View Full Version : Hội Thừa Sai Paris
admin
11-02-2008, 02:15 PM
TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP HỘI THỪA SAI PARIS
Có thể nói, lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, giai đoạn hiển hách và oai hùng nhất lại là giai đoạn đầu đau thương thời các anh hùng tử đạo. Hàng trăm ngàn vừa giáo sỹ, thày giảng, nữ tu và tín hữu kiên cường trong đức tin đã đổ máu đào để tuyên xưng đức tin, xây nền cho tòa nhà Giáo Hội VN vững bền. Công việc khai sáng mở đường gieo rắc Tin Mừng là do lòng dũng cảm quảng đại của các nhà truyền giáo dòng Đa Minh từ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha (1550), dòng Đa Minh từ Phi Luật Tân (1583), dòng Tên từ Roma (1615), các linh mục của Hội Thừa Sai Paris (1659).
Nhân dịp kết thúc năm Truyền Giáo, xin đề cập đôi nét về Hội Thừa Sai Paris (Société des Missions Etrangères de Paris. Societas Parisiensis Missonum ad Exteras Gentes - M.E.P). Khó khăn khi mới thành lập, bao nhiêu hy sinh trong những ngày hoạt động tại Việt Nam và ngày nay còn tiếp tục bảo trợ cho GHVN. Người khởi công đầu tiên vận động là cha Đắc Lộ, nhưng sáng lập là công của bốn vị : ĐC François Pallu (1626-1684, qua đời tại Trung Hoa), ĐC Pierre Lambert de La Motte (1624-1679, qua đời tại Thái Lan), ĐC Ignace Cotolenti (1630-1662, qua đời tại Ấn Độ) và ĐC François de Laval de Montmorency (1622-1708, qua đời tại Canada, đã được phong Chân Phước).
Từ ngày thành lập (1663) đến nay (2004), hội đã có 331 năm sinh hoạt, trải qua bao nhiêu biến cố trong nước Pháp cũng như tại những nơi có vết chân các thừa sai. Tuy nhiên, hội vẫn trung thành với mục đích ban đầu và áp dụng lời của Chúa căn dặn luôn tìm phương huớng mới thích nghi hoạt động : ‘‘Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác’’. (Mt 10, 23 ). Thật quí hóa và trân trọng vô cùng.
Cha Alexandre de Rhodes Đắc Lộ (1593-1660) mệnh danh là ‘‘tông đồ xứ Annam’’ đã ở VN không đầy đủ từ 1624 đến 1645. Nghĩa là, vì ngài hoạt động truyền giáo quá mạnh và đem lại kết quả hết sức ngỡ ngàng. Khiến triều đình chúa Nguyễn VN căm tức và tìm cách bắt bớ ngăn cản. Nên trong thời gian này, ngài bị trục xuất nhiều lần ra khỏi nước vào các năm 1625, 1630, và 1641. Gặp khó khăn, ngài đành phải lánh qua Macao, hễ yên ổn chút ít, ngài lại trở lại VN. Năm 1645, sau khi chứng kiến cuộc tử đạo của Thày Giảng Anrê Phú Yên, thay vì bị kết án tử hình, Cha bị trục xuất hẳn khỏi VN.Tuy nhiên lòng khao khát mở rộng truyền giáo của Cha Đắc Lộ không bị giảm hay giập tắt. Cha muốn công trình này được nối tiếp. Nên khi về tới Roma, cha đã vận đông với Tòa Thánh cử giám mục qua Đông Dương phong linh mục cho chủng sinh VN. Vì chỉ có cách này, Giáo Hội địa phương mới sống được trước những cơn bách đạo của vua chúa. Và cha nhận được chỉ thị và ủy nhiệm của Bộ Truyền Giáo tuyển lựa những linh mục có khả năng gửi qua Đông Dương với tư cách Đại Diện Tông Tòa. Để tránh tị hiềm đối với các dòng tu, Bộ Truyền Giáo đã chọn các vị này trong hàng giáo sỹ triều.
Công trình truyền giáo của Cha Đắc Lộ đã được đông đảo biết đến và phấn khởi ca tụng. Rời Roma cha về Pháp, quê hương mình, đi thuyết trình nhiều nơi chiêu mộ linh mục qua Viễn Đông. Cha đã gặp nhóm ‘‘Bạn Hiền’’ (Les Bons Amis) say mê và hưởng ứng. Trong đó có cha François Pallu. Sau đó, Hiệp Hội Thánh Thể (Compagnie du Saint Sacrement) hứa gây quĩ giúp cho việc truyền giáo. Trong hiệp hội này có (thánh) Vincent de Paul và (thánh) Jean Eudes, tán thành và tiếp tay một cách hăng say. Đồng thời số đông linh mục trong trường Charles de Condren, cảm thấy có sự thúc đẩy của Thiên Chúa, theo tiếng gọi đi xa truyền giáo. Sau đó, Cha Pallu kêu gọi sự cộng tác của người bạn là Cha Lambert de la Motte. Cha Lambert lại có người em là cha Nicolas de la Motte, thành viên đắc lực của Nhóm Bạn Hiền. Thế là, hy vọng tràn trề, Cha Lambert sẵn sàng phấn khởi tình nguyện đi truyền giáo và cộng tác ngay với Cha Pallu, và đã dâng cúng hết gia tài của gia đình cho kế hoạch truyền giáo mới. Ngày 3-6-1657, hai cha Pallu và De La Motte cùng đi Roma, vận động thêm. Vì ở Roma vẫn còn dè dặt với đề nghị của cha Đắc Lộ. Sau khi gặp gỡ và tìm hiểu, Tòa Thánh chấp thuận phương án của hai cha Pallu, De La Motte và bạn hữu. Được biết, năm 1655, Cha Đắc Lộ vâng lời đi truyền giáo ở Ba Tư và qua đời tại đây, năm 1660.
