View Full Version : Tình yêu và Thánh Thể
admin
29-01-2008, 08:39 PM
Tình yêu và Thánh Thể
Timothy Radcliffe, o.p.
Hội Nghị tổ chức vào tháng 10.2004
Nhân kỷ niệm lần thứ 34 Ngày Mục Vụ Giới Trẻ Quốc Gia tại Madrid
Tôi không nắm chắc lắm ý nghĩa của từ ngữ “affectividad” theo tiếng Tây Ban Nha. Trong tiếng Anh, từ “affectivity” không chỉ mang ý nghĩa về khả năng yêu thương, mà còn hàm ý nói đến cách chúng ta yêu thương, chúng ta, những con người thể lý và có giới tính, đối tượng của những xúc cảm và đam mê. Trong Kitô giáo, chúng ta nói nhiều về tình yêu, nhưng thường thì tình yêu ấy phần nào có vẻ trừu tượng, nằm ngoài thực tế. Dù gì đi nữa, chúng ta ai cũng phải yêu thương bằng chính con người thực của mình là những con người có giới tính, đầy ham muốn, cảm xúc mãnh liệt, muốn tiếp xúc và gần gũi nhau.
Cho là xấu xa khi nói về vấn đề này thì quả là lạ lùng, bởi chưng Kitô giáo là tôn giáo mang tính máu thịt nhất trong các tôn giáo. Chúng ta tin Thiên Chúa đã tạo thành những thân xác, và Người thấy chúng tốt lành; Thiên Chúa đã mang lấy xác phàm để đến giữa chúng ta, làm người như chúng ta; Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta bí tích thân xác của Người và đã hứa làm cho thân xác chúng ta sống lại. Vậy thì chúng ta nên cảm thấy đang ở nhà mình trong thân phận xác đất vật hèn cùng với những đam mê của nó và cảm thấy thoải mái khi nói về tình cảm mới phải ! Nhưng rất thường thấy, khi Hội Thánh nói về điều ấy, người ta vẫn cứ hoài nghi. Chúng ta chỉ lạm quyền khi nói về tình dục ! Thiên Chúa đã nhập thể trong Đức Giêsu Kitô, còn chúng ta, chúng ta vẫn còn đang học cách nhập thể trong thân xác chúng ta. Chúng ta cần phải trở lại với thực tế ! Một hôm, trong khi đang thuyết giảng về tình dục, thánh Gioan Kim Khẩu nhận thấy những người nghe tỏ vẻ ngượng ngùng, việc đó khiến ngài nổi giận : Sao các người lại phải xấu hổ ? Việc đó không thanh sạch ư ? Các người là những kẻ lạc giáo. Cho rằng không cần biết đến tình dục là một thiếu sót về đức trinh khiết đúng nghĩa, và ít nữa theo như thánh Tôma d’Aquin thì đó là thiếu sót về mặt đạo đức ! Gần như là với bản thể mang giới tính và nhiều ham muốn (đôi khi hơi mê đắm) mà chúng ta phải học cách yêu mến. Bằng không, chúng ta sẽ chẳng có gì để nói về Thiên Chúa tình yêu.
<SCRIPT><!--D(["mb","Tôi muốn nói về Bữa Tiệc Ly và đời sống tính dục. Điều nghe ra có vẻ kỳ cục, nhưng hãy suy nghĩ một lúc xem. Những lời trọng tâm trong Bữa Tiệc Ly là những lời : Này là mình Thầy, và Thầy ban cho anh em. Thánh Thể, cũng như tình dục, đều được tập trung vào việc cho đi thân xác. Các bạn có bao giờ để ý thấy chương đầu trong Thư Côrinthô chỉ xoay quanh hai vấn đề, đời sống tính dục và Thánh Thể ? Sở dĩ có như vậy là vì thánh Phaolô biết chúng ta phải hiểu vấn đề này dưới ánh sáng của vấn đề kia. Chúng ta hiểu về Thánh Thể dưới ánh sáng của tính dục, và tính dục dưới ánh sáng của Thánh Thể.\u003cbr /\u003eXã hội chúng ta ngày nay khó mà hiểu được điều đó, vì chúng ta có khuynh hướng xem thân xác mình như một đồ vật để sở hữu. Một hôm, tôi nhìn thấy một cuốn sách viết về thân xác con người với tựa đề : Con Người : tất cả các khuôn mẫu, hình hài, chiều kích, sắc thái - Cẩm nang sử dụng (nxb Haynes). Đó là một cuốn cẩm nang tương tự như thứ mà người ta kèm theo cho các bạn khi mua một chiếc xe hơi hay máy giặt. Nếu dựa theo quan điểm ấy để nghĩ về thân xác mình, như nghĩ đến một vật thể quan trọng giữa các vật thể khác, bấy giờ những hành vi tính dục hoàn toàn không mang chút ý nghĩa nào. Hiện tượng ấy phát sinh một cách trầm trọng nơi tuổi trưởng thành, và có thể suốt cả cuộc đời, khi người ta kết hôn hoặc trở thành tu sĩ hay linh mục. Loại khủng hoảng như thế thường xảy ra trong khoảng thời gian 5 hoặc 6 năm sau một cam kết trong hôn nhân hay chức linh mục. Chúng ta cần phải đối diện với nó. Hẳn là Chúa Giêsu đã có thể thoát đi bằng một cánh cửa bí mật và bỏ trốn. Cũng có thể Người bỏ rơi các môn đệ để chẳng phải làm gì cho các ông nữa. Nhưng không. Người đã đón nhận khoảnh khắc đức tin ấy. Và chúng ta sẽ chẳng có thể giúp cho những người trẻ làm được việc đó nếu chính chúng ta không từng trải qua giây phút ấy và đối đầu với nó. Đây cũng là trường hợp của tôi ! Mấy năm sau ngày được thụ phong, tôi nhớ lại có lúc mình đã hết sức si tình. Lần đầu tiên trong đời gặp được một người mà lẽ ra tôi đã cưới làm vợ cũng như người ấy lấy tôi làm chồng và sống trong hạnh phúc. Chính đó là lúc phải chọn lựa. Tôi đã hân hoan tuyên khấn trọng thể, đã yêu thương các anh chị em Đa-minh của mình. Tôi yêu sứ vụ của Dòng Thánh. Nhưng trong khi tuyên khấn, tôi đã một thoáng thắc mắc trong đầu : “Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi kết hôn ?”\u003cbr /\u003e",1]);//--></SCRIPT>Tôi muốn nói về Bữa Tiệc Ly và đời sống tính dục. Điều nghe ra có vẻ kỳ cục, nhưng hãy suy nghĩ một lúc xem. Những lời trọng tâm trong Bữa Tiệc Ly là những lời : Này là mình Thầy, và Thầy ban cho anh em. Thánh Thể, cũng như tình dục, đều được tập trung vào việc cho đi thân xác. Các bạn có bao giờ để ý thấy chương đầu trong Thư Côrinthô chỉ xoay quanh hai vấn đề, đời sống tính dục và Thánh Thể ? Sở dĩ có như vậy là vì thánh Phaolô biết chúng ta phải hiểu vấn đề này dưới ánh sáng của vấn đề kia. Chúng ta hiểu về Thánh Thể dưới ánh sáng của tính dục, và tính dục dưới ánh sáng của Thánh Thể.
admin
29-01-2008, 08:39 PM
Xã hội chúng ta ngày nay khó mà hiểu được điều đó, vì chúng ta có khuynh hướng xem thân xác mình như một đồ vật để sở hữu. Một hôm, tôi nhìn thấy một cuốn sách viết về thân xác con người với tựa đề : Con Người : tất cả các khuôn mẫu, hình hài, chiều kích, sắc thái - Cẩm nang sử dụng (nxb Haynes). Đó là một cuốn cẩm nang tương tự như thứ mà người ta kèm theo cho các bạn khi mua một chiếc xe hơi hay máy giặt. Nếu dựa theo quan điểm ấy để nghĩ về thân xác mình, như nghĩ đến một vật thể quan trọng giữa các vật thể khác, bấy giờ những hành vi tính dục hoàn toàn không mang chút ý nghĩa nào. Hiện tượng ấy phát sinh một cách trầm trọng nơi tuổi trưởng thành, và có thể suốt cả cuộc đời, khi người ta kết hôn hoặc trở thành tu sĩ hay linh mục. Loại khủng hoảng như thế thường xảy ra trong khoảng thời gian 5 hoặc 6 năm sau một cam kết trong hôn nhân hay chức linh mục. Chúng ta cần phải đối diện với nó. Hẳn là Chúa Giêsu đã có thể thoát đi bằng một cánh cửa bí mật và bỏ trốn. Cũng có thể Người bỏ rơi các môn đệ để chẳng phải làm gì cho các ông nữa. Nhưng không. Người đã đón nhận khoảnh khắc đức tin ấy. Và chúng ta sẽ chẳng có thể giúp cho những người trẻ làm được việc đó nếu chính chúng ta không từng trải qua giây phút ấy và đối đầu với nó. Đây cũng là trường hợp của tôi ! Mấy năm sau ngày được thụ phong, tôi nhớ lại có lúc mình đã hết sức si tình. Lần đầu tiên trong đời gặp được một người mà lẽ ra tôi đã cưới làm vợ cũng như người ấy lấy tôi làm chồng và sống trong hạnh phúc. Chính đó là lúc phải chọn lựa. Tôi đã hân hoan tuyên khấn trọng thể, đã yêu thương các anh chị em Đa-minh của mình. Tôi yêu sứ vụ của Dòng Thánh. Nhưng trong khi tuyên khấn, tôi đã một thoáng thắc mắc trong đầu : “Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi kết hôn ?”
