View Full Version : Kitô giáo trong mạch sống văn hóa gia đình Việt Nam
admin
17-05-2006, 08:24 PM
KITÔ GIÁO TRONG MẠCH SỐNG VĂN HOÁ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Nguyễn Thang Quang
NỘI DUNG
Dẫn nhập
Phần I: Có chăng một nét văn hóa gọi là văn hóa gia đình Việt Nam
1. Gia đình theo truyền thống văn hóa Việt Nam
2. Từ cơ sở tâm linh để tạo nên văn hóa
2.1.Việc thờ phụng tổ tiên
2.2. Các thần linh được thờ ở trong nhà
3. Những ngày lễ trong gia đình
4. Văn hóa gia đình Việt Nam thể hiện trong ca dao tục ngữ
5. Một vài hình ảnh đậm nét văn hóa thành biểu tượng riêng cho gia đình Việt Nam
Phần II: Đạo Công giáo trong mạch sống văn hóa gia đình Việt Nam
1. Đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam
1.1. Những thuận lợi và những khó khăn bước đầu
1.2. Có chăng một nét văn hóa Công giáo Việt Nam ?
2. Đạo hiếu trong Kitô giáo
3. Đạo Công giáo với vấn đề thờ cúng tổ tiên
4. Đạo Công giáo với vấn đề cưới hỏi
5. Giáo dục trong đời sống văn hóa gia đình Công giáo Việt Nam
6. Đưa ra một số điểm giáo lý hội nhập trong văn hóa gia đình Việt Nam
Kết luận
Sách tham khảo
admin
17-05-2006, 08:28 PM
I. DẪN NHẬP
Khi nói đến gia đình là ta bắt đầu đi vào một lãnh vực thật gần gủi, quen thuộc, vì ai mà chẳng được sinh ra và trưởng thành trong một gia đình, trong đó có cha có mẹ và có anh chị em. Hơn nữa gia đình còn là một tổ ấm đầy tràn yêu thương, chính tình thương yêu ruột thịt sẽ làm cho con người có động lực để vun đắp hạnh phúc và thành công trong cuộc sống, và dù ai đi về một phương trời nào xa lạ thì tình cha nghĩa mẹ vẫn luôn sát bên, thật ấm áp trong tâm hồn để họ có sức mạnh vượt qua những cản trở, khó khăn trong hiện tại. Đặc biệt trong nếp sống gia đình Việt Nam, ta lại càng gặp một tình cảm gia đình rất gần gủi, giản dị nhưng rất thân thương và đầy tính thiêng liêng. Khi tìm tòi nghiên cứu về gia đình Việt Nam là ta đi hẳn vào nếp sống gia đình Việt Nam qua nhiều lãnh vực để xem nó chứa đựng những gì, biến hóa thế nào, từ đây ta bắt gặp những di sản văn hóa rất đáng trân trọng.
Đạo Công giáo du nhập vào Viết Nam bắt đầu từ thế kỷ XVI. Từ khi khai sinh cho đến lúc định hình và phát triển như ngày nay, đạo Công giáo không ít đã gặp những ngăn cấm, bắt bớ…đăïc biệt là những khó khăn trong việc hội nhập văn hóa, bởi vì khi một tôn giáo nào muốn phát triển thiết nghĩ cần phải tìm hiểu và đi sâu vào trong nếp sống nếp nghĩ của người dân bản địa, từ đó mới có thể thăng hoa đời sống tình cảm cũng như đời sống thiêng liệng của họ theo giáo lý và học thuyết của tôn giáo đó. Cũng như Phật giáo và Khổng giáo, đạo Công giáo đã có những đóng góp rất nhiều để hình thành nên những nét văn hóa thật đẹp và sống động trong đời sống gia đình Việt Nam. Trong khuôn khổ của tiểu luận này, người viết ngoài việc tìm tòi những nét văn hóa gia đình Việt Nam và cũng trên cơ sở này người viết muốn tìm hiểu xem đạo Công giáo đã đi vào mạch sống văn hóa gia đình Việt Nam ra sao. Hy vọng phần nào đóng góp làm tăng thêm vẽ phong phú, tươi mát cho cuộc sống gia đình vốn đầm ấm và vui tươi.
Phần I: CÓ CHĂNG MỘT NỀN VĂN HÓA GỌI LÀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM ?
Văn hóa là gì ? Theo từ điển Tiếng Việt, thì văn hóa là “ tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”. Vậy, nếu văn hóa là tất cả những cái hay, cái đẹp, cái tốt, được con người chấp nhận và phát huy, bảo tồn trong không gian và thời gian, thì văn hóa gia đình có thể tìm hiểu qua các thuần phong mỹ tục, qua những tấm gương người cha, người mẹ, người con, nơi đây chúng ta bắt gặp những giá trị hết sức thiêng liêng, huyền ảo nhưng lại thiết thực và cụ thể. Trong gia đình, giá trị văn hóa ấy đã được con người cảm nhận ngay từ khi chào đời đến khi nhắm mắt xuôi tay thể hiện qua vai trò của người mẹ, người cha. Tục ngữ Việt Nam có câu : “cha mẹ hiền lành để phúc cho con” và đó cũng là truyền thống đạo đức gia đình, đòi hỏi các thế hệ phải duy trì và bất cứ một người Việt Nam nào cũng có quyền tự hào về những giá trị truyền thống đó, xem như nét văn hóa của dân tộc mình, nó trở thành mạch sống, một phong tục tập quán không thể phai nhòa được.
1. Gia đình theo truyền thống văn hóa Việt Nam
Ta có thể hiểu truyền thống là những gì đã trở thành nề nếp, được truyền lại và kế thừa từ thế này đến thế hệ khác. Truyền thống gia đình Việt Nam đó là đề cao một đạo lý : cha mẹ hằng yêu thương, hy sinh quên mình vì con và ngược lại người con cũng phải thể hiện hiếu đạo với cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình. Có thể ta thấy được đạo lý này ở bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, thế nhưng ta lại thấy có những nét rất riêng biệt trong truyền thống gia đình ở Việt Nam mà ta có thể đưa ra một vài nét sau:
Người cha, người mẹ trong gia đình ngoài việc nuôi con, cho con ăn mặc, học hành. Cha mẹ cần phải sống tốt để tạo ảnh hưởng tốt (để đức) cho con cái mai sau.Ở Việt Nam, tâm lý của cha mẹ đều không muốn rời xa con, thậm chí khi con cái trưởng thành muốn sống riêng thì ông bà, cha mẹ cũng muốn con cháu bên cạnh. Vì thế theo truyền thống những gia đình có chín mười người con, đặc biệt là ở những vùng nông thôn, khi con cái lập gia đình mà vẫn quây quần chung quanh một xóm, một làng, ấy là điều quý nhất, và coi đó như là những gia đình có phúc.
Con người của văn hóa Việt Nam không chỉ lấy nhau vì tình, nhưng còn lấy nhau vì nghĩa. Vì thế, văn hóa gia đình tìm cách xử sao cho hòa hợp cả hai vấn đề ấy.
Về vấn đề của cải, không có chuyện của chồng chồng giữ, của vợ vợ sài, nhưng được đưa làm của chung để đảm bảo cho đời sống và để làm của hồi môn cho con cái sau này. Thông thường người chồng có trách nhiệm nặng nề hơn trong việc kiếm tiền để đảm bảo hạnh phúc cho gia đình, còn người vợ có trách nhiệm quản lý tài sản và điều hành mọi việc trong nhà.
