admin
10-03-2008, 09:48 AM
CÓ PHẢI NGƯỜI TA ĐÃ ĐÁNH CẮP XÁC CHÚA GIÊSU KHỎI MỘ CỦA NGƯỜI ?
“Ngôi mộ trống” là bằng chứng hùng hồn và vững chắc nhất trong đức tin Kitô-giáo cũng như khi chứng minh về sự phục sinh của Đức Kitô. Nhưng với những người không tin vào Phúc Âm hoặc khư khư lập trường vô thần, thì những chứng cứ phải có tính thuyết phục hơn và nặng về lý trí hơn. Đó là những gì mà Cha Gary W. Jensen cố gắng làm trong bài viết tuy ngắn gọn, nhưng súc tích và sâu xa, trong đó Ngài đã đưa ra những minh chứng mà một người lương thiện trung thực khó lòng chối cãi bác bỏ. Chẳng những thế, Ngài còn đưa ra câu chuyện về một người - tiến sĩ Greenleaf,nhà luật học số một của Hoa Kỳ - đã từ chỗ phê phán chỉ trích Kitô-giáo, đến xác tín những điều ông đã mạnh mẽ phản bác và cuối cùng đã tin theo. BTGH xin giới thiệu bài viết nầy.
Không còn nghi ngờ gì nữa về việc ngôi mộ của Chúa Giêsu đươc tìm thấy trống trơn một cách bí ẩn. Như Paul Althaus đã nói, thông điệp phục sinh « đã không thể kéo dài quá một ngày, thậm chí là quá một giờ, nếu người ta đã không xác minh rằng ngôi mộ đích thực là trống ». Tiến sĩ Craig lưu ý rằng « các truyền thống đối lập [với trình thuật ngôi mộ trống] không thấy xuất hiện bất cứ nơi nào, ngay cả trong luận chiến do-thái ».
Ít ra một người theo chủ nghĩa hoài nghi (tiến sĩ John Dominic Crossan) đã lầm lẫn khi khẳng định rằng luật lệ Roma tự động cấm chôn cất Chúa Giêsu và rằng thân thể Người vì thế hẳn đã bị ném vào một cái hộ tập thể nào đó. Điều khẳng định nầy là không chính xác. Raymond Brown đã chứng minh rằng chính sách người La Mã về chôn cât thay đổi tùy theo các tình huống và cho phép có thể chôn cất riêng những kẻ bị đóng đinh. Kịch bản nầy cũng mâu thuẫn với những lời phản đối liên tục của người Do Thái rằng có một ai đó đã nẫng mất thân thể. Hơn nữa, các Phúc Âm đã không thể nào phịa ra được việc người chủ ngôi mộ là một thành viên Thượng hội đồng Do thái có tên là Giuse Arimathia với những nét chính xác dường ấy (Mc 15,43). Nếu các Phúc Âm mà lầm lẫn trong lãnh vực nầy, thì chúng chắc chắn đã không thể nào chịu nỗi sự sửa sai ngay tức thì và sẽ làm trò hề cho người Do Thái.
Những người nghi ngờ sự phục sinh đã phản ứng như thế nào ? Một số người theo chủ nghĩa hoài nghi đã cho rằng một ai đó hẳn đã đánh cắp xác Chúa Giêsu khỏi mộ và rằng điều nầy đã làm dấy lên những trình thuật về một sự sống lại kỳ lạ. Điều đó có thể xảy ra chăng ?
NGƯỜI DO-THÁI và NGƯỜI LA-MÃ
Không có binh lính Do Thái hoặc La Mã nào canh gác ngôi mộ (Mt 27,62) đã lấy cái xác nầy. Ngược lại, cả hai nhóm nầy quan tâm hứng thú trong việc đem cái xác nầy ra giữa công chúng hầu làm nhục các môn đệ và giết phong trào của họ ngay từ trong trứng nước. Và bởi vì mọi sự nầy đều diễn ra ở Giêrusalm, họ hoàn toàn có đủ quyền lực để tìm lại cái xác nếu nó vẫn luôn hiện hữu. Tuy nhiên, trước sự kinh hoàng của họ, không ai có thể tìm thấy cái xác nầy. Nếu người Do-Thái đã có được cái xác nầy, họ hẳn đã đem nó ra vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi mà cả Giêrusalem đang rúng động vì bài giảng của Thánh Phêrô về vấn đề Chúa Kitô phục sinh.