Tuy nhiên việc truyền giáo tại Viễn Đông vẫn xúc tiến. Năm 1658, ĐGH Alexandre VII đề cử 4 giám mục đi truyền giáo. Hai vị cho cánh đồng truyền giáo Việt Nam là ĐC François Pallu và Pierre Lambert de la Motte. ĐC François Pallu Đại Diện Tông Tòa, đảm nhiệm Đàng Ngoài (Bắc VN), Lào và 5 tỉnh nam Trung Hoa. ĐC Lambert de la Motte phụ trách Đàng Trong (Nam VN), Chiêm Thành, CamBốt, cộng với 4 tỉnh tây nam Trung Quốc, và đảo Hải Nam. Hai vị được thụ phong giám mục tại Rouen, năm 1660. Hai vị khác được bổ nhiệm là ĐC Ignace Cotolenti, đi Nankin, Trung Hoa. ĐC François de Laval đi Canada. ĐC Ignace ngã bệnh trên đường và qua đời trên đường đi. Nhiệm vụ chính của các giám mục mới, như quyết định của Thánh Bộ là đào tạo giáo sỹ địa phương. Bốn Đức Cha mới được coi là cột trụ sáng lập Hội Thừa Sai Paris.
ĐC Lambert đi VN trước, ngay trong năm 1660. Năm 1662 mới tới Juthia, và từ đây đi về VN, làm việc thay cả phần vụ của ĐC Pallu, coi sóc hai giáo đoàn VN. Còn ĐC François Pallu đi vào năm sau, vì còn ở lại lo cho Chủng Viện Thừa Sai thành hình.
Công việc ở Paris tiếp tục. Chủng viện có hai nhiệm vụ chính : đào tạo huấn luyện cho có linh mục bản xứ. Và đồng thời lo cho việc cho dân ngoại ở ngoại quốc trở lại. Chủng viện này gọi là ‘‘Chủng viện Hội Thừa Sai Truyền Giáo’’. Hội Thừa Sai đầu tiên không muốn là một dòng tu, mà chỉ là hiệp hội các linh muc triều lo việc truyền giáo. (Tân Lịch Sử Giáo Hội. GXVN. 2004. tập 3A. tr. 484-845)
Ngày 26-7-1663, tu hội được vua Louis XIV chấp nhận, và giáo quyền phê chuẩn, ngày 11-8-1664. Từ 16-3-1663, hội nhận cơ sở của ĐC François Duval, nguyên là chủng viện cho Ba Tư bị thất bại, với điều kiện tiếp tục cung cấp giáo sỹ cho nước này. Trong văn thư sang nhượng đại diện có tên hai giáo dân và hai linh mục : Michel Gazil và Armand Poitevin. Ngày 27-6-1663, tu hội mở cửa hoạt động. Từ đây mang tên Chủng viện Thừa Sai Ngoại Quốc (Séminaires des Missions Étrangères).
admin
11-02-2008, 02:15 PM
Tên chủng viện đã thay đổi nhiều lần, như :
. Chủng viện lo việc trở lại của lương dân ở ngoại quốc (Séminaire pour la conversion des Infidèles dans les pays étrangers ) (Tháng 7-1663).
. Chủng viện lo việc trở lại của lương dân ở Perse và ngại quốc. (Séminaire pour la conversion des Infidèles dans le Royaume Perse et autres pays étrangers) (1663).
. Chủng viện lo việc trở lại của lương dân (Séminaire pour la conversion des Infidèles. Seminariumde conversione Infidelium nuncupatum).
. Chủng viện lo việc trở lại tại các quốc gia (Séminaire pour la conversion des nations ou des paiens)(1665)
. Chủng viện truyền bá đức tin (Séminaire de la Propagation de la Foi)
. Chủng viện đức tin lo việc trở lại của lương dân (Séminaire de la sainte Foi, pour la conversion des Infidèles)
. Năm 1673, chủng viện chính thức thiết kế tại rue du Bac, mang tên Chủng viện Thừa Sai Ngoại Quốc, và để khỏi lầm lẫn với chủng viện truyền giáo của Thánh Vincent tại St Lazare đã thêm chữ Paris (Séminaire des Missions Étrangères à Paris).
Năm 1664, một hội nghị được tổ chức đi tới quyết định lấy tên cho công việc truyền giáo ngoại quốc là ‘‘Hội Thừa Sai Ngoại Quốc Paris’’.(La Société des Missions Étrangères de Paris).
Từ 1722, Hội đã dồn hết nhân lực cho đông nam Á châu. Năm 1773, Tòa Thánh trao cho Hội đảm trách Ấn Độ, thêm Đại Hàn, và Nhật (vào 1831), Mãn Châu (1838), Mã Lai (1841), Tây Tạng (1846), hai tỉnh Quảng Đông, và Hải Nam, Trung hoa, và Miến Điện (1855).
Thời kỳ thịnh đạt nhất của tổ chức này, ở ngoại quốc, với kết quả được ghi nhận :
. Năm 1850 : 19 địa điểm mục vụ, 190 linh mục bản xứ, 19 chủng viện.
. Năm 1900 : 31 địa điểm, 612 linh mục bản xứ, 41 chủng viện.
. Năm 1925 : 37 địa điểm, 1218 linh mục bản xứ, 54 chủng viện.
. Năm 1939 : 37 địa điểm, 1583 linh mục bản xứ, 75 chủng viện với 3.783 chủng sinh.