Ngày ấy, trong khi tuyên khấn trọng thể, tôi đã phải chấp nhận đưa ra chọn lựa. Hoặc, nói chính xác, phải chấp nhận sự chọn lựa mà Chúa đã làm cho tôi, tức là sống cuộc sống mà tôi đã được Người kêu gọi. Quả là những lúc đầy cam go, nhưng cũng thật hạnh phúc. Tôi sung sướng vì mình đã yêu người ấy, và sau này chúng tôi vẫn luôn là bạn tốt của nhau. Đó cũng là lúc hạnh phúc vì tôi đã được giải thoát khỏi những ảo tưởng mà tôi đã giữ lại vào lúc tuyên khấn. Tôi đã nhẹ nhàng đáp trở lại mặt đất. Tâm trí tôi phải được nhập thân trong con người thật của tôi, trong cuộc sống mà Chúa đã chọn cho tôi, trong máu thịt này của tôi. Cơn khủng hoảng đã đưa tôi trở lại với cuộc sống thực tế.
Đối với nhiều người trong chúng ta, việc đó không chỉ xảy ra có một lần. chúng ta có thể trải qua nhiều khủng hoảng tình cảm trong suốt cả đời mình. Tôi đã từng nếm trải và ai biết sẽ còn chuyện gì xảy ra ? Nhưng chúng ta phải chạm trán với chúng, như Chúa Giêsu đã làm trong Bữa Tiệc Ly, một cách quả cảm và đầy tin tưởng. Bấy giờ, chúng ta sẽ nhẹ nhàng thâm nhập vào thế giới thực của xác thân và máu huyết chúng ta. Một đan sĩ Bênêđictô người Ái Nhĩ Lan, Mark Patrick Hederman, đã viết : Tình yêu là sức mạnh duy nhất đủ mãnh liệt để buộc chúng ta rời bỏ nơi trú thân thoải mái của chủ nghĩa cá nhân được che chắn kỹ của chúng ta, bước ra khỏi vỏ ốc kiên cố của tính tự mãn nơi chúng ta, ngẩng mặt mà dấn thân vào vùng nguy hiểm, vào lò thử thách mà ở đó chủ nghĩa cá nhân được thanh luyện và trở thành một nhân cách. Và giả như các bạn không thể tin vào một tu sĩ Bênêđictô Ái Nhĩ Lan, thì hẳn các bạn sẽ tin vào thánh Tôma d’Aquin : ai yêu mến thì đương nhiên phải vượt qua thứ biên giới giam hãm họ trong chính những giới hạn của họ. Vì thế mà người ta nói về tình yêu làm cho con tim mềm chảy : cái gì mềm chảy thì không còn bị kìm chặt trong những hạn hẹp của nó nữa, hoàn toàn ngược lại với cái gọi là sự chai đá của con tim. Chỉ có tình yêu mới đập vỡ sự chai đá của con tim và mang lại con tim bằng thịt.
admin
29-01-2008, 08:40 PM
Mở ra với tình yêu là việc làm hết sức mạo hiểm. Hiển nhiên là người ta sẽ bị tổn thương. Bữa Tiệc Ly là câu chuyện về sự liều mình vì yêu. Chính vì yêu mà Chúa Giêsu đã phải chết. Và việc ấy đặc biệt nguy hiểm đối với một linh mục hay một tu sĩ. Qua yêu mến người ta làm trỗi dậy những đam mê và ham muốn vô cùng sâu xa, đầy hỗn loạn; người ta có thể rơi vào nguy cơ đánh mất ơn gọi của mình hoặc sống một cuộc sống lập lờ nước đôi. Phải cần đến hồng ân mới vượt qua được những hiểm nghèo ấy. Nhưng không mở ra với tình yêu thì lại càng nguy hiểm hơn nhiều : đó là một nguy hiểm chết người. Hãy nghe những gì C.S. Lewis phát biểu : Chỉ có yêu mới làm cho dễ bị tổn thương. Hãy cứ yêu đi, và con tim của bạn sẽ bị xâu xé, thậm chí còn bị tan nát. Nếu muốn chắc chắn giữ được trái tim không hề hấn gì, thì đừng trao nó cho bất cứ ai, bất cứ loài vật nào. Hãy bao bọc nó cẩn thận trong những chuyện vặt vãnh và những tô điểm hào nhoáng; tránh mọi cam kết; cất kỹ nó trong một chiếc rương hoặc trong áo quan do thói ích kỷ của bạn làm ra. Nhưng trong chiếc rương chắc chắn, tối tăm, bất động, kín mít ấy, nó sẽ biến dạng. Nó sẽ không tan nát, nó sẽ trở nên trơ lì, không thể thâm nhập, bất khả xâm phạm. Khả năng duy nhất, theo kiểu ấy, thì ngoài sự bi thảm ra, hoặc chí ít là nguy cơ rơi vào bi thảm, chính là sự đoạ đày. Nơi duy nhất, ngoài thiên đàng là nơi mà người ta sẽ hoàn toàn được bảo vệ khỏi mọi hiểm nguy và những thăng trầm của tình yêu, chính là địa ngục !
<SCRIPT><!--D(["mb","Khi chúng ta cử hành Thánh Thể, chúng ta nhớ lại máu Chúa Kitô được đổ ra vì mỗi người chúng ta và vì hết thảy mọi người. Theo nghĩa sâu xa nhất, mầu nhiệm tình yêu vừa mang tính cá nhân vừa có tính phổ quát. Nếu tình yêu của chúng ta chỉ hoàn toàn cá nhân, thì có nguy cơ tự giới hạn mình trở thành ích kỷ và ngột ngạt. Còn như chỉ là một tình yêu mù mờ đối với toàn thể nhân loại, thì lại có nguy cơ trở thành rỗng tuếch và vô ích. Cám dỗ của đời sống đôi lứa có thể là có một tình yêu mãnh liệt nhưng khép kín và độc chiếm; thông thường, điều duy nhất mà lúc ấy có thể làm cho nó tránh khỏi bị huỷ diệt, chính là sự xuất hiện của một nhân vật thứ ba, đứa con, chính nó mở rộng tình yêu của cha mẹ nó thêm ra. Cám dỗ của những người sống độc thân có thể là một tình yêu phổ quát đơn giản, một tình yêu dành cho nhân loại, tuy nồng nhiệt, nhưng mơ hồ. Trong tác phẩm Ngôi Nhà Gió Buốt, Dickens kể cho chúng ta nghe về bà Jellyby được phú cho một lòng nhân ái chỉ phát huy được từ xa như thế nào, vì bà không thể nhìn thấy những gì gần hơn châu Phi. Bà yêu cả Phi châu, nhưng chính sự hiện hữu của các con bà thì bà lại không nhận ra.\u003cbr /\u003eNhững người sống thánh hiến như chúng ta thì không thể náu mình trong một kiểu nhân ái từ xa như thế. Đến gần với mầu nhiệm tình yêu cũng có nghĩa là chúng ta yêu mến con người, có khi bằng tình bạn, có khi bằng một tình cảm sâu sắc. Chúng ta phải học cách hội nhập những tình yêu ấy vào trong chân tính đời thánh hiến của chúng ta. Có vẻ như ngày trước người ta thường canh chừng các tu sĩ khỏi “những tình bạn khác thường”. Đấng đáng kính Gervase Matthew vẫn luôn nói rằng ngài còn sợ \u0026nbsp;“những hiềm khích khác thường” hơn nhiều !\u003cbr /\u003eBède Jarret là Bề Trên giám tỉnh Đa-minh nước Anh vào những năm 30. Ngài đã viết một bức thư tuyệt diệu cho một đan sĩ trẻ dòng Bênêđictô, Hubert van Zeller, người mà sau chiến tranh sẽ trở thành nổi tiếng do những bài viết về linh đạo. Đan sĩ trẻ ấy đã phải lòng một người mà chúng ta chỉ biết với tên tắt là P.. Quả là một thử thách ghê gớm. Thầy e rằng đây là dấu chấm hết cho ơn gọi đời thánh hiến của mình; Bède thì cho là mọi chuyện chỉ mới bắt đầu. Tôi sẽ trích dẫn hơi dài một chút để các bạn xem. Người ta ngạc nhiên khi nhớ lại bức thư ấy được viết ra cách đây đã bảy mươi năm.\u003cbr /\u003e",1]);//--></SCRIPT>Khi chúng ta cử hành Thánh Thể, chúng ta nhớ lại máu Chúa Kitô được đổ ra vì mỗi người chúng ta và vì hết thảy mọi người. Theo nghĩa sâu xa nhất, mầu nhiệm tình yêu vừa mang tính cá nhân vừa có tính phổ quát. Nếu tình yêu của chúng ta chỉ hoàn toàn cá nhân, thì có nguy cơ tự giới hạn mình trở thành ích kỷ và ngột ngạt. Còn như chỉ là một tình yêu mù mờ đối với toàn thể nhân loại, thì lại có nguy cơ trở thành rỗng tuếch và vô ích. Cám dỗ của đời sống đôi lứa có thể là có một tình yêu mãnh liệt nhưng khép kín và độc chiếm; thông thường, điều duy nhất mà lúc ấy có thể làm cho nó tránh khỏi bị huỷ diệt, chính là sự xuất hiện của một nhân vật thứ ba, đứa con, chính nó mở rộng tình yêu của cha mẹ nó thêm ra. Cám dỗ của những người sống độc thân có thể là một tình yêu phổ quát đơn giản, một tình yêu dành cho nhân loại, tuy nồng nhiệt, nhưng mơ hồ. Trong tác phẩm Ngôi Nhà Gió Buốt, Dickens kể cho chúng ta nghe về bà Jellyby được phú cho một lòng nhân ái chỉ phát huy được từ xa như thế nào, vì bà không thể nhìn thấy những gì gần hơn châu Phi. Bà yêu cả Phi châu, nhưng chính sự hiện hữu của các con bà thì bà lại không nhận ra.