CÁC MÔN ĐỆ CỦA CHÚA GIÊSU
Cũng thế, sẽ chẳng trung thực khi cho rằng các môn đệ Chúa Giêsu đã có thể lấy mất xác nầy, trong khi những lính La Mã canh gác bảo vệ ngôi mộ như thế và thêm vào đó còn có một khối đá khổng lồ. Và điều đó cũng chẳng giúp gì được cho họ trong việc bịa đặt câu chuyện các lính canh ngủ (Mt 28,11). Câu chuyện kể nầy đã không giúp cho việc tuyên truyền biện hộ nếu như các lính canh vẫn tỉnh thức!
Tại sao các môn đệ (hoặc có ai khác) liều lĩnh cuộc sống để đánh cắp xác Chúa Kitô? Trình thuật Kinh Thánh hé lộ cho thấy rằng các môn đệ sợ hãi, chán nản và suy sụp. Động cơ duy nhất của họ hẳn đã là lừa gạt. Nhưng tất cả những gì chúng ta đọc thấy về những con người nầy cho thấy họ tốt bụng và lương thiện. Làm sao họ có thể sống cuộc đời còn lại để loan bao hằng ngày rằng Chúa Kitô đã sốn lại từ trong kẻ chết, trong khi họ biết rõ không phải như thế? Họ có chấp nhận chịu đau khổ và cả mất mạng sống vì điều à họ biết rằng đó là một sự dối trá lừa đảo hoàn toàn?
Phải là điên mới đem dấu cái xác để giả vờ là sống lại. Những hậu quả của lòng họ trung thành với Chúa Giêsu bao gồm việc bắt bớ,tù đầy và cả bị giết chết.Thế nhưng không ai tỉnh trí lại chấp nhận những lạm dụng như vậy đối với những gì họ biết đó là lừa đảo. Với việc chịu đựng những áp lực dường ấy, những kẻ dối trá sẽ thú nhận những tan vỡ ảo tưởng và phản lại các tòng phạm.
Sự tăng trưởng như tia chớp của Giáo Hội cũng là một bằng chứng mạnh mẽ cho sự phục sinh của Chúa Giêsu. Điều rất ý nghĩa là không phải những kẻ quyền thế, mà là những người tầm thường, mang gánh nặng văn hoá chống lại họ (1 Cor 1,26) mà thông điệp phục sinh đã biến đổi một cách hòa bình đế quốc La Mã. Ai đã dám tiên đoán một kỳ công “bất khả” dường ấy? Tuy vậy, đó là những gì đã xảy ra.
Sự kiện Kitô-giáo tìm thấy cội nguồn mình trong Do Thái giáo là một bằng chứng bổ sung cho sự phục sinh của Người. Nhà khảo cổ nỗi tiếng William F. Albright lưu ý : “Theo tôi nghĩ, mỗi cuốn sách trong Tân Ước đã được một người Do Thái đã chịu phép rửa viết ra vào giữa các năm bốn mươi và tám mươi của thế kỷ đầu Công nguyên”. Những thành kiến của người Do Thái chống lại một Giêsu của Tân Ước rất đáng kể. Điều gì khác hơn là sự sống lại đã dẫn người Do Thái tới chỗ chấp nhận một “tên tôi phạm” bị xử tử một cách đáng xấu hổ như thế (Gl 3,13) như là Đấng Messia được hứa ban của họ, trong khi họ đang mơ về một Đấng giải thoát quân sự? Điều gì khác hơn đã đẩy những người Do Thái đến chỗ tách khỏi những xác tín độc thần của họ, để tôn thờ Chúa Giêsu như là Thiên Chúa Con (Ga 1,18) hoặc thay đổi ngày thờ phượng của họ từ thứ bảy sang chúa nhật (Cv 20,7)? Một chuyện tưởng tượng đơn thuần được bịa ra hẳn đã không bao giờ có thể lật đổ những hy vọng và những truyền thống như vậy.
“Chúa Giêsu khác biệt với tất cả những gì người Do Thái chờ đợi nơi Con Vua David đến nỗi ngay cả chính các môn đệ của Người cũng khó khăn lắm trong việc chấp nhận ý tưởng Người là Đấng Thiên Sai” (Millar Burrows).