Từ 1970, sỹ số giảm đi vì Giáo Hội địa phương đã trưởng thành. Hơn nữa, tình hình chính trị phức tạp do bài ngoại chống thuộc địa. Và chủ nghĩa cộng sản bài trừ tư bản và tín ngưỡng. Điểm cần lưu ý là khi sáng lập, có sự tham gia của giáo dân. Nhưng giáo dân không bền nên sau này, hội chỉ nhận giáo sỹ. Từ 1840, Hội nhận tu sinh trở thành linh mục truyền giáo.
Nội qui và mục đích
Nội qui Hội Thừa Sai Paris có thể tóm thành ba khoản :
. Là hội giáo sỹ thuộc quyền Giáo Hoàng, không có lời khấn. Thành viên phải dứt khoát với giám mục của địa phận xuất xứ.
. Quyền quản trị cộng đoàn tu hội do một Bề trên cả duy nhất, bầu theo hạn kỳ.
. Các giám mục ở địa phận truyền giáo là thành viên của Hội hay không, cũng chỉ là chủ chăn trong địa phận mình, không phải là bề trên của giáo sỹ đến truyền giáo.
Theo huấn dụ của Bộ Truyền Giáo, ngày 10-11-1659, hội nhằm mục đích :
. Huấn luyện, đào tạo linh mục bản quốc trong các miền đã đón nhận Tin Mừng
. Coi sóc và phát triển số giáo dân hiện có
. và truyền giáo làm cho người ngoại giáo trở lại
Từ đó, đời sống và cách sử các vị Thừa Sai, dễ dàng hội nhập dân chúng :
. Hòa mình vào sống theo phong tục, tập quán xứ sở mình sinh sống, tránh làm chính trị.
. Không được đặt quyết định nào quan trọng khi chưa lãnh chỉ thị của Tòa Thánh.
Mục đích cao hơn của người tông đồ truyền giáo là theo tiếng mời gọi của Chúa :
. Anh em sẽ nhận sức mạnh bởi Chúa Thánh Thần, Đấng hiện xuống với anh em. Và anh em sẽ là chứng nhân của Thày tại Giêrusalem, khắp miền Giuđê và Samari cho đến tận cùng trái đất (Cv. 1, 8)
. Bình an cho anh em, như Cha Thày thế nào, Thày cũng sai anh em như thế. (Ga 20, 21)
. Anh em hãy đi khắp bốn phương thiên hạ, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. (Mc 6,15) (Gxvnparis.org)Thi Chương
admin
11-02-2008, 02:20 PM
CƠ SỞ XƯA VÀ NAY
Bước vào cổng số 128 rue du Bac, quận 6, Paris, người ta thấy hai bên tường có ghi tóm lược thành hình khu chủng viện (tay trái) và nhà nguyện (tay mặt). Qua khỏi một sân nhỏ, trước mặt, trên lầu là nhà nguyện, duới là Gian Hầm Mộ, và Phòng Tử Đạo. Cuối Phòng Tử Đạo có nhà sách ăn thông lên đường phố. Bên tay mặt sân nhỏ là phòng tiếp đón, có các chị VN làm việc tại đây. Ra khỏi phòng này tiến về phía trước mặt là khu nhà nhiều tầng chủng viện. Hai dẫy nhà ba tầng nối lại thành hình chữ L. Đi qua cửa chính, và hành lang ra phía sau là khu vườn rộng. Cuối vườn bên mặt là đài Đức Mẹ, và cuối vườn ở bên tay trái có một lối đi ăn thông ra rue de Babylone, quẹo trái mấy bước tới Thư Viện Á Châu. Sau đây là hình thành từng nơi.
1. Khu nhà chủng viện
Lúc đầu, hội đặt trụ sở ở Courd, xa Paris 40 cây số về phía tây, tại biệt thự của bà Miramion. Sau đưa về rue Quincampois, Paris. Và năm 1663, khu nhà chính đặt trụ sở đặt vĩnh viễn tại rue du Bac, với hai căn nhà ba tầng rời nhau. Từ 1675 hai căn nhà này nối liền lại. Năm 1732, hoàn thành khu nhà chính của chủng viện.
2. Nhà nguyện Hiển Linh (Epiphanie)
Ngày 27-10-1663, nhà nguyện Hiển Linh cũ được ĐC Bernard de Sainte Thérèse giám mục Babylone làm phép, và ĐC Bossuet giảng thuyết. Ngày 24-4-1683, ĐC François de Harlay de Champvallon Tổng Giám Mục Paris đặt viên đá đầu tiên xây nhà nguyện nới rộng. Ngày 7-8-1683, làm phép ‘‘Gian Hầm Mộ’’ và trở thành nhà nguyện tạm thời của xứ đạo với tên Hiển Linh. Thánh lễ Hiển Linh đầu tiên cử hành ngày 6-1-1687. Năm 1691, nhà nguyện được hoàn thành do kiến trúc sư Lepas-Dubuisson. Năm 1823, họa sỹ Aguste Couder vẽ và đặt bức hình Lễ Hiển Linh : Có Đức Mẹ ẵm Chúa Hài Đồng, bên cạnh là Thánh Giuse và có Ba Nhà Đạo Sỹ đang dâng lễ vật và bái thờ cung kính. Bức họa này ngày nay vẫn còn nguyên vẹn màu sắc tươi thắm. Chính tại nhà nguyện này, ngày 8-7-1848, cử hành lễ an táng văn hào François René Chateaubriand (1768-1848), một giáo dân nổi tiếng của giáo xứ, hiện diện có Victor Hugo, Sainte Beuve, Bérenger, Balsac và nhiều nhà trí thức. Năm 1874, khánh thánh nhà nguyện mới với sự có mặt của Tổng Thống Pháp Mithouard, mang tên Thánh François de Xavier des Mission Étrangères.