Lễ là biểu hiện văn hóa rõ rệt nhất. Gia đình có lễ nghĩa được xác định là một gia đình có văn hóa. Lễ được thể hiện qua một số hình ảnh như: tôn ty trật tự trong gia đình, việc thờ cúng… Việc có gia lễ, gia pháp, gia phong trong gia đình Việt Nam theo triết lý Khổng Mạnh là muốn cho gia đình có nề nếp tốt nhất. Mọi người trong gia đình phải biết tuân theo kỹ luật, phải có nghĩa tình chung thuỷ, giữ gìn khuôn phép. Gia lễ trong gia đình là sự quy định cách thức, nề nếp để bảo đảm cho các sinh hoạt trong gia đình theo đúng quy tắc, có lễ nghĩa gia phong. Gia pháp hình thành trong gia đình là vấn đế có thực, song chưa được đúc kết thành văn : những phép tắc như :làm con phải hiếu, làm em phải nhường, làm vợ phải tuân nghe theo chồng… đó là điều không cần viết ra song ai cũng biết và ai cũng phải công nhận. Gia phong là điều con cháu luôn luôn phải gìn giữ, gia phong còn yêu cầu con cháu phải giữ lấy nề nếp của ông cha. Làm nhục gia phong là phạm vào gia pháp và phải bị trừng phạt nặng nề.
Quan niệm về phúc trong gia đình Việt Nam cũng thật sâu sắc. Nhà có phúc là nhà có cuộc sống bình yên, thanh thản, đặc biệt là hậu vận tốt. Phúc không nhất thiết là nhà có tiền có của, giàu sang phú quý, nhưng chính là bằng an, hạnh phúc. Ví dụ: nhà có phúc là nhà có con nối dõi tông đường. Người Việt Nam rất coi trọng chuyện hương khói, cho nên nếu một gia đình nào cha hoặc mẹ qua đời mà không có ai thờ cúng thì gia đình đó bị coi là nhà tuyệt tự. Nhà có phúc là gia đình có con cháu đạt được những thành công nhất định, làm vẽ vang cho dòng họ, không làm cho ông cha hổ thẹn.
admin
17-05-2006, 08:29 PM
2. Từ cơ sở tâm linh làm nên văn hóa
2.1. Việc thờ phụng tổ tiên
Người Việt Nam có câu “ chim có tổ, người có tông”. Tổ tiên là những bậc đã quá cố, người đã có công nuôi dưỡng,săn sóc, dạy do ãta nên người. Vì thế việc phụng thờ tổ tiên thực chất đã hằn sâu trong truyền thống của người Việt Nam từ rất xa xưa, nó thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà cha mẹ. Với bất cứ người Á châu nào cũng có việc thờ kính tổ tiên. Dẫu tại Việt Nam, đạo thờ tổ tiên trong gia đình Việt Nam có thêm phần trang nghiêm, có hệ thống bài bản chặt chẽ là nhờ phần lớn sự đóng góp của Nho giáo, thế nhưng nó lại có những nét rất riêng biệt thể hiện bởi sự gần gủi thân thương giữa người sống và người đã chết. Ví dụ : Bàn thờ gia tiên thường được để gian giữa trong nhà, thiết kế thật uy nghi, trang nghiêm, khi đến lúc dùng bữa cơm, con cái ( thường là người gia trưởng) đơm một chun cơm nhỏ đặt trên bàn thờ, rồi thắp vài nén nhang như mời ông bà tổ tiên cha mẹ về dùng cơm với con cháu, một hình ảnh thật đằm thắm và gần gủi, “nhớ tới ông bà, cha mẹ là một đạo lý từ ngàn xưa của người Việt Nam, là lẽ tự nhiên, là lương tri, là tình cảm, là sức mạnh của mỗi người chúng ta. Lẽ sống của người Việt Nam từ khi lớn lên cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, là mang một trách nhiệm với người xung quanh, với họ hàng, làng xóm.”[1]
Việc thờ kính tổ tiên trong gia đình Việt Nam thường được thể hiện qua một số nghi thức, một số ngày lễ như ngày giỗ. Ngày giỗ còn gọi là kỵ nhật tức là ngày kỷ niệm người mất trong gia đình. Trong ngày giỗ của cha hoặc mẹ, người con trưởng phải có bổn phận chủ trì và nhắc nhở con cháu phải nhớ bổn phận , nghĩa vụ đối với ông bà tổ tiên. Ngoài người anh trưởng, các em đều phải làm mâm góp giỗ từ hôm trước, vì vậy, ngày giỗ trong các gia đình Việt Nam, đặc biệt là ở những vùng quê, ngày giỗ còn là ngày đoàn tụ đông đảo của các anh em, bà con thân thuộc trong dòng tộc và lối xóm. Nếu là cha mẹ qua đời, người Việt Nam có những ngày kỷ niệm lớn sau:
Ngày tiểu tường : tức là ngày giỗ đầu, một năm sau khi cha hoặc mẹ mất. Ngày giỗ này cỗ bàn y như ngày giỗ hôm mất. Con cháu mặc tang phục, áo sô mũ gai. Khách đến cúng gia chủ phải đáp lễ. Tuy nhiên, một phần do ảnh hưởng của lối sống hiện đại thích gọn nhẹ nên ngày nay việc tổ chức ngày giỗ đầu cho cha mẹ cũng được giản lược bớt.
Ngày trừ phục : tức ngày giỗ mãn tang, ba năm sau ngày cha hoặc mẹ qua đời. Cỗ bàn làm lớn như ngày giỗ một năm. Sau khi giỗ, đem đốt các quần áo tang, mũ rơm, khăn sô. Sau ngày giỗ này những năm sau gọi là giỗ cát kỵ, tức năm nào cũng đến ngày này cũng đều làm giỗ nhưng không cỗ bàn to như hai ngày giỗ trên, cũng không bà con, bạn bè nhưng thường chỉ có con cháu của người quá cố mà thôi.
Xin cũng được nói thêm về cách bày biện bàn thờ gia tiên trong gia đình Việt Nam, vì đây là nơi thiêng liêng nhất trong gia đình, nơi hành lễ, cúng bái của mọi thành viên. “Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất. Người Việt quan niệm dương sao âm vậy nên cúng tổ tiên bằng hương hoa, trà rượu và cả đồ ăn lẫn đồ mặc( vàng mã), rượu có thể không có, nhưng một chén nước lã đặt trên bàn thờ tổ tiên thì không thể thiếu”[2]. Ơû nông thôn, dù nhà nghèo khó đến đâu cũng phải đăït một bàn thờ gia tiên.
Điều quan trọng hơn hết trong việc báo hiếu không chỉ ở cách đối xử bên ngoài, lễ nghĩa hình thức… nhưng tất cả còn thể hiện lòng biết ơn sâu sa, trong nhận thức nguồn cội. Vì thế đạo hiếu không chỉ hướng về cha mẹ trong gia đình nhỏ bé nhưng còn trải rộng chan hòa với các tương quan xã hội, với quê hương đất nước.
Trung nào hơn trung với nước
Hiếu nào sánh kịp hiếu với dân
Vì vậy, nối gót cha ông làm rạng danh truyền thống “ con rồng cháu tiên”là các báo hiếu sâu sắc nhất. Nói tóm lại, đạo thờ cúng tổ tiên đã ảnh hưởng sâu đậm không chỉ thể hiện trong hành vi, trong nghi thức mà nó dần hình thành một đời sống tâm linh hòa nhập trong tâm hồn người Việt, nên bất cứ một tôn giáo nào muốn truyền bá trên mảnh đất này, phải hội nhập “quốc hồn quốc túy” ấy.
2.2. Các thần linh được thờ ở trong nhà
Thánh sư : Những gia đình có nghề nghiệp chuyên môn, cha truyền con nối ( như nghề mộc, nghề kim hoàn, nghề may…) thường thờ thêm thánh sư, tức là vị tổ nghề. Thờ thánh sư là một biểu hiện đẹp đẽ trong tâm linh người Việt Nam. Người ta tin rằng vị thánh sư đã sáng chế ra nghành nghề này vẫn còn quan tâm đến và sẽ phù hộ cho các thế hệ con cháu tiếp tục nghành nghề một cách phát đạt. Ngày giỗ tỗ nghề cũng được ấn định theo truyền thống. Trong ngày này, các thợ thường nghĩ làm, lập bàn thờ bái tổ, sau đó có cỗ bàn ăn mừng.