Những người sống thánh hiến như chúng ta thì không thể náu mình trong một kiểu nhân ái từ xa như thế. Đến gần với mầu nhiệm tình yêu cũng có nghĩa là chúng ta yêu mến con người, có khi bằng tình bạn, có khi bằng một tình cảm sâu sắc. Chúng ta phải học cách hội nhập những tình yêu ấy vào trong chân tính đời thánh hiến của chúng ta. Có vẻ như ngày trước người ta thường canh chừng các tu sĩ khỏi “những tình bạn khác thường”. Đấng đáng kính Gervase Matthew vẫn luôn nói rằng ngài còn sợ “những hiềm khích khác thường” hơn nhiều !
admin
29-01-2008, 08:41 PM
Bède Jarret là Bề Trên giám tỉnh Đa-minh nước Anh vào những năm 30. Ngài đã viết một bức thư tuyệt diệu cho một đan sĩ trẻ dòng Bênêđictô, Hubert van Zeller, người mà sau chiến tranh sẽ trở thành nổi tiếng do những bài viết về linh đạo. Đan sĩ trẻ ấy đã phải lòng một người mà chúng ta chỉ biết với tên tắt là P.. Quả là một thử thách ghê gớm. Thầy e rằng đây là dấu chấm hết cho ơn gọi đời thánh hiến của mình; Bède thì cho là mọi chuyện chỉ mới bắt đầu. Tôi sẽ trích dẫn hơi dài một chút để các bạn xem. Người ta ngạc nhiên khi nhớ lại bức thư ấy được viết ra cách đây đã bảy mươi năm.
<SCRIPT><!--D(["mb","Cha lấy làm sung sướng [về việc con phải lòng P.] vì cha tin rằng chính sự nhiệm nhặt mới là cám dỗ mà con luôn phải đưa mình ra hứng chịu, quả đó là một thứ khắt khe, một cái gì đó phi nhân tính. Khuynh hướng của con là luôn muốn từ khước tôn trọng vật chất. Con đã có được tình yêu Thiên Chúa, nhưng con vẫn chưa thực sự có được tình yêu Nhập Thể. Kỳ thực con lo sợ. Con cho rằng (ở đây cha qui mọi sai lầm cho con mà không có chứng cứ), nếu con buông lỏng, con sẽ mất hết nhuệ khí. Con là người đầy những ức chế. Chúng suýt giết chết con; suýt nữa giết chết nhân tính nơi con. Con lo sợ cuộc đời vì con muốn mình làm thánh và vì con biết con là một nghệ sĩ. Người nghệ sĩ trong con nhìn thấy vẻ đẹp ở khắp nơi; vị thánh đáng mơ ước trong con lại bảo “Ôi nguy hiểm quá !”; người tập sinh nơi con thì nói rằng “Hãy nhắm chặt mắt lại”. Còn anh chàng Claude [tên thánh rửa tội của đan sĩ trẻ] rõ ràng là suýt nữa vỡ tung hằng trăm mảnh. Giả như P. không bước vào đời con, thì hẳn là có thể con đã vỡ tung như thế mất rồi. Cha tin là P. sẽ cứu lấy cuộc đời con. Cha sẽ cử hành một Thánh lễ tạ ơn vì những gì P. đã là, và đã làm, đối với con. Từ lâu con đã cần đến P. Những kẻ đồng tính không phải là giải pháp. Những bề trên già cả bụng phệ lại càng không phải. Cha không muốn nói là tất cả chúng ta ai cũng phải lao mình ra cửa để tìm xem liệu có ai đó để mà yêu mến không ! Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta những tình yêu và tình bạn dệt thành con đường để chúng ta tiến đến với Người là Đấng sung mãn tình yêu. Chúng ta đang trong tư thế chờ đợi những gì Thiên Chúa gửi đến, không biết lúc nào, và như thế nào. Nhưng khi chúng đến, bấy giờ chúng ta phải có can đảm để đón lấy cho đúng lúc, như Chúa Giêsu đã làm trong Bữa Tiệc Ly.\u003cbr /\u003eKhi làm như vậy, chúng ta sẽ phải học biết cách trở nên trinh khiết. Tất thảy chúng ta, sống độc thân hay có vợ có chồng hoặc sống đời thánh hiến, đều được kêu gọi đến với đức trinh khiết. Từ ngữ ấy không mấy phổ biến trong thời đại chúng ta. Nó văng vẳng bên tai như thể đó là kiểu đoan chính giả tạo, lạnh lùng, xa cách, dở dở ương ương, chẳng thú vị gì. Herbert MCCabe, o.p., đã viết rằng sự trinh khiết mà không phải là một biểu lộ tình yêu, thì chỉ là cái xác không hồn của đức trinh khiết đích thực. Xác của một con chó chết thì cũng vẫn mang hình hài một con chó. Thậm chí người ta có thể nhầm lẫn và tưởng rằng đó là một con chó đang ngủ. Nhưng đấy không phải là một con chó, mà thực ra đó chỉ là con chó đã chết. Cũng vậy, ai đó sống độc thân mà không yêu mến thì khác nào một người trinh khiết, nhưng đã chết.\u003cbr /\u003e",1]);//--></SCRIPT>Cha lấy làm sung sướng [về việc con phải lòng P.] vì cha tin rằng chính sự nhiệm nhặt mới là cám dỗ mà con luôn phải đưa mình ra hứng chịu, quả đó là một thứ khắt khe, một cái gì đó phi nhân tính. Khuynh hướng của con là luôn muốn từ khước tôn trọng vật chất. Con đã có được tình yêu Thiên Chúa, nhưng con vẫn chưa thực sự có được tình yêu Nhập Thể. Kỳ thực con lo sợ. Con cho rằng (ở đây cha qui mọi sai lầm cho con mà không có chứng cứ), nếu con buông lỏng, con sẽ mất hết nhuệ khí. Con là người đầy những ức chế. Chúng suýt giết chết con; suýt nữa giết chết nhân tính nơi con. Con lo sợ cuộc đời vì con muốn mình làm thánh và vì con biết con là một nghệ sĩ. Người nghệ sĩ trong con nhìn thấy vẻ đẹp ở khắp nơi; vị thánh đáng mơ ước trong con lại bảo “Ôi nguy hiểm quá !”; người tập sinh nơi con thì nói rằng “Hãy nhắm chặt mắt lại”. Còn anh chàng Claude [tên thánh rửa tội của đan sĩ trẻ] rõ ràng là suýt nữa vỡ tung hằng trăm mảnh. Giả như P. không bước vào đời con, thì hẳn là có thể con đã vỡ tung như thế mất rồi. Cha tin là P. sẽ cứu lấy cuộc đời con. Cha sẽ cử hành một Thánh lễ tạ ơn vì những gì P. đã là, và đã làm, đối với con. Từ lâu con đã cần đến P. Những kẻ đồng tính không phải là giải pháp. Những bề trên già cả bụng phệ lại càng không phải. Cha không muốn nói là tất cả chúng ta ai cũng phải lao mình ra cửa để tìm xem liệu có ai đó để mà yêu mến không ! Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta những tình yêu và tình bạn dệt thành con đường để chúng ta tiến đến với Người là Đấng sung mãn tình yêu. Chúng ta đang trong tư thế chờ đợi những gì Thiên Chúa gửi đến, không biết lúc nào, và như thế nào. Nhưng khi chúng đến, bấy giờ chúng ta phải có can đảm để đón lấy cho đúng lúc, như Chúa Giêsu đã làm trong Bữa Tiệc Ly.