Những năm đầu, hàng năm lễ nghi lên đường truyền giáo mang nhiều ý nghĩa và cảm động đã diễn ra tại nhà nguyện này. Trước khi lên đường vượt biển truyền giáo, các chiến sỹ Phúc Âm đứng xếp hàng đối diện cộng đoàn trước bàn thờ. Cộng đoàn từng người lần lượt ôm hôn chân các tân Thừa Sai. Trong khi đó bài ca ‘‘Lên đường truyền giáo’’ (Chant pour le départ des missionaires) do nhạc sỹ Gounod sáng tác, được hát vang lên. Sau này, ông sáng tác thêm bài ‘‘Kỷ niệm các Vị Tử Đạo (Chant pour l’anniversaire des Martyrs). Năm 1868, họa sỹ Charles Louis de Fredy Coubertin (1822-1903) đã vẽ lại cảnh tượng ‘‘Lên Đường’’. Các nhân vật trong bức họa sơn dầu được nhận diện như sau : Bên phải hai phụ nữ là cha Lacordaire, dòng Đa Minh, mặc áo choàng đen. Người có bộ râu rậm, mặc áo khoác đang bắt tay một cựu quân nhân. Đó là Just de Bretenièrs, sau này bị chém đầu ở Triều Tiên, năm 1866. Sát liền cạnh là ĐC Thomine Desmazures, giám mục đầu tiên của Tây Tạng. Trước mặt các thừa sai, tác giả vẽ hai người con của mình. Cậu nhỏ ít tuổi, đang quay mặt nhìn, đó là Pierre de Courbertin, người sau này sáng lập trò chơi thể thao Olympic. Từ nhà nguyện Hiển Linh, người ta đã tiễn đưa khoảng 4500 vị thừa sai ra đi nối gót ĐC François Pallu, vị sáng lập Hội, đáp lại lời mời gọi khẩn thiết tiếp tục nhịp cầu nối tiếp quá khứ với hiện tại, mà còn nối kết các nền văn hóa và các tôn giáo. Lễ quan thày của Hội tổ chức rất lớn vào lễ Hiển Linh hàng năm.
Giờ lễ : Trong tuần, từ thứ Hai đến thứ Bảy : 7g. Chúa Nhật : 10g. Lễ ở Gian Hầm Mộ : 7g30.
3. Gian Hầm Mộ (La Crype).
Một bàn thờ và cây Thánh Giá ở giữa gian nhà. Ngay cửa vào, bên tay trái có ‘‘ngôi mộ giả’’ làm sẵn, trên nắp đá cẩm thạch có ghi danh sách 120 Vị Tử Đạo của Trung Hoa (1648-1930), 103 Vị Triều Tiên (1838-1867), 117 Vị Việt Nam (1745-1862), và 8 Vị Thái Lan và Lào (1940-1944). Trong ngôi mộ có những hòm nhỏ bằng gỗ, những bình đựng tro cốt. Trong năm, lần lượt các Linh Mục Thừa Sai sẽ cử hành mừng lễ các Ngài một vòng. Và bình hài cốt sẽ đem ra trưng bày dưới bàn thờ trong ngày lễ các Thánh Tử Đạo. Trong Gian Hầm Mộ, còn cất giữ hài cốt các vị Tử Đạo. Trong tuần, ở đây thấy có lớp giáo lý cho trẻ em trong khu phố.
Ngay cửa từ ngoài vào Gian Hầm Mộ, ở hai cây cột, một bên phải ghi tên bốn ĐC sáng lập Hội Thừa Sai. Cột bên trái ghi lời ĐC François Pallu, vị sáng lập, đặt hy vọng và nhắn nhủ những ngưới kế nghiệp như sau : Này chiếc cầu đã được khởi sự, rất sung sướng nếu những bộ xương của chúng tôi và của các bạn thân mến, có thể dùng làm cột chống đỡ cho thêm chắc, và làm thành con đường lớn và mở rộng cho những nhà truyền giáo và những người thợ gặt dũng cảm để đến thu hoạch một mùa gặt lúa mới của những cánh đồng rất mầu mỡ và rất hứa hẹn một sự sung mãn dư dật và dồi dào. (Tháng 9-1663). Bước xuống ít nấc thang là Phòng Tử Đạo.
admin
11-02-2008, 02:21 PM
4. Phòng Các Vị Tử Đạo (La Salle des Martyrs)
Đêm 31-7-1838, thánh Giám Mục Pierre Dumoulin Borie Cao (1808-1838), qua VN năm 1832, bị bắt và tống giam ở Đồng Hới, và bị án xử trảm tại pháp trường Đồng Hới, ngày 24-11-1838. Thi thể Ngài được chôn cất tại chỗ. Một năm sau, thi thể ngài được cải táng. Cùng với nhiều thánh tích khác, được chuyển qua Ma Cao, đem về Chủng Viện Thừa Sai Paris, ở 128 rue du Bac, ngày 3-8-1843. Tất cả được đặt trong một phòng trên lầu để tôn kính và cầu nguyện. Đó là khởi sự của Phòng Tử Đạo (La Salle des Martyrs).
Từ đây, các thánh tích của các vị tử đạo ở VN, Trung Quốc và Đại Hàn là lần lượt gửi về trụ sở Hội. Năm 1867, nhà trường mới đem trưng bày trong một phòng nhỏ, ở tầng trệt bên tay trái ngay cửa lớn vào tòa nhà chính. Qua những đợt phong chân phước cho các Linh Mục Thừa Sai của những năm 1900, 1909, 1925, 1968. .. Phòng này có thêm nhiều các ‘‘thánh tích và kỷ vật’’ qúi giá. Từ năm 2002, Phòng Các Vị Tử Đạo và Gian Hầm Mộ được chỉnh trang, rất đẹp, tối tân và tốn kém.