Tiền chủ : Đó là cái cột trụ cao bằng đầu người, trên đóng một miếng ván vuông nằêm ngang, được đặt ở trong sân. Bàn thờ tiền chủ không có bài vị chỉ có một bát hương và đôi khi để lên một ít hoa quả, thỉnh thoảng các thành viên trong gia đình ra thắp hương. Tiền chủ là người chủ nhà sau khi đã bán hay vì lý do nào đó phải dời nhà đi, rồi qua đời. Người Việt Nam cho rằng tiền chủ không bao giờ quên ngôi nhà cũ, nên dù nhà đã bán, người cũng không còn nhưng chủ nhà xưa vẫn nhớ và vẫn đi lại trong cõi vô hình. Người chủ mới phải lập bàn thờ tiền chủ để tránh sự quấy rối, nhưng đồng thời cũng là bằng chứng để tỏ ra người ta sống có thủy chung.
Thần tài: Người dân Việt Nam quan niệm rằng, mỗi gia đình đều có một vị thần chủ về tài lộc. Thắp hương để bái thần tài, gia chủ sẽ ăn nên làm ra. Bàn thờ thần tài không ai đặt ở trên cao, chỉ để một góc nhà hay một xó nào đấy, thắp hương thường xuyên.
admin
17-05-2006, 08:33 PM
3. Các ngày lễ trong gia đình
Lễ đầy tháng, đầy năm : Cha mẹ sinh con và bỏ bao công sức để nuôi con, mong con khôn lớn từng ngày từng tháng. Kể từ ngày sinh, tới khi con được đầy tháng, lại có cúng đầy tháng. Qua một tháng là qua một giai đoạn trong đời ngươi. Theo tin tưởng, muốn thành hình, con người phải do các bà mụ nạên. Tất cả có mười hai bà mụ. Mỗi bà phụ trách nặn một số bộ phận của đứa trẻ. Vì vậy, trong ngày cúng đầy tháng, người ta cũng cúng mụ, đồng thời cũng cúng Thổ công và gia tiên. Những gia đình khá giả lại có mời bạn bè bà con tới ăn cỗ, như để mừng cho đứa trẻ đã qua được tháng đầu.
Khi đứa trẻ được một năm, lại có cúng đầy năm. Cũng gọi là lễ thôi nôi. Thôi nôi tức là từ bỏ cái nôi, đứa trẻ đã khá lớn, bố mẹ chuyển chúng sang nằm giường. Nhà giầu thì sắm giường nhi đồng cho con, nhà nghèo thì con nằm ngay giường mẹ. Lễ thôi nôi rất được chú trọng, ngoài việc cúng lễ, trong ngày này ta còn có tục thử trẻ :Hôm ấy đứa trẻ đưỡc tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới, nếu là con trai thì bày đồ cung tên, giấy bút, con gái thì bày đồ dao kéo, kim, chỉ. Sau lễ cúng, đặt đứa trẻ ở trước mọi thứ này để đứa trẻ bốc thứ gì đầu tiên. Người ta cho rằng nếu đứa con trai chọn kiếm cung hay bút giấy thì sau này sẽ theo đường văn hoặc võ, còn nếu cầm đồ dùng của nghề gì, nó sẽ làm thợ trong nghề đó. Còn con gái nếu chọn kim chỉ, sau này sẽ có tài nội trợ, nếu chọn thúng mủng sẽ đi buôn bán. Trong buổi cúng đầy năm, nhiều nhà có làm cỗ rất linh đình và mời rất đông khách khứa. Tóm lại ăn đầy tháng cho con tức là ăn mừng con đã qua một giai đoạn của thời kỳ trứng nước, còn ăn đầy năm tức là ăn sinh nhật lần thứ nhất của con.
Lễ mừng thọ : Vào tưởi 60 –70 trở lên người ta thưởng tổ chức mừng thọ. Những vị 80 –90 tuổi hay được 100 tuổi trở lên thì mừng lớn, lễ này gọi là mừng thượng thọ. Lễ mừng thọ chủ yếu là để con cháu mừng bố mẹ, người trong họ mừng người cao tuổi trong họ của mình. Đây là một dịp làm cho người có tuổi thêm phấn khởi , an vui trong tuổi già của mình và cũng khẳng định về phúc thọ cho gia đình đó
4. Văn hóa gia đình Việt Nam thể hiện trong ca dao tục ngữ
Như chúng ta đã biết ca dao tục ngữ hoặc chuyện cổ tích là những kinh nghiệm từ lao động sản xuất và chiến đấu của tổ tiên truyền lại cho con cháu từ đời này sang đời khác.Trong các gia đình Việt Nam, bố mẹ thường giáo dục đạo đức cho con cái, cháu chắt bằng những câu ca dao, tục ngữ và truyện cổ tích. Phải thừa nhận kho tàng ca dao cổ tích ở nước ta thật dồi dào phong phú, những câu thơ, những chuyện kể đề cập đến gia đình thì lại càng phong phú. Mục đích của ca dao, cổ tích xét thấy phần lớn là để giáo dục răn bảo con người phải luôn nghỉ đến tổ tiên huyết thống :
Con người có tổ có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn.
Có những câu ca dao nhắc đến công lao của cha mẹ mà không một người Việt Nam nào lại không biết, mỗi khi đọc lên hay ngâm nga điệu hát ai cũng phải chạnh lòng yêu thương:
Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Nhưng thắm thiết ân tình nhất phải nói đến là tình mẹ, vì như chúng ta biết văn hóa Việt Nam mang nét hoà tính và nữ tính nên hình tượng người mẹ là hình tương đẹp đẽ nhất và để lại nhiều dấu ân thiêng liêng nhất trong lòng mỗi người dân Việt Nam:
Mẹ già bóng ngã cành dâu
Phòng khi chóng mặt, nhức đầu cậy ai”.
Hoặc
Mẹ già như quả đò ho
Dẫu rằng héo hắt thơm tho đủ mùi.
Ca dao tục ngữ Việt Nam không chỉ đề cao sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, nhưng còn thể hiện cái nhìn, quan niệm hoặc tập tục do tích luỹ kinh nghiệm mà có trong các mối dây liện hệ gia đình. Ví dụ như người Việt Nam rất chú trọng đến cái nòi, đặc biệt được thể hiện cụ thể trong lúc dựng vợ gã chồng: “lấy vợ xem tông, lấy chồng xem họ” nòi cũng được thể hiện qua vấn đề phúc đức trong văn hóa gia đình: “đời cha ăn măn, đời con khát nước”. Môi trường hoàn cảnh gia đình cũng ảnh hưởng phần lớn trên con cái nên có những câu tục ngữ : “Giỏ nhà ai, quai nhà nấy” hoặc “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”.
Bên cạnh tình mẹ tình cha, tình nghĩa vợ chồng cũng được mô tả đậm đà thắm thiết trong ca dao tục ngữ:
Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
hoặc
Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người
hoặc
Vợ có chồng như rồng có mây
Chồng có vợ như cây có rừng
Ca dao tục ngữ Việt Nam đề cập tới đời sống gia đình không chỉ dùng lại ở nghĩa cha tình mẹ hay tình yêu lứa đôi nhưng nó còn bao trùm cả những người gần người xa, cùng huyết thống hay cùng những mối dây liên hệ, những cô, dì, chú, bác cũng đều được nhắc đến trong ca dao góp phần xây dựng nên một văn hóa gia đình truyền thống như : “Nó lú, có chú nó khôn”; “Chi bằng có chú đỡ anh, có cô đỡ cậu, có mình đỡ ta” hoặc “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”.
Có lẽ ta sẽ ít bắt gặp thấy một cái nhìn tổng quát về gia đình truyền thống ở các nước tây phương, nhưng với Việt Nam dù dưới một chế độ xã hội nào, hoặc trong một hoàn cảnh nào thì tình nghĩa bà con lối xóm cùng chung huyết thống vẫn luôn gắn bó, vẫn mặn mà tình nghĩa.
admin
17-05-2006, 08:35 PM
Ngoài những câu ca dao tục ngữ, ta cũng nên đề cập đến một khía cạnh khác phong phú không kém trong việc tạo nên nét văn hóa gia đình Việt Nam : đó là truyện cổ tích dân gian. Có một điểm độc đáo đó là trong các chuyện thần thoại cổ tích những nhân vật thần thánh Việt Nam đều là anh chị em với nhau, cùng chung huyết thống hoặc cùng một tinh thần kết nghĩa.
