PDA

View Full Version : Giáo Lý về Đức Maria của Đức Gioan Phaolô II


admin
25-05-2006, 08:53 AM
Giáo Lý Thánh Mẫu

Về Các Ngày Lễ Ðức Mẹ Trong Năm Phụng Vụ



Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh tuyển dịch




http://www.ttmhcg.com/baopic/s186thanhmau.jpg

Lời Mở Ðầu

Trước hết, về số lễ kính Mẹ trong năm, tất cả có 14 lễ cho cả Giáo Hội hoàn vũ. Theo thứ tự ngày tháng trong năm chúng ta thấy: thứ nhất Lễ Mẹ Thiên Chúa 1/1 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1467#post1467), thứ hai Lễ Mẹ Dâng Con 2/2 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1468#post1468), thứ ba Lễ Mẹ Lộ Ðức 11/2 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1537#post1537), thứ bốn Lễ Truyền Tin (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1469#post1469)Lời Nhập Thể cho Mẹ 25/3, thứ năm Lễ Mẹ Thăm Viếng 31/5 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1471#post1471), thứ sáu Lễ Trái Tim Mẹ (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1472#post1472) sau Lễ Thánh Tâm trong Tháng Sáu, thứ bảy Lễ Mẹ Carmêlô 16/7 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1539#post1539), thứ tám Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1473#post1473), thứ chín Lễ Mẹ Nữ Vương 22/8 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1540#post1540), thứ mười Lễ Sinh Nhật Mẹ 8/9, mười một Lễ Mẹ Ðau Thương 15/9 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1543#post1543), mười hai Lễ Mẹ Mân Côi 7/10, mười ba Lễ Mẹ Dâng Mình Vào Ðền Thánh 21/11, mười bốn Lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 8/12 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=1544#post1544).

Tiếp đến, về mối liên hệ của các ngày lễ Mẹ với nhau. Như tại sao Lễ Mẹ Sầu Bi lại được Giáo Hội xếp ngay sau Lễ Sinh Nhật Mẹ một tuần. Thật vậy, nếu Lễ Mẹ Nữ Vương 22/8 sau Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8 một tuần, hay Lễ Mẹ Dâng Con 2/2 sau Lễ Giáng Sinh 25/12 40 ngày, hoặc Lễ Sinh Nhật Mẹ 8/9 sau Lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 9 tháng v.v. đều ăn khớp với nhau về ý nghĩa thế nào, thì Lễ Mẹ Sầu Bi 15/9 sau Sinh Nhật Mẹ 15/9 cũng vậy. Theo tôi, ngoài sự kiện Lễ Mẹ Sầu Bi được Giáo Hội sắp xếp ngay sau Lễ Thánh Giá (14/9), mà còn ở chỗ là Mẹ Sầu Bi nói lên vai trò Ðồng Công của Mẹ Maria trong Dự Án và Công Cuộc Cứu Ðộ loài người của Thiên Chúa, một vai trò là nguyên nhân hiện hữu của Mẹ trên đời, là ơn gọi Mẹ vào đời vậy.

Sau hết, về ý nghĩa phụng vụ nơi các ngày lễ của Mẹ. Nếu Phụng Vụ về Chúa được kết thúc ở Lễ Chúa Kitô Vua cuối tháng 11 hằng năm, rồi sau đó Phụng Niên được tái bắt đầu bằng Mùa Vọng mà tuyệt đỉnh là Lễ Chúa Giáng Sinh thế nào, thì Phụng Vụ về Mẹ cũng được kết thúc ở Lễ Mẹ Mông Triệu và Lễ Nữ Vương, để rồi lại được mở ra bằng Lễ Sinh Nhật Mẹ 8/9 hằng năm như vậy. Lễ Sinh Nhật Mẹ Maria được Giáo Hội sắp xếp vào ngày 8/9, chẳng những ăn khớp với ý nghĩa của Lễ Mẹ Nữ Vương 22/8 và Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8 trước đó, mà còn khít khao ý nghĩa với cả Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8/12 sau đó nữa. Thật ra, nếu xét theo thứ tự về dữ kiện thời gian thì Lễ Sinh Nhật Mẹ chính là thời điểm bắt đầu cuộc đời của Mẹ, nhưng nếu xét về phương diện ân sủng thì Lễ Mẹ Vô Nhiễm mới là Lễ thật sự mởmàn cho Phụng Niên về Mẹ. Bởi thế, theo Phụng Niên Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8/12 phải cử hành 9 tháng trước Lễ Sinh Nhật Mẹ. Việc cách nhau đúng 9 tháng giữa hai Lễ Mẹ Vô Nhiễm và Lễ Sinh Nhật Mẹ này cho thấy Giáo Hội thực sự tin tưởng Mẹ đã được hưởng trước Ơn Cứu Ðộ của Chúa Kitô Con Mẹ ngay từ khi Mẹ được thụ thai trong lòng thai mẫu. Do đó, việc Mẹ vào đời chẳng khác gì như Rạng Ðông báo hiệu MặtTrời Công Chính là Chúa Cứu Thế sắp xuất hiện.

Ðể có thể mỗi ngày một "nhận biết và yêu mến" Ðấng mà các thánh cho rằng "de Mariam nunquam satis" (nói về Maria không bao giờ cùng), chúng ta hãy cùng nhau lợi dụng những ngày Lễ Kính Mẹ mà chiêm ngưỡng các ân đức cao sang siêu việt của Mẹ. Và việc chiêm ngưỡng này không gì bằng việc chúng ta hãy nghiền gẫm lại những bài Giáo Lý Thánh Mẫu của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, vị Giáo Hoàng lấy khẩu hiệu "totus tuus" (tất cả của con là của Mẹ), những bài giáo lý chọn lọc theo ý nghĩa của ngày lễ trong loạt 70 bài giáo lý Ngài đã chia sẻ vào các Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần, trong thời khoảng từ ngày 6/9/1995 đến 12/11/1997.

admin
25-05-2006, 08:56 AM
Ngày 1/1


Lễ Mẹ Thiên Chúa


Giáo Hội công bố Maria là ‘Mẹ Thiên Chúa’

1- Chiêm ngưỡng mầu nhiệm giáng sinh của Chúa Cứu Thế đã làm cho dân Kitô giáo chẳng những kêu cầu Rất Thánh Trinh Nữ là Mẹ Chúa Giêsu, mà còn nhận biết Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Ðây là sự thật đã được công nhận và coi như thuộc về gia sản đức tin của Giáo Hội từ những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Kitô giáo, cho đến khi sự thật này được Công Ðồng Chung Êphêsô long trọng công bố vào năm 431.

