thể nói, học thuyết “Ngũ Luân”, “Ngũ Thuờng”của Nho gia được xem là một trong những học thuyết có giá trị giáo dục nhân bản sâu sắc và toàn diện nhất.
Xã hội hôm nay, có lắm điều chướng tai gai mắt, tôn tri trật tự đã nhường chổ cho sự hổn loạn, chuẩn mực đạo đức trong giao tiếp đã bị xem nhẹ. Những nhà làm giáo dục cần hết sức quan tâm đến phương pháp giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ; phải chăng những tinh tuý trong tư tưởng, đạo đức của Nho gia chúng ta đã không lấy làm quan trọng đủ, nên hậu quả vô đạo đức trong xã hội đã là điều tất yếu không tránh khỏi! Điều này, thực tế xã hội Việt nam đã để lại một giá cả đầy kinh nghiệm – kể cả trong lãnh vực tôn giáo: cái ruột là tin thần Nho giáo với một nếp sống bên ngoài đầy màu sắc Tây Âu. Thực trạng sống này, đã nói lên sự trục trặc đáng kể của cuộc sống con người Việt nam hôm nay. Cụ thể, thực trạng này nó cũng đã và đang bước mạnh vào vùng sống của các Đan sĩ Xitô: mặc dầu họ đã có linh đạo riêng xem ra rất Nho giáo.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 06:38 PM
II. LINH ĐẠO XI-TÔ VIỆT NAM
Mỗi con người ai cũng có một “con đường” sống riêng, nhằm để xây dựng cuộc đời của chíng mình. Đó là một điều kiện mà ai cũng phải chấp nhận nó, nếu muốn sống và tồn tại với xã hội. Lẽ thường, người ta ai cũng sẵn sàng chọn cho cuộc đời mình một phương hướng sống, hoặc là một kế hoạch cho cuộc sống, không ngoài mục đích là xây dựng đời sống thực tại của mình. Người ta phải thực hiện như thế, để cuộc sống được giàu hơn, ý nghĩa hơn và để cho mình có một vị trí trong xã hội: đó là điều không thể thiếu trong cuộc sống con người. Còn cao hơn nữa, ta xét về con đường đạo đức – niềm tin tôn giáo – thì họ không chỉ dừng lại ở kế hoạch, phương pháp cho cuộc đời, nhưng họ còn phải tiến sâu hơn vào thực tại sống đó là “đạo”. Đây cũng là một phần không thể thiếu khi nói về cuộc sống của con ngưòi. Phần này, nó là đường đi của con người để họ về với thế giới tâm linh của mình: linh đạo.
Linh đạo nói chung, nó chỉ là một con đường thiêng liêng trong phương hướng sống của con người, khi họ hướng về siêu nhiên. Nên khi ta đi vào chiều sâu, bề dày của lịch sử, hai chữ “linh đạo” nó là một kho tành tích trử từ các bậc tiền bối đã sống, đã để lại. Nó cũng là một truyền thống được rút ra từ cuộc sống của các bậc thầy - khi xét về mặt văn hóa. Nó sẽ còn là kim chỉ nam cho mọi thế hệ khác sống - khi xét về thực trạng nội dung chiều sâu của nó.
1. Khái niệm
a. Theo nghĩa tự, từ điển Tiếng việt cho biết: Chữ “linh” nghĩa là linh hồn người đã chết. Linh cũng có nghĩa là linh thánh, linh hướng, linh hồn và linh thiêng. Chúng ta thấy, người ta đã đặt nó vào một vị trí với những giá trị hoàn toàn về thiêng liêng. Nó không còn thuộc quyền kiểm soát của lý trí con người, với những kiến thức “trần gian”. Nó mang đặc tính của thực tại thần thánh. Tuy thế, nó cũng không xa lạ với thực tại sống của con người. Chính vì quan niện này, mà con người thừơng thắp lên những nén hương để cầu khẩn với những người đã khuất bóng : cuộc sống của những người đó, chúng ta vẫn thấy họ đang “là sống” với mỗi con người chúng ta.
Còn chữ “Đạo”, nó cũng có mang ý nghĩa rất vật chất – là con đường- sát với đời sống hàng ngày của con người. “Đạo” nghĩa là con đường. Nói đến cuộc sống của con người,là người ta nói đến “đi”; ai cũng phải có cho riêng mình một con đường để đi- dù đi xe hay đi bộ, dù đường trơn phẳnh hay đường gồ ghề. Nó như là một nguyên tắc mà con người có bổn phận phải gìn giữ và tuân theo trong cuộc sống xã hội. Xét theo nghĩa đen, chữ “đạo” là con đường, là cái cần cho cuộc sống tương quan giữa người với người. Nhưng, theo nghĩa ẩn thì nó là cả một giá trị cho nhân phẩm con người – đạo làm người, đạo vợ chồng, đạo con cái đối với cha mẹ, sống cho phải đạo.[4]
Vậy hai chữ Linh và Đạo ta ghép lại, nó sẽ có ý nghĩa khác hơn. Linh đạo là con đương thiêntg liêng. Khi chúng ta nói đến thiêng liêng, chúng ta nghĩ ngay đó là con đường trong niềm tin tôn giáo: Kitô hữu nghĩ về Thiên Chúa.Vâng, đó là xét theo nghĩa tự, còn xét bề dày của nó thì như thế nào; hay nói khác đi xét về truyền thống, chúng ta sẽ hiểu nó như thế nào?
b. Theo Truyền Thống
Giáo Hội Kitô giáo - những người theo niềm tin Kitô giáo - tin vào Đức Giêsu cũng đã có riêng cho mình một linh đạo :“ Linh đạo theo truyền thống của Giáo hội là con đường thiêng liêng phát xuất từ Chúa Thánh Linh. Và Giáo hội cũng ý thức rằng: chính Thánh linh đã tác động trên từng cuộc sống con người, để soi sáng hướng dẫn họ trong quá trình sống đạo làm con cái Thiên Chúa, theo gương Đức Giê su là lý tưởng và là đối tượng, để tham gia vào nước Thiên Chúa giữa trần gian”[5]. Nghĩa là trong chính cuộc sống của con người, ngay từ khởi thủy, con người đã được chúa Thánh linh chọn lựa giúp đỡ, và đến hôm nay Ngài vẫn tiếp tực công việc của Ngài như thế trong cuộc sống con người: hậu sinh có lý để noi theo cha ông. Cho đến hôm nay cuộc sống của Kitô hữu vẫn được Chúa Thanh linh đưa dẫn, để họ tiến gần Đức Giêsu trong bậc sống của mình. Chính nhờ chúa Thánh linh mà các đấng bậc thầy đã ghi chép, trối lại, viết ra những kinh nghiệm của cuộc sống của mình về Thiên Chúa – và những gì có thể đem lại lợi ích cho thế hệ mai sau, nhằm giúp họ nhận ra, tiếp cận với Thiên Chúa cách thân mật hơn.
Tóm lại, Linh đạo là con đường thiêng liêng, là kiểu nhìn Đức Ki Tô
sống với con người, bước theo con người, để con người làm theo lời Ngài dạy: sống theo Phúc Âm. Và tất cả các linh đạo của Kitô giáo đều phải đặt nền móng trên linh đạo cuả Đức Kitô. Mặc dù mỗi linh đạo có thể đào sâu và nhấn mạnh một khía cạnh nào đó của linh đạo Chúa Kitô , tùy theo xu hướng tâm linh hoặc nhu cầu Hội Thánh trong một hoàn cảnh nhất định.[6]
Sau khi chúng ta trình bày khái quát về khái niệm linh đạo qua vài nét chính. Sau đây, chúng ta tìm hiểu nét chính của đề tài: Linh đạo Xi-tô Việt Nam.