Như Tân Ước khẳng định, chính sự phục sinh của Chúa Giêsu mới vượt qua được sự “bất khả” nầy (Cv 2,24)
“Ngôi mộ trống” là bằng chứng hùng hồn và vững chắc nhất trong đức tin Kitô-giáo cũng như khi chứng minh về sự phục sinh của Đức Kitô. Nhưng với những người không tin vào Phúc Âm hoặc khư khư lập trường vô thần, thì những chứng cứ phải có tính thuyết phục hơn và nặng về lý trí hơn. Đó là những gì mà Cha Gary W. Jensen cố gắng làm trong bài viết tuy ngắn gọn, nhưng súc tích và sâu xa, trong đó Ngài đã đưa ra những minh chứng mà một người lương thiện trung thực khó lòng chối cãi bác bỏ. Chẳng những thế, Ngài còn đưa ra câu chuyện về một người - tiến sĩ Greenleaf,nhà luật học số một của Hoa Kỳ - đã từ chỗ phê phán chỉ trích Kitô-giáo, đến xác tín những điều ông đã mạnh mẽ phản bác và cuối cùng đã tin theo. BTGH xin giới thiệu bài viết nầy.
Không còn nghi ngờ gì nữa về việc ngôi mộ của Chúa Giêsu đươc tìm thấy trống trơn một cách bí ẩn. Như Paul Althaus đã nói, thông điệp phục sinh « đã không thể kéo dài quá một ngày, thậm chí là quá một giờ, nếu người ta đã không xác minh rằng ngôi mộ đích thực là trống ». Tiến sĩ Craig lưu ý rằng « các truyền thống đối lập [với trình thuật ngôi mộ trống] không thấy xuất hiện bất cứ nơi nào, ngay cả trong luận chiến do-thái ».
Ít ra một người theo chủ nghĩa hoài nghi (tiến sĩ John Dominic Crossan) đã lầm lẫn khi khẳng định rằng luật lệ Roma tự động cấm chôn cất Chúa Giêsu và rằng thân thể Người vì thế hẳn đã bị ném vào một cái hộ tập thể nào đó. Điều khẳng định nầy là không chính xác. Raymond Brown đã chứng minh rằng chính sách người La Mã về chôn cât thay đổi tùy theo các tình huống và cho phép có thể chôn cất riêng những kẻ bị đóng đinh. Kịch bản nầy cũng mâu thuẫn với những lời phản đối liên tục của người Do Thái rằng có một ai đó đã nẫng mất thân thể. Hơn nữa, các Phúc Âm đã không thể nào phịa ra được việc người chủ ngôi mộ là một thành viên Thượng hội đồng Do thái có tên là Giuse Arimathia với những nét chính xác dường ấy (Mc 15,43). Nếu các Phúc Âm mà lầm lẫn trong lãnh vực nầy, thì chúng chắc chắn đã không thể nào chịu nỗi sự sửa sai ngay tức thì và sẽ làm trò hề cho người Do Thái.
Những người nghi ngờ sự phục sinh đã phản ứng như thế nào ? Một số người theo chủ nghĩa hoài nghi đã cho rằng một ai đó hẳn đã đánh cắp xác Chúa Giêsu khỏi mộ và rằng điều nầy đã làm dấy lên những trình thuật về một sự sống lại kỳ lạ. Điều đó có thể xảy ra chăng ?
NGƯỜI DO-THÁI và NGƯỜI LA-MÃ
Không có binh lính Do Thái hoặc La Mã nào canh gác ngôi mộ (Mt 27,62) đã lấy cái xác nầy. Ngược lại, cả hai nhóm nầy quan tâm hứng thú trong việc đem cái xác nầy ra giữa công chúng hầu làm nhục các môn đệ và giết phong trào của họ ngay từ trong trứng nước. Và bởi vì mọi sự nầy đều diễn ra ở Giêrusalm, họ hoàn toàn có đủ quyền lực để tìm lại cái xác nếu nó vẫn luôn hiện hữu. Tuy nhiên, trước sự kinh hoàng của họ, không ai có thể tìm thấy cái xác nầy. Nếu người Do-Thái đã có được cái xác nầy, họ hẳn đã đem nó ra vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi mà cả Giêrusalem đang rúng động vì bài giảng của Thánh Phêrô về vấn đề Chúa Kitô phục sinh.