Nơi cộng đồng Kitô hữu tiên khởi, thời điểm các môn đệ càng ngày càng tỏ ra nhận biết Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa thì cũng là lúc tước hiệu Mẹ Maria là Theotókos, là Mẹ Thiên Chúa sáng tỏ hơn. Ðây là một tước hiệu không được các bản văn Phúc Âm nói đến một cách tỏ tường, nhưng các văn bản Phúc Âm này đã nhắc đến danh xưng "Mẹ Ðức Giêsu" và đã xác nhận Ðức Giêsu là Thiên Chúa (Jn 20:28; x. 5:18, 10:30, 33). Mẹ Maria ở vào trường hợp nào cũng được trình bày cho thấy là Mẹ của Emmanuel, tức Mẹ của "Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (x Mt 1:22-23).

Vào thế kỷ thứ ba, như các chứng từ văn bản xa xưa cho thấy, các Kitô hữu ở Ai Cập đã dâng lên Mẹ Maria lời nguyện sau đây: "Ôi Mẹ Thiên Chúa thánh hảo, chúng con chạy đến kêu xin Mẹ cầu bầu: xin Mẹ đừng chê bỏ lời chúng con cầu khẩn trong những nỗi thiếu thốn của chúng con, nhưng xin hãy cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, Ôi Nữ Trinh hiển vinh và phúc đức" (trích Phụng Vụ Giờ Kinh). Lời diễn tả Theotókos lần đầu tiên xuất hiện tỏ tường trong chứng từ văn bản cổ kính này.

Huyền thoại ngoại giáo thường hay nói đến một vị nữ thần đóng vai trò làm mẹ của một vị thần nào đó. Chẳng hạn, thần Zeus tối cao có mẹ là nữ thần Rhea. Ý nghĩa tương quan này giúp Kitô hữu có thể sử dụng tước hiệu "Theotókos", "Mẹ Thiên Chúa" để gọi Mẹ Ðức Giêsu. Tuy nhiên, phải lưu ý là tước hiệu này vốn không có mà là do Kitô hữu đặt ra để diễn tả niềm tin không liên quan gi đến huyền thoại ngoại đạo, niềm tin vào việc đầu thai trinh nguyên nơi lòng Ðức Maria của Ðấng vốn là Lời hằng hữu Thiên Chúa.

2- Vào thế kỷ thứ tư, từ ngữ Theotókos thường được sử dụng ở cả Ðông phương lẫn Tây phương. Càng ngày từ ngữ này càng được nhắc đến nơi việc tôn sùng và thần học, một từ ngữ cho đến lúc ấy đã làm nên gia sản đức tin của Giáo Hội.

Bởi thế, người ta mới có thể thấy được trào lưu chống đối mạnh mẽ nổi lên ở thế kỷ thứ năm, thời điểm Nestoriô nêu lên sự nghi ngờ về tính cách chính xác của tước hiệu "Mẹ Thiên Chúa". Thật vậy, với khuynh hướng chủ trương Maria chỉ là mẹ của con người Giêsu, ông đã cho rằng "Mẹ Ðức Kitô" mới là lối diễn tả đúng nhất về tín lý. Nestôriô sở dĩ đã phạm lỗi lầm này là vì ông bị trục trặc trong vấn đề chấp nhận mối hiệp nhất nơi ngôi vị của Chúa Kitô, cũng như vì việc ông cắt nghĩa sai lạc về sự khác biệt giữa hai bản tính, thần linh và nhân loại, nơi Người.

Năm 431, Công Ðồng Chung Êphêsô đã lên án luận thuyết của ông, và trong việc xác nhận sự hiện hữu của bản tính nhân thần nơi ngôi vị của Ngôi Con, đã công bố Maria là Mẹ Thiên Chúa.

3- Giờ đây những trục trặc và chống đối của Nestôriô đã hiến cho chúng ta cơ hội để nêu lên một vài suy tư hữu ích trong việc hiểu và cắt nghĩa một cách đúng đắn tước hiệu này. Kiểu nói Theotókos, theo nghĩa đen tức là "người đã sinh ra Thiên Chúa", một cách nói mà thoạt nghe chúng ta có thể lấy làm ngạc nhiên, ở chỗ, vấn đề là một tạo vật lại có thể hạ sinh Thiên Chúa. Ðức tin của Giáo Hội đã trả lời rõ ràng là vai trò làm mẹ của Ðức Maria chỉ liên quan đến việc hạ sinh Con Thiên Chúa về phương diện loài người mà thôi, chứ không liên quan đến việc sinh hạ thần linh. Con Thiên Chúa từ đời đời được hạ sinh bởi Thiên Chúa Cha, và đồng bản thể với Cha. Dĩ nhiên Ðức Maria không dính dáng gì đến cuộc hạ sinh đời đời này. Tuy nhiên, Con Thiên Chúa, Ðấng mặc lấy bản tính nhân loại 2000 năm trước đây, cũng đã được thụ thai và hạ sinh bởi Ðức Maria.

Trong việc công bố Maria là "Mẹ Thiên Chúa", Giáo Hội do đó muốn xác nhận rằng Người là "Mẹ của Lời Nhập Thể, Ðấng là Thiên Chúa". Tuy nhiên, vai trò làm mẹ của Mẹ không bao gồm cả Ba Ngôi, mà chỉ bao gồm Ngôi Hai, tức Ngôi Con, Ðấng khi trở thành nhục thể đã mặc lấy bản tính nhân loại từ Mẹ.

Vai trò làm mẹ là một mối liên hệ giữa người với người, ở chỗ, một người mẹ không phải chỉ là mẹ của thân thể hay là mẹ của tạo vật về thể lý do bà sinh ra, mà là mẹ của con người bà hạ sinh nữa. Vậy, vì hạ sinh ra con người Giêsu về nhân tính, Ðấng cũng là một ngôi vị thần linh, mà Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa.

