admin
24-02-2008, 01:39 PM
VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
Ma-ri-a, Mẹ Đức Giê-su có được cứu khỏi tội không? Giáo Hội Công giáo trả lời: Thưa có. Câu trả lời này gây ngạc nhiên cho những ai cứ tưởng người Công giáo tin rằng Đức Ma-ri-a đã không được cứu chuộc. Chẳng phải người Công giáo luôn tin rằng Đức Ma-ri-a vô nhiễm nguyên tội và ngài không có tội đấy ư? Điều này chẳng nghịch lại chính lời của Đức Ma-ri-a: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc1:47) hay sao?
Theo đức tin Công giáo, Ma-ri-a, cũng như bất cứ trẻ nhỏ nào thuộc dòng dõi A-đam, đều cần được cứu độ và đã được cứu độ. Giống như tất cả chúng ta, Mẹ đã có thể nhận được ân sủng, sự thánh thiện, và ơn cứu chuộc chỉ do công nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô. Thực vậy, đối với ngài cũng như đối với chúng ta, chẳng có sự cứu độ nào ngoài sự cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô và chẳng có danh nào ngoài danh Đức Giê-su nhờ đó chúng ta được cứu chuộc.
Là E-và Mới liên kết với Con Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc, Đức Ma-ri-a cũng cần đến những gì ơn cứu chuộc mang lại cho nhân loại, nghĩa là cần đến những công nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô. Bởi đó chẳng có gì nghịch lý khi Đức Ma-ri-a vừa hợp tác với chương trình cứu độ, đồng thời cũng vừa được hưởng nhờ ơn cứu độ ấy.
Chúng ta có thể thấy một điểm tương đồng như vậy trong việc tổ tông loài người sa ngã và điểm ấy chỉ là đặc nét của việc giống nhau giữa sự Sa ngã và việc Sửa chữa.
Hậu quả của tội A-đam phạm không những làm cho chính ông và con cháu ông mất đi tình trạng vô tội, mà còn làm cho E-và cũng mất tình trạng vô tội nữa, vì bà xúi giục nên ông đã phạm tội. Dĩ nhiên, bà đã lỗi phạm nghịch lại Thiên Chúa, nhưng tội của bà có thể chỉ ảnh hưởng đến cá nhân bà. Còn A-đam dù một mình ông lỗi phạm thì cũng có thể ảnh hưởng đến mọi người bởi ông là đầu. Vậy E-và đã dụ dỗ A-đam phạm tội và tội của ông đã làm cho bà mất đi tình trạng vô tội cùng tất cả con cháu bà sau này.
Hiệu quả việc cứu chuộc của Đức Giê-su Ki-tô không chỉ là ơn cứu độ cho nhân loại mà cũng là ơn cứu độ cho chính Đức Ma-ri-a. Qua sự ưng thuận, Đức Ma-ri-a đã giúp cho ơn cứu độ có thể đến với chúng ta và chính Mẹ cũng được hưởng ích lợi của ơn ấy như mọi người và lại còn đầy đủ hơn mọi người nữa.
Chúng ta hãy trình bày điểm quan trọng này một cách khác. A-đam có thể nói với E-và: “Bởi chính lời dụ dỗ của bà mà tôi đã phạm tội;” còn E-và cũng có thể nói thật với A-đam: “Bởi tội lỗi của ông mà tôi đã mất đi tình trạng vô tội khi tôi được tạo dựng.” Cũng thế, Đức Giê-su có thể nói với Mẹ Ma-ri-a: “Do sự ưng thuận của mẹ, mẹ đã giúp cho Con có thể cứu chuộc thế gian;” và Mẹ có thể nói với Ngài: “Mẹ cần đến sự hy sinh nhờ cuộc khổ nạn và cái chết của Con cho sự cứu rỗi của chính mẹ.”
Vô Nhiễm Nguyên Tội
Đối với việc cứu chuộc nhân loại, vai trò của Đức Ma-ri-a quả thật là độc đáo, cho nên không có gì là ngạc nhiên khi thấy việc Mẹ được cứu chuộc cũng thật độc đáo. Không phải Mẹ đã được giải thoát khỏi tội ngài đã phạm, cũng chẳng phải Mẹ đã được tẩy sạch khỏi tội ngài đã bị lây nhiễm; nhưng là Mẹ đã được gìn giữ cho khỏi tội, Mẹ đã được ngăn ngừa khỏi sự lây nhiễm của tội nguyên tổ ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được hình thành trong bụng mẹ mình. Đức Ma-ri-a đã được thụ thai tinh tuyền ngay trong bụng mẹ – không vướng mắc tội lỗi và được tràn đầy ân sủng của Đức Ki-tô nhờ công nghiệp đã được dự liệu do cuộc khổ nạn và sự chết của Ngài.