Tại Phòng Các vị Tử Đạo, ngay chính giữa có trưng bày chiếc ‘‘gông’’ của cha Borie. Trông như thang gỗ, nhưng là gông tròng vào cổ tội nhân, nặng và dài, khó đi lại. Bên cạnh có một giá để mã tấu, gươm giáo và đòng. Giữa gian phòng có bảy tủ kiếng đựng các thánh tích và kỷ vật. Ở đây xin ghi các Thánh Tích của các vị tử đạo tại VN :
Tủ kiếng 1 : Nhẫn giám mục, gậy và con dấu của ĐC Pierre Retord (+1858). Đựng nhiều kiểu Thánh Giá khác nhau, từ nhiều nơi,
Tủ 2 : Treo ba chiếc áo dài màu lam, kiểu Bắc Kỳ, Trung Hoa và Tây Tạng. Đồng hồ, đôi đũa, gối của Thánh Jean Louis Bonnard Hương (+1852), Bình trà của Paul Châu (+1852), Bộ trà, hộp trầu của thánh Augustin Shhoeffer Đông (+1851),
Tủ 3 : Thánh giá của Thánh Pierre Borie Cao (+1838), một thánh giá bằng nylon của Lm Théophile Bonnet, bị VC bắt giữ năm 1961.
Tủ 4 : Một số tượng Đức Mẹ, chuỗi của ĐC Pierre Retord (+1858),
Tủ 5 : Áo Lễ, chén và đĩa thánh của cha Ponnet (+ Huế, 1968), sách lễ của Lm Piere François Chatelet (+1885).
Tủ 6 : Giây Các Phép của Đc François Pallu (1684, Trung Quốc),
Tủ 7 : Gậy bằng gỗ của Thánh Theophane Vénard Ven (+1861). Trái banh nhỏ của Lm. Jean Pierre Idiard Alhor (1848)
Một dãy 6 hộc bàn có nắp kiếng trưng bày thư viết tay, nhật ký, ảnh đeo ngực, ảnh photo, sách kinh nguyện và kỷ vật nhỏ, hình một số căn nhà nơi sinh quán của các Thừa Sai. Có các phiếu để tham khảo về các kỷ vật này.
Trên hai bức tường có 9 bức họa các vị Tử Đạo VN, do các nghệ sỹ VN đương thời họa. Đó là : Đám táng của thánh Bonnard do ĐC Retord cử hành, có Thánh Lê Bảo Tịnh và chủng sinh tham dự (1852). Cuộc tử đạo của thánh Mĩ, Đường và Truật (1838), Cuộc tử đạo của thánh Xavier Cần (1837). Cuộc truy bắt thánh Khoan, Hiếu và Thành (1837). Cuộc tử đạo của thánh Khoan, Hiếu và Thành (1840). Cuộc truy bắt Thánh Borie, Điểm và Tự. Quang cảnh chém đầu của thánh Borie (1838). Cuộc tử đạo của thánh Năm, Mĩ và Đích (1838). Cuộc tử đạo của thánh Khanh. Cuộc tử đạo của thánh Năm và Tự (1840).
Dưới chân các bức họa này, có mấy hộp nhỏ đựng xiềng xích, giây trói, bản án bằng chữ Nho của thánh Tùy (+1833), bản án của thánh Augustin Shhoeffer Đông (+1851),
Ở một phòng nhỏ bên cạnh có chiếu loạt phim ‘‘Remplacer la Lampe’’, giới thiệu hoạt động truyền giáo mới nhất, của các linh mục Thừa Sai ở Camboge, Lào, Nhật, Úc... có khoảng 20 chỗ ngồi. Trẻ em đến thăm được xem phim hoạt họa về Truyền Giáo. Trên một bức tường trong phòng có ghi danh sách 177 linh mục đã chết vì bạo lực, từ 1670 đến 1975. Hai vị ở VN chết gần đây : Cha Guy Audigou (+31-3-1972 tại Cam Lộ) và cha Joseph Vulliez (+ 16-4-1975 tại Hương Bình)
Trong Phòng Tử Đạo có hai người hướng dẫn, trong đó có anh Việt Nam. Phòng Tử Đạo mở cửa : Từ thứ Ba đến thứ Bảy : Từ 11g đến 18g30. Chúa nhật và lễ nghỉ : 13g- 18g. Nếu các nhóm hành hương xin liên lạc điện thoại : 01 44 39 10 40.
5. Nhà Sách đặt cuối Phòng Tử Đạo và ăn thông lên mặt đường góc Babylone và rue du Bac. Có khoảng 200 sách viết về Việt Nam, bằng tiếng Pháp. Rất Ít sách tiếng Việt. Đăc biệt những băng Vidéo thực hiện trong năm 2004, như : Chemin de mission JP. Haure, misionnaire laic à Bali; Chrétiens au Brésil. Aux frontières de la foret. Un monde noeuvau sur la Transamazonnienne; Chrétiens au Cambodge; Chrétiens au Japon, au Laos, en Thailande, au Timor-Oriental; La mission de Mandritsara; Mahajunga, l’apostolat de la La mission de Mandritsara; Mahajunga, l’apostolat de la mer; Les Enfant des rues; Entre rêve et réalité (Ile Maurice)
Nhà sách mở cửa : Thứ Ba đến thứ Bảy : từ 11g 30 đến 19giờ. Đóng cửa thứ Hai.
Tél : 01 44 39 58 33. fax 01 44 39 58 34.