Linh đạo Xi-tô Việt Nam được cha Henri Thuận sống và để lại cho gia đình Xi-tô Thánh Gia Việt Nam hôm nay. Cha Henri Thuận là ai? Và linh đạo Xi-Tô Việt Nam được Ngài lập ra như thế nào?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 06:41 PM
Cha Henri Dernis Thuận, sinh ngày 17-8-1980, tại khu phố Chemin-vert, Nước Pháp. Lên tám tuổi ngài mất mẹ; năm chín tuổi học Giáo Lý Công Giáo. Hè năm 1893 ngài vào chủng viện. Ngày 3-7-1903 ngài sang Việt Nam. Năm 1913, làm Giáo Sư chủng viện An Ninh. Sau năm 1913, ngài có ý định lập dòng, và sau đó ý nguyện của ngài đã được Chúa chúc lành. Ngài mất năm 1933 [7]. Qua những nét tiểu sử vắn tắt chúng ta cũng đã thấy ngài có một động lực đặc biệt từ Chúa Thánh Thần. Chính vì thế, ngài đã thực hiện theo cách đặc biệt đó – là lập dòng Xi-tô Việt Nam. Vậy, lý do nào khiến cha Henri Thuận lập dòng? Sau đây chúng ta tìm hiểu thêm.
Đi tìm cho được cái lý do nguyên khởi của Đấng sáng lập dòng Xi-tô không phải là chuyện bình thường, là chuyện dễ; vì thực ra, đi tìm hiểu về cuộc sống của một con người là một công việc hàm hồ nhất: con người là một vũ trụ sống động. Ở đây chúng ta đi tìm hiểu cuộc sống của đấng sánh lập dòng Xi-tô cũng là điều vất vả không kém.
Chúng ta không thể quyết đoán một cách chắc chắn về ý định lập dòng của cha Henri Thuận theo kết quả của dư luận -sự thất bại hay do dự, tính hay thay đổi- như người ta đã có lần nói đến. Vì ngài đã có lần thú nhận: “Thời tiết ở đây cũng giống như con, nói đúng hơn, con như nó: khi vui khi buồn, hôm nay trời vui thì con vui, kỳ quá”[8].
Mặc dù ngài có tính hay thay đổi chăng nữa, cũng không thể việc lập dòng Xi-tô Việt Nam do sự nông nổi hay thay đổi ấy. Vì ngài đã kiên trì vượt mọi khó khăn để tạo một sự nghiệp, đúng theo lý tưởng của mình. Như thế , đây không phải là kết quả của sự nông cạn thiếu suy nghĩ mà chính là do sự đun đẩy, soi sáng của Thiên Chúa và do ý chí sắt đá của cha. Để cho nhận định chúng ta có căn bản, chúng ta xem ý tưởng lập dòng của ngài đã xuất hiện trong đời ngài mãnh liệt như thế nào. Ý định lập dòng của ngài được sáng lên qua các bức thư cha mẹ ngài đã viết cho cha bề trên Bernald Mendibour . Hai ông bà cho biết: “Trước khi qua Việt Nam, ngài đến từ giã chúng tôi lần sau hết và ngài tỏ ý tốt lành là muốn làm thầy dòng và giúp đào luyện thầy dòng Việt Nam”[9]. Chỉ một chứng từ trên, chúng ta cũng đủ hiểu con người của ngài đã từng nuôi ý định truyền giáo cho người Việt Nam, cho đất nước Việt Nam, qua việc lập dòng chiêm niệm.
Có lẽ chúng ta có thể nói được rằng : cha Henri sống trước Công Đồng Vatican II, nhưng đã nhìn thấy trước hướng đi của Giáo hội hậu bán thế kỷ 20.
Vì đối với cha Henri Thuận, “truyền giáo” không có nghĩa là đi chinh phục, hay thay đỗi một dân trí, một lối sống … nhưng phải học hỏi để làm sao gieo hạt giống Phúc Âm vào đúng chỗ của nó mà không cần biến đổi thửa ruộng thành một thứ “đất khác”. Học hỏi đối với ngài không phải là học để có bằng cấp nhưng là học ăn học nói, học gói học mở của người Việt nam; ngài học những cách sống của người Việt Nam tận đến máu huyết của họ; đó là tinh hoa của cuộc sống dân Việt.
Chính lẽ ấy, mà ngài đã để lại cho con cái sau này một kho tàng quý báu đó là: linh đạo Xi–tô Việt Nam. Linh đạo Xi-tô Việt Nam được thể hiện nơi cuộc sống của cha Henri Thuận thật tuyệt vời.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 06:50 PM
2. Linh Đạo Xi-Tô Việt Nam
Như đã trình bày ở phần khái niệm; linh đạo với Kitô giáo là con đường thiêng liêng dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Và bất cứ kitô hữu nào cũng đều có linh đạo. Nhưng vấn đề ở đây không phải đặt ra có linh đạo hay không, mà là ở cái giá trị của linh đạo ấy. Giá trị đích thực của linh đạo ấy được thể hiện như thế nào và nó có lý hay là không qua cuộc sống với linh đạo ấy: vì con người chúng ta luôn đánh giá giá trị của linh đạo trên cơ sỡ chính là đời sống và kinh nghiệm thiêng liêng mà người sáng lập đã cảm nhận, đã sống. Vì thế, trước khi đi vào thực trạng linh đạo của cha Henri Thuận, ta dựa trên hai yếu tố trong cuộc đời ngài để thấy rõ linh đạo đó của ngài.
a. Sống tình con thảo với Chúa
Một đất nước đắm chìm trong sự thiếu thốn, nghèo khổ như Việt nam thời đó: thiếu thốn vật chất, lẫn tinh thần. Đặc biệt, Nước Việt Nam lúc bấy giờ là một trong những nước đang bị tục hóa bởi nền tư tưởng của Tây Phương. Những công thức có sẵn của một nước văn minh - như Pháp đang hướng dẫn - đã vô tình cùm con người Việt nam vào trong đó, để họ chết trong lý luận và luật lệ. Thế nhưng, cha Henri Thuận lại là một con người đặc biệt khác mọi người –khác từ cách sống, văn hóa và có thể cả tư tưởng nữa: mặc dù ngài cũng là người của đất nước văn minh. Cái khác đó sau này đã được thể hiện ra qua cách sống, sinh hoạt ở Việt Nam chúng ta. Thời đầu qua Việt Nam, ngài sống như mọi thừa sai khác, về tư tưởng và hoạt động. Ngài cũng đã từng ngồi ghế Giáo Sư. Tuy vậy, ngài không dừng lại ở chức vị Giáo Sư, và cũng chẳng còn sống như một người Tây Phương: văn minh, lý luận. Trái lại, ngài đã tự nguyện sống với Việt Nam, và muốn trở thành con người Việt Nam: Việt Nam mang thân hình “Tây”. Tây nhưng mà Việt, Việt - Tây, đây chính là nét khác biệt của ngài đối với các thừa sai khác. Chính thân hình “Tây” và tâm huyết của người Việt Nam ở đây, đã làm cho ngài sống sát, và đi sâu với con người Việt Nam hơn. Cuộc sống của ngài minh chứng điều đó: qua cái ăn cái mặc và học hành, cầu nguyện như người Việt Nam. Nghĩa là ngài không dựa vào những công thức có sẵn ở Tây Phương để áp dụng cho người thôn quê Việt nam nữa. Ngài đã sống tương quan với Thiên Chúa, với Đất Trời-mà không bị dồn ép bởi một công thức nào. Càng sống ở Việt Nam lâu dài bao nhiêu thì ngài càng trở nên con người Việt Nam bấy nhiêu – trong việc phụng thờ Thiên Chúa. Ngài đã trở thành con người Việt Nam cho Việt Nam. Ngài sống “với” và sống vì con người Việt Nam. Cái lẽ sống với và sống vì con người Việt Nam ấy, mà ngài đã có ý định tốt lành và cuối cùng cũng đã thực hiện được là: lập dòng chiêm tu Xi-tô Việt Nam – không ngoài mục đích là “cầu cho dân ngoại” mặc dầu với Tây Phương thì vấn đề đó đã xưa như trái đất. Vì đó là bổn phận của người Kitô hữu. Tuy vậy, đối với ngài “cầu cho dân ngoại” là cả một vấn đề – vì con người luôn phải chịu về cách sống của mình trong sự tương quan giữa Thiên Chúa và đồng loại. Vấn đề ở chỗ là ngài không dùng lý luận hay công thức có sẵn, nhưng ngài truyền giáo chỉ qua cuộc sống hàng ngày mà thôi. Ngài sống như một con người Việt Nam, luôn vui vẽ tuân theo ý của Thiên Chúa vàvới thực trạng văn hóa của con người . Chính lẽ ấy, mà ngài đã viết cho kế mẫu của ngài: “Thưa mẹ rất yêu dấu và đáng mến của con, bức ai tín rất buồn sầu cho con mới tới. Con xin cúi đầu thuận theo ý chúa”[10]. Có lẽ chữ “thuận” ở đây cũng có một ý nghĩa đặc biệt-thuận nghĩa là không nghịch – thuận theo ý Chúa. Chúa ở đây tất nhiên là Thiên Chúa và có lẽ cũng chính là “đạo trời”. Thuận theo ý Thiên Chúa cũng chính là thuận theo quy luật tự nhiên của đất trời. Như thế, thuận theo ý Thiên Chúa và thiên nhiên đất trời trong mọi sự nó cũng chính là tinh thần của Khổng giáo được thể hiện trong con người cha Henri Thuận: Trung.