<SCRIPT><!--D(["mb","Thế thì trinh khiết nghĩa là gì ? Trước hết, đức trinh khiết không hệ tại ở chỗ loại bỏ những ham muốn, chí ít là theo truyền thống của thánh Tôma d’Aquin. Ham muốn và các đam mê đều chứa đựng những chân lý sâu xa về những gì chúng ta là và những gì cần thiết cho chúng ta. Bóp chết chúng thì chỉ giết chết chúng ta về mặt tinh thần, hay đúng hơn, đến một ngày nào đó, làm cho chúng ta “trật bánh khỏi đường ray”. Chúng ta phải giáo hoá các ham muốn của mình, mở mắt nhìn vào những đối tượng thực của chúng, gỡ chúng ra khỏi những lạc thú tầm thường. Chúng ta phải ước muốn sâu xa hơn, trong sáng hơn. Thánh Tôma đã viết một điều mà sẽ rất dễ diễn dịch sai. Thánh nhân nói rằng đức trinh khiết là ở chỗ sống theo lệnh truyền của lý trí. Điều đó xem ra khá vô cảm và duy ý chí, như thể là việc trở nên khiết tịnh hoàn toàn tuỳ thuộc vào quyền lực của tinh thần. Nhưng, đúng ra, Thánh Tôma muốn nói là hãy sống trong thế giới thực tại, sống chân lý những điều có thực. Như vậy có nghĩa là sống trung thực với những gì mà tôi là và những gì đích thực là những người tôi yêu mến. Đam mê và ham muốn có thể lôi kéo chúng ta sống trong sự tưởng tượng, trong khi đó đức trinh khiết thì đưa chúng ta trở lại với thực tế, nhìn thấy mọi sự như chúng vốn là. Đối với một người sống đời thánh hiến, hoặc đôi khi cả với những người sống độc thân, có thể nảy sinh cám dỗ muốn lánh mình vào ảo tưởng độc hại cho rằng chúng ta là những thiên thần thanh khiết nên chẳng việc gì mà phải quan tâm đến tình dục. Điều đó tương tự như sự trinh khiết, nhưng lại là một trinh khiết đã bị thoái hoá. Đến đây tôi nhớ lại câu chuyện về một trong những Anh Em của tôi đi dâng lễ trong một dòng nữ. Chị nữ tu ra mở cửa nhìn Anh và bảo : “Ôi ! Cha đây rồi, thưa Cha ! Vậy mà con cứ tưởng là một người đàn ông kia đấy !”\u003cbr /\u003eHẳn là người ta sẽ khó có thể hình dung ra nổi một thể hiện tình yêu nào lại bình dị như Bữa Tiệc Ly. Không có gì lãng mạn ở đấy cả : Đức Giêsu nói rõ ràng với các môn đệ rằng giờ cuối cùng đang gần đến, một trong số họ đã phản bội Người, Phêrô sẽ chối Người, còn những người khác sẽ bỏ trốn. Đây hoàn toàn không phải là một bữa tối thân tình bình thường với đèn nến thắp sáng trong một quán ăn bình dân. Đây là một chủ nghĩa hiện thực đạt đến tuyệt đỉnh. Một Tình Yêu Thánh Thể đặt chúng ta một cách trung thực và dứt khoát trước những xáo trộn của yêu đương, những thất bại, và chiến thắng tối hậu của Tình Yêu ấy.\u003cbr /\u003e",1]);//--></SCRIPT>
admin
29-01-2008, 08:42 PM
Khi làm như vậy, chúng ta sẽ phải học biết cách trở nên trinh khiết. Tất thảy chúng ta, sống độc thân hay có vợ có chồng hoặc sống đời thánh hiến, đều được kêu gọi đến với đức trinh khiết. Từ ngữ ấy không mấy phổ biến trong thời đại chúng ta. Nó văng vẳng bên tai như thể đó là kiểu đoan chính giả tạo, lạnh lùng, xa cách, dở dở ương ương, chẳng thú vị gì. Herbert MCCabe, o.p., đã viết rằng sự trinh khiết mà không phải là một biểu lộ tình yêu, thì chỉ là cái xác không hồn của đức trinh khiết đích thực. Xác của một con chó chết thì cũng vẫn mang hình hài một con chó. Thậm chí người ta có thể nhầm lẫn và tưởng rằng đó là một con chó đang ngủ. Nhưng đấy không phải là một con chó, mà thực ra đó chỉ là con chó đã chết. Cũng vậy, ai đó sống độc thân mà không yêu mến thì khác nào một người trinh khiết, nhưng đã chết.
Thế thì trinh khiết nghĩa là gì ? Trước hết, đức trinh khiết không hệ tại ở chỗ loại bỏ những ham muốn, chí ít là theo truyền thống của thánh Tôma d’Aquin. Ham muốn và các đam mê đều chứa đựng những chân lý sâu xa về những gì chúng ta là và những gì cần thiết cho chúng ta. Bóp chết chúng thì chỉ giết chết chúng ta về mặt tinh thần, hay đúng hơn, đến một ngày nào đó, làm cho chúng ta “trật bánh khỏi đường ray”. Chúng ta phải giáo hoá các ham muốn của mình, mở mắt nhìn vào những đối tượng thực của chúng, gỡ chúng ra khỏi những lạc thú tầm thường. Chúng ta phải ước muốn sâu xa hơn, trong sáng hơn. Thánh Tôma đã viết một điều mà sẽ rất dễ diễn dịch sai. Thánh nhân nói rằng đức trinh khiết là ở chỗ sống theo lệnh truyền của lý trí. Điều đó xem ra khá vô cảm và duy ý chí, như thể là việc trở nên khiết tịnh hoàn toàn tuỳ thuộc vào quyền lực của tinh thần. Nhưng, đúng ra, Thánh Tôma muốn nói là hãy sống trong thế giới thực tại, sống chân lý những điều có thực. Như vậy có nghĩa là sống trung thực với những gì mà tôi là và những gì đích thực là những người tôi yêu mến. Đam mê và ham muốn có thể lôi kéo chúng ta sống trong sự tưởng tượng, trong khi đó đức trinh khiết thì đưa chúng ta trở lại với thực tế, nhìn thấy mọi sự như chúng vốn là. Đối với một người sống đời thánh hiến, hoặc đôi khi cả với những người sống độc thân, có thể nảy sinh cám dỗ muốn lánh mình vào ảo tưởng độc hại cho rằng chúng ta là những thiên thần thanh khiết nên chẳng việc gì mà phải quan tâm đến tình dục. Điều đó tương tự như sự trinh khiết, nhưng lại là một trinh khiết đã bị thoái hoá. Đến đây tôi nhớ lại câu chuyện về một trong những Anh Em của tôi đi dâng lễ trong một dòng nữ. Chị nữ tu ra mở cửa nhìn Anh và bảo : “Ôi ! Cha đây rồi, thưa Cha ! Vậy mà con cứ tưởng là một người đàn ông kia đấy !”
Hẳn là người ta sẽ khó có thể hình dung ra nổi một thể hiện tình yêu nào lại bình dị như Bữa Tiệc Ly. Không có gì lãng mạn ở đấy cả : Đức Giêsu nói rõ ràng với các môn đệ rằng giờ cuối cùng đang gần đến, một trong số họ đã phản bội Người, Phêrô sẽ chối Người, còn những người khác sẽ bỏ trốn. Đây hoàn toàn không phải là một bữa tối thân tình bình thường với đèn nến thắp sáng trong một quán ăn bình dân. Đây là một chủ nghĩa hiện thực đạt đến tuyệt đỉnh. Một Tình Yêu Thánh Thể đặt chúng ta một cách trung thực và dứt khoát trước những xáo trộn của yêu đương, những thất bại, và chiến thắng tối hậu của Tình Yêu ấy.