E-mail : librairie@mepasie.org
6. Văn khố. Ngay từ năm 1680, cha Jean Marc Odam có công giữ lại các thư từ của các linh mục từ các xứ truyền giáo gửi về. Số lượng thư, và báo cáo ngày càng nhiều. Đến sau, công viêc lưu trữ này trao cho người chuyên môn. Năm 1833, do cha Jean Fesson (1798-1876) vừa làm bề trên vừa giữ Văn khố. Tiếp nối đến cha Joseph Voisin (1797-1877) từ Trung Hoa về. Năm 1863, cha Jean Rousseille (1832-1900) đã có 300 tập. Năm 1894, cha Andrien Launay (1853-1927) giám đốc Văn Khố, sử gia, từ Viễn Đông về viết về truyền giáo Viễn Đông. Và lần lượt các cha sau đây đã phụ trách Văn khố : Cha Henry Sy, Cha Charles Cesslin (năm 1939), Cha Hubert Monjean, (1950), đã phân tích xếp loại được 80.000 trang, thành 400 tập, Cha Henri Simorin. Năm 1958 cha Jean Guennou, tác giả cuốn Missions Étrangères de Paris, làm giám đốc, Cha Pierre Pencolé từ VN về (1974), Cha Jean Baptiste Vérinaud (1981), Cha Joseph Devisse, từ Nhật về (1992)
Từ 1993, cha Gérard Moussay phụ trách Văn khố (nói tiếng Việt giỏi). Cô Brigitte Appavou, Phụ tá và cô Brigitte Maguiney chuyên viên. Văn khố nằm ở trên lầu hai của tòa nhà chính. Văn khố chia làm hai loại : hồ sơ cũ (1660-1920) và mới (1920-2000). Tất cả có 1600 hộp hồ sơ. Về VN có hồ sơ của các địa phận : Tonkin (từ 1666 đến 1920), Cochinchine (1666 -1920), Hà Nội (1920-1980), Vinh (1920-1954), Hưng Hóa (1900-1950), Thanh Hóa Phát Diệm (1900-1950), Huế (1920-1974), Qui Nhơn Nha Trang (1920-1970), Kontum (1920-1970), Sàigòn (1920-1970), Đàlạt (1920-1970).
E-mail : amep@archivesmep.com
Site : archivesmep.mepasie.org
admin
11-02-2008, 02:21 PM
7. Thư viện Á Châu của Hội Thừa Sai (Bibliothèque Asiatique des Missions Etrangères) tại 28 rue de Babylone, quận 6, mờ cửa ba ngày trong tuần, thứ Ba và thứ Tư : 9g- 12; 14g-17 g. Thứ Sáu : 9g-12g. Có nhiều sách tiếng Việt được lưu giữ tại đây, mà nhiều nơi khác không có. Fax : 01 44 39 47 88. E-mail : documep@wanadoo.fr
8. Bán nguyệt san Eglise d’Asie. Tờ báo chuyên viết về tình hình các giáo hội tại Á châu : Birmanie, Trung Hoa, Ấn Độ, Indonésia, Sri Lanka... Điều hành do các linh mục : Guillaume Aroçaréna, Jean Mais, (Cha đã đến VN từ 1966, và dạy học ở Đại Học công giáo Đà Lạt tới 1975), và Anouil Régis. Về Việt Nam, báo này viết khá nhiều và đầy đủ về GH VN trong thời gian qua.
Tél : 01 42 22 63 55 - Fax : 01 45 44 85 19.
E-mail : eglasie@mepasie.org
9.Tập san ‘‘Missions Étrangères de Paris’’ viết về các hoạt động hiện thời của Hội, nơi có các linh mục của hội đang làm việc. Về tình trạng nhân số mới đi truyền giáo hay đã qua đời. Giới thiệu tác phẩm mới của hội viên.
E-mail : revuemep@wanadoo.fr
10. Nhà mẹ cho cả thế giới : ở 128 rue du Bac, 75007, Paris
Bề trên cả : Cha JB. Etcharren (nhiệm kỳ 2004-2010)
Ban cố vấn : Cha Georges Colomb, (đại diện tổng quyền), Cha Antoine de Monjour, Cha Georges Mansuy, Cha Xavier Demolliens. (nhiệm kỳ 6 năm)
Tổng số linh mục của Hội Thừa Sai Paris là 302 (tháng 1-2004), đang hoạt động mục vụ tại Pháp, nhiều quốc gia, và được phân chia từng vùng hay nhóm, như : ở Nhật (có 41 linh mục làm mục vụ), Triều Tiên (có 14), Đài Loan (có cha Nguyễn Hữu Tiến, VN và 19), Hong Kong (Cha Lâm Minh, VN, phụ trách, với 10 linh mục khác), Cambodge (11), Thái Lan (27), Malaisie và Singapour (Cha Văn Giang, VN, phụ trách và 19 cha khác), Ấn Độ (14), Đảo Maurice (4), Indonésie (7), Nouvelle Calédonie (2), và Madagascar (10).
Có năm cha VN trẻ gia nhập Hội : Cha Pierre Lâm Minh và cha Pierre Lê Văn Thắng (làm việc ở Hong Kong), cha Grégoire Văn Giang và Cha Jean Nguyễn Văn Đích (Singapour), và Cha nguyễn Hữu Tiến (Đài Loan)
11. Các Văn phòng điều hành
1. Tổng Thơ ký : Cha Geoges Mansuy
2. Tổng Quản Lý : Cha François Gouriou.
3. Ban Mục vụ Giới Trẻ và Ơn Gọi : Cha Georges Colomb, Cha Antoine de Monjour, và Cha Xavier Demolliens.
4. Ban Thông Tin : Cha Guillaume Arotçareana
5. Ban Tiếp Đón và Cổ Võ truyền giáo : Cha Gilles Reithinger
6. Ban các linh mục sinh viên : Cha François Glory (phụ trách ở Paris), Cha Jean Péault và Cha Raymond Rossignol (ở Toulouse)
7. Ban Văn Khố : Cha Gérard Moussay
8. Ban Thư Viện : (Bổ nhiệm sau) Có một thư viện lớn, dành cho các cha sinh viên
9. Phụ trách cơ sở Paris : Cha Jean Michel Cuny
12. Các trung tâm khác
. Nhà ở Toulouse : Institut catholique. BP.7012,
31 rue de la Fonderie. 31068 Toulouse Cedex 7.