CÁC MÔN ĐỆ CỦA CHÚA GIÊSU
Cũng thế, sẽ chẳng trung thực khi cho rằng các môn đệ Chúa Giêsu đã có thể lấy mất xác nầy, trong khi những lính La Mã canh gác bảo vệ ngôi mộ như thế và thêm vào đó còn có một khối đá khổng lồ. Và điều đó cũng chẳng giúp gì được cho họ trong việc bịa đặt câu chuyện các lính canh ngủ (Mt 28,11). Câu chuyện kể nầy đã không giúp cho việc tuyên truyền biện hộ nếu như các lính canh vẫn tỉnh thức!
Tại sao các môn đệ (hoặc có ai khác) liều lĩnh cuộc sống để đánh cắp xác Chúa Kitô? Trình thuật Kinh Thánh hé lộ cho thấy rằng các môn đệ sợ hãi, chán nản và suy sụp. Động cơ duy nhất của họ hẳn đã là lừa gạt. Nhưng tất cả những gì chúng ta đọc thấy về những con người nầy cho thấy họ tốt bụng và lương thiện. Làm sao họ có thể sống cuộc đời còn lại để loan bao hằng ngày rằng Chúa Kitô đã sốn lại từ trong kẻ chết, trong khi họ biết rõ không phải như thế? Họ có chấp nhận chịu đau khổ và cả mất mạng sống vì điều à họ biết rằng đó là một sự dối trá lừa đảo hoàn toàn?
Phải là điên mới đem dấu cái xác để giả vờ là sống lại. Những hậu quả của lòng họ trung thành với Chúa Giêsu bao gồm việc bắt bớ,tù đầy và cả bị giết chết.Thế nhưng không ai tỉnh trí lại chấp nhận những lạm dụng như vậy đối với những gì họ biết đó là lừa đảo. Với việc chịu đựng những áp lực dường ấy, những kẻ dối trá sẽ thú nhận những tan vỡ ảo tưởng và phản lại các tòng phạm.
Sự tăng trưởng như tia chớp của Giáo Hội cũng là một bằng chứng mạnh mẽ cho sự phục sinh của Chúa Giêsu. Điều rất ý nghĩa là không phải những kẻ quyền thế, mà là những người tầm thường, mang gánh nặng văn hoá chống lại họ (1 Cor 1,26) mà thông điệp phục sinh đã biến đổi một cách hòa bình đế quốc La Mã. Ai đã dám tiên đoán một kỳ công “bất khả” dường ấy? Tuy vậy, đó là những gì đã xảy ra.
Sự kiện Kitô-giáo tìm thấy cội nguồn mình trong Do Thái giáo là một bằng chứng bổ sung cho sự phục sinh của Người. Nhà khảo cổ nỗi tiếng William F. Albright lưu ý : “Theo tôi nghĩ, mỗi cuốn sách trong Tân Ước đã được một người Do Thái đã chịu phép rửa viết ra vào giữa các năm bốn mươi và tám mươi của thế kỷ đầu Công nguyên”. Những thành kiến của người Do Thái chống lại một Giêsu của Tân Ước rất đáng kể. Điều gì khác hơn là sự sống lại đã dẫn người Do Thái tới chỗ chấp nhận một “tên tôi phạm” bị xử tử một cách đáng xấu hổ như thế (Gl 3,13) như là Đấng Messia được hứa ban của họ, trong khi họ đang mơ về một Đấng giải thoát quân sự? Điều gì khác hơn đã đẩy những người Do Thái đến chỗ tách khỏi những xác tín độc thần của họ, để tôn thờ Chúa Giêsu như là Thiên Chúa Con (Ga 1,18) hoặc thay đổi ngày thờ phượng của họ từ thứ bảy sang chúa nhật (Cv 20,7)? Một chuyện tưởng tượng đơn thuần được bịa ra hẳn đã không bao giờ có thể lật đổ những hy vọng và những truyền thống như vậy.
“Chúa Giêsu khác biệt với tất cả những gì người Do Thái chờ đợi nơi Con Vua David đến nỗi ngay cả chính các môn đệ của Người cũng khó khăn lắm trong việc chấp nhận ý tưởng Người là Đấng Thiên Sai” (Millar Burrows).
Như Tân Ước khẳng định, chính sự phục sinh của Chúa Giêsu mới vượt qua được sự “bất khả” nầy (Cv 2,24)