<SCRIPT><!--D(["mb","Ham muốn có thể đặt bẫy chúng ta trong những ảo tưởng nào ? Tôi phân ra làm hai. Thứ nhất, cám dỗ tin rằng người khác là tất cả, tất cả những gì chúng ta tìm kiếm, những gì đáp ứng được những khát vọng của chúng ta. Đó là sự ám ảnh. Thứ hai, không nhìn thấy được nhân tính nơi người khác, hạ giá nó xuống để phục vụ cho việc thoả mãn những ham muốn của chúng ta. Đó là ham mê nhục dục. Hai hiện tượng ấy chẳng khác nhau là mấy. Cái này là ảnh chiếu của cái kia.\u003cbr /\u003eTôi giả sử tất cả chúng ta ai cũng đều đã trải qua những lúc rơi vào sự ám ảnh, khi một ai đó trở thành đối tượng cho những ham muốn của chúng ta, thành biểu tượng của tất cả những gì chưa bao giờ chúng ta ao ước, đáp ứng được tất cả những nhu cầu của chúng ta. Nếu không kết hợp mật thiết với con người ấy, cuộc đời chúng ta trở thành trống rỗng và mất hết ý nghĩa. Đối tượng yêu đương của chúng ta lấp đầy cho lòng giếng sâu chất chứa những nhu cầu mà chúng ta phát hiện thấy trong chính mình. Chúng ta nghĩ đến người ấy suốt ngày. Như Shakespeare đã diễn đạt hết sức rõ ràng : Này đây, ngày thì chân tay ta, đêm thì lòng trí ta, vì em, và vì ta, mà không phút giây ngơi nghỉ.\u003cbr /\u003eHoặc nữa, để nói cho có vẻ hiện đại hơn, gương mặt của người yêu giống như tấm kính lọc màn hình máy điện toán của chúng ta. Khi thôi không suy nghĩ đến điều gì khác, tức thì nó có ngay trước mặt. Điều đó tương tự như một nhà tù, một thứ nô lệ, nhưng thứ nô lệ mà chúng ta không muốn thoát ra. Chúng ta thần thánh hoá người yêu, đặt họ vào vị trí của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, chúng ta luôn chúc tụng công cuộc tạo thành dành cho chúng ta. Nhưng đây chỉ là một âm bản. Có thể bất cứ một tình yêu nào cũng đều phải trải qua giai đoạn ám ảnh phi lý ấy. Phương thuốc duy nhất để chữa lành, đó là sống với người yêu ngày này qua ngày khác, và khám phá ra họ không phải là Thiên Chúa, mà chỉ là con cái của Người. Tình yêu bắt đầu từ lúc chúng ta được chữa lành khỏi ảo tưởng ấy và nhận ra mình đang đối diện với một con người thực chứ không phải một phản chiếu của những ham muốn nơi chúng ta. Như Octavio Paz nói : Tình yêu mở ra cho ham muốn nhìn thấy sự thật. Nhưng chúng ta tìm kiếm điều gì ở đây ? Cái gì gợi lên ám ảnh ấy ? Tôi chỉ có thể nói được theo thiển ý của mình, và xin nói ngay rằng cái luôn nằm đằng sau những bối rối xúc cảm nhất thời của tôi chính là ước ao có được sự mật thiết. Ước ao được hoàn toàn trở nên một, xoá tan mọi biên giới giữa tôi và một người khác, đánh mất mình vào trong một người khác, bắt đầu một kết hiệp thuần nhất và toàn diện. Hơn cả một đam mê giới tính, tôi nghĩ rằng đó là một sự mật thiết mà đa số người đang kiếm tìm. Nếu phải trải qua những khủng hoảng \u0026nbsp;tình cảm, chúng ta hãy nhìn nhận là chúng ta muốn tìm kiếm sự mật thiết.\u003cbr /\u003e",1]);//--></SCRIPT>
admin
29-01-2008, 08:43 PM
Ham muốn có thể đặt bẫy chúng ta trong những ảo tưởng nào ? Tôi phân ra làm hai. Thứ nhất, cám dỗ tin rằng người khác là tất cả, tất cả những gì chúng ta tìm kiếm, những gì đáp ứng được những khát vọng của chúng ta. Đó là sự ám ảnh. Thứ hai, không nhìn thấy được nhân tính nơi người khác, hạ giá nó xuống để phục vụ cho việc thoả mãn những ham muốn của chúng ta. Đó là ham mê nhục dục. Hai hiện tượng ấy chẳng khác nhau là mấy. Cái này là ảnh chiếu của cái kia.Tôi giả sử tất cả chúng ta ai cũng đều đã trải qua những lúc rơi vào sự ám ảnh, khi một ai đó trở thành đối tượng cho những ham muốn của chúng ta, thành biểu tượng của tất cả những gì chưa bao giờ chúng ta ao ước, đáp ứng được tất cả những nhu cầu của chúng ta. Nếu không kết hợp mật thiết với con người ấy, cuộc đời chúng ta trở thành trống rỗng và mất hết ý nghĩa. Đối tượng yêu đương của chúng ta lấp đầy cho lòng giếng sâu chất chứa những nhu cầu mà chúng ta phát hiện thấy trong chính mình. Chúng ta nghĩ đến người ấy suốt ngày. Như Shakespeare đã diễn đạt hết sức rõ ràng : Này đây, ngày thì chân tay ta, đêm thì lòng trí ta, vì em, và vì ta, mà không phút giây ngơi nghỉ.
Hoặc nữa, để nói cho có vẻ hiện đại hơn, gương mặt của người yêu giống như tấm kính lọc màn hình máy điện toán của chúng ta. Khi thôi không suy nghĩ đến điều gì khác, tức thì nó có ngay trước mặt. Điều đó tương tự như một nhà tù, một thứ nô lệ, nhưng thứ nô lệ mà chúng ta không muốn thoát ra. Chúng ta thần thánh hoá người yêu, đặt họ vào vị trí của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, chúng ta luôn chúc tụng công cuộc tạo thành dành cho chúng ta. Nhưng đây chỉ là một âm bản. Có thể bất cứ một tình yêu nào cũng đều phải trải qua giai đoạn ám ảnh phi lý ấy. Phương thuốc duy nhất để chữa lành, đó là sống với người yêu ngày này qua ngày khác, và khám phá ra họ không phải là Thiên Chúa, mà chỉ là con cái của Người. Tình yêu bắt đầu từ lúc chúng ta được chữa lành khỏi ảo tưởng ấy và nhận ra mình đang đối diện với một con người thực chứ không phải một phản chiếu của những ham muốn nơi chúng ta. Như Octavio Paz nói : Tình yêu mở ra cho ham muốn nhìn thấy sự thật. Nhưng chúng ta tìm kiếm điều gì ở đây ? Cái gì gợi lên ám ảnh ấy ? Tôi chỉ có thể nói được theo thiển ý của mình, và xin nói ngay rằng cái luôn nằm đằng sau những bối rối xúc cảm nhất thời của tôi chính là ước ao có được sự mật thiết. Ước ao được hoàn toàn trở nên một, xoá tan mọi biên giới giữa tôi và một người khác, đánh mất mình vào trong một người khác, bắt đầu một kết hiệp thuần nhất và toàn diện. Hơn cả một đam mê giới tính, tôi nghĩ rằng đó là một sự mật thiết mà đa số người đang kiếm tìm. Nếu phải trải qua những khủng hoảng tình cảm, chúng ta hãy nhìn nhận là chúng ta muốn tìm kiếm sự mật thiết.