Cả cuộc sống của ngài là sống tình con thảo – hiếu- vì luôn thuận theo ý Thiên Chúa, ý trời. Chính vì thuận theo ý Thiên Chúa cho nên có lần ngài đã bọc bạch tấm lòng của ngài cùng mẹ rằng: “Con nói mẹ không tin chăng? Song rất thật, là hôm nay lạnh lắm, con run cả mình. Vì áo mỏng, nhà trống tứ vi, của ăn lại kém…mặc dầu muôn năm ông thần lạnh, vì Chúa nhân từ muốn thế”[11].
Với những lời lẽ chân tình, đơn sơ nhưng nó lại chứa đựng cả một tấm lòng thành, một tâm hồn của một con người. Tâm hồn của ngài hình như đang rông mở để đón nhận ý của Thiên Chúa vànhững “duyên thuận” của đất trời. Ngài cũng dành cho Thiên Chúa, cho đất trời một chổ đứng, một nơi mà nhiều người không có được. Chổ đứng ấy chính là tâm hồn của ngài-tâm hồn của ngài ôm lấy tâm hồn của anh em.
Xét về Đạo của Á Đông nơi ngài, chúng ta càng thấy cái đạo ấy được thể hiện rõ nét qua cuộc sống hàng ngày của ngài. Đạo là đường đi nước bước là sự biến dịch của đất trời. Chính vì vậy , chữ đạo nó có tính “bí tích” . Cái tích chính là thiên nhiên bao la nhịp nhàng biến chuyển. Phải chăng mãnh đất mà ngài đã dựng nhà, lập dòng, đó cũng là chứng “Tích” truyền giáo bên ngoài? Nhà dòng ấy cũng chính là dấu chỉ để nói lên một tâm hồn truyền giáo bằng ý nguyện lập dòng. Bên cạnh cái tích còn có cái “bí” đồng hành. Cái bí nhiệm này nó chứa đựng mặt huyền nhiệm, những kết quả mà không thể thấy bằng hiệu năng, bằng cái sự bên ngoài. Cái huyền nhiệm này, nó luôn nhịp nhàng chuyển động theo tích sự bên ngoài nơi cuộc sống con người của cha. Nó không cho thấy mặt hiệu năng nhưng nó luôn có lý đối với đất trời[12]. Những uyển chuyễn của đất trời đã làm cho cha Henri Thuận có một nguồn sống. Trước hết, ngài sống với Thiên Chúa, sống với con người , sống với thiên nhiên. Với Thiên Chúa ngài sống như một bông hoa đang nở hàng ngày cách tự nhiên ngoài cánh đồng. Bông hoa nở giữa trời có người xem rồi bỏ qua, có người xem rồi lấy làm thích thú, và bằng cách này hay cách khác họ còn làm cho nó đẹp hơn. Dù ai làm gì, nó vẫn cứ nỡ như không hay biết, đối với những lời khen chê; cứ tuân theo ý trời: Hoa khai bất trạch bần gia địa, nguyệt chiếu sơn hà đáo xứ minh. Thế gian duy hữu nhơn tâm ác, phàm sự hoàn tu Thiên dưỡng nhơn.[13] ( hoa nở không chọn lựa vườn đất của những gia đìngh nghèo khổ, trăng sáng soi trên sông núi, nơi nơi trăng sáng. Trong đời chỉ có lòng người xấu, nhưng phàm sự thế nào rốt cuộc cũng đều nhờ trời nuôi con người hết cả thôi). Bông hoa ấy cũng chính là phương pháp truyền giáo của cha Henri Thuận. Dòng ngài sáng lập, được xây dựng trong núi rừng –có nhiều người xem, nghe thấy thì lấy làm mĩa mai, mặc kệ, nhưng cũng không thiếu những tâm hồn biết chiêm niệm lấy làm thích thú. Mặc cho ai khinh chê, ngài cùng tất cả anh em đều im lặng và sống tự nhiên như bông hoa- tuân theo ý Chúa. Bông hoa nó tụng ca Thiên Chúa qua màu sắc và hương thơm tự nhiên của nó! Cũng thế, chính cuộc sống của cha Henri Thuận như một lời tụng ca Thiên Chúa bằng việc sống âm thầm, nhưng đầy tính tương quan với Thiên Chúa với thiên nhiên và với con người. Đối với ngài sống tương quan với Thiên Chúa chính là cách “truyền giáo” đẹp ý Thiên Chúa nhất.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 07:02 PM
Ngài đã từng nói: mọi biến cố xẩy ra trong cuộc đời ngài là dấu chỉ của tình thương cũng là một hồng ân cao trọng (…). Hồng ân ấy đã được ngài tận hưởng qua từng hơi thở, từng nhịp sống của cuộc đời. Ngài đã từng nói: “yêu mến Chúa là hợp một lòng một ý với Chúa”[14]. Phải chăng chính ý thức này mà ngài luôn thuận theo ý Thiên Chúa ; theo luân chuyển của đất trời ở nơi văn hóa Việt Nam:Tinh thần khổng giáo. Chính lối sống thuận theo ý Thiên Chúa mà ngài không muốn dùng tới công thức có sẵn của Tây Phương ở trong ngài. Ngài không chỉ dừng lại ở việc truyền giáo bằng những công thức có sẵn nhưng ngài đã nâng lên một bậc thang giá trị. Nghĩa là ngài đã biết tận dụng đời sống vật chất từng ngày, sống với anh em theo văn hóa của Việt Nam. Ngài có một tâm hồn yêu thương mọi người. Ngài đã từng nói: gặp được Chúa thì không sống cho chính mình nữa mà yêu thương anh em lắm lắm[15].
Một con người luôn sống với Thiên Chúa -sống thuận theo “Thiên mệnh” như cha Henri- đó là người có một tâm hồn lớn. Tâm hồn ấy lớn hơn cả mọi tính toán, lớn hơn cả những thiếu sót của cuộc sống anh em; nó còn lớn hơn cả sự thiếu thốn, và những lời cười chê của thiên hạ. Tâm hồn ấy đã ôm tất cả vào mình như một lời tụng ca Thiên Chúa. Cuộc sống này cha Henri Thuận và anh em của ngài đã đón nhận nó. Vậy, đời sống thường ngày ngài đã sống tương quan với anh em như thế nào?
b. Sống tương quan với anh em - qua việc bỏ mình
Với một con người -hình thể là Tây nhưng tính tình là Việt Nam- như cha Henri Thuận đã nối kết anh em lại thành một gia đình Xi-tô Thánh Gia Việt Nam là một điều đặc biệt. Với mục đích là “truyền giáo” qua đời sống cộng đoàn, cha luôn luôn gắn bó với cuộc sống anh em. Sống cộng đoàn tất nhiên là phải yêu thương nhau, như thế nó mới tồn tại: “Vì cứ dấu này mà người ta nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con hãy yêu thương nhau”[16]. Yêu thương nhau là yếu tố căn bản để một cộng đoàn tồn tại. Điều đó quá quan trọng đối với ngài, đến nỗi ngài đã từng ngăn chặn những gì có thể mất lòng Chúa qua sự chia rẽ nhau trong đời sống cộng đoàn. Ngài nói: “Muốn biết chúng tôi có mến Chúa hay không, hãy xét coi chúng tôi có lòng thương anh em hay không. Vì sự kính mến Chúa thì có lẽ lầm được, còn sự thương yêu anh em thì không lầm được… cái đạo ăn chay, cái đạo đánh tội, cái đạo chầu Thánh Thể, các đạo ấy dễ mà không chắc chi; còn cái đạo yêu thương anh em, đạo ấy thì chắc là đạo”[17].