Ví dụ như chuyện: “Sự tích cây vú sữa”: Người mẹ chờ con mãi, chỉ biết khóc than đến chết và hóa thành một cây xanh. Đứa con về ôm cây mà khóc. Quả trên cây rụng xuống, con cầm lấy quả mân mê, thấy quả tiết ra dòng sữa ngọt. Đã chết, mẹ còn truyền cho con dòng sữa. Đó là vì sao ở Việt Nam có cây vú sữa xanh tốt ngon lành.
Nói tóm lại tục ngữ ca dao và cổ tích đã lột tả rất rõ nét về cuộc sống gia đình Việt Nam, không những thế nó là một nét văn hóa đặc trưng mà ta khó bắt gặp ở các quốc gia khác. Hàng ngàn năm qua, dân tộc ta phần lớn là mù chữ vì thế việc giáo dục con cái trong gia đình là chủ yếu, trong đó người cha người mẹ trong gia đình đóng vai trò người thầy, họ cũng chỉ là những người dân quê ít học nên ca dao tục ngữ là những bài học bình dân đầu tiên về lòng nhân ái, hiếu thảo, trung thành, lòng dũng cảm… Ta nhận thấy hình ảnh thật đẹp của một người bà tóc bạc ngồi kể chuyện cho những đứa cháu nghe, những câu hò, khúc hát đồng dao tạo nên những ấn tượng tốt đẹp làm hành trang cho con cái khi bước vào đời.
5. Đưa ra một vài hình ảnh đậm nét văn hóa thành biểu tượng riêng cho gia đình Việt Nam.
Cái võng: là hình ảnh văn hóa rất đẹp trong gia đình Việt Nam. Có thể bên Tàu cũng có võng, thế nhưng cái võng của Việt Nam mộc mạc và khắng khít hơn nhiều. Cái võng đã thân quen với con người Việt Nam từ khi được bà, được mẹ, được chị ấp ủ nâng niu trên chiếc võng lúc còn trứng nước và đến lúc trưởng thành nó cũng là bạn với người ta sau những giờ lao động mệt nhọc cần một chỗ nghĩ ngơi. Cái võng cho ông nằm đọc báo, cho bà ngồi may vá, hay hòa tiếng mẹ ru cùng nhịp võng kẽo kẹt cho nồng nàn giấc ngủ con thơ vào những trưa hè vắng. Có thể nói cái võng là hình ảnh thân thương trong sinh họat gia đình, nói đúng hơn nó dệt nên một nét chấm phá, nét đẹp trong văn hóa gia đình Việt Nam, vì hình ảnh này đã chuyên chở những tình cảm của mọi hành viên trong gia đình.
Cái bát hương : Là một hình ảnh thiêng liêng nhưng lại cũng rất gần gủi trong gia đình Việt Nam. Bát hương được đặt ở bàn thờ gia tiên, thắp một nén hương là biểu lộ tấm lòng thành, chính lúc này là lúc con người thành thực nhất, chân thành nhất và chí tình nhật. Gia đình nào dù giàu hay nghèo đều cố gắng sắm một bát hương. Những gia đình nghèo không có nổi một bát hương, nhưng cũng cố tìm kiếm một cái lon hoặc bện một bó lá để thể hiện tấm lòng với trời đất và với người quá cố.
Lời ru : Cũng là một hình ảnh rất độc đáo nơi gia đình Việt Nam. Những người Việt Nam ai lại không lớn lên qua từng lời ru của mẹ, của bà, của chị. Đã có nhà thơ viết : dẫu con đi bốn phương trời, vẫn đi chưa hết những lời mẹ ru. Giáo sư Vũ Ngọc Khánh nhận định : “ Tôi không biết các bà mẹ trên thế giới đã ru con như thế nào, và cũng chưa tìm được một từ ngoại quốc tương đương với chữ “ru” của Việt Nam… văn hóa gia đình Việt Nam được gói gọn trong những lời ru ấy”[3]. Qua nhận định trên, ta cũng thấy lời ru đã thể hiện được cung điệu của quê hương, đậm đà bản sắc văn hóa gia đình làng quê Việt Nam.
Ru hời ! ru hỡi ! ru hời !
Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi.
Những lời hát, những tiếng ru ấy cứ mãi vang vang trong làng mạc,dưới túp lều tranh, giữa cánh đồng bát ngát, bên ruộng lúa chín vàng. Lời ru không phải là để kể công với con. Thật sự lời ru mang nặng tình mẫu tử, chất chứa một tình cảm thiêng liêng cao quí mà chỉ khi đã làm cha làm mẹ mới cảm nghiệm được.
admin
17-05-2006, 08:38 PM
Phần II: ĐẠO CÔNG GIÁO TRONG MẠCH SỐNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM.
1. Đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam
1.1. Những thuận lợi và những khó khăn bước đầu
Trong phần này người viết không muốn trình bày nội dung và tiến trình lịch sử về việc đạo Công giáo đã đến Việt Nam như thế nào, vì không thiết thực cho việt trình bày nội dung đề tài, nhưng người viết muốn đưa ra một cái nhìn khách quan những mặt tích cực và tiêu cực khi có những biến chuyển văn hóa từ khi đạo Công giáo có mặt tại Việt Nam.
Như chúng ta biết : cơ sở văn hóa Việt Nam là tầng văn hóa Văn Lang – Aâu Lạc. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ : Mẹ Âu Cơ sanh được trăm trứng và nở được trăm con. 50 người con theo Cha xuống biển, và 50 người con theo mẹ lên rừng, đến đất Phong Châu( vùng Việt Trì ngày nay) cùng tôn người con trưởng làm vua, lập nước Văn Lang và xưng là Hùng Vương. Và từ 4000 năm trước đây, người Việt đã quy tụ thành ruộng đồng làng xã, sống định canh định cư bằng nghề trồng lúa nước. Như vây, người Việt có gốc từ Mẹ, vì với nền tảng như thế, văn hóa Việt Nam giàu nặng tình cảm ( nữ tính), có một trực giác nhạy bén, dạt dào tình cảm, nhu mì hiền hòa như đất, uyển chuyển linh hoạt như nước. Mặt khác, đặc trưng của văn hóa nông nghiệp là sống trọn tình, nên kém về đầu óc chính trị và yếu về quân sự. Vì thế, nét đặc trưng nổi bật trong việc ứng phó với môi trường xã hội của người dân Việt Nam là tính hiếu hòa” và đó là nét mở cho các trào lưu văn hóa du nhập vào Việt Nam như Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Phương.
Kitô giáo đến Việt Nam cũng được đón tiếp nồng nhiệt. Gặp được Kitô giáo và nghe những lời giảng của các linh mục trong hội truyền giáo, “đông đảo những nông dân nghèo đã hồ hởi tiếp đón Tin Mừng, vì Tin Mừng làm sáng tỏ và nổi bật lên những yếu tố vốn tiềm tàng trong tâm thức tín ngưỡng dân gian, là chất liệu sống của thôn làng cả ngàn năm”[4]. Họ đã tin theo và trở thành những tín hữu nhiệt thành đến mức phải chịu nhưng sự khủng bố, bắt đạo ngặt nghèo của vua quan. Vì sao vậy? Vì Kitô giáo đã không hội nhập được vào văn hóa Việt Nam, những người theo đạo Chúa bị coi là Tả đạo vì không cho phép thờ cúng ông bà tổ tiên, không gắn bó với tổ tiên làng mạc. Bất cứ người Việt Nam nào đều không thể chấp nhận được một người theo đạo lại không chịu thắp nén nhang trước bàn thờ gia tiên. Những người được tiếng là uyên bác, là đạo cao đức trọng thời bấy giờ đều cho đó là thuyết vu dân, có hại cho phong hóa mà trước hết là ảnh hưởng xấu trong địa hạt gia đình.