4- Trong việc công bố Ðức Maria là "Mẹ Thiên Chúa", bằng một câu duy nhất, Giáo Hội đã tuyên xưng niềm tin của mình liên quan đến cả Con lẫn Mẹ. Mối hiệp nhất này đã xẩy ra nơi Công Ðồng Chung Êphêsô; trong việc xác nhận vai trò làm Mẹ Thiên Chúa của Ðức Maria, các Nghị Phụ có ý nhấn mạnh đến niềm tin của mình vào thần tính của Chúa Kitô. Bất chấp những chống đối xưa kia và cận đại về tính cách xứng hợp trong việc nhận biết Mẹ Maria bằng tước hiệu này, Kitô hữu mọi thời, nhờ hiểu biết ý nghĩa đúng đắn về vai trò làm mẹ ấy, đã dùng tước hiệu này để nói lên việc bộc lộ đặc biệt đức tin của mình vào thần tính của Chúa Kitô cũng như để diễn tả tình họ yêu mến Ðức Trinh Nữ.

Một đàng Giáo Hội nhận biết tước hiệu Theotókos như để bảo toàn cho thực tại Nhập Thể, vì, như Thánh Âu Quốc Tinh nói, "Nếu Mẹ giả tạo, thì xác thịt cũng giả tạo. cả những vết tích của Phục Sinh nữa" (Tract in Ev. Joannis, 8, 6-7). Ðàng khác, Giáo Hội cũng ngất ngây chiêm ngưỡng và cung kính cử hành sự cao trọng cả thể Ðức Maria nhận được từ Ðấng muốn làm con của Mẹ. Lời xưng tụng "Mẹ Thiên Chúa" liên quan đến Lời Thiên Chúa, Ðấng mặc lấy tình trạng thấp hèn của thân phận con người để nâng con người lên đến vai trò làm con cái thần linh. Thế nhưng, theo ý nghĩa của phẩm vị cao trọng Trinh Nữ Nazarét đã nhận được thì tước hiệu này cũng công bố cả tính cách cao cả của người phụ nữ cùng với ơn gọi tuyệt vời của họ nữa. Thật vậy, Thiên Chúa đã đối xử với Mẹ Maria như một con người tự do và hữu trách, và không thực hiện việc Nhập Thể của Con Ngài cho đến khi Ngài thấy Mẹ ưng thuận.

Theo gương của Kitô hữu cổ xưa ở Ai Cập, tín hữu hãy phó mình cho Mẹ, Ðấng là Mẹ Thiên Chúa, có thể chiếm được từ Người Con thần linh của mình ơn giải thoát khỏi sự dữ và ơn cứu độ đời đời.

(ÐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 27/11/1996, Tuần san L’Osservatore Romano, ngày 4/12/1996)

Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh tuyển dịch

Nguồn: http://www.ttmhcg.com/bao/s186thanhmau.html

admin
25-05-2006, 09:00 AM
Ngày 2/2

Lễ Mẹ Dâng Con



Mẹ Maria đóng vai trò trong sứ vụ cứu độ của Chúa Giêsu



1. Sau khi nhận ra nơi Chúa Giêsu là "ánh sáng chiếu soi các Dân Ngoại" (Lk 2:32), Simêon liền loan báo cho Mẹ Maria biết về cuộc thử thách lớn lao Ðấng Thiên Sai phải chịu và tỏ cho Mẹ thấy việc Mẹ tham dự vào định mệnh buồn thương này.

Lời ông ám chỉ đến việc hy sinh cứu chuộc là những gì đã không được đề cập đến ở biến cố Truyền Tin, những lời của ông cho thấy giống như là "Lời Truyền Tin thứ hai" (Redemptoris Mater, 16), lời sẽ làm Người Trinh Nữ hiểu biết sâu xa hơn về mầu nhiệm Con của mình.

Simêon, vị đã ngỏ lời với tất cả những ai có mặt lúc ấy, sau khi chúc phúc đặc biệt cho Thánh Giuse và Mẹ Maria, bấy giờ mới nói tiên tri với riêng Người Trinh Nữ là Người sẽ thông phần vào định mệnh với Con của Người. Ðược Thánh Linh thần hứng, ông đã loan báo cho Người Trinh Nữ rằng: "Này con trẻ sẽ là mục tiêu cho nhiều người trong Israel vấp ngã và chỗi dậy, và là dấu hiệu phản trắc (và sẽ có một lưỡi gươm đâm thâu qua lòng bà), làm bộc lộ tâm tưởng của nhiều người" (Lk 2:34-35).

2. Những lời này đã báo trước một tương lai khổ đau sẽ xẩy ra cho Ðấng Thiên Sai. Thật vậy, Người là một "dấu hiệu phản trắc" phải đối đầu với việc nghiệt ngã chống đối của người đồng thời. Thế nhưng, cùng với cuộc khổ đau của Chúa Kitô, Simêon còn nêu lên một viễn tượng về tấm lòng của Mẹ Maria sẽ bị gươm sắc đâm thâu, như thế là ông đã liên kết Người Mẹ với định mệnh đau thương của Người Con.

Bởi vậy, trong khi con người lão thành đáng kính này thấy trước được cảnh thù hận nổi dậy khiến Ðấng Thiên Sai phải đối diện, ông muốn nhấn mạnh đến cái âm dội của sự kiện này tác dụng trên tấm lòng của Người Mẹ. Cuộc khổ đau của người mẹ này sẽ lên đến tột đỉnh nơi Cuộc Vượt Qua, lúc mà Mẹ hiệp nhất với Con Mẹ trong hy tế cứu chuộc của Người.
Những lời của Simêon, được Phúc Âm Thánh Luca ghi nhận ở đoạn 2 câu 32, đoạn phản ảnh những bài ca về Người Tôi Tớ Chúa (x Is 42:6, 49:6), những lời nhắc nhở chúng ta lời tiên tri về Người Tôi Tớ Khổ Ðau (Is 52:13, 53:12), Ðấng, "bị thương tích bởi những vấp phạm của chúng ta" (Is 53:5), "biến mình thành một của lễ đền bù tội lỗi" (Is 53:10), bằng việc hy sinh bản thân mình và là việc hy sinh linh thiêng hoàn toàn vượt hơn các hy tế về lễ nghi xưa kia.