Mỗi lần nghe qua những lời nói của ngài, chúng ta có cảm tưởng là ngài phản đối việc ăn chay và việc chầu Thánh Thể. Thực tế không hẳn là thế, vì ngài muốn anh em đi vào cuộc sống thực tế hơn. Ngài không muốn anh em chết nghẹt trong cái quy định cụ thể nào –giờ giấc phải thế này, phải thế khác: “thủy chí thanh tắc vô ngư; nhơn chí sát tắc vô đồ”( nước trong quá thì không có cá; người mà xét kỷ quá thì không có bạn bè với ai được). Ngài muốn anh em sống uyển chuyễn , hòa nhịp với nếp sống văn hóa của mình, vì ngài đã từng sống hòa nhịp với con người Việt Nam. Một con người Châu Âu, to cao sáng suốt, văn minh mà sống thì không giống như “Tây” chút nào, trái lại sống thì rất Việt Nam. Ngài sống thanh đạm như người Việt Nam, yêu anh em, yêu cái đơn sơ nghèo khó của con người Việt Nam. Ngài thương yêu anh em, yêu người Việt Nam qua vệc từ bỏ mọi sang trọng vinh hoa của Âu Tây, hạ mình bỏ ghế Giáo Sư, đội nón lá và đi dép quai chéo, vắt khăn trên vai, ưng cái áo tơi lá Việt Nam (…). Cách sống khiêm nhường, hiền hòa như ngài, anh em cũng đã hạnh phúc lắm rồi. Sống với ngài bằng những cái tự nhiên, đơn sơ mình có, và biết lấy thiên nhiên làm phương tiện thì có gì bình an bằng cuộc sống ấy. Lúc bấy giờ, Đan viện thật đơn sơ, chẳng có điện thoại cũng chẳng có máy xới máy cày, chỉ có con người và những con bò, những con gà. Sự thực ngài còn lấy con gà để thay cho việc sử dụng đồng hồ báo thức. Lúc nó gáy thì mấy giờ, ai mà biết? Miễn nghe tiếng gáy của gà thì thức dậy và mọi người theo công việc của mình: đêm cũng như trưa, đọc kinh -bổn phận thờ phượng Thiên Chúa trong nhà thờ - tiếp tục đi làm. Nó gáy sớm thì cha con thức dậy sớm, cử hành phụng vụ sớm, chẳng may nó gáy muộn thì cha con thức dậy muộn hơn và cử hành phụng vụ và việc thường ngày muộn hơn bình thường… sống không buôn ba bồn chồn gì –vui vẻ.
Linh đạo Xi-tô Việt Nam là thế đấy –sống với đất trời, sống theo sự thay đổi của “Thiên mệnh”. Linh đạo Xi-tô giống như một bông hoa- chịu đựng cảnh khắc nhiệt của đất trời . Đất nóng, trời bức sao đi nữa thì nó vẫn tìm ý trời để sống. Nó luôn đón nhận cảnh mưa sa bảo tố dồn dập, nhưng nó vẫn tươi nỡ như nỡ giữa bầu trời thanh bình; nó không vô ích như bao người lầm tưởng. Nó sung sướng thanh thản đón nhận và tận hưởng những điều đến với cuộc sống con người qua mệnh trời ý thiên. Nó không từ chối cảnh khắc nhiệt của trời đất- vui lòng tỏa hương thơm cho đờivà sẵn sàng đem lại cho đời một màu sắc đặc thù của nó. Với một Linh đạo đến với cuộc sống đan sĩ Xi-tô như thế liệu nó còn phù hợp cho cuộc sống của họ hôm nay nữa không?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 07:05 PM
3. Chỗ đứng của Linh Đạo Xi-tô trong xã hội hôm nay
Cái nhìn khách quan
Cuộc sống văn minh đã và đang bước vào thực tại cuộc sống của con người Việt Nam. Đây là điểm vui mừng đáng kể và cũng là điều mà đòi buộc con người phải trả gía khi họ không kham nỗi thực tại sống của mình. Nhiều khu vực trong Nước ta đang có những công trình, xí nghiệp mọc lên: thành thị cũng như miền quê. Mọi nơi đang vang lên những tiếng gào thét, của các thiết bị “máy móc”. Những động cơ này, nó mang tính chính xác và nó đã làm cho con người phải nương tùy vào nó không ít: nó mang tính chính xác của thời đại. Càng có nhiều “máy” thì độ chính xác trong lãnh vực quan hệ cũng khít khao hơn. Thiết bị máy móc càng hiện đại thì đem lại cho con người lợi nhuận cao, những sản phẩm làm ra càng có chất lượng, đó là điều tất nhiên. Nhưng thực sự thì các “nhà máy” đang làm cho cuộc sống con người cảm thấy chới với trước thân phận làm ngưởi của mình; vì những cái “nút” tự động, chính xác ấy đã đưa con người vào những cái lồng vô hình của kiến thức. Nhìn bề ngoài thì con người thật sung sướng, nhàn rỗi, bình an nhưng đối diện với thực tế sống thì con người đang bị những “cái nút” tự động ấy khống chế lại ý muốn của chính mình –con người mất tự do. Đặc biệt hơn, các phương tiện truyền thông - điện thoại di động–đang vô tình kỷ thuật hóa tương quan của con người với nhau. Và những giây phút trầm lặng đích thực của vợ chồng, của gia đình của bản thân đã trở nên hiếm, bởi vì họ đã mất tương quan đích thực của con người trong xã hội, do những tiếng gào thét của vật chất, và tiếng la rú của máy móc. Khi độ chính xác cao trong lãnh vực khoa học phát triển thì tiếng gào trong tâm hồn con người cũng bị quằn quại không ít, đó là lẽ thường tình. Những thác lũ ồn ào của vật chất và tiếng gào của âm thanh đang chiếm chổ trong cuộc sống, nó đã làm cho con người từ tính tự nhiên thành cái tự tạo – biến đổi từ cái sống thành cái chết, thật thành dối.
Với thực trạng cuộc sống của con người Việt Nam như thế, linh đạo của Xi-tô có được chỗ đứng vững chắc hay không; đây là một thách đố không nhỏ về khả năng của từng đan sĩ; họ sẽ nhờ sự hỗ trợ của đặc sũng Giáo hội.
Nhìn theo đặc sủng của Giáo hội
Đời sống của xã hội thì đầy phức tạp; con người sống trong đó đang quằn quại để kiếm kế sinh nhai, hầu được tồn tại cùng xã hội. Tuy nhiên, vẫn có kẻ giàu sang phú quy trước những cảnh bần cùng của đồng loại; họ tuy không còng lưng nhưng óc họ vẫn bị bóp để cho có một cuộc sống nhàn hơn kẻ khác. Người giàu có cũng như kẻ nghèo đã và đang vơi đi cuộc sống tương quan : tương quan với Thiên Chúa, và với người khác trong cuộc sống với mình. Họ không còn biết ý thức trách nhiệm làm người của mình nữa; có chăng thì họ cũng chỉ tương quan vớí nhau trên “bao bì”. Những người như thế hình như đời sống tu đối với họ không còn có một ý nghĩa gì-họ xem các tu sĩ sống các nhân đức như kiểu “nhân đức chịu vậy”. Có kẻ nghĩ đời tu chiêm niệm đã chết trong xã hội bon chen này! Có chăng cuộc sống tu sĩ tồn tại chỉ là một sự “có đó” mà thôi.