Sau này, một học giả Công Giáo vào những năm 1992 đã khách quan mà nói:
“ Đặc biệt trong những năm ở Tân triều (1778-1782) Nguyễn Phúc Ánh đã tỏ ra có ít nhiều thiện cảm đối với Công Giáo, làm các thừa sai tràn đầy hy vọng rằng ông sẽ trở thành một Constantin hay Clovis của Việt Nam. Nhưng có lẽ ông đã bắt đầu đặt lại vấn đề từ lúc hoàng tử Cảnh nhất định không đến bái lạy trước bàn thở tổ tiên, trong một buổi lễ được tổ chức vào khỏang cuối tháng 7- 1789, làm ông đau khổ, tủi nhục và tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ miện, nói rằng ông là một người cha bất hạnh”[5]
Đạo Kitô còn bị coi là Tả đạo hơn khi những người xâm lược dưới nhãn hiệu của những nhà truyền giáo vào Việt Nam với âm mưu chính trị . Năm 1858, hạm đội Pháp đã bắn những quả pháo đâu tiên ở Đà Nẵng gây mất ổn định chính trị và dẫn đến nguy cơ mất nước. Trước tình hình đó, nhà Nguyễn chủ trương “bế môn tỏa cảng”. Từ thời Gia Long, đến Minh Mạng, rồi Thiệu Trị và Tự Đức các vua liên hồi ra những chỉ dụ cấm Đạo, điều này đã dẫn đến việc giết không biết bao nhiêu giáo dân, gây nên cảnh cốt nhục tương tàn.
Tuy nhiên, cho đến nay đạo Công Giáo đã có được một nền móng tương đối vững chắc nhờ từng bước hội nhập vào trong văn hoá Việt Nam, tuy nhiên cũng cần phải có những biến đổi cách nhìn trong phụng tự và thần học sao cho phù hợp với những tập tục và tín ngưỡng, từ đó tạo thêm được những nét phong phú, mới lạ, thăng hoa đời sống tinh thần cho dân Việt. Như tác giả Thái Sơn nhận định: “…cho đến nay, khi mô hình phát triển của xã hội tây phương đã tràn ngập khắp thế giới, phá vỡ tất cả cơ cấu làng xã nông nghiệp, đồng thời cũng bộc lộ những nhược điểm của đời sống thuần cơ khí máy móc, thì quả thật dường như Giáo hội Việt Nam vẫn “an bình” thờ ơ, chứ chưa nói đến là đã biết lúng túng trong việc sống và giới thiệu Tin mừng cho tình thế thật mới mẻ của thế kỷ 21 sắp tới.”[6]
admin
17-05-2006, 08:39 PM
1.2. Có chăng một nét văn hóa Công giáo Việt Nam?
Trong phần I của bài tiểu luận này, ta đã đưa ra vấn đề có một nền văn hóa gọi là văn hóa gia đình Việt Nam! Trong khi nói đến việc đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam, ta cũng nên đề cập và nhận xét xem có những nét riêng biệt, độc đáo của Công giáo nhập thể vào trong văn hóa Việt Nam hay không?
Trong một cuộc tọa đàm “ Một Số Vấn Đề Về Văn Hóa Công Giáo Việt Nam Từ Khởi Thủy Đến Đâu Thế Kỷ XX” đã diễn ra trong ba ngày 24 – 27/10/2000 tại tòa Tổng giám mục Huế, có bài thuyết trình của Lm. Thiện Cẩm đã đặt ra vấn đề nêu trên: “ Có chăng một nét văn hóa Công giáo Việt Nam”. Ngài nhận định : “Câu hỏi thật khó trả lời. Nếu trả lời là có thì xem ra rất là mạo hiểm, bởi vì không dễ gì chứng minh được. Nhưng khẳng định rằng không, thì xem ra phủ nhận một thực tại tuy có thể không rõ nét, nhưng vẫn ẩn hiện đâu đây, không chối cãi được”[7]
Phải, Kitô giáo thật sự mang đậm nét văn hóa phương Tây, du nhập vào Việt Nam rất trễ so với Phật giáo và Khổng giáo, nhưng cũng đã đóng góp nhiều mặt tích cực tạo nên những nét văn hóa Công giáo rất riêng biệt. Xin được đưa ra một số hình ảnh nổi bật như :
Trước đây Kitô giáo trong kiến trúc xây nhà thờ với những ngọn tháp cao vút, nhọn hoắt, thì nay ở Việt Nam đã có những nhà thờ mang lối kiến trúc dân tộc, nhìn thoáng qua chẳng khác gì những ngôi chùa, điển hình như nhà thờ Phát Diệm với tháp thấp trải rộng có mái cong. Ngoài cây thánh giá để phân biệt giữa ngôi chùa và ngôi thánh đường, ta cũng phải nhìn nhận đến những nét hoa văn, những bức phù điêu hay những pho tượng… tất cả đều hài hòa, tạo nên một nét rất riêng biệt trong sự thánh thiện trang nghiêm của Công giáo.
Một điển hình khác đó là : do truyền thống trọng nữ của người Việt Nam, nên hình ảnh Đức Mẹ Maria được đặt lên một vị trí sùng kính đặc biệt mà ở phương tây không gặp. Thế nhưng việc biệt kính Đức Maria trong Công giáo lại không mang dáng dấp hình thức như đạo thờ Mẫu của Việt Nam , có điều gì đó riêng biệt mà chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy. Nơi đâu, hay bất cứ gia đình nào cũng đặt để tượng Đức Mẹ để Mẹ ban ơn phù giúp. Đặc biệt vào tháng hoa kính Đức Mẹ, người Công giáo Việt Nam tổ chức dâng hoa tỏ lòng sùng kính Đức Maria, nó trở thành một tập tục, một truyền thống tốt đẹp và thiêng liêng. Một buổi dâng hoa mang đậm nét văn hóa Việt Nam thể hiện qua cung nhạc, cử điệu, đội hình di chuyển…. Ở những vùng quê miền bắc, những buổi dâng hoa lại càng phù hợp với tâm thức người Việt trong việc thích lễ hội, thích màu sắc và nhộn nhịp, giáo dân ở các khu trong họ đạo lo đi hái hoa, kết hoa, thậm chí cả những sư sãi trong chùa cũng đội những thúng hoa đến cho nhà thờ, thật là một nét đẹp văn hóa mà có lẽ ta chỉ cảm nhận ý nghĩa của nó chứ khó mà diễn đạt bằng lời.
Bên cạnh đó còn có những hình ảnh khác cũng độc đáo không kém, tạo nên những nét đăïc trưng cho Công giáo Việt Nam : những tiếng chuông nhà thờ hai buổi sớm chiều đã tạo nên những nguồn cảm hứng cho thơ ca và âm nhạc, rồi từ những lời kinh phụng vụ được dịch sang tiếng việt theo một thể thơ vần Việt Nam rất tài tình mà mỗi khi đọc lên ta đều có một rung cảm hồn Việt. Có lẽ, không một người công giáo nào lại không thuộc lấy một kinh quen thuộc như Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng hoặc Kinh sáng danh…lối cầu nguyện bằnh kinh dường như trở thành máu thịt trong đời sống đức tin của người Việt, tuy bây giờ những vị phụ trách giáo lý không còn chủ trương dạy học kinh một cách máy móc như trước đây, nhưng không ai phủ nhận những giá trị tích cực của nó, nhất là trong xã hội phần lớn dân trí còn rất kém cõi.
Đặc biệt, các nhà tri thức Công giáo theo gương cái hay của nho gia và phật tử, nên họ cũng soạn ra những tác phẩm diễn ca để truyền bá giáo lý gia đình, nổi bật nhất là cuốn “Ca Vè Cụ Sáu” cùa Lm. Trần Lục, nguyên là cha xứ giáo xứ Phát Diệm. Linh mục đã viết những câu vè theo thể thơ song thất lục bát, hoặc lục bát, một thể thơ bình dân rất quen thuộc với làng quê Việt Nam như :
Phần hồn thì Chúa sinh ra
Xác này Chúa phó mẹ cha sinh thành
Phụ tình mẫu huyết đúc hình
Cho ta toàn vẹn mà sinh làm người.