Ở đây chúng ta có thể thấy được lời tiên tri của Simêon giúp cho chúng ta ra sao trong việc chúng ta thoáng thấy nơi nỗi khổ đau trong tương lai của Ðức Maria cái tính cách tương tự đặc thù giống như nỗi sầu đau sau này của "Người Tôi Tớ."

3. Mẹ Maria và Thánh Giuse đã ngỡ ngàng khi nghe thấy Simêon tuyên bố Chúa Giêsu là "ánh sáng chiếu soi các Dân Ngoại" (Lk 2:32). Ðối với lời tiên tri về lưỡi gươm thâu qua lòng mình, Mẹ Maria lại không nói một lời nào. Cùng với Thánh Giuse, Mẹ âm thầm chấp nhận những lời bí nhiệm ấy, những lời tiên đoán về một cuộc thử thách hết sức khổ đau và là những lời đặt cuộc Dâng Hiến Chúa Giêsu trong đền thờ vào đúng ý nghĩa đích thực nhất của nó.

Thật vậy, theo dự án thần linh thì của lễ hy sinh được hiến dâng bấy giờ, "theo những gì được qui định trong lề luật Chúa là ‘một đôi chim gáy hay cặp bồ câu non’" (Lk 2:24), những gì cho thấy trước hy tế của Chúa Giêsu, "vì Tôi hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mt 11:29); nơi của lễ hy sinh ấy "cuộc hiến dâng" đích thực sẽ được thực hiện (x Lk 2:22), một cuộc hiến dâng sẽ có Người Mẹ hiệp với Con mình trong công cuộc Cứu Chuộc.

4. Lời tiên tri của Simêon được công bố trước khi xẩy ra cuộc gặp gỡ bà tiên tri Anna: "Bà dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và nói về Ngài cho tất cả những ai đang trông đợi sự cứu chuộc Giêrusalem" (Lk 2:38). Ðức tin và sự khôn ngoan có tính cách tiên tri của vị lão bà này, người đã ôm ấp lòng mong đợi Ðấng Thiên Sai ở chỗ "sống tôn thờ trong chay tịnh và ngày đêm nguyện cầu" (Lk 2:37), đã hiến thêm cho Thánh Gia niềm khích lệ để trông cậy vào Thiên Chúa Israel hơn. Vào giây phút đặc biết ấy, hành vi cử chỉ của Anna như là một dấu chỉ Thiên Chúa muốn tỏ cho Mẹ Maria và Thánh Giuse thấy, như một sứ điệp về niềm tin ngời sáng cũng như về việc trung kiên phục vụ.

Bắt nguồn từ lời tiên tri của Simêon, Mẹ Maria đã liên kết một cách chặt chẽ và huyền nhiệm cuộc đời của mình với sứ vụ đau thương của Chúa Kitô: Mẹ đã trở nên cộng sự viên trung thành của Con Mẹ trong việc cứu độ loài người.


(ÐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 18/12/1996, Tuần san L’Osservatore Romano, ngày 1/1/1997)

Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh tuyển dịch

Nguồn: http://www.ttmhcg.com/bao/s187thanhmau.html (http://www.ttmhcg.com/bao/s187thanhmau.html)

admin
25-05-2006, 09:05 AM
LỄ TRUYỀN TIN
Ngày 25/3

Maria là một Tân Evà đã tự nguyện tuân phục Thiên Chúa

1. Nhận định về biến cố Truyền Tin, Công Ðồng Chung Vaticanô II đã đặc biệt nhấn mạnh đến giá trị của việc Mẹ Maria đã tỏ ra ưng thuận chấp nhận những lời từ vị sứ giả của Thiên Chúa. Không giống như những gì đã xẩy ra ở các trình thuật Thánh Kinh tương tự, vị thiên thần đã thực sự đợi chờ việc ưng thuận của Mẹ Maria: "Vị Cha của nguồn mạch xót thương muốn việc Nhập Thể phải được mở lối bằng việc ưng thuận về phía của người mẹ tiền định, để, như một người nữ đã góp phần vào việc mang lại sự chết thế nào thì một người nữ cũng phải đóng góp vào sự sống như vậy" (Lumen Gentium, 56).

Hiến chế Lumen Gentium đã nhắc lại sự tương phản giữa tác hành của Evà và tác hành của Mẹ Maria, một tác hành đã được Thánh Irênê diễn tả thế này: "Như nhân vật trước là Evà đã bị những lời của một thiên thần dụ dỗ làm cho bà bỏ Thiên Chúa bằng việc bất tuân phục lời của Ngài thế nào, thì nhân vật sau là Mẹ Maria đã lãnh nhận tin mừng từ lời loan báo của một thiên thần một cách cởi mở đối với Thiên Chúa bằng việc tuân phục lời Ngài như vậy; như nhân vật trước bị dụ dỗ đến độ tỏ ra bất tuân phục Thiên Chúa thế nào thì nhân vật sau tỏ ra thâm tín tuân phục Thiên Chúa như vậy, bởi thế, Trinh Nữ Maria đã trở nên người bênh chữa cho trinh nữ Evà. Và như loài người đã bị chết bởi một trinh nữ thế nào thì cũng được giải thoát bởi một Vị Nữ Trinh như vậy; thế là việc bất phục tùng của một trinh nữ đã được cân đối lại bằng việc phục tùng của một Vị Nữ Trinh" (Adv. Haer., V, 19, 1).

2. Trong việc nói lên lời "xin vâng" toàn vẹn của mình đối với dự án thần linh, Mẹ Maria hoàn toàn tự do trước nhan Thiên Chúa. Ðồng thời Mẹ cũng cảm thấy bản thân mình có trách nhiệm đối với tương lai nhân loại, một tương lai có liên hệ đến lời thân thưa của Mẹ.

Thiên Chúa đặt định mệnh của tất cả loài người vào tay của một người nữ trẻ trung. Lời "xin vâng" của Mẹ Maria là căn bản cho việc hoàn tất dự án mà Thiên Chúa đã yêu thương sửa soạn cho việc cứu độ thế giới.