<SCRIPT><!--D(["mb","Xã hội chúng ta được kiến tạo chung quanh huyền thoại về việc kết giao giới tính như là đỉnh cao nhất của mọi mật thiết. Chính cái khoảnh khắc của sự âu yếm và kết giao thể lý hoàn toàn tạo ra sự mật thiết toàn diện và sự kết giao tuyệt đối. Nhiều người không biết đến sự mật thiết ấy vì họ không kết hôn hoặc hôn nhân của họ không hạnh phúc, hoặc nữa họ là linh mục hay tu sĩ. Và cũng có thể chúng ta cảm thấy bị tước đoạt một cách bất công nhu cầu sâu xa nhất của chúng ta. Quá ư là độc đoán ! Sao Chúa lại tước mất của tôi sự thoả mãn ham muốn sâu xa ấy ?\u003cbr /\u003eTôi nghĩ rằng tất cả mọi người, bất luận là kết hôn hay độc thân, tu sĩ hay giáo dân, đều phải học biết cách thích nghi với những giới hạn của sự mật thiết mà mình chạm trán. Giấc mơ về một kết giao toàn diện là một huyền thoại đưa đẩy một số tu sĩ đến chỗ muốn kết hôn, và một số người đã kết hôn lại muốn kết hôn một người khác. Dĩ nhiên là một sự mật thiết chỉ có thể hạnh phúc nếu chúng ta chấp nhận những giới hạn của nó. Chúng ta có thể dự kiến nơi những đôi lứa đã kết hôn một sự mật thiết tuyệt diệu và toàn diện, nhưng trên thực tế đó lại là điều không thể và chỉ là ánh chiếu của những mơ mộng nơi chúng ta mà thôi. Rilke đã nhận định rằng không thể có sự mật thiết đích thực nơi một đôi bạn nếu người này không nhận ra nơi người kia, cách nào đó, vẫn cô độc. Tất cả mọi con người đều giữ lại một phần sự cô tịch quanh mình vốn không thể bị loại bỏ. Một cuộc hôn nhân tốt lành là cuộc hôn nhân mà trong đó người này làm cho người kia trở thành người bảo vệ sự cô tịch của mình và trao nhau niềm tin tưởng lớn nhất có thể tỏ bày ra được (…) Một khi người ta đã hiểu và chấp nhận được rằng, ngay cả những người gần gũi nhau nhất, vẫn còn tồn tại những khoảng cách bất tận, thì mới có thể tự phát triển một đời sống bên nhau tuyệt diệu, với điều kiện họ yêu mến được cái khoảng cách giữa họ với nhau, cái khoảng cách mà mang lại cho người này khả năng nhìn thấy người kia trọn vẹn dựa trên một bối cảnh rộng lớn.\u003cbr /\u003eKhông ai có thể mang lại cho chúng ta sự thoả mãn hoàn toàn những gì chúng ta ao ước. Điều đó chỉ có thể gặp thấy nơi Thiên Chúa. Rowan Williams, đã kết hôn và là tổng giám mục giáo phận Cantorbéry, viết : Một con người trở nên trưởng thành và trung tín khi anh ta ý thức được tính chất nan y của ham muốn nơi mình : thế giới chẳng là gì cả nên sẽ không mang lại cho con người một chân tính không sai lầm và hoàn hảo. Hoặc nữa, nên trích dẫn thêm Jean Vanier : Sự cô tịch là thành phần của bản thể con người, bởi vì không có gì trong cuộc sống có thể thoả mãn hoàn toàn những ước muốn của trái tim con người.\u003cbr /\u003e",1]);//--></SCRIPT>Xã hội chúng ta được kiến tạo chung quanh huyền thoại về việc kết giao giới tính như là đỉnh cao nhất của mọi mật thiết. Chính cái khoảnh khắc của sự âu yếm và kết giao thể lý hoàn toàn tạo ra sự mật thiết toàn diện và sự kết giao tuyệt đối. Nhiều người không biết đến sự mật thiết ấy vì họ không kết hôn hoặc hôn nhân của họ không hạnh phúc, hoặc nữa họ là linh mục hay tu sĩ. Và cũng có thể chúng ta cảm thấy bị tước đoạt một cách bất công nhu cầu sâu xa nhất của chúng ta. Quá ư là độc đoán ! Sao Chúa lại tước mất của tôi sự thoả mãn ham muốn sâu xa ấy ?
Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người, bất luận là kết hôn hay độc thân, tu sĩ hay giáo dân, đều phải học biết cách thích nghi với những giới hạn của sự mật thiết mà mình chạm trán. Giấc mơ về một kết giao toàn diện là một huyền thoại đưa đẩy một số tu sĩ đến chỗ muốn kết hôn, và một số người đã kết hôn lại muốn kết hôn một người khác. Dĩ nhiên là một sự mật thiết chỉ có thể hạnh phúc nếu chúng ta chấp nhận những giới hạn của nó. Chúng ta có thể dự kiến nơi những đôi lứa đã kết hôn một sự mật thiết tuyệt diệu và toàn diện, nhưng trên thực tế đó lại là điều không thể và chỉ là ánh chiếu của những mơ mộng nơi chúng ta mà thôi. Rilke đã nhận định rằng không thể có sự mật thiết đích thực nơi một đôi bạn nếu người này không nhận ra nơi người kia, cách nào đó, vẫn cô độc. Tất cả mọi con người đều giữ lại một phần sự cô tịch quanh mình vốn không thể bị loại bỏ. Một cuộc hôn nhân tốt lành là cuộc hôn nhân mà trong đó người này làm cho người kia trở thành người bảo vệ sự cô tịch của mình và trao nhau niềm tin tưởng lớn nhất có thể tỏ bày ra được (…) Một khi người ta đã hiểu và chấp nhận được rằng, ngay cả những người gần gũi nhau nhất, vẫn còn tồn tại những khoảng cách bất tận, thì mới có thể tự phát triển một đời sống bên nhau tuyệt diệu, với điều kiện họ yêu mến được cái khoảng cách giữa họ với nhau, cái khoảng cách mà mang lại cho người này khả năng nhìn thấy người kia trọn vẹn dựa trên một bối cảnh rộng lớn.
admin
29-01-2008, 08:49 PM
Không ai có thể mang lại cho chúng ta sự thoả mãn hoàn toàn những gì chúng ta ao ước. Điều đó chỉ có thể gặp thấy nơi Thiên Chúa. Rowan Williams, đã kết hôn và là tổng giám mục giáo phận Cantorbéry, viết : Một con người trở nên trưởng thành và trung tín khi anh ta ý thức được tính chất nan y của ham muốn nơi mình : thế giới chẳng là gì cả nên sẽ không mang lại cho con người một chân tính không sai lầm và hoàn hảo. Hoặc nữa, nên trích dẫn thêm Jean Vanier : Sự cô tịch là thành phần của bản thể con người, bởi vì không có gì trong cuộc sống có thể thoả mãn hoàn toàn những ước muốn của trái tim con người.
Với những ai đã kết hôn, một sự mật thiết tuyệt diệu là điều có thể một khi người ta chấp nhận trở thành người bảo vệ sự cô tịch của người kia, Rilke nói; và với những ai trong chúng ta là những người không kết hôn hoặc cam kết sống đời độc thân, thì cũng có thể khám phá ra một sự mật thiết sâu xa và tuyệt diệu với những người khác. Từ ngữ “mật thiết” phát xuất từ tiếng La-tinh “intimare”, có nghĩa là “liên quan đến điều sâu kín nhất nơi một người khác”. Vì là tu sĩ, nên lời khấn trinh khiết của tôi mang lại cho tôi khả năng trở thành mật thiết với người khác một cách khó tin. Vì tôi không có nhật ký riêng và tình yêu của tôi không biết đến sự vồ vập cũng như sự chiếm hữu, cho nên tôi có thể đến rất gần với trung tâm của sự sống con người.
Cạm bẫy ngược lại với nỗi ám ảnh muốn đặt người khác vào vị trí của Thiên Chúa, chính là làm cho người khác trở thành một vật thể đơn giản, một cái gì đó có thể thoả mãn những nhu cầu tính dục. Sự ham mê dục tình làm chúng ta không nhìn ra người khác là con người, không thấy sự mỏng giòn và những phẩm chất của họ. Thánh Tôma, khi viết về đức trinh khiết, nói rằng con sư tử, khi nhìn thấy con nai cái, thì nhìn thấy một bữa ăn, và tính ham mê nhục dục làm cho chúng ta trở thành những thợ săn, những động vật ăn mồi chỉ nhìn thấy những gì có thể vồ lấy. Cái chúng ta muốn là một mảng thịt, một cái gì đó để ngấu nghiến. Ở đây cũng vậy, đức trinh khiết chính là sống trong thế giới thực. Đức trinh khiết mở mắt chúng ta ra và làm cho chúng ta nhìn thấy cái gì đang hiện diện trước mắt chúng ta, vâng, quả đúng là một thân xác đẹp đẽ, nhưng thân xác đó là một con người. Thân xác ấy không phải là một vật thể, mà là một chủ thể. Tôi trích dẫn Hederman một lần nữa : Lời khấn trinh khiết ngăn bước chân người thợ săn không cho anh ta ngang nhiên đặt bẫy người khác rồi tiến đến trở thành một động vật ăn mồi. Điều kinh khủng nhất trong những câu chuyện về lạm dụng tình dục, là rất thường có sự chuẩn bị được tính toán một cách tinh vi từ trước.