Việc gìn giữ Đức Ma-ri-a khỏi bị di truyền tội tổ tông thường được gọi là Vô Nhiễm Nguyên Tội. Như rất nhiều người đã hiểu sai, Vô Nhiễm Nguyên Tội không đồng nghĩa với việc Mẹ thụ thai Đức Giê-su mà vẫn còn đồng trinh, và cũng không ràng buộc với việc Đức Giê-su không có một người cha phàm trần nhưng đã được thụ thai cách lạ lùng trong dạ Mẹ Ma-ri-a. Vô Nhiễm Nguyên Tội cũng không có nghĩa là Đức Ma-ri-a đã được thụ thai cách mầu nhiệm trong lòng mẹ mà không cần đến quan hệ vợ chồng với người nam. Không, không có nghĩa như vậy. Đối với phụ mẫu của Đức Ma-ri-a thì Mẹ đã được thụ thai theo cách sinh sản tự nhiên của con người. Được thụ thai theo cách thức tự nhiên, nên đúng ra Đức Ma-ri-a sẽ được tạo thành mà không được ân sủng của Thiên Chúa và cũng sẽ phải chịu mất tình trạng vô tội như tất cả con cháu A-đam sinh ra theo cách tự nhiên của loài người. Nhưng Thiên Chúa đã cứu Mẹ khỏi những điều ấy là vì phận vụ của Mẹ trong kế hoạch của Người.
Đức tin của Giáo Hội Công giáo trình bày ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội một cách đơn giản như sau: Ngay từ lúc đầu tiên khi được thụ thai, bởi ơn đặc biệt của Thiên Chúa Toàn Năng, nhờ công nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô, Đấng Cứu độ chúng ta, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã được gìn giữ cho khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ.
Việc Đức Ma-ri-a không dính một vết nhơ nào của tội nguyên tổ là yếu tố quan trọng của ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tất cả con cháu A-đam đều mất đi tình trạng vô tội thuở ban đầu của tổ tông mà lẽ ra họ sẽ được nếu A-đam vẫn trung thành với Thiên Chúa. Sự thiếu vắng ân sủng và vô tội này được hình dung như là “vết nhơ”, để nói lên sự thiếu vắng hào quang ân sủng Thiên Chúa mà linh hồn con người bị mất khi kết hợp với thân xác trong bụng mẹ. Vắng bóng ân sủng Thiên Chúa là vắng bóng sự thánh thiện và là tình trạng làm mất lòng Chúa. Tình trạng thiếu vắng này thông thường được sửa chữa lại qua việc tái sinh thiêng liêng nhờ Đức Ki-tô qua bí tích Rửa tội. Tuy nhiên Đức Ma-ri-a đã không bao giờ mang tì vết này, mà ngay từ lúc thân xác và linh hồn ngài kết hợp với nhau thì Ngài đã ở trong tình trạng vô tội và tình bạn của Thiên Chúa.
Ma-ri-a, Mẹ Đức Giê-su có được cứu khỏi tội không? Giáo Hội Công giáo trả lời: Thưa có. Câu trả lời này gây ngạc nhiên cho những ai cứ tưởng người Công giáo tin rằng Đức Ma-ri-a đã không được cứu chuộc. Chẳng phải người Công giáo luôn tin rằng Đức Ma-ri-a vô nhiễm nguyên tội và ngài không có tội đấy ư? Điều này chẳng nghịch lại chính lời của Đức Ma-ri-a: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc1:47) hay sao?
Theo đức tin Công giáo, Ma-ri-a, cũng như bất cứ trẻ nhỏ nào thuộc dòng dõi A-đam, đều cần được cứu độ và đã được cứu độ. Giống như tất cả chúng ta, Mẹ đã có thể nhận được ân sủng, sự thánh thiện, và ơn cứu chuộc chỉ do công nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô. Thực vậy, đối với ngài cũng như đối với chúng ta, chẳng có sự cứu độ nào ngoài sự cứu độ trong Đức Giê-su Ki-tô và chẳng có danh nào ngoài danh Đức Giê-su nhờ đó chúng ta được cứu chuộc.
Là E-và Mới liên kết với Con Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc, Đức Ma-ri-a cũng cần đến những gì ơn cứu chuộc mang lại cho nhân loại, nghĩa là cần đến những công nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô. Bởi đó chẳng có gì nghịch lý khi Đức Ma-ri-a vừa hợp tác với chương trình cứu độ, đồng thời cũng vừa được hưởng nhờ ơn cứu độ ấy.
Chúng ta có thể thấy một điểm tương đồng như vậy trong việc tổ tông loài người sa ngã và điểm ấy chỉ là đặc nét của việc giống nhau giữa sự Sa ngã và việc Sửa chữa.
Hậu quả của tội A-đam phạm không những làm cho chính ông và con cháu ông mất đi tình trạng vô tội, mà còn làm cho E-và cũng mất tình trạng vô tội nữa, vì bà xúi giục nên ông đã phạm tội. Dĩ nhiên, bà đã lỗi phạm nghịch lại Thiên Chúa, nhưng tội của bà có thể chỉ ảnh hưởng đến cá nhân bà. Còn A-đam dù một mình ông lỗi phạm thì cũng có thể ảnh hưởng đến mọi người bởi ông là đầu. Vậy E-và đã dụ dỗ A-đam phạm tội và tội của ông đã làm cho bà mất đi tình trạng vô tội cùng tất cả con cháu bà sau này.