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo tóm tắt một cách ngắn gọn và đầy đủ giá trị quyết liệt của việc Mẹ Maria ưng thuận đối với toàn thể loài người trong dự án cứu độ thần linh như sau: "Trinh Nữ Maria ‘cộng tác vào việc cứu độ loài người bằng đức tin tự do và bằng đức tuân phục’. Mẹ đã ‘nhân danh tất cả bản tính loài người’ thưa tiếng xin vâng. Bằng việc tuân phục của mình, Mẹ đã trở nên một Tân Evà, mẹ của sinh linh" (số 511).

3. Bằng việc làm của mình, Mẹ Maria đã nhắc nhở mỗi một người chúng ta về trách nhiệm nghiêm chỉnh trong việc chấp nhận dự án của Thiên Chúa đối với cuộc đời của chúng ta. Trong việc hoàn toàn tuân phục ý định cứu độ của Thiên Chúa, một ý định được bộc lộ qua lời nói của thiên thần, Mẹ đã trở nên một mẫu gương cho những ai Chúa tuyên bố cho biết là có phúc, vì họ "nghe lời Thiên Chúa và tuân giữ" (Lk 11:28 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&scope=all&query=Lk 11:28)). Ðể trả lời cho người đàn bà trong đám đông chúc tụng Mẹ Người có phúc, Chúa Giêsu đã tiết lộ lý do thực sự làm cho Mẹ Maria được diễm phúc, đó là việc Mẹ gắn bó với ý muốn của Thiên Chúa, một nỗi gắn bó khiến Mẹ chấp nhận vai trò Thiên Chúa Thánh Mẫu.

Trong Thông Ðiệp Redemptoris Mater, Tôi đã cho thấy là vai trò làm mẹ thiêng liêng mới mẻ được Chúa Giêsu nói tới ấy chẳng qua chỉ liên quan đến một mình Mẹ mà thôi. Thật vậy, "không phải hay sao, Mẹ Maria là người đầu tiên trong số ‘những ai nghe lời Thiên Chúa và thực hiện’? Thế nên, niềm hạnh phúc Chúa Giêsu nói tới khi trả lời cho người đàn bà trong đám đông không thực sự ám chỉ về Mẹ hay sao?" (số 20). Bởi vậy, theo một ý nghĩa nào đó, Mẹ Maria đã được công nhận là người môn đệ đầu tiên của Con Mẹ (x cùng nguồn vừa dẫn), và bằng mẫu gương của mình, Mẹ mời gọi tất cả mọi tín hữu hãy quảng đại đáp lại ơn Chúa.

4. Công Ðồng Chung Vaticanô II đã cắt nghĩa việc toàn hiến của Mẹ Maria cho con người Chúa Kitô cũng như cho công cuộc của Chúa Kitô như thế này: "Như một nữ tỳ của Chúa Mẹ đã toàn hiến bản thân mình cho con người của Con mình cũng như cho công cuộc của Con mình, với tư cách phụ giúp Người cũng như đóng vai trò cùng với Người trong việc phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc, nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng" (Lumen Gentium, 56).

Ðối với Mẹ Maria, việc Mẹ hiến thân cho con người của Chúa Giêsu cũng như cho công việc của Chúa Giêsu nghĩa là việc Mẹ hiệp nhất với Con Mẹ, việc Mẹ dấn thân nuôi dưỡng Con Mẹ phát triển về phương diện loài người cũng như việc Mẹ cộng tác với công cuộc cứu độ của Người.

Mẹ Maria thực hiện khía cạnh cuối cùng trong việc hiến thân cho Chúa Giêsu này với tư cách "phụ giúp Người," tức với thân phận phụ thuộc, thân phận là hoa trái của ân sủng. Tuy nhiên, đây là một việc cộng tác thực sự, vì việc cộng tác này được thực hiện "cùng với Người," và kể từ biến cố Truyền Tin việc cộng tác ấy cho thấy Mẹ tích cực tham phần vào công cuộc cứu chuộc. Công Ðồng Chung Vaticanô II đã nhận định: "Bởi thế, các Nghị Phụ thực sự thấy Mẹ Maria không phải chỉ được Thiên Chúa sử dụng một cách thụ động, mà là chủ động cộng tác vào công cuộc cứu độ loài người bằng đức tin và đức tuân phục. Như Thánh Irênêô nói, vì nhờ vâng phục, Mẹ ‘đã trở nên căn do cứu độ cho chính bản thân Mẹ cũng như cho toàn thể loài người’ (Adv. Haer. III, 22, 4)" (cùng nguồn vừa dẫn).

Liên kết với việc Chúa Kitô chiến thắng tội lỗi gây ra do nhị vị cha mẹ nguyên tổ của chúng ta, Mẹ Maria đã xuất hiện như là "mẹ sinh linh" thực sự (cùng nguồn vừa dẫn). Tự nguyện tỏ ra vâng phục chấp nhận dự án thần linh, vai trò mẫu thân của Mẹ đã trở nên nguồn mạch sự sống cho toàn thể loài người.

(ÐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 23/9/1996, Tuần san L’Osservatore Romano, ngày 18/9/1996)

Cao Tấn Tĩnh tuyển dịch

Nguồn: http://www.ttmhcg.com/bao/s188thanhmau.html / xem them ban dich cua Maranatha (http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M79/MARANATHA_79.htm#nguoi_nu_ti_cua_tc)

admin
25-05-2006, 09:10 AM
CHỨNG TÁ PHỤC SINH

Maria Là Chứng Nhân của Toàn Thể Mầu Nhiệm Vượt Qua


http://www.ttmhcg.com/js/ps1.jpg



1. Sau khi Chúa Giêsu được an táng trong mồ, Mẹ Maria "một mình vẫn cháy sáng ngọn lửa đức tin, sửa soạn nhận lãnh lời loan báo hân hoan và ngây ngất về một cuộc Phục Sinh" (Huấn Từ cho Buổi Triều Kiến Chung, 3/4/1996: Tuần San L’Osservatore Romano ấn bản Anh ngữ, 10/4/1996, trang 7). Niềm mong đợi có được trong Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, đối với Mẹ Chúa, là một trong những giây phút tuyệt vời nhất của đức tin, ở chỗ, trong bóng tối đang chập chùng bao phủ trái đất, Mẹ hoàn toàn phó mình cho Thiên Chúa của sự sống, và khi nghĩ lại những lời của Con mình Mẹ đặt hy vọng vào những lời hứa hẹn thần linh.