Hiện có một số cha sinh viên VN đang học tại đây.
Cha Raymond Rossignol và Cha Jean Péault phụ trách.
Tél et Fax : 05 61 36 81 15
E-mail : mep-toul@wanadoo.fr
. Nhà ở San Francisco : Cha Jacques Didier.
Paris Foreign Missions, 930 Ashbury st.
Sanfrancisco, CA. 94117-4409. USA.
Tél aux USA : (415) 664 67 47.
D’ailleur: (1-415) 664 67 47 Fax : 1-415 564 53 35
E-mail judidier@pacbell.net
13. Nhà hưu dưỡng
Missions Étrangères, Maison St. Raphael, 82290 Montbeton.
Tél : 05 63 67 58 04 - Fax : 05 63 67 45 32
14. Nhà Tiếp Đón Lauris
19 bis rue du Murier, BP. 32 - 84360 Lauris (Marseille)
Tél : 04 90 08 46 00 Fax : 04 90 08 46 9 (Gxvnparis.org)
Thi Chương
admin
11-02-2008, 02:23 PM
HỘI THỪA SAI PARIS VỚI GIÁO HỘI VN
Hai vị sáng lập Hội Thừa Sai Paris, ĐC Pierre Lambert de La Motte, đi VN đầu tiên ngày 18-6-1660. ĐC François Pallu còn ở lại, năm sau mới đi, ngày 18-11-1661. Cùng đi một lượt qua viễn đông với ĐC De La Motte có Lm. Jacques De Bourges và Lm François Deydier, sau hai cha đều làm giám mục. Khi tới VN, các cha được cử làm giáo sư các chủng viện, hoặc phân phối làm việc trong các xứ đạo. Các linh mục làm việc hoàn toàn theo nhu cầu và chỉ thị của giám mục địa phương. Tuy nhiên, các cha cũng có ban đại diện chịu trách nhiệm với nhà mẹ ở Paris. Cơ sở tại miền nam Việt Nam có trụ sở chính tại nhà Bienheureux Marchand, 11 Nguyễn Du, Sàigòn, và có các cơ sở nhỏ tại Đàlạt, Huế, Nha Trang, Kontum. Mỗi nơi có cha đại diện.
Sau 1975, các cha thừa sai đã trở về Pháp. Trong số các vị đã làm việc tại VN,
. Ở Paris còn thấy có các cha Bề Trên JB. Etcharren (làm việc ở Huế), cha Jean Mais (Đà Lạt), cha Gérard Marie Moussay (Nha Trang).
. Trong nhà hưu dưỡng Saint Raphael, ở Montbeton có các cha : Pierre Chastanet (Kontum), Jean Faugere (Thanh Hóa), André Louis Marie Rannou (Kotum).
. Tại nhà Tiếp Đón ở Lauris, (Marseille) : Cha Christian Grison (Sàgòn), cha Pierre Jeanningros (Qui Nhơn), Cha Joseph Jacques Larroque (Nha Trang), Cha Albert Mollard (Qui Nhơn), cha Aimé Jean Baptiste Pinsel (ở Trung Hoa và VN ?), cha Jean Savel (Ở Singapour và VN ?), cha Jean Vuillemin (ở Phnom Penh và VN ?)
Theo danh sách phổ biến năm 1996, từ 1660 đến 1975, đã có 991 linh mục của Hội Thừa Sai Paris qua phục vụ tại VN. Trong đó có : 10 vị được tôn vinh lên bậc hiển thánh, và 110 vị là giám mục (Trần Anh Dũng. Hàng Giáo Phẩm Công Giáo VN. Paris, 1996, ttr 53- 67)
Ở Việt Nam, năm 1933, Tòa Thánh đặt cử Đức Cha GB. Nguyễn Bá Tòng làm giám mục VN đầu tiên. Và kế tiếp tới nay đã có 88 giám mục VN, nối tiếp công trình mở đầu thay thế các giám mục của Hội Thừa Sai. Đúng với mục đích và yêu cầu của Giáo Hội.