Như vậy, phần lớn trong mọi lãnh vực sinh hoạt, đạo Công giáo đã có đóng góp rất nhiều tạo cho mình nét văn hóa đặc thù, ăn sâu vào mọi phạm vi của đời sống. Nói cách khác, Công giáo nhập thể vào trong văn hóa người Việt theo đạo, tạo cho họ một phong cách sống và lối diễn tả qua những công trình nghệ thuật làm cho đời sống con người thêm phong phú, đẹp đẽ, an vui.
admin
17-05-2006, 08:42 PM
2. Đạo hiếu trong Kitô giáo
“Phải thảo kính cha mẹ” đó là điều răn thứ 4 trong mười điều răn Thiên Chúa truyền dạy con người qua trung gian là Môisê trong sách Cựu ước. Như vậy, ngay từ xưa Thiên Chúa đã muốn con người phải tỏ lòng tôn kính với các bậc sinh thành, Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côlôsê, Ngài cũng đã nhắn nhủ : “kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều làm đẹp lòng Chúa”[8]. Chính Đức Kitô, khi những năm tháng sống ẩn dật tại Nazarét cùng với Đức Mẹ và thánh Giuse “Người hằng vâng phục các Ngài”[9]
Bên cạnh việc tỏ lòng tôn kính và vâng phục, Thiên Chúa còn muốn con người phải có lòng hiếu thảo với cha mẹ “ con ơi, hãy giúp đỡ cha con trong lúc già yếu, con chớ làm cực lòng người”[10] và “ Con hãy kính trọng mẹ con, chớ có bỏ người một ngày nào trên đời, vì này con ơi, con phải nhớ rằng mẹ con đã hy sinh chịu gian khổ hiểm nghèo biết bao nhiêu vì con”[11].
Sự thảo kính không phải chỉ là bổn phận nhưng khởi đi từ tận đáy lòng yêu thương thành kính, dẫu nhiều khi cha mẹ có làm điều sai trái. Con cái cũng phải biết lựa lời mà can gián, nhất là hằng cầu nguyện cho các ngài, không được để cha mẹ phải lo khổ, phiền lòng, vì nếu “kẻ nào giương mắt chế giễu cha, và coi thường chuyện vâng lời mẹ, sẽ bị quạ ở lũng sâu móc mắt, và bị loài diều hâu rỉa thịt”[12]
Lòng thảo kính của con cái sẽ được Thiên Chúa đền trả xứng đáng vì “ ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện họ sẽ được lắng nghe”[13]
Như vậy, trong gia đình Công giáo Việt Nam, đạo hiếu càng được đề cao vì đó là giới luật của Thiên Chúa, nó không còn mang tính bổn phận hay nghĩa vụ của người chịu ơn nhưng là một đạo lý, đầy tình cảm và giàu chất thiêng liêng, một đạo lý bắt nguồn nơi Thiên Chúa và ai thực hành nó sẽ được Thiên Chúa tôn vinh. Đó cũng là những nét đặc thù của truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam.
Đối với người Á đông nói chung và Việt Nam nói riêng, lòng biết ơn công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, ông bà cũng chỉ năm trong mối tương quan huyết thống. Đặc biệt trong Kitô giáo, tương quan này còn lên đến Thiên Chúa vì Ngài là nguồn phát sinh sự sống của muôn loài. Tình yêu của cha mẹ dẫn chúng ta tới tình yêu Thiên Chúa. Do đó người Kitô hữu không chỉ hiếu thảo với cha mẹ mà còn phải hiếu với Thiên Chúa, đó là nền tảng căn bản để người con phụng dưỡng cha mẹ. Người cha người mẹ nào lại không mong muốn con cái mình ngoan ngoãn đạo hạnh, nhiệt thành trong việc phụng sự Chúa, mong cho con cái yêu mến Thiên Chúa và trọn đời sống đẹp lòng Người, cho nên từ xưa cho đến nay gia đình nào có con đi tu thì cha mẹ và mọi thành viên trong gia đình Việt Nam đều coi đó là một vinh dự. Mặt khác vì coi Thiên Chúa là Cha nên người Kitô hữu phải biết sống đức ái với hết mọi người, tất cả đều là anh em với nhau vì có chung một Cha trên trời. Ta có thể xem đây là giá trị cao cả của đạo hiếu trong Kitô giáo
3. Đạo Công giáo với vấn đề thờ cúng tổ tiên
Như đã được trình bày ở trên, việc thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng truyền thống ăn sâu trong tâm thức tôn giáo của người Việt. Đạo Công Giáo trước công đồng Vaticano II loại bỏ tín ngưỡng này đã để lại không ít những trằn trọc day dứt cho những tín hữu mới theo đạo. Nhưng nay tín hữu Công giáo đã thực hiện được những nghi lễ tưởng niệm tổ tiên ngày càng phong phú và đa dạng.
Ngày nay các gia đình Công giáo đều đăït bàn thờ tổ tiên dưới bàn thờ Chúa, cũng đặt để bát hương và hai chân nến hai bên. Vào những ngay giỗ trong gia đình, người Công giáo cũng tổ chức theo phong tục địa phương như thắp hương kính nhớ tổ tiên trước bàn thờ tổ, dâng hoa quả để tỏ lòng thành, nhưng loại bỏ đi những dị đoan như đốt vàng mã…
Công giáo quan niệm về cái chết:
Công giáo quan niệm, con ngưỡi được Thiên Chúa tạo dựng từ cát bụi, nên thân phận con người thật mỏng manh. Cuộc sống nơi trần thế chỉ là tạm thời, cuộc sống đời sau trên thiên đàng mới vĩnh hằng. Vì thế cái chết là một sự ra đi, sự trở về nhà Cha, “ chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Những ai chết trong ân sủng của Đức Kitô thì cũng sẽ được phục sinh với Ngài như vậy.
Gia đình khi có người hấp hối phải mời một vị linh mục đến để ban phép xức dầu cho bệnh nhân, lúc này mọi thành viên tập họp bên người hấp hối cùng đọc kinh cầu nguyện để cho người hấp hối được ơn bền đỗ đến cùng trong ân sủng Chúa. Sau đó làm các nghi thức liệm xác và tổ chức thánh lễ an táng. Bên cạnh các nghi thức phụng tự, các hình thức khác đều được thực hiện theo phong tục của từng địa phương.
Trên đây chúng ta vừa tìm hiểu về quan niệm về cái chết và cách thức tổ chức tang chế trong gia đình một người Công giáo. Từ cơ sở đó ta sẽ hiểu rõ hơn việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo Việt Nam. Với niềm tin phục sinh, khi cha mẹ quá cố, con cái trong gia đình tuy có thương tiếc vì vĩnh viễn không thấy được hình ảnh cha mẹ trên cõi đời, nhưng phải cảm tạ Chúa vì các ngài đã hoàn thành xong sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao phó. Con cái phải có bổn phận đối với những giây phút cuối đời của cha mẹ, tức phải lo cho cha mẹ chịu lãnh nhận các bí tích sau cùng, lo an táng, xây mộ, xin lễ cầu nguyện cho người quá cố…
Người Kitô hữu còn tin rằng, cha mẹ hoặc người thân qua đời trong ân sủng của Thiên Chúa sẽ luôn cầu bầu cùng Chúa cho gia đình. Vì thế sự liên kết giữa con cháu còn sống trên dương thế với cha mẹ đã yên nghỉ trong Chúa không hề bị gián đoạn. Mối liên kết này được gọi là “mầu nhiệm các thánh cùng thông công”. Vào các dịp lễ giỗ của cha mẹ, người tín hữu Công giáo cũng tổ chức theo văn hóa Việt Nam nhưng tránh đi nhiều phần cúng bái, chỉ xin lễ cầu nguyện cho ông bà và con cháu sẽ quy tụ trước bàn thờ Chúa và bàn thờ tổ tiên tại gia đình để đọc kinh chung với nhau.