Họ đã không biết rằng, đời tu chiêm niệm là một đặc sủng. Sống đặc sủng của Chúa Thánh Thần, đời tu chiêm niệm trở thành một giá trị sống cho Giáo hội cũng như xã hội. Mặc dù các tu sĩ không còn bon chen với đời, để kiếm cho mình một vị trí nào trong xã hội cũng như Giáo hội . Vì họ sống là sống ơn Chúa Thánh Thần, sống trong Giáo hội. Họ chỉ nhất tâm phụng sự Thiên Chúa trong chính cuộc sống của mình – cô tịch – thanh vắng và lặng lẽ từ nội tâm ; chuyên cầu nguyện và lao động để nối kết tình yêu của Thiên Chúa với con người.
Có thể nói được rằng: đời tu chiêm niệm luôn luôn giữ một vị trí cao quý trong nhiệm thể Chúa Kitô. Họ sống với Thiên Chúa – lắng nghe tiếng chúa như: “Maria ngồi dưới chân Chúa, khi Matta lao động đễ phục vụ Chúa Giêsu” (…), mọi đường đi nước bước của họ đều có ý nghĩa. Càng giá trị hơn, khi mỗi người biết sáp nhập với Chúa Giêsu . Người tu sĩ và đan sĩ giống như những cành nho luôn sáp nhập với thân nho, cành nho sống và họat động được cũng chỉ nhờ thân, cho dù : “Mỗi chi thể có một tác động khác nhau”[18], nhưng họ luôn kết hiệp với thân. Vì thế, họ luôn kết hiệp với Thiên Chúa –như nhành kết hiệp với cây. Thiên Chúa chính là thân nho tốt, và chính các đan sĩ là cành. Chúa Giêsu đã nói: “Thầy là cây nho thật, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong kẻ ấy, thì kẻ ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy anh em không thể làm gì được”[19]. Vậy, vì chính Đan sĩ sống đặc sủng chiêm niệm như thế, nên Giáo hội đã đặt đời sống chiêm niệm vào một vị trí không thiếu tầm quan trọng trong cuộc sống của con người tương quan với Đấng Siêu Việt.
Công Đồng Vatican II đã nói: “Thực vậy, các tu sĩ chiêm niệm họ luôn kết hiệp với Thiên Chúa và dâng lên Thiên Chúa hy lễ chúc tụng tuyệt hảo, làm vẽ vang dân Thiên Chúa bằng những hoa trái thánh thiện, dồi dào, lấy gương lành lôi cuốn và làm cho dân ấy thêm lớn mạnh bằng việc tông đồ, cách âm thầm nhưng phong phú. Như thế, họ là vinh dự của Giáo hội và là mạch tuôn trào các ơn thiêng”[20].
Những người sống trong ơn gọi chiêm niệm giống như: “Maria ngồi dưới chân Chúa”. Các Đan sĩ như cành nho kết hợp với thân nho là Đức Giêsu : thì đời tu Xi-tô chiêm niệm làm sao mà mất chổ đứng trong đời sống thực tại này được. Vì Chúa Giêsu là hiện thân của Giáo hội. Ngài là sự tròn đầy của đời sống thực tại này: thực tại văn hóa, xã hội…của từng cuộc sống con người.
Chính vì thế, bao lâu còn con người trên trần gian thì bấy lâu Thiên Chúa vẫn còn đồng hành với họ. Và bao lâu Giáo hội còn thì chổ đứng của đời sống chiêm niệm vẫn còn. Không thể khuất bóng Đức Giêsu được, và chính vì không khuất bóng Ngài mà đời tu chiêm niệm luôn được tồn tại với Ngài và với xã hội như : “Như cành nho kết hợp với thân nho”[21].
Mỗi lãnh vực , mỗi con người của mỗi thời đại có một cái nhìn riêng biệt, nhưng họ luôn sống trong tương quan – tương quan giữa người với người. Cũng vậy, Linh Đạo Xi-tô và Tinh Thần Khổng giáo vẫn có những điểm chung và nét riêng là điều tất nhiên; chúng ta cùng tìm hiểu.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 07:10 PM
III. TINH THẦN KHỔNG GIÁO và LINH ĐẠO XI TÔ VIỆT NAM TRONG XÃ HỘI HÔM NAY
Chúng ta đã phác họa được phần nào về sự tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Đặc biệt, trong tương quan này, con người Đan Sĩ Xi-tô Việt Nam- theo tinh thần, đường hướng sống của cha Henri Thuận- họ sẽ khám phá ra được nội dung tương quan với Thiên Chúa đích thực trong tương quan với con người của văn hóa Việt. Sau đây chúng ta tiếp tục tìm hiểu thêm về những nét hội nhập của Xi-tô Tây Phương, rõ nhất là sự hội nhập của cha Henri Thuận đối với con người và văn hóa Việt Nam.
1. Những nét hội nhập
Khi nói về hội nhập, là chúng ta đang đụng chạm, đang đi vào một lãnh vực hết sức rộng lớn. Thật, hội nhập không chỉ tương quan giữa Thiên Chúa với con người , giữa người với người và giữa người vối thiên nhiên , mà hội nhập là đi vào cái sinh động nhất của “Đất Trời”; đi vào cái sống của từng chủ thể sống. Hội nhập đi từ cấp độ thấp đến cao, nhỏ đến lớn, hẹp đến rộng , quá khứ đến hiện tại và tương lai. Hội nhập cũng không chỉ nói về chiều kích siêu nhiên, tình cảm tương quan của con người , mà nó có nhiều lãnh vực khác nhau như: khoa học, nghệ thuật văn hóa và tôn giáo nữa. Mỗi lãnh vực đều có đường đi riêng của nó trong khi hội nhập. Vì thế, hội nhập là vấn đề vừa mang tính chiều sâu, vừa tế nhị nên nó cũng là một vấn đề quan trọng đối với từng con người. Và nó còn quan trọng hơn khi một con người thuộc văn hóa khác, một tư tưởng khác hẳn đang bước vào một vùng văn hóa mới với một cuộc sống khác. Chính vì cái rộng lớn của vấn đề hội nhập như thế, nên ở đây xin được giới hạn lại trong cách hội nhập của Linh Đạo Xi-tô với văn hóa Việt Nam.
Xi-tô là gì? Nếu xét theo nghĩa tự thì hai chữ “Xi-tô” nó không có ý nghĩa gì. Vì nó chỉ là một vùng đất thuộc Lyon, Nước Pháp. Như thế nó chỉ là một danh từ được người ta dùng để gọi một địa danh mà thôi. Vùng đất mang tên Xi-tô này đã được một số Đan Sĩ Biển Đức tới lập dòng và gọi luôn là dòng Xi –tô[22]. Nhưng khi chúng ta nói đến Xi-tô ở đây là nói đến cuộc sống của từng con người trong tổ chức này- vấn đề lại là khác. Cụ thể hơn,với thực trạng Xi-tô Việt nam, thì nó vừa là Tây vừa là Ta. Vậy, Đan tu Tây Phương nó được sáp nhập vào Việt Nam như thế nào?
Đan tu Tây Phương nó được các đan sĩ sống theo tinh thần của cha thánh Biển Đức: cầu nguyện và lao động. Xét theo đan tu Xi-tô Tây Phương, họ sống có một tổ chức chặt chẽ – việc nào giờ nấy rõ ràng. Cụ thể nhất là trong phụng vụ: kinh sách phải đúng giờ, thánh lễ phải tổ chức theo ngày trọng ngày thường rõ ràng hẳn hoi, tu phục phải màu gì dài bao nhiêu, rộng bao nhiêu, khi cúi bái thế nào: rõ ràng. Vấn đề này càng được rõ hơn khi nói về thứ vị-thứ bậc trong ca tòa đầu tiên là hàng ghế viện Phụ, kế đến là viện phó, đan sĩ linh mục, thầy khấn trọn đời, khấn tạm, tập sinh ,thĩnh tu: họ không thể chấp nhận được khi một người nào đó ngồi sai vị trí đã chỉ định. Lại nữa, khi hát kinh phải hát tiếng la tinh, theo nhạc bình ca-ngày nào cũng như ngày nào- theo công thức đã có sẵn. Thiết kế nhà cửa phải theo hướng -theo hướng nào, cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu, trang trí trong nhà thờ phải nghiêm trang…
Trong việc tổ chức phải có sự thống nhất.