Xin dẫn đăng lời ĐC Nguyễn Bá Tòng, sau khi thụ phong giám mục ở Roma, ghé thăm Paris và chiều 2-7-1933, được mời giảng tại Notre Dame de Paris, đã bày tỏ lòng tri ơn Hội Thừa Sai Paris, như sau : « Hỡi các cha rất yêu dấu. Các cha có phần khó nhọc mở mang gây dựng nước Chúa trong đất nước VN. Ngày nay, các cha trao lại gánh nặng cho con cùng giao của châu báu cho con giữ. Nay con đứng giữa nơi đô hội này, xin lên tiếng thay mặt cho mấy triệu bởn đạo Annam mà cám đội ơn các cha cùng xin các cha cứ một lòng thương xót đến cùng. » (Tiểu Sử và Thư Mục ĐC Nguyễn Bá Tòng. Đắc Lộ Tùng Thư. 2003, tr. 20)
CẢM NGHĨ VỀ TRANG SỬ ĐỂ LẠI
Đọc lịch sử của Hội Thừa Sai Paris, các chủng sinh đã phải trải qua nhiều thử thách giằng co về việc xin nhập tu Hội. Hầu hết gia đình không muốn con đi xa. Nhưng các chủng sinh này vẫn cương quyết xin gia nhập cho bằng được với bất cứ giá nào. Đến khi chịu chức linh mục xong thì các tân chức lại chọn đi Viễn Đông, nơi đang có nhiều bắt bớ giam cầm. Ngày lên đường truyền giáo, sau khi hát kinh tạ ơn tại nhà nguyện, các vị tân truyền giáo ra cuối vườn sau, góc tay mặt chào biệt Đức Mẹ. Tượng Đức Mẹ vẫn còn đó, bên cạnh có ghi danh sách các Thừa Sai Tử Đạo tại VN, Đại Hàn, Nhật... Ra khỏi cổng chủng viện, các ngài từ giã cha mẹ, họ hàng, lên xe lửa đi Marseille, hay Anvers lấy tàu thủy đi về miền xa xôi. Hồi đó chưa có kênh đào Suez, tàu ra khơi đi ngả Brésil, nam Mỹ, tới mũi Hảo Vọng (cap de Bonne Espérance), theo Ấn Độ Dương, vào hải phận Úc, đến dảo Java của Indonésia, ghé Singapour, theo biển Nam Hải cặp Hồng Kông. Từ đây dùng thuyền đi Ma Cao hay Việt Nam. Cuộc hành trình đến nơi đầy nguy hiểm, kéo dài cả năm mới tới nơi. Nhưng các Thừa Sai cho là miền đất hứa. Cha thánh Gioan Charles Cornay Tân (1809-1837), lúc từ giã gia đình, cha mẹ vì quá thương con đã nằm ngả trên đường ngăn con, nhưng ngài vẫn bước qua mình song thân mà đi. Vị thừa sai này đã chiếm được cành thiên tuế tử đạo tại VN (1837). Năm 1851, cả miền Poitiers buồn ngao ngán khi hay tin thầy Gioan Théophane Vénard Ven (1829-1861) được nhận vào chủng viện Thừa Sai Paris. Và cũng là năm ba của thày đau nặng. Từ ga xe lửa Poitiers, trong nước mắt đau thương, Thày đã từ giã gia đình tiễn đưa thầy về Paris. Và năm 1852, sau khi thụ phong linh mục, cũng từ ngôi nhà thờ xưa Cha chịu phép rửa tội, Cha làm lễ ‘‘vĩnh biệt’’ quê hương đi Bắc Việt truyền giáo. Sau 9 năm ở VN, nếm đủ mùi gian khổ bắt bớ, giam cầm, vị thừa sai trẻ tuổi ngoài 30 tuổi đã đạt được ước nguyện, bị chặt đầu để ‘‘dâng trọn mạng sống như lễ toàn thiêu lên Thiên Chúa’’. Đó là ngày 2-2-1861, lễ Đức Mẹ dâng con trong đền thờ. Một trùng hợp diệu kỳ.
Chương trình của Hội Thừa Sai Paris còn đang tiếp tục nâng đỡ Giáo hội VN. Đã có năm linh mục VN đã gia hập tu hội này, và đang hoạt động tích cực. Hai chủng sinh gốc VN đang tu học và tìm hiểu ơn gọi. Tình hình không cho phép, thay vì gửi Thừa Sai đi VN, từ niên khóa 1993, Hội đã cấp học bổng, cho 110 các cha sinh viên VN lần lượt qua Pháp du học, rồi lại trở về VN làm việc. Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, giám mục Lạng Sơn, ĐC Giuse Vũ Duy Thống, Sàigòn, ĐC Giuse Vũ Văn Thiên, Hải Phòng, ĐC Giuse Nguyễn Chí Linh, Thanh Hóa là những giám mục đã từng học từ Paris về. Hội còn sẵn sàng mở cửa đón tiếp các giám mục, linh mục VN trên đường mục vụ tại hải ngoại, ghé thăm Paris.
Sự liên kết cả tinh thần và vật chất của Giáo Hội Pháp với GHVN thật to lớn, và cao qúi, không gì so sánh, qua Hội Thừa Sai Paris vẫn còn tiếp tục. Sự gắn bó này làm cho thế hệ trẻ an tâm trong hành trình đức tin ở trong nước cũng như hải ngoại. Khó khăn giữ đạo của lớp người trẻ năm xưa khi các Thừa Sai Paris đặt chân đến VN hay ngày nay của người trẻ VN ở bên nhà hay ở hải ngoại, thiết nghĩ cũng giống nhau. Tức là, họ có nhiều băn khoăn, trăn trở về sống và giữ đạo. Với ơn Chúa, lớp trẻ năm xưa đã tìm ra ánh sáng, nhờ các nhà truyền giáo tận tình. Thì ngày nay, người trẻ VN cũng sẽ đạt được kết quả như anh chị em của họ đi trước, nhờ gương sáng và hướng dẫn của những người nối tiếp sự nghiệp của các vị truyền giáo.
Xin cùng dâng một lời nguyện chân thành :
Lạy các Thánh Truyền Giáo Tử Đạo tại VN,
Xưa các Ngài đã anh dũng lấy máu đào tuyên xưng đức tin. Làm nảy sinh bao nhiêu tín hữu tiền bối trung kiên của chúng con.
Ngày nay, xin Các Thánh cũng tiếp tục cầu thay nguyện giúp. Cho giáo dân VN chúng con vượt thắng khó khăn. Làm tròn sứ mạng của cha ông trao lại. Amen.
Tài Liệu tham khảo
- Jean Guennou. Missions Etrangères de Paris. Fayard. 1986.
- Niên giám Việt Nam công giáo. Sàigòn, 1964
- État de la société des missions Étranères de paris. 1658-1994. Archives des MEP 1994; Janvier 2004.
- Một số tài liệu phổ biến tại Phòng Tử Đạo, 128 rue du Bac
-Trần Anh Dũng. Hàng Giáo Phẩm VN. 1960-1995. Paris 1996
(Gxvnparis.org)Thi Chương
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.