Các Phúc Âm đề cập đến một số lần Chúa Kitô phục sinh hiện ra đây đó, song không hề nói đến một cuộc gặp gỡ nào giữa Chúa Giêsu và Mẹ của Người. Không thể kết luận rằng việc các Phúc Âm không đề cập đến ấy là Chúa Kitô không hiện ra với Mẹ sau khi Phục Sinh; trái lại, sự kiện này còn mời gọi chúng ta tìm hiểu xem các Thánh Ký lại làm như vậy.

Về trường hợp "bỏ qua" không nhắc đến, thì việc không nhắc đến này có thể do bởi sự kiện là những gì cần thiết đến kiến thức cứu độ của chúng ta đều được trao phó cho lời của những ai "được Thiên Chúa chọn làm chứng nhân" (Công vụ 10:41), tức cho các vị Tông Ðồ, thành phần làm chứng cho biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu "bằng một quyền năng cả thể" (x Công vụ 4:33). Trước khi hiện ra với các vị, Ðấng Phục Sinh đã hiện ra với một số phụ nữ thành tín vì vai trò của các bà trong Hội Thánh: "Các bà hãy đi nói với anh em của Thày đến Galilê, ở đó họ sẽ thấy Thày" (Mt 28:10).

Nếu các vị tác giả Tân Ước không nói đến cuộc gặp gỡ của Mẹ Maria với Người Con phục sinh của mình có thể do bởi sự kiện là một chứng từ như thế bị coi là quá thiên kiến bởi những ai chối bỏ việc Phục Sinh của Chúa và bởi đó chứng từ đó không đáng tin.

2.Hơn nữa, Các Phúc Âm thuật lại chỉ có một ít lần Chúa Giêsu phục sinh hiện ra thôi, chắc chắn những trình thuật này không phải là tổng hợp tất cả những gì xẩy ra trong 40 ngày sau biến cố Phục Sinh. Thánh Phaolô đã nhắc đến sự kiện Người đã hiện ra "với hơn 500 anh em cùng một lúc" (1 Cor 15:6). Làm sao chúng ta có thể cắt nghĩa được sự kiện ngoại lệ được rất nhiều người biết đến như thế mà các Thánh Ký lại không hề nhắc tới? Ðó là dấu rõ ràng cho thấy còn những lần hiện ra khác của Ðấng Phục Sinh không được ghi chép lại, mặc dù chúng là những biến cố nổi nang đã xẩy ra.

Làm sao Ðức Trinh Nữ vốn hiện diện trong cộng đồng tiên khởi của thành phần môn đệ (x Công vụ 1:14) lại có thể bị loại trừ khỏi những ai được gặp Người Con thần linh của Mẹ sau khi Người sống lại từ trong cõi chết?
3. Thật vậy, chúng ta có lý nghĩ rằng Người Mẹ này có thể đã là người đầu tiên được Chúa Giêsu phục sinh hiện ra. Việc Mẹ Maria không có mặt trong nhóm các phụ nữ ra mồ vào tảng sáng (x Mk 16:1; Mt 28:1) không cho thấy là có thể Mẹ đã gặp Chúa Giêsu rồi hay sao? Suy luận này cũng có thể được xác nhận bởi sự kiện là những chứng nhân tiên khởi cho biến cố Phục Sinh, như ý Chúa Giêsu muốn, là các phụ nữ, những bà đã trung thành đứng dưới chân thập giá nên kiên vững hơn trong đức tin.

Thật thế, Ðấng Phục Sinh đã ủy thác cho một người trong họ là Maria Mai-Ðệ-Liên chuyển sứ điệp cho các vị Tông Ðồ (x Ga 20:17-18). Cả sự kiện này nữa cũng có thể cho phép chúng ta nghĩ rằng Chúa Giêsu trước hết đã tỏ mình ra cho Mẹ của Người, vị đã trung thành nhất và đã giữ vững đức tin của mình không hề xao xuyến lung lạc trong cơn thử thách.
Sau hết, vai trò chuyên nhất và đặc biệt nơi việc Mẹ chứng dự ở đồi Canvê, cũng như việc Mẹ hiệp nhất với Con trong đau khổ trên Thập Giá có thể đưa đến giả thuyết là Mẹ được thông phần đặc biệt vào mầu nhiệm Phục Sinh.

Một tác giả ở thế kỷ thứ năm, Sedulius, chủ trương rằng, trong ánh quang sự sống phục sinh của mình, Chúa Kitô trước hết đã tỏ mình cho Mẹ của Người. Thật vậy, là đường lối để Người đi vào trần gian trong ngày Truyền Tin, Mẹ cũng đã được kêu gọi để loan truyền tin mừng huyền diệu về biến cố Phục Sinh để Mẹ trở thành tin báo cho cuộc Người vinh quang hiện đến. Thế nên, được tràn ngập vinh quang của Ðấng Phục Sinh, Mẹ được hưởng trước ánh quang vinh của Giáo Hội (x Sedulius, Paschale carmen, 5, 357-364, CSEL 10, 1401).

4. Chúng ta có lý nghĩ rằng Mẹ Maria, là hình ảnh và là mẫu thức của Giáo Hội, một Giáo Hội đời chờ Ðấng Phục Sinh và gặp gỡ Người nơi nhóm các môn đệ trong những lần Người hiện ra sau Phục Sinh, đã được gặp riêng Người Con phục sinh của Mẹ, để Mẹ cũng được hoan hỉ trong niềm vui trọn vẹn của cuộc vượt qua.