Việc “lao động”, Đan sĩ Tây Phương thì sao? Đây cũng là một trong những phương thế làm vinh danh Thiên Chúa của các đan sĩ sống đời chiêm niệm. Họ làm việc theo khả năng của mình- khỏe làm việc nặng và ngược lại. Những công việc họ làm phải có hiệu năng rõ ràng, giờ làm việc là không kể mưa gió, hết giờ làm là về, làm việc để nuôi sống mình và làm việc để giúp kẻ khó khăn, thậm chí họ cố gắng làm để tránh cho khỏi ma quỷ cám dỗ!
Đấy là nét chính yếu của Xi-tô Tây Phương, còn Xi-tô Tây Phương qua Việt Nam như thế nào? Chúng ta thấy: Xi-tô Việt Nam hôm nay cũng đang bị Xi-tô Tây chi phối. Đặc biệt về mặt “tổ chức” trong phụng vụ. Nó đang bị dìm vào từng cái cụ thể có sẵn của Tây Phương – ăn mặc, đi đứng cúi bái. “Khi lên hôn kính Thánh giá, anh em phủ phục ba chặng, những cặp sau hãy nhìn anh em trước để phủ phục cho rập ràng. Thứ tự lên hôn kính Thánh giá: Chủ tế, các Thừa tác viên phục vụ bàn thờ, Giáo sĩ, các cao niên trẻ. Kể từ lúc này cho tới Thánh lễ vọng Phục Sinh, mỗi khi đi ngang qua Thánh giá anh em phải bái sâu như bái Thánh Thể trong Nhà Tạm. Vào giờ thuận tiện, cộng đoàn tổ chức đi đàng Thánh giá trọng thể.[23]
Tuy nhiên, việc tổ chức theo kiểu “Tây” tại Việt Nam cũng đang bị Việt Nam hóa dần. Xi-tô Việt Nam vẫn có tổ chức hẳn hoi nhưng lại không bị cứng ngắc trong việc tổ chức ấy. Nếu có thì cũng chỉ một vài thành phần đang sống tâm thức của người Tây phương, nhưng hầu như đều đã biết đón nhận Xi–tô Tây Phương như một nét hội nhập. Văn hóa Xi-tô Tây Phương vào Việt Nam đã được cuộc sống con người Việt Nam biên hóa: đồng hồ báo thức là tiếng gà gáy theo canh. Xi-tô Việt Nam hôm nay xem ra đã mở được lối thoát khỏi công thức có sẵn của “Tây” gông cùm, nó cũng được dung hòa bởi hoàn cảnh sống; đưa lời tụng ca vào chính cuộc sống của mỗi người: phụng vụ bằng tiếng Việt. Nghĩa là, với Xi-tô Việt Nam không còn cái Tây nguyên sơ nữa, nhưng nó đi vào thực tế sống của từng đan sĩ một, sống với “Trời Đất”. Lấy ơn trời làm “duyên” sống cho mình, Đan sĩ Xi-tô không theo cái có sẵn.Chẳng hạn, nhà thờ bị hỏng lại gặp mưa gió không thể cử hành phụng vụ lúc năm giờ, thì sẽ được cử hành vào lúc sáu hoặc bảy giờ . Đêm nay thời tiết tốt, anh em ngủ dậy sớm hơn bình thường thì giờ phụng vụ sẽ được cử hành sớm, ngày mai thời tiết xấu, anh em làm việc mệt, ngủ dậy muộn thì cử hành phụng vụ muộn hơn thường… không sao: luôn sống hòa nhập với hoàn cảnh cụ thể.
Mặc dầu thế, Đan sĩ luôn ý thức cách sống của mình và họ sống càng ngày càng tích cực hơn. Họ không để hòan cảnh chi phối đời sống của mình nhưng họ luôn tôn trọng thực trạng sống ấy. Lao động là vấn đề cụ thể hơn: Đan sĩ Xi-tô Việt Nam sống bằng bàn tay lao động, khả năng hiểu biết và lòng nhiệt thành của mình. Họ không chỉ lao động bằng máy móc hiện đại nhưng bằng chính đôi tay xương máu của mình. Họ không có một chương trình cụ thể có sẵn nào, nhưng sống với sự thay đổi của trời đất, trông cậy vào trời đất. Việc lao động của họ có hiệu năng hay không thì phụ thuộc vào “ý trời”. Tuy nhiên, họ cũng không phải sống buông thả theo ý riêng, mà vẫn có tổ chức hẳn hoi. Tổ chức của họ có thể nói được là “Tây” nhưng nội dung sống của họ thì hoàn toàn là “Ta”. Nghĩa là họ sống có tổ chức nhưng hiệu quả thì họ đang trông chờ ở nội dung sống - phía sau việc tổ chức là cả một sự uyễn chuyển của thiên nhiên vạn vật, đang hòa cuộn với từng nhịp sống của người Đan sĩ. Có lẽ chính vì cách sống uyển chuyễn của Đan Sĩ Xi-tô Việt Nam, mà Tinh Thần Khổng giáo đang tồn tại cách ẩn mình trong đời tu Xi-tô hôm nay! Bởi những gì người đan sĩ hôm nay đang sống cũng chính là những tinh hoa của Khổng giáo đã từng triển nở trong vùng trời của họ. Phải chăng, chính vì Xi-tô Tây Phương cứng ngắc trong việc tổ chức mà khi qua Việt Nam đã bị đời sống hòa điệu, êm đềm và hòa- tính của người Việt Nam đón nhân như một nét hội nhập? Và chính vì cái “tổ chức” gặp phải hòa- tính của người Việt Nam mà sinh ra người đan sĩ Xi-tô Việt Nam?. Việc hội nhập của Xi-tô Việt Nam từ Tây phương là một quá trình làm sống cái “tự nhiên” của người Việt Nam qua cái ăn cái mặc, phong tục tập quán của dân Việt.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 07:11 PM
Đan sĩ Xi-tô Việt Nam được sinh ra từ cái đón nhận của sự chuyển đổi ấy. Nghĩa là họ vẫn chấp nhận cái tổ chức của Tây đưa qua, nhưng mặt khác họ không loại bỏ cái đơn nghèo, vui vẽ của người Á Đông. Họ sống tổ chức ấy nhưng nội dung cuộc sống lại tin vào cái “Mệnh Trời ”. Cũng chính vì lẽ ấy, Xi-tô Tây phương qua Việt Nam là được Việt Nam hóa, và Xi-tô Tây Phương đã trở thành Xi-tô Việt nam trong sư hòa điệu của hai văn hóa đó. Sự dung hòa này chúng ta được thấy nơi cha Henri Thuận- người Tây nhưng khi qua Việt -ngài đã hòa vào cuộc sống của người Việt Nam. Ngài nói: “Thưa mẹ, con vẫn mạnh khỏe. Mấy thầy dòng tí hon của con cũng khỏe. Chúng con vẫn cứ trông cậy, song mưa quá. Chúng con mới phở ít ruộng ở chân đồi, trông cậy sẽ được ít nhiều lúa. Độ này lúa kém quá … e rằng chúng con chết đói! lẽ ra chúng con chết đói lâu rồi, song một phép lạ Chúa làm. Chúng con hằng được no ấm trong tay người. Hôm nay chúng con có đủ mọi sự cần. Còn ngày mai thì sẽ hay. Muôn năm Chúa! Chúng con đây thật có phước hơn mọi người[24]. Con người ngài, cuộc sống của ngài là thế đấy, và đó cũng chính là Tinh thần của Khổng giáo. Bên cái hội nhập, tất nhiên là có cái khác biệt. Nhưng sự khác biệt muốn nói ở đây nó thuộc về thực tại cánh chung của niềm tin con người trong cuộc sống: sự khác biệt của cùng đích.