Người ta có thể tin rằng ham muốn nhục dục là một đam mê tính dục không được chế ngự, một ham muốn tình dục không được ghìm cương. Nhưng thánh Augustin, vốn đã biết rõ vấn đề, cho rằng ham muốn nhục dục là một ham muốn thống trị người khác hơn cả một lạc thú tính dục. Ham mê nhục dục phản ánh tình dục thống trị (libido dominandi), ham muốn thống trị hòng biến mình thành Thiên Chúa. Ham mê nhục dục liên quan nhiều hơn đến thứ quyền lực chẳng dính dáng gì đến tình dục. Như Sébastien Moore viết, ham mê nhục dục không phải là một đam mê tình dục vuột khỏi tầm kiểm soát của ý chí, nhưng là một đam mê tình dục chiếm chỗ của ý định Thiên Chúa (...). Bổn phận mà chúng ta quay lại không phải là khuất phục đam mê tình dục theo ý chí, nhưng là phục hồi bản chất của nó vốn là ham muốn có nguồn gốc và cùng đích nơi Thiên Chúa, và việc giải phóng nó được tiến hành nhờ bởi hồng ân Thiên Chúa được tỏ ra trong cuộc đời, trong lời giáo huấn, trong biến cố chịu đóng đinh và phục sinh của Đức Giêsu Kitô.
admin
29-01-2008, 08:49 PM
Để vượt qua ham muốn nhục dục, trước hết không phải là loại bỏ ham muốn, mà là khôi phục lại nó, giải phóng nó, tái khám phá nó không phải là một vật thể nhưng là một con người. Biết bao gương mù gương xấu về sự lạm dụng tình dục trẻ em của các linh mục, hoặc các tu sĩ không thể quản lý được những tương quan trưởng thành của họ với những người cùng trang lứa ! Họ chỉ có thể tìm thấy tương quan ở nơi nào mà họ có quyền lực. Họ không muốn bị tổn thương. Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu cầm lấy bánh, trao cho các môn đệ và nói : Này là mình Thầy bị nộp vì anh em. Người tự nộp mình. Thay vì làm cho các ông trở thành tôi tớ, Người tự hiến mình cho các ông để thực hiện những gì các ông muốn. Và chúng ta biết những gì các ông sẽ làm. Đấy là tính chất dễ bị thương tổn vô cùng của tình yêu. Ham mê nhục dục và ám ảnh có thể dường như rất khác nhau, song cái này là sự phản ánh chính xác của cái kia. Trong nỗi ám ảnh, người ta biến một người khác thành Thiên Chúa, còn trong ham mê nhục dục, người ta biến chính mình thành Thiên Chúa. Một đằng, người ta tự làm cho mình hoàn toàn trở nên bất lực, đằng kia người ta có tham vọng nắm được quyền lực tuyệt đối. Rowan Williams viết : tình yêu ngập ngừng giữa tính ích kỷ và sự quên mình. Nó mang lại cho chúng ta một tình cảm mãnh liệt về chính chúng ta, đồng thời làm cho chúng ta không còn ý thức được nữa. Có thể ham muốn nhục dục xuất hiện khi tính ích kỷ chiếm ưu thế, và nỗi ám ảnh thì có mặt khi sự quên mình làm mất hết ý nghĩa của chân tính. Vì thế mà sự trinh khiết chính là sống chân thực, người khác thế nào thì nhìn họ thế ấy, cả với bản thân cũng vậy. Không ai là thần thánh, cũng chẳng phải là một khối thịt xương. Chúng ta hết thảy đều là con cái Thiên Chúa. Chúng ta có tiểu sử riêng. Chúng ta thực hiện những lời tuyên hứa. Người khác có thể có những cam kết, có thể sống đôi bạn. Còn chúng ta, linh mục hoặc tu sĩ, chúng ta tự hiến mình cho Dòng Thánh và cho giáo phận. Chính là trong tư cách tự nguyện chấp nhận và chịu ràng buộc với những cam kết khác nhau, mà chúng ta có thể học biết cách yêu mến bằng một trái tim và đôi mắt rộng mở.
Điều này không dễ khi chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin (Internet). Đó là một thế giới ảo mà trong đó người ta có thể sống giữa muôn vàn điều tưởng tượng như thể có thật. Chúng ta đang sống trong một nền văn hoá khó phân biệt được giữa tưởng tượng với thực tế. Mọi thứ đều có thể trong thế giới kỹ thuật số. Chính vì vậy mà khó sống đức trinh khiết vốn là một nỗ lực mong nhìn thấy sự thực. Chúng ta đặt hai chân trở lại trên mặt đất bằng cách nào đây ? Tôi xin nêu ra ba giai đoạn. Chúng ta cần phải học cách mở mắt mình ra và nhìn vào những gương mặt đang hiện diện trước mắt chúng ta. Có được mấy lần chúng ta nhìn gương mặt của người khác một cách đúng đắn ? Brian Pierce, một tu sĩ Đa-minh người Mỹ, đang viết một cuốn sách qua đó muốn so sánh tư tưởng của Tôn Sư Eckhart, nhà thần bí Đa-minh thế kỷ XIV, với tư tưởng của Thích Nhất Hạnh, một nhà sư Phật giáo thế kỷ XX. Với cả hai vị ấy, khởi đầu của đời sống chiêm niệm đều được định vị ở hiện tại, và người Phật giáo gọi là “thức” (một thuật ngữ quan trọng trong Phật pháp chỉ sự “nhận biết”. Có sáu thức thông thường gồm năm thức của năm giác quan và ý thức - Từ điển Phật học – NXB Tôn giáo 2006). Chỉ khoảnh khắc hiện tại mới là thực. Đây chính là lúc mà tôi đang sống, và do đó, chính là lúc tôi có thể gặp được Thiên Chúa. Tôi cần phải đạt đến sự thanh thản để thôi không còn lo lắng về quá khứ hay vị lai. Lúc này là lúc mà trong đó sự vĩnh hằng bắt đầu. Eckhart đặt ra câu hỏi : “Ngày hôm nay là gì ?”. Và ngài trả lời : “Là sự vĩnh hằng”. Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã nắm bắt được khoảnh khắc hiện tại. Thay vì lo lắng về những gì Giuđa đã làm hoặc đám lính đang kéo đến, Người đã sống giây phút hiện tại, cầm lấy bánh, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói : Này là mình Thầy được trao hiến vì anh em. Mỗi cử hành Thánh Thể đều dìm sâu chúng ta vào trong hiện tại vĩnh cửu ấy. Chính vào lúc này mà tôi đang hiện diện trước một người khác, thanh thản và an nhiên trong sự hiện diện của họ. Tôi hết sức bận rộn, cứ loay hoay xoay sở, suy nghĩ không biết điều gì sắp xảy ra, đến nỗi không thể nhìn thấy gương mặt đang hiện diện trước mắt mình, không nhìn thấy được vẻ đẹp và những tổn thương, niềm vui sướng và những đớn đau của họ. Vậy cho nên đức trinh khiết chính là hãy mở mắt mình ra ! Sau đó, tôi mới có thể học được nghệ thuật sống một mình. Tôi không thể hạnh phúc với người khác nếu đôi khi không thể ở một mình. Sự cô tịch khiến tôi sợ hãi, bấy giờ tôi nắm lấy người khác không phải vì tôi bằng lòng về họ, mà vì coi đó như là một giải pháp cho khó khăn của mình. Tôi coi người khác như một phương thế để lấp đầy sự trống rỗng, sự cô đơn kinh khủng của tôi. Vì thế mà tôi sẽ chẳng thể nào cùng với họ vui sướng vì lợi ích riêng của họ. Do đó, khi người ta hiện diện cùng với một người khác, thì vấn đề là phải hiện diện thực sự, còn khi ở một mình, vấn đề lại là học biết cách để yêu mến sự cô tịch. Bằng không, khi hiện diện với một người khác, người ta cứ bấu víu vào người ấy cho đến khi làm họ ngạt thở !