Hiện diện trên đồi Canvê vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh (x Jn 19:25), cũng như có mặt nơi Căn Thượng Lầu vào Ngày Lễ Ngũ Tuần (x Acts 1:14), Ðức Trinh Nữ cũng có thể là một chứng nhân diễm hạnh của cho cuộc Phục Sinh của Chúa Kitô, nhờ đó Mẹ mới trọn vẹn tham phần vào tất cả các giây phút chính yếu của mầu nhiệm vượt qua. Trong việc đón nhận Chúa Giêsu phục sinh, Mẹ Maria cũng là một dấu chỉ và là một ngưỡng vọng của nhân loại trong việc nhân loại trông mong đạt tới tầm mức viên trọn của mình ở việc sống lại từ trong cõi chết.

Trong Mùa Phục Sinh, cộng đồng Kitô hữu dâng lên Mẹ Chúa và kêu mời Mẹ hãy hân hoan: "Regina Caeli, laetare. Alleluia!", "Lạy Nữ Vương thiên đàng hãy vui mừng, Alleluia!". Như thế là lời kêu mời này đã nhắc lại niềm vui của Mẹ Maria nơi biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu, một "niềm hân hoan" kéo dài trong thời gian đã được vị Thiên Thần ngỏ cùng Mẹ vào lúc Truyền Tin, để Mẹ có thể trở thành căn nguyên cho tất cả mọi dân nước "hân hoan vui sướng".

(ÐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 21/5/1997, trích dịch từ Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 28/5/1997)

Cao Tấn Tĩnh dịch

http://www.ttmhcg.com/bao/s189thanhmau.html

admin
25-05-2006, 09:13 AM
Ngày 31/5

LỄ ÐỨC MẸ THĂM VIẾNG


Viếng Thăm Là Dạo Khúc Cho Sứ Vụ Của Chúa Giêsu

http://www.ttmhcg.com/js/ps1.jpg



1- Trong đoạn trình thuật về Cuộc Viếng Thăm, Thánh Luca cho chúng ta thấy, sau khi tràn đầy hồng ân Nhập Thể, Ðức Maria đã mang ơn cứu độ và niềm vui đến cho gia đình bà Êlizabét ra sao. Ðấng Cứu Thế nhân trần, được cưu mang trong lòng Mẹ mình, đã tuôn đổ Thánh Linh xuống, qua việc tỏ mình ra ngay từ lúc mới vào trần gian của mình.

Khi diễn tả việc khởi hành của Ðức Maria lên đường đi xuống Giuđêa, Thánh Ký đã dùng động từ "anistemi," nghĩa là "chỗi dậy," là "bắt đầu di chuyển." Nếu động từ này được các Phúc Âm sử dụng để nói đến việc Phục Sinh của Chúa Giêsu (Mk 8:31, 9:9,31; Lk 24:7,46), hay những tác động thể lý ám chỉ nỗ lực về tâm linh (Lk 5:27-28, 15:18,20), chúng ta có thể cho rằng Thánh Luca muốn dùng cách diễn tả này để nhấn mạnh đến cái nhiệt tình mạnh mẽ, theo ơn soi động của Thánh Linh, đã thúc đẩy Ðức Maria ban tặng cho thế giới Vị Cứu Tinh của nó.

2- Bản văn Phúc Âm cũng trình thuật rằng Ðức Maria "vội vàng" (Lk 1:39) lên đường. Ngay cả ghi chú về việc Người "đến một miền đồi núi," Phúc Âm Thánh Luca cũng cho thấy một ý nghĩa sâu xa của nó, hơn là chỉ cố ý nói đến một địa dư vậy thôi, vì nó gợi lại cho chúng ta thấy hình ảnh một vị sứ giả loan báo tin mừng trong Sách Tiên Tri Isaia: "Ðẹp thay trên các núi đồi bước chân của người loan báo tin vui, của người rao truyền an bình, của người mang tin thiện phúc, của người rao truyền ơn cứu độ, của người nói với Sion rằng: ‘Thiên Chúa của các người hiển trị’" (Is 52:7).

Như Thánh Phaolô, vị nhìn nhận đoạn sách tiên tri này đã được nên trọn ở việc loan truyền phúc âm (Rm 10:15), Thánh Luca hình như cũng muốn mời gọi chúng ta hãy nhìn nơi Ðức Maria như là "vị truyền bá phúc âm" tiên khởi, vị loan truyền "tin mừng," khai mào các cuộc hành trình thừa sai cho Người Con thần linh của Người.

Sau hết, hướng đi trong cuộc hành trình của Ðức Trinh Nữ cũng có một ý nghĩa đặc biệt, ở chỗ, Người đi từ Galilê xuống Giuđêa, giống như cuộc hành trình truyền giáo của Chúa Giêsu vậy (x 9:51).

Thật thế, cuộc viếng thăm bà Êlizabét của Ðức Maria là một dạo khúc cho sứ vụ truyền giáo của Chúa Giêsu, và ngay từ ban đầu, với vai trò làm mẹ cộng tác vào công cuộc cứu chuộc của Con mình, Người đã trở nên một mẫu gương cho những ai thuộc về Giáo Hội muốn ra đi mang ánh sáng của Chúa Kitô và niềm vui đến cho con người ở mọi thời và khắp mọi nơi.

3- Cuộc gặp gỡ bà Elizabét có tính cách của một biến cố cứu độ vui mừng, vượt lên trên những cảm xúc tự nhiên của tình nghĩa gia đình. Nơi đang ở vào hoàn cảnh bối rối về hành động thiếu tin tưởng, được tỏ hiện qua tình trạng bị câm lặng của ông Zacaria, thì Ðức Maria đã làm bừng lên niềm vui của một đức tin mau mắn và cởi mở của Người: "Người đã vào nhà ông Zacaria và chào bà Elizabét" (Lk 1:40).

Thánh Luca cho thấy mối liên hệ này là: "Khi bà Elizabét nghe lời chào của Ðức Maria thì con trẻ trong lòng bà liền nhẩy mừng" (Lk 1:41). Lời chào của Ðức Maria đã khiến cho người con trai của bà Elizabét nhẩy lên vui sướng, ở chỗ, qua việc làm của Ðức Maria, việc Chúa Giêsu vào nhà của bà Elizabét đã mang đến cho vị tiên tri thai nhi này một niềm vui được Cựu Ước tiên báo như là dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của Ðấng Thiên Sai.