2. Những khác biệt của cùng đích
Trước hết chúng ta phải hiểu thế nào về cùng đích; sau đó chúng ta mới có một câu trả lời về sự khác biệt cùng đích theo quan niệm của mỗi người, mỗi niềm tin trong cuộc sống của con người.
Cùng đích là cái đích tận cùng, là nơi mà con người sống đã và đang hướng đến nó, để gửi gắm “tương lai” của cuộc đời. Đó cũng chỉ là những quan niệm thôi; mà quan niệm thì mỗi người có quan niệm khác nhau. Cho nên cùng đích của mỗi người theo niềm tin của họ đều khác nhau, đó là lẽ tất nhiên.
Theo quan niệm của những người theo Đức Giêsu, thì cùng đích của họ là chính Thiên Chúa. Thiên Chúa là đích cuối cùng mà người Ki tô hữu nào cũng nhắm tới. Vì nơi ấy con người không còn phải chết nhưng được sống và sống dồi dào nhờ ơn ban nhưng không của Ngài.(…)- cuộc sống ấy nó vừa mang tính hiện tại và bao trùm cả tương lai.
Còn “Cùng đích” mà Khổng giáo quan niệm là chính ở thực tại hạnh phúc đời này. Họ sống chính sự an vui nơi trần thế với những tổ chức vừa nghiêm túc vừa sâu sắc: Tam cương, Ngũ thường – Đạo. Họ chỉ sống cho tốt để gửi gắm thân mình lại cho hạnh phúc theo mệnh trời.
Đấy là hai quan niệm về cùng đích của người Ki tô giáo và Khổng giáo. Và trên cuộc sống của mỗi người, hai quan niệm ấy có đời sống thực tế
khác nhau.
Khổng giáo họ muốn đạt tới cùng đích thì họ phải cố gắng hết sức để sửa chửa nết xấu của mình. Họ phải tu hàng ngày, tu chính bằng khả năng của mình, dùng mọi phương pháp, dùng mọi cách thế mới có thể đạt được cái đích đó. Nếu ai buông xuôi không tự mình suy xét và sửa chửa nết xấu thì không cách nào đạt được cùng đích hạnh phúc đó trong cuộc sống. Chính vì thế mà họ xem ra phải luôn gồng mình hàng ngày để đạt đích.
Vì mục đích chính của Khổng giáo là dạy người ta sống và tập luyện cho đến bậc Nhân. Họ nghĩ rằng: muốn đạt được mục đích ấy thì phải gây nên những tình cảm rất hậu và giữ cho sự hành vi lúc nào cũng chừng mực vừa phải[25].
Còn Kitô giáo sống đời tu như thế nào để hầu đạt tới cái đích của mình?. Tất nhiên, tu ở Kitô giáo cũng có phương pháp, vẫn có các lời khấn hứa, họ vẫn sống có nguyên tắc hẳn hoi. Họ cố gắng và theo khả năng của mình - cố gắng được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu - nhưng cái chính vẫn là trông cậy vào Thiên Chúa. Đời tu đối với họ chỉ là ơn được Thiên Chúa ban mà thôi. Nghĩa là họ không phải cậy vào khả năng mà chỉ cậy vào ơn Chúa vì họ đã được Nước Trời rồi. Họ sống đời tu có chăng cũng chỉ để hoàn thiện con người của mình mà sống Nước Trời cách tích cực ở trần gian này mà thôi.
Chúa Giêsu đã nói: “Thầy bảo thật anh em: chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ ở đời này lại không nhận được nhà cửa anh em , cha mẹ, con cái hay ruộng đất, gấp trăm cùng với sự ngược đãi , và sự sống vĩnh cữu ở đời sau”[26].
Sự sống vĩnh cửu ở đời sau chính Thiên Chúa đã ban cho con người cách nhưng không; tu hay không tu cũng đều đã được ơn đó qua bí tích rửa tội rồi. Như thế, tu ở Ki tô giáo là một ơn nhưng không của Chúa ban. Tất cả hành trình sống của họ đã được Đức Kitô đón lấy, và giọt máu của Ngài đã đổi thay, và cùng đồng hành với những cố gắng của họ. Như vậy, họ thực sự đã được nước Trời ở đời này và cả Thiên đàng đời sau!
Chính vì thế, những người có niềm tin đã được mặc lấy các hân đức mà sống thân mật với Thiên Chúa, bằng sức cố gắng và chính tác động siêu nhiên – Tin-Cậy-Mến. Và ơn thánh của Ngài đã ban cho ta càng tăng triển bấy nhiêu, để ta càng được sống sung mãn. Đức Tin-Cậy-Mến là những ân huệ siêu nhiên do Chúa ban , đấy là ba cửa ngõ mở vào thế giới siêu nhiên của Kitô giáo; bởi con người ở thế giới tự nhiên (đời này) cách biệt hẳn với siêu nhiên, không thể nào hiểu biết về siêu nhiên được. Giữa tự nhiên và siêu nhiên có một khoảng cách và khác biệt vô cùng. Chính Chúa Kitô đã lấy công nghiệp vô cùng của Ngài mà tiếp nối hai thái cực đó.[27]
Nhìn chung, những khác biệt của cùng đích giữa Kitô giáo và Tinh Thần Khổng Giáo được rõ lên trong đời sống của Niềm Tin: Nghĩa là Khổng giáo hoàn toàn tin vào cái khả năng của mình, và họ đến đích thì cũng chỉ bằng cố gắng ấy. Họ chỉ biết đích ở đời này, còn cái đích vĩnh cửu thì xem ra họ chưa thấy. Còn Kitô giáo họ cũng tập luyện , cố gắng nhưng họ đã được đích rồi – Thiên Chúa đã ban cho họ. Họ không ỷ vào khả năng tập luyện nhưng cậy vào tình thương của Thiên Chúa.
Khổng giáo thì đạt đích ở đời này, còn Kitô giáo thì được cả hai: đời này và đời sau! Như vậy, Kitô giáo và Khổng giáo trong thực tại đời sống con người đều là hồng ân đến từ Thiên Chúa.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 07:13 PM
3. Tất cả là hồng ân
Nhìn về cách thế tu của Khổng giáo, chúng ta thấy họ dùng chính khả năng của mình để tu luyện; họ chịu khó chịu đựng mọi thứ để mong đạt tới con người có “Hiếu -Nhân”. Nghĩa là làm sao để đạt tới con người tốt – sống luôn hướng về điều thiện. Như thế, Chúng ta không có đủ khả năng để nói là: không có Thiên Chúa ở trong họ.Vì chính Thiên Chúa là Đấng tốt lành, họ thì đang ra sức để sống tốt, thì cũng nghĩa là họ đang cố gắng để tìm và sống trong Thiên Chúa. Chính vì ý muốn sống tốt lành đó, mà Thiên Chúa nhân lành luôn đồng hành với họ là không thể thiếu , mặc dù họ chưa nhận ra.
Vâng, những trăn trở của cuộc đời mà con người đang sống và phải sống: vui, buồn, sướng khổ của họ cũng chính là những bước chân yêu thương mà Thiên Chúa đang lê theo cuộc đời từng người một. Đức Giêsu đã bao trùm lấy họ. Ngài nói: “Ta là Đấng Ta Là”[28]. Ngài là hơi thở của người khỏe mạnh, là nơi đón nhận trăn trở của người bất hạnh, là Đấng an ủi người buồn sầu. Những bước đường quyệt quệ, yếu đau bệnh tật, thất vọng của con người đều được Đức Giêsu ở đó với họ. Như vậy, đời tu theo quan niệm sống của Kitô giáo là cả một vấn đề: đó là ân phúc nhưng không.Tu sĩ luôn sống những gì mình có, sống theo khả năng của mình , sống trước sự nâng đỡ và huớng dẫn của Chúa Thánh Thần. Họ sống tự do, nô lệ –phạm tội rồi được tha, phạm tội, lại được tha… phải chăng đó là cuộc sống của con người sống trong văn hóa của mình.Thiên Chúa luôn tha cho con người tới cùng, khi con người không đủ khả năng để phạm tội nữa! Con người luôn biết sống tạ ơn vì ơn tha thứ của Thiên Chúa. Những điều mà Kitô giáo đang sống và áp dụng trong đời tu là điều mà Khổng giáo đã và đang sống trong họ, xét về mặt tự nhiên. Đời tu Kitô giáo cũng đang sống những điều cốt lõi nhất của Khổng giáo đã để lại như: lễ nghi, sống có hiếu có nhân –văn hóa Việt Nam, nền tảng cho đan sĩ Việt Nam sống.