Sau cùng, bất cứ xã hội nào cũng đều sống với lịch sử của mình. Xã hội chúng ta có những truyền thống lịch sử. Chúng thường là những câu chuyện lãng mạn : một chàng trai gặp một cô gái (thảng hoặc có một chàng trai gặp một chàng trai). Họ phải lòng nhau và sống hạnh phúc lâu dài. Đó là một câu chuyện tuyệt diệu thường xảy ra. Nhưng nếu chúng ta cho rằng chỉ có chuyện như thế xảy ra mà thôi, thì chúng ta sẽ sống với những khả năng hết sức hạn hẹp. Trí tưởng tượng của chúng ta phải được dinh dưỡng bởi những câu chuyện khác kể lại cho chúng ta nghe về những cách sống và yêu thương. Chúng ta phải trải rộng ra trước mắt những người trẻ sự đa dạng vô cùng của những phương cách mà qua đó người ta có thể gặp được tình yêu và mang lại cho nó ý nghĩa. Chính vì thế mà đời sống của các thánh là hết sức quan trọng. Những linh hạnh ấy chỉ ra cho chúng ta thấy có nhiều vô số những cách sống anh hùng, trong bậc sống hôn nhân hay độc thân, tu sĩ hay giáo dân. Một cuốn sách đã đánh động tôi nhiều, đó là cuốn tự truyện của Nelson Mandela : “Đường Dài đến với Tự Do”. Đó là một con người cống hiến cả đời mình cho công lý và đánh bại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và như vậy có nghĩa là ông đã không được sống cuộc sống hôn nhân mà ông vô cùng ước ao, và sau này sẽ còn ao ước mãnh liệt hơn nữa trong những năm tháng bị giam cầm. Do đó, bước đầu để đến với đức trinh khiết chính là hãy trở lại với thực tế. Tôi sẽ nêu ra ngay dưới đây hai bước tiếp theo.
admin
29-01-2008, 08:50 PM
Thứ hai, hết sức giản lược, là hãy mở tình yêu của chúng ta ra, cách nào đó để nó không còn là một thế giới tư riêng mà bằng vào đó hòng tìm thấy cho mình một nơi trú ẩn. Tình yêu của Đức Giêsu được dàn trải khi Người cầm lấy bánh, và bẻ ra để có thể được phân phát. Khi chúng ta khám phá ra tình yêu, chúng ta không nên giữ nó lại trong một hộc tủ nhỏ nhoi riêng tư cho một vui thú của bản thân, như một chai whisky được bảo quản một cách lén lút để nhấm nháp một mình. Phải mở tình yêu ra với người khác, làm cho họ chia sẻ và chung hưởng nó. Chúng ta phải chia sẻ tình yêu với các bạn hữu, và các bạn hữu cùng với những người mà ta yêu mến. Nhờ thế mà một tình yêu riêng biệt trở nên phổ quát.
Trước hết, qua tình yêu mà chúng ta có thể mở ra không gian để Thiên Chúa đến cư ngụ. Trong bất cứ tình yêu riêng tư nào mà có thể sống được mầu nhiệm tình yêu, đều có Thiên Chúa hiện diện. Khi chúng ta yêu mến một ai đó sâu sắc, lúc ấy Thiên Chúa đã có mặt, chỉ cần chúng ta biết nhìn thấy Người ở đó. Đúng hơn là hãy xem tình yêu của chúng ta như đang phối hợp với Thiên Chúa, hãy ý thức được là nó đang dành cho Người một vị trí để Người có thể dựng lều. Như Bède Jarret nói với Hubert van Zeller, nếu con nghĩ rằng điều duy nhất cần phải làm là rút mình vào vỏ ốc của con, thì con sẽ chẳng bao giờ thấy được Chúa đáng yêu biết chừng nào. Con phải yêu thương P. Và tìm kiếm Thiên Chúa nơi P. (...). Hãy trân trọng tình bạn của hai người, hãy trả giá cho sự bình an của tình bạn ấy bằng chính đau khổ của con, hãy nhớ đến nó trong thánh lễ con dâng, và chớ gì trong đó Người trở thành một người thứ ba. Mở rộng tình bạn thiêng liêng theo Ælred de Rievaulx là : “Đôi ta, bạn và tôi, và tôi hy vọng giữa chúng ta có Đức Kitô là người thứ ba”. Như thế chẳng tuyệt diệu lắm sao ? Nếu con trốn chạy tình yêu, thì sẽ chẳng bao giờ con biết được Thiên Chúa đáng yêu nhường bao; nhưng giả như con không để cho Thiên Chúa đi vào trong tình yêu ấy và không tán dương Người, bấy giờ con lại càng không biết được mầu nhiệm tình yêu ấy. Nếu chúng ta tách mình ra khỏi tình yêu Thiên Chúa và tình yêu đối với mọi người, thì cả hai tình yêu ấy sẽ ngập tràn cay đắng và trở nên nguy hại. Điều đó có nghĩa là “sống một cuộc sống lập lờ nước đôi”.
Bước thứ ba, có thể khó khăn nhất, đó là trái tim chúng ta phải giải phóng con người. Bất cứ tình yêu nào, dù là của những người đã kết hôn hoặc độc thân, đều phải là tình yêu giải phóng. Tình yêu của một người chồng và một người vợ phải mở ra những không gian tự do thoáng đãng, và, đối với chúng ta là linh mục hoặc tu sĩ, điều đó còn đúng hơn nhiều. Chúng ta phải yêu mến mọi người cách nào đó khiến họ tự do yêu mến người khác hơn yêu mến chúng ta. Thánh Augustin gọi giám mục là “phù rể”, (amicus sponsi). Theo tiếng Anh, vào lúc đám cưới, chúng ta nói đến người được gọi là người tốt nhất (best man - phù rể). “Người tốt nhất” ấy không tìm cách lôi kéo về phía mình tình yêu của cô dâu, thậm chí cả với những cô phù dâu cũng không ! Anh ta hướng nó vào một người khác.
Một tu sĩ Đa-minh người Pháp có lần đã so sánh Thiên Chúa với một quí ông người Anh vô cùng kín đáo đến độ không muốn đòi hỏi bất cứ thứ gì nơi những kẻ mà Người yêu thương. Người ló đầu qua khe cửa để chắc chắn là mọi sự đều ổn trong những biểu hiện yêu đương của họ, rồi sau đó, mặc dầu rất muốn ở lại, song vẫn cứ biến đi để chỉ còn lại một mình họ bên nhau. C.S. Lewis lại có cách diễn đạt khác : Một trong những tính chất riêng của Thiên Chúa chính là ít được yêu hơn là yêu. Thiên Chúa luôn là Đấng yêu nhiều hơn được yêu. Đó cũng có thể là ơn gọi của chúng ta. Như Auden viết : “Nếu một tình yêu ngang bằng nhau là điều không thể, thì chớ gì tôi là người yêu nhiều hơn cả.”
Việc đó đề nghị một cách yêu thương sao đó để không choán hết trung tâm đời sống của người khác theo kiểu làm cho họ phải lệ thuộc vào chúng ta. Cần phải luôn nỗ lực để mang lại cho họ những nâng đỡ khác, động viên khác, làm sao để chúng ta trở nên ít quan trọng hơn họ. Như vậy có nghĩa là phải luôn đặt ra câu hỏi : tình yêu của tôi làm cho người ấy mạnh mẽ hơn, độc lập hơn, hay là làm cho họ trở nên yếu đuối, lệ thuộc vào tôi hơn ? Chỉ bấy nhiêu là đủ ! Tôi nên dừng lại, nhưng phải sau khi đã suy nghĩ thấu đáo. Học biết yêu mến là một công việc đầy mạo hiểm. Chúng ta không biết nó có thể dẫn chúng ta đến đâu. Chúng ta sẽ khám phá ra một đảo lộn trong cuộc đời mình. Dĩ nhiên là đôi khi không tránh khỏi bị tổn thương. Có một con tim chai đá thì dễ hơn là có một con tim bằng thịt, nhưng trong trường hợp đó e rằng chúng ta sẽ chết mất ! Mà chết thì làm sao còn có thể nói về Thiên Chúa hằng sống được. Nhưng làm thế nào để sống cái chết và cuộc phục sinh ấy ?
Qua mỗi cử hành Thánh Thể, chúng ta nhớ lại Chúa Giêsu đã đổ máu mình ra để hết thảy mọi tội lỗi được tha thứ. Điều đó không có nghĩa là Người phải xoa dịu một Thiên Chúa đang cơn phẫn nộ; cũng không có nghĩa là chỉ nói lên rằng nếu phạm tội, chúng ta đi xưng tội và được tha thứ là xong. Nhưng còn nói nhiều hơn. Muốn nói rằng, giữa tất cả những chiến đấu của chúng ta để trở nên những con người sống động và yêu mến, Thiên Chúa luôn ở cùng chúng ta. Hồng ân Thiên Chúa ở cùng chúng ta trong những lúc thất bại và bối rối, để giúp chúng ta đứng thẳng trở lại trên đôi chân của mình. Cũng bởi có ngày Chúa Nhật Phục Sinh mà Thiên Chúa biến đổi ngày Thứ Sáu Thánh thành một ngày chúc phúc; do đó chúng ta có thể tin tưởng mọi nỗ lực yêu mến của chúng ta sẽ đơm hoa kết trái. Thế thì có gì mà phải lo sợ ! Chúng ta có thể lao mình vào cuộc phiêu lưu tiến về nơi xa lạ một cách đầy tin tưởng và quả cảm.
Tháng 01/2007
Thái Văn Hiến
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.