Trong đạo Công giáo cũng có những ngày lễ đặc biệt để tín hữu tỏ lòng kính nhớ tổ tiên như ngày lễ cầu nguyện cho các đẳnh linh hồn (ngày mồng 2 tháng 11). Vào trước ngày này những người tín hữu còn sống thường có thói quen ra nghĩa trang để dãy cỏ, rửa phần mộ của cha ,mẹ, ông bà, hoặc những người thân trong gia đình, tám ngày đầu của tháng 11, người Kitô hữu phải ra viếng đất thánh (nghĩa trang) hoặc viếng nhà thờ cầu nguyện cho người quá cố mau chóng về hưởng phúc thiên đàng. Ngoài ngày lễ các đẳng, Giáo hội Việt Nam còn dành ngày mồng hai tết âm lịch để dâng thánh lễ cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, chủ yếu nhắc nhở cho con cháu trong bầu khí đoàn viên của gia đình vào dịp đầu năm biết nhớ đến công lao to lớn của ông bà tổ tiên.
admin
17-05-2006, 08:42 PM
4. Đạo Công giáo với vấn đề cưới hỏi.
Từ trước tới nay, người Việt Nam nói chung xem việc cưới xin là một việc hệ trọng. Đặc biệt hôn nhân trong Kitô giáo được nâng lên thành bí tích, nhằm ràng buộc đôi hôn nhân trong tình yêu chung thủy, xem đó là sự kết hợp và là sự chúc lành của Thiên Chúa. Vì thế, “ sự gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly”.
Trước khi đôi bạn đi đến hôn nhân, theo luật Giáo hội, cha xứ phải có trách nhiệm lo liệu sao cho cộng đoàn của mình biết trợ giúp cho đôi nam nữ gia tăng sự thánh thiện của hôn nhân Kitô giáo, bằng cách tổ chức những buổi giảng dạy, huấn luyện giáo lý để đôi bạn sống trung thành với giao ước hôn nhân, cũng như biết đón nhận những bổn phận của đời sống gia đình, nhất là trong trách nhiệm sinh sản và giáo dục con cái.
Trong hôn nhân Công giáo, như đã nói ở trên, được nâng lên hàng bí tích, vì thế quan điểm của Hội thánh là đòi buộc đôi hôn nhân phải có lòng trung thủy, “nhất phu, nhất phụ”. Vì thế, trước khi tổ chức lễ cưới vị linh mục bản xứ cũng phải giải quyết những cản trở như hôn nhân ép buộc, hoặc hôn nhân khi một trong cả hai đã có gia đình và bạn trước còn đang sống, hoặc hôn nhân khác đạo… Nói chung, trong hoàn cảnh văn hóa xã hội Việt nam đặc biệt trước đây còn có nhiêu hạn chế trong vấn đề hôn nhân gia đình như “ mẹ chồng nàng dâu”, đánh đập vợ, tảo hôn, “gã bán con”…thì hôn nhân Công giáo đã có những đóng góp đáng kể để cũng cố đời sống gia đình, mang tính nhân bản rất rõ rệt nhất là bảo vệ vai trò làm vợ và làm mẹ của người phụ nữ, góp phần giữ gìn và bồi đắp phong hóa
Nghi lễ cưới xin trong văn hóa Việt nam thường rườm rà, vậy vấn đề đặt ra là liệu tín hữu Công giáo có được phép giữ phong tục cưới xin theo truyền thống dân tọâc không ? quả thật nghi lể cưới hỏi của Công giáo đã có những đan xen, chấp nhận những nghi lễ truyền thống của người Việt như dạm ngõ, lễ hỏi, rước dâu, bái lạy gia tiên…nhưng tránh đi những phong tục gây nhiều phí tổn, ảnh hưởng đến hạnh phúc của đôi hôn nhân. Về phần đạo, cô dâu và chú rễ sẽ đưa nhau đến nhà thờ làm phép cưới trước vị linh mục, người chứng hôn và họ hàng để nên vợ nên chồng, sau đó họ về chung sống với nhau trong sự yêu thương và tôn trọng lẫn nhau.
5. Giáo dục trong đời sống văn hóa gia đình Công giáo Việt Nam
Chúng ta đều phải công nhận gia đình là trường học đầu tiên, nơi đây con người nhận được những bài học đầu tiên về lòng nhân ái, khi người con nhìn vào lòng yêu thương của cha mẹ dành cho nhau và dành cho chúng. Nói cách khác cha mẹ phải luôn luôn nhớ mình có trách nhiệm trước hết về sự trưởng thành của con trẻ, dạy cho chúng biết hiếu kính với ông bà, cha mẹ, và dạy cho biết anh chị em trong gia đình phải biết yêu thương hoà thuận, biết sống trong sạch trong tâm hồn, bác ái quảng đại với mọi người xung quanh, phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương dân tộc. Thấy được tầm quan trong này, công đồng Vaticano II đã tuyên bố :“ Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng và vì thế họ được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được. Thực vậy, chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đình một bầu khí thấm nhuần tình yêu cũng như lòng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện con cái trong đời sống cá nhân và xã hội trở nên dễ dàng”[14]
Bên cạnh việc giáo dục hướng dẫn con cái sống nên người, cha mẹ trong gia đình Công giáo còn có bổn phận hướng dẫn đời sống đức tin cho con cái, để chúng được lớn mạnh trong đời sống thiêng liêng. Cũng nên tổ chức những giờ khắc thiêng liêng trong gia đình như : những giờ kinh buổi tối, trong bàn cơm…để đức tin của con cái được nuôi dưỡng và lớn mạnh. Hơn nữa khi chúng lớn khôn phải lo cho chúng học giáo lý và chịu các bí tich khai tâm, đồng thời khi chúng đến tuổi trưởng thành cha mẹ nên hướng dẫn để chúng có thể chọn bậc sống và theo ơn gọi nào? Về phần này Công đồng chung Vaticano II cũng có những lời nhắn nhủ “ Do đó, gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội cần thiết cho mọi đoàn thể. Nhưng đặc biệt trong gia đình Kitô giáo, vì đã nhận lãnh ân sủng cũng như bổn phận của Bí tích hôn phối, nên cha mẹ phải dạy dỗ con từ nhỏ, để chúng nhận biết và thờ kính Thiên Chúa cùng yêu mến tha nhân theo đức tin chúng đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tội… Sau hết nhờ gia đình, chúng được hướng dẫn dần dần vào cộng đoàn nhân loại cũng như vào Dân Thiên Chúa. Bởi vậy cha mẹ phải ý thức sâu xa tầm quan trọng của gia đình Kitô giáo đích thực trong đời sống và đà thăng tiến của chính dân Thiên Chúa.”[15]
admin
17-05-2006, 08:43 PM
6. Đưa ra một vài nét hội nhập trong giáo lý Công giáo với văn hóa gia đình Việt Nam
Khi bắt đầu công cuộc rao giảng Tin Mừng ở Việt nam, các nhà truyền giáo nước ngoài đã nhận thấy cần lấy những quan niệm của người dân để truyền đạt giáo lý. Cha Đắc Lộ đưa ra “thần học Tam Phụ” rất gần gủi với nhân sinh quan nho giáo, để giới thiệu thêm cho người Việt Nam về người Cha trên trời, Đấng tạo thành vũ trụ vạn vật. Do ảnh hưởng của Nho giáo, nên người Việt Nam rất nặng chữ “hiếu” và chữ “trung” : hiếu với cha mẹ và trung với vua. Trong thần học Tam Phụ, cha Đắc Lộ đưa thêm một mối tương quan nữa đó là tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Từ đó ta suy ra, làm người trên đời con người phải có bổn phận với Đấng làm chủ vạn vật, với vua và với gia đình. Đó là người cha ở cấp độ khác nhau. Trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày, cha Đắc Lộ viết : “Bây giờ, ta phải hay có ba đấng bề trên là ba cha, ta phải thờ đấng nào cho nên đấng ấy. Đấng dưới là cha mẹ sinh ra thân xác cho ta, đấng giữa là vua chúa trị nước, đấng trên là Đức Chúa trời đất, làm chúa thật trên hết mọi sự. Có ba đấng này ta mới được sống được ở”[16]
Ngày nay, các nhà thần học đang muốn trình bày màu nhiệm Giáo hội như là gia đình của Thiên Chúa, trong đó Thiên Chúa là Cha, Đức Kitô là Trưởng Tử và tất cả đều là anh em với nhau. Điều này ta nhận thấy rất phù hợp với đạo lý Á đông nói chung và Việt Nam nói riêng vì trong mô hình này, rõ ràng Thiên Chúa là cha mẹ phải lo lắng hầu hạ cho con cái trước hết, đứa con nào còn nhỏ, đau bệnh thì càng được Thiên Chúa yêu thương, và cha mẹ sung sướng khi được hầu hạ con như vậy. Đó cũng là ý muốn của Đức Giêsu muốn Giáo hội của Người sống trong tinh thần gia đình như thế, nhất là trong hoàn cảnh nghèo nàn, ít học nhưng đơn sơ, chất phát của người dân quê Việt Nam thì hình ảnh Giáo hội là gia đình của Thiên Chúa quả thật đã không xa lạ với họ nhưng quen thuộc và dễ hiểu.