Như thế, Kitô giáo và Khổng giáo có bao giờ rời khỏi ánh mắt yêu thương và bàn tay chúc phúc che chở của Thiên Chúa! Chắc chắn là không ai rời khỏi “đám đất” cứu chuộc của Đức Giêsu!. Không một người nào có đủ khả năng để ra khỏi tình yêu Thiên Chúa. Có chăng thì con người cũng chỉ lọt ra khỏi “mãnh đất” cứu chuộc của Ngài bằng óc lý luận và ảo tưởng của mình mà thôi. Như vậy đó có phải tất cả là hồng ân hay không? Nó hoàn toàn tùy thuộc khả năng mỗi người đón và cảm nhận.
KẾT LUẬN
Con người bước vào đời luôn luôn qua cửa của “tiếng khóc”. Tiếng khóc chào đời vừa nói lên tiếc luyến gốc rễ của mình. Đồng thời cũng thông báo: đời là một hành trình đi về sự an vui của nguồn cội phát sinh ra mình. Hành trình này có thể hiểu qua biểu tượng:chân đạp trời đầu đội đất.
Là một con người Việt Nam, chúng ta có thể hiểu ngay đuợc rằng, chúng ta đạp đất Việt Nam và cũng đội bầu trời rất Việt Nam trên hành trình cuộc sống của mình. Tuy cuộc sống nó có một nội dung với ý nghĩa đích thực luôn là cá vị. Nhưng “cá vị”trong một thực trạng “văn hóa” đã được tạo hóa ban cho từng con người như một ân huệ. Đối với Đan sĩ Xi-tô Thánh Gia Việt Nam, cuộc sống của họ không thể nằm ngoài ân huệ đã nói trên:Văn hóa Việt Nam- đặc biệt là Khổng giáo.Với thực trạng này, Đan sĩ Xi-tô sẽ hoàn thành sừ mạng của mình bằng cách tìm hiểu từng nhịp đập của từng con tim mình, tìm hiểu từng lần thở của Đất -Trời Việt Nam trong lành; và tìm hiểu dòng máu luôn luân đổi cuộc đời của mình, để sống đúng ân huệ trời ban tặng, sống đúng mệnh trời như một sự biết ơn tạo hóa. Đây là một công việc chính đáng đầy tính linh thiêng. Vì nó là con đường đem đến cái chân, cái thật của một sứ mạng con người: con người Việt Nam.
Cụ thể, Đan sĩ Xi-tô việt Nam sống sứ mạng của mình,họ không thể bỏ giá trị Khổng giáo có trong họ. Nếu Khổng giáo khiông vcòn là một giá trị chăng nữa thì nó vẫn là một thực trạng có đó trong họ mà họ không thể bỏ qua.Thực chất, Khổng giáo đã giúp đan sĩ sống “thật” hơn, cụ thể hơn, có nội dung hơn cái ý nghĩa chiêm niệm của Đan sĩ. Có lẽ đây cũng là một độc đáo của Đan sĩ Xi-tô Việt nam: sống gần gủi hơn với cài phúc cái họa. Họ là những người không tiến không lùi xa hơn ngoài ân huệ của trời đang ban cho họ: nét đẹp đó cũng chính là nội dung của chữ “Linh Đạo” của Xi-tô Việt Nam.
Hôm nay, nét đẹp đó tuy không mất, nhưng hầu như đã bị ngủ yên nơi lớp người đang mang ý thức hệ Tây Phương.
Là một Đan sĩ có danh là Xi tô Việt Nam, họ đạt được ý nguyện được bao nhiêu, sống vui tươi và nhẹ nhàng như thế nào, linh đạo của họ nở hoa ra sao… tất cả tùy thuộc vào khả năng khám phá trong văn hóa trong con người của họ: Khổng giáo chiếm phần không nhỏ trong khu vườn văn hóa của họ.
Nguồn: http://www.trungtamhocvanthomai.com/8thang3/linhdaoxito.htm
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
17-05-2006, 07:13 PM
SÁCH THAM KHẢO
1. Vũ Tình, Đạo Đức Học Đông Phương, nxb. Chính Trị Quốc Gia, 1998.
2. Nguyễn Gia Tường, Hán Văn, (Bài ở lớp).
3. Từ Điển Tiếng Việt, nxb. Khoa Học Xã Hội Nhân Văn, Hà Nội, 1994.
4. Không rõ tác giả, Linh Đạo Xi-tô Việt Nam, (Lưu hành nội bộ).
5. Không rõ tác giả, Sử Dòng Xi-tô Việt Nam, (Lưu hành nội bộ).
6. Không rõ tác giả, Hạnh Tích Cha Henri Thuận.
7. Đặng Chí San, Văn Hoá Và Tín Ngưỡng, (Bài ở lớp).
8. Nguyễn Khắc Dương, Triết Học Trung Hoa, (Bài tại lớp).
9. Không rõ tác giả, Di Ngôn Cha Henri Thuận.
10. Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Tân Ước.
11. Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, 1972.
12. Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Trung tâm học liệu, 1971.
13. Không rõ tác giả, Đời Sống Nội tâm.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Xc. Vũ Tình, Đạo Đức Học Phương Đông, Nxb Chính Trị Quốc Gia, 1998, tr. 38.
[2] Vũ Tình, Sđd.
[3] Nguyễn Gia Tường, Hán văn, (Bài ở lớp).
[4] Xc. Trích nghĩa và quảng diễn theo, Từ Điển Tiếng Việt, nxb,KHXH, HN VN, 1994, tr. 281.
[5] Không rõ tác giả, Linh Đạo Xi-tô Việt Nam (Lưu Hành Nội Bộ)
[6] Xc. Không rõ tác giả, Sử Dòng Xi-tô, (Lưu Hành Nội Bộ). Tr. 44.
[7] Xc. Không rõ tác giả, Sử Dòng Xi-tô, (Lưu Hành Nội Bộ). Tr. 81.
[8] Xc. Sử Dòng Xi-tô, Sđd.
[9] Không rõ tác giả, Hạnh Tích Cha Henri Thuận, tr. 75.
[10] Xc. Không Rõ Tác Giả, Sđd, tr. 156.
[11] Không rõ tác giả, Sđd, tr. 156.
[12] Đặng Chí San, Tam Giáo, (Bài ở Lớp).
[13] Nguyễn Gia Tường dịch, Tinh thần Khổng giáo (Bài ở lớp).
[14] Xc. Không rõ tác giả, Di Ngôn Cha Henri Thuận, tr. 142, (Lưu Hành Nội Bộ).
[15] Không rõ tác giả, Sđd, tr. 143.
[16] Ga 14,35.
[17] Không rõ tác giả, Sđd., tr. 112.
[18] Rm 12, 4.
[19] Ga 15,5.
[20] Giáo Hoàng Học Viện Piô X, Thánh Công Đồng Chung Vaticant II , Sắc lệnh về Đức Ái Hoàn Hảo, số 7, tr. 362”.
[21] Ga 15,1.
[22] Không rõ tác giả, Sử Dòng Xi-tô, tr. 44.
[23] Xc, Không rõ tác giả, Thói Lệ Dòng Xi-tô, số 4, tr. 176.
[24] Xc. Không rõ tác giả, Hạnh Tích, số 136.
[25] Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Trung tâm học liệu xuất bản, 1971, tr. 103.
[26] Mc 10, 28-30.
[27] Không rõ tác giả, Đời Sống Nội Tâm, tr. 2-3.
[28] Xh 3,5.
Nguồn: Trung tâm học vấn Thọ Mai (http://www.trungtamhocvanthomai.com/8thang3/linhdaoxito.htm)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.