Hiệu quả việc cứu chuộc của Đức Giê-su Ki-tô không chỉ là ơn cứu độ cho nhân loại mà cũng là ơn cứu độ cho chính Đức Ma-ri-a. Qua sự ưng thuận, Đức Ma-ri-a đã giúp cho ơn cứu độ có thể đến với chúng ta và chính Mẹ cũng được hưởng ích lợi của ơn ấy như mọi người và lại còn đầy đủ hơn mọi người nữa.
Chúng ta hãy trình bày điểm quan trọng này một cách khác. A-đam có thể nói với E-và: “Bởi chính lời dụ dỗ của bà mà tôi đã phạm tội;” còn E-và cũng có thể nói thật với A-đam: “Bởi tội lỗi của ông mà tôi đã mất đi tình trạng vô tội khi tôi được tạo dựng.” Cũng thế, Đức Giê-su có thể nói với Mẹ Ma-ri-a: “Do sự ưng thuận của mẹ, mẹ đã giúp cho Con có thể cứu chuộc thế gian;” và Mẹ có thể nói với Ngài: “Mẹ cần đến sự hy sinh nhờ cuộc khổ nạn và cái chết của Con cho sự cứu rỗi của chính mẹ.”
Vô Nhiễm Nguyên Tội
Đối với việc cứu chuộc nhân loại, vai trò của Đức Ma-ri-a quả thật là độc đáo, cho nên không có gì là ngạc nhiên khi thấy việc Mẹ được cứu chuộc cũng thật độc đáo. Không phải Mẹ đã được giải thoát khỏi tội ngài đã phạm, cũng chẳng phải Mẹ đã được tẩy sạch khỏi tội ngài đã bị lây nhiễm; nhưng là Mẹ đã được gìn giữ cho khỏi tội, Mẹ đã được ngăn ngừa khỏi sự lây nhiễm của tội nguyên tổ ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được hình thành trong bụng mẹ mình. Đức Ma-ri-a đã được thụ thai tinh tuyền ngay trong bụng mẹ – không vướng mắc tội lỗi và được tràn đầy ân sủng của Đức Ki-tô nhờ công nghiệp đã được dự liệu do cuộc khổ nạn và sự chết của Ngài.
Việc gìn giữ Đức Ma-ri-a khỏi bị di truyền tội tổ tông thường được gọi là Vô Nhiễm Nguyên Tội. Như rất nhiều người đã hiểu sai, Vô Nhiễm Nguyên Tội không đồng nghĩa với việc Mẹ thụ thai Đức Giê-su mà vẫn còn đồng trinh, và cũng không ràng buộc với việc Đức Giê-su không có một người cha phàm trần nhưng đã được thụ thai cách lạ lùng trong dạ Mẹ Ma-ri-a. Vô Nhiễm Nguyên Tội cũng không có nghĩa là Đức Ma-ri-a đã được thụ thai cách mầu nhiệm trong lòng mẹ mà không cần đến quan hệ vợ chồng với người nam. Không, không có nghĩa như vậy. Đối với phụ mẫu của Đức Ma-ri-a thì Mẹ đã được thụ thai theo cách sinh sản tự nhiên của con người. Được thụ thai theo cách thức tự nhiên, nên đúng ra Đức Ma-ri-a sẽ được tạo thành mà không được ân sủng của Thiên Chúa và cũng sẽ phải chịu mất tình trạng vô tội như tất cả con cháu A-đam sinh ra theo cách tự nhiên của loài người. Nhưng Thiên Chúa đã cứu Mẹ khỏi những điều ấy là vì phận vụ của Mẹ trong kế hoạch của Người.
Đức tin của Giáo Hội Công giáo trình bày ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội một cách đơn giản như sau: Ngay từ lúc đầu tiên khi được thụ thai, bởi ơn đặc biệt của Thiên Chúa Toàn Năng, nhờ công nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô, Đấng Cứu độ chúng ta, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã được gìn giữ cho khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ.
Việc Đức Ma-ri-a không dính một vết nhơ nào của tội nguyên tổ là yếu tố quan trọng của ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tất cả con cháu A-đam đều mất đi tình trạng vô tội thuở ban đầu của tổ tông mà lẽ ra họ sẽ được nếu A-đam vẫn trung thành với Thiên Chúa. Sự thiếu vắng ân sủng và vô tội này được hình dung như là “vết nhơ”, để nói lên sự thiếu vắng hào quang ân sủng Thiên Chúa mà linh hồn con người bị mất khi kết hợp với thân xác trong bụng mẹ. Vắng bóng ân sủng Thiên Chúa là vắng bóng sự thánh thiện và là tình trạng làm mất lòng Chúa. Tình trạng thiếu vắng này thông thường được sửa chữa lại qua việc tái sinh thiêng liêng nhờ Đức Ki-tô qua bí tích Rửa tội. Tuy nhiên Đức Ma-ri-a đã không bao giờ mang tì vết này, mà ngay từ lúc thân xác và linh hồn ngài kết hợp với nhau thì Ngài đã ở trong tình trạng vô tội và tình bạn của Thiên Chúa.