KẾT LUẬN
Như vậy, ta đã đi xuyên suốt qua hai phần của bài tiểu luận này và ít nhiều đã bắt được nhịp đập những cảm thức văn hóa gia đình Việt Nam. Quả thật, ta không nghiên cứu về gia đình Việt Nam chỉ để tìm kiếm một kiến thức hay một sự hiểu biết cứng ngắc, nhưng tìm kiếm một tổ ấm được nối kết bằng tình thương yêu, trước hết là bố, mẹ và con cái, vì thế người viết muốn để cho con tim rung động hơn là để cho lý trí đòi hỏi. Hơn nữa đây là văn hóa gia đình Việt nam ta lại càng dễ dàng có được những cảm xúc đó vì cái chất nữ tính và hòa tính có trong văn hóa Việt Nam, nơi đây ta ôn lại những kỷ niệm êm đẹp của tuổi thơ bên gia đình với ruộng vườn, với con trâu, con cò và với những con người quê thật thà chất phác nhưng dạt dào tình cảm.
Kitô giáo nhập thể vào văn hóa gia đình Việt Nam đã thổi vào đó những nét chấm phá làm tăng thêm sự phong phú. Tuy trong thời kỳ đầu đã có những điều còn xa lạ với con người Việt Nam,“ xa lạ không phải về đức tin, mà xa lạ trong cách biểu hiện đức tin, tức văn hóa”. Ngày nay, Giáo hội Công giáo đã có cái nhìn tích cực và lạc quan hơn, nhất là sau Công đồng Vaticano II nhận thấy muốn gặt hái những thành quả trong công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, Giáo hội cần nhập thể văn hóa hơn nữa, phù hợp với cảm thức của người Việt.
Theo thiển ý của người viết, Giáo hội Việt Nam cần phải học hỏi thêm nhiều các phong tục tập quán của dân tộc, từ đó có thể tổ chức những ngày lễ Công giáo không còn cứng ngắc, cục bộ kiểu Tây phương nữa, cũng nên học tập những cái hay, cái tinh tuý của các tôn giáo bạn, không nên tỏ thái độ tự mãn xem mình đã thủ đắc được Chân Lý, có thể áp dụng lối tu thiền của Phật giáo vào trong đời sống cầu nguyện của chúng ta…có như vậy Tin Mừng Đức Kitô mới có khả năng được lan rộng và việc sống Tin Mừng cũng sinh động và thiết thực hơn vì nó được tiếp nhận một cách tự nhiên không gượng ép, và áp đặt. Như trong Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II nhận định : “Văn hóa là kết quả xuất phát từ cuộc sống và sinh hoạt của một tập thể nhân loại nào đó. Nên những người thuộc tập thể ấy cũng được nền văn hóa trong đó họ sinh sống khuôn đúc lên tới một mức nào đó. Nếu con người và xã hội thay đổi, văn hóa cũng sẽ thay đổi. Ngược lại, nếu văn hóa đổi thay thì con người và xã hội cũng được văn hóa ấy biến đổi theo. Nhìn trong viễn tượng ấy, ta càng thấy rõ hơn tại sao phúc âm hóa và hội nhập văn hóa có liên quan mật thiết và tự nhiên với nhau…Nước Chúa lại đến với những con người đã có liên hệ sâu xa với một nền văn hó nhất định nào đó, và không thể xây dựng nước Chúa mà không vay mượn một số yếu tố lấy từ các nền văn hóa nhân loại”.[17]
admin
17-05-2006, 08:44 PM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ GIÁO HOÀNG HỌC VIỆN PIÔ X Thánh Công Đồng Chung Vaticano II
2/ BAN GIÁO LÝ GIÁO PHẬN TP. HCM, Sách Giáo Lý Công Giáo,
3/ BAN PHỤNG VỤ CÁC GIỜ KINH, Thánh Kinh Trọn Bộ,
4/ LÊ GIA, Tâm Hồn Mẹ Việt Nam- Tục Ngữ Ca Dao,NXB Văn Nghệ,1993
5/ VŨ NGỌC KHÁNH, Văn Hóa Gia Đình Việt Nam, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 1998
6/ TRẦN NGỌC THÊM, Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam, NXB Giáo Dục, 1998
7/ ĐỖ TRỊNH KHUÊ (Biên Khảo), Văn Hóa Tín Ngưỡng Qua Nhãn Quan Học Giả Cadìere, NXB Thuận Hóa,2000
8/ Suy Tư và Đóng Góp Cho Thần Học Việt Nam, lưu hành nội bộ,2000
9/ LM. NGUYÊN HỒNG, Lịch Sử Truyền Giáo Việt Nam, NXB Hiện Tại, 1959
10/ TS NG. HỒNG DƯƠNG, Nghi Lễ Và Lối Sống Công Giáo Trong Văn Hóa Việt Nam, NXB Khoa Học, 2001
11/ TOAN ÁNH, Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, NXB Văn Nghệ, 2000
12/ THÁNH CHA GIOAN PHAOLO II, Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu (Ecclesia in Asia), Lưu hành nội bộ, 2000
13/ JOHN J. DIETZEN, Hôn Nhân Và Đời Sống Gia Đình, lưu hành nội bộ, 1994
14/ NGUYỄN THẾ LONG, Gia Đình Và Dân Tộc, NXB Lao Động ,1998
15/ A. DE RHODES, Phép giảng Tám Ngày, trang 17
16/ LM. TRẦN LỤC, Ca Vè Cụ Sáu
17/ Thời sự thần học, Số 10, tháng 12/ 1997
18/ Nguyệt san Công giáo và dân tộc, Số 71, tháng11/ 2000
Ghi chú
--------------------------------------------------------------------------------
[1] NGUYỄN THẾ LONG, Gia Đình và Dân Tộc, NXB Lao Động, trang 14
[2] TRẦN NGỌC THÊM, Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam, tr.138
[3] VŨ NGỌC KHÁNH, Văn Hóa Gia Đình Việt Nam, trang 56
[4] THÁI SƠN, Hợp Tuyển Thần Học Số 10 tháng 12/97, trang96
[5] VŨ NGỌC KHÁNH, Văn Hóa Gia Đình Việt Nam, tr.124
[6] THÁI SƠN, Thời sự thần học –số 10 tháng 12/97, tr. 98
[7] THIỆN CẨM, Nguyệt san Công giáo và dân tộc –số 71 tháng 11/ 2000, tr.21
[8] Cl 3,20
[9] Lc 3,51
[10] Hc 3,12
[11] Tb 4,3
[12] Cn 30,17
[13] Hc 3,3-5
[14] Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II-Tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo, trang 250
[15] Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, Tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo, trang 253
[16] A. DE RHODES, Phép giảng Tám Ngày, trang 17
[17] GIOAN PHAOLO II, Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, lưu hành nội bộ, trang 77
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.