Với lời chào của Ðức Maria, niềm vui cứu độ đã đến với cả bà Elizabét nữa, để rồi, "được đầy Thánh Linh. bà đã lớn tiếng kêu lên rằng ‘Người có phúc hơn mọi phụ nữ, và phúc cho hoa trái trong lòng của Người’ (Lk 1:41-42).
Nhờ được ơn soi sáng từ trên cao, bà hiểu được sự cao trọng của Ðức Maria, vị còn hơn cả Jael và Judith là những nhân vật tiền thân của Người trong Cựu Ước, Người có phúc hơn mọi người nữ bởi quả phúc trong lòng Người là Chúa Giêsu, Ðấng Thiên Sai.

Lời bà Elizabét hô lên ấy, hô một cách "lớn tiếng," chứng tỏ cho thấy cả một tấm lòng nhiệt thành sốt sắng chân tình, một tấm lòng nhiệt thành sốt sắng chân tình sẽ được tiếp tục vang vọng trên môi miệng của tín hữu qua kinh "Kính Mừng," một kinh nguyện như một bài ca của Giáo Hội chúc tụng những việc trọng đại được Ðấng Tối Cao thực hiện nơi Người Mẹ của Con Ngài.

Trong việc tuyên tụng Người "có phúc hơn mọi người nữ," bà Elizabét muốn nói đến đức tin của Ðức Maria là lý do đã làm cho Người được diễm phúc: "Phúc cho Người vì đã tin rằng những gì Chúa nói cùng Người sẽ được thực hiện" (Lk 1:45). Sự cao cả và niềm vui của Ðức Maria phát xuất từ việc Người là một con người tin tưởng.

Thấy được vai trò tuyệt hạng nơi Ðức Maria, bà Elizabét cảm thấy cái vinh dự mình được Người đến viếng thăm: "Tôi làm sao lại có diễm phúc là được Mẹ Chúa tôi đến thăm tôi?" (Lk 1:43). Bằng lời xưng tụng "Chúa tôi," bà Elizabét đã nhìn nhận phẩm vị hoàng tộc, đúng hơn, phẩm vị thiên sai nơi Người Con của Ðức Maria. Trong Cựu Ước, lời này quả thực được dùng để xưng tụng đức vua (x 1Kgs 1:13,20,21 v.v.) cũng như để nói về Vị Vua Thiên Sai (Ps 110:1). Thiên Thần đã nói về Chúa Giêsu rằng: "Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu của Ðavít tổ phụ của Người" (Lk 1:32). "Ðược đầy Thánh Thần," bà Elizabét cũng có cùng một minh thức như thế. Cuộc vinh hiển vượt qua của Chúa Kitô sau này mới tỏ cho thấy ý nghĩa cần phải hiểu về danh hiệu này, một ý nghĩa siêu việt (x Jn 20:28; Acts 2:34-36).

Bằng việc vang lên lời chúc tụng ấy, bà Elizabét mời gọi chúng ta hãy cảm nhận tất cả những gì do sự hiện diện của Ðức Maria mang đến như là một ân phúc cho đời sống của mọi tín hữu.

Qua việc Viếng Thăm này, Người Trinh Nữ đã mang Chúa Giêsu đến cho mẹ của Vị Tẩy Giả, một Chúa Kitô là Ðấng tuôn đổ Thánh Linh. Vai trò trung gian môi giới này phát xuất từ chính những lời của bà Elizabét: "Này, khi tai tôi vừa nghe thấy tiếng Người chào thì con trẻ trong lòng tôi liền nhẩy mừng" (Lk 1:44). Với tặng ân Thánh Linh được ban phát bấy giờ, sự hiện diện của Ðức Maria đóng vai trò như một dạo khúc cho Cuộc Hiện Xuống, một Cuộc Hiện Xuống xác nhận việc hợp tác, được bắt đầu từ Biến Cố Nhập Thể, cần phải được thể hiện nơi toàn cục diện cứu độ thần linh.

(ÐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 2/10/1996, Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 9/10/1996)

Cao Tấn Tĩnh dịch

Nguồn: http://www.ttmhcg.com/bao/s190thanhmau.html

admin
25-05-2006, 09:15 AM
LỄ TRÁI TIM ÐỨC MẸ

Ngày 8/6 (Lễ Nhớ không buộc)

Maria Cộng Tác Vào Ơn Cứu Ðộ Bằng Ðức Tuân Phục Của Người

1.- Thánh Luca diễn tả việc thiếu niên Giêsu hành hương lên đền thờ ở Giêrusalem như là giai đoạn cuối cùng thuộc trình thuật về khoảng đời thơ ấu của Người, trước khi sang đến đoạn Thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng. Việc hành hương này là một biến cố bình thường, một biến cố chiếu sáng cho thấy ý nghĩa về những tháng năm dài ân dật của Người ở Nazarét.

Nơi biến cố này, với một cá tính nổi bật, Chúa Giêsu đã tỏ ra cho thấy Người biết được sứ vụ của Người phải thi hành, khi làm cho việc lần thứ hai Người "tiến vào" "nhà Cha" của Người mặc lấy ý nghĩa của việc Người toàn hiến cho Thiên Chúa, một ý nghĩa đã đánh dấu ở biến cố Người được hiến dâng trong đền thờ.

Ðoạn trình thuật này hình như tương phản với điều Thánh Luca ghi nhận là Chúa Giêsu vâng phục Thánh Giuse và Mẹ Maria (x 2:51). Thế nhưng, nếu để ý kỹ, chúng ta thấy ở đây dường như Người đặt mình trong một trường hợp phản khắc có ý thức và hầu như cố tình đối với vai trò làm con bình thường của mình, khi phải dứt khoát xa lìa Mẹ Maria và Thánh Giuse ngoài ý muốn của Người. Theo lương tâm của mình, thiếu nhi Giêsu nói rằng Người thuộc về Cha mà thôi, và không đề cập gì đến những sự liên hệ về gia đình trần gian của Người cả.

2.- Nơi đoạn trình thuật này, Chúa Giêsu sửa soạn cho Mẹ của Người đi vào mầu nhiệm cứu chuộc. Trong ba ngày thảm thương này, ba ngày Người Con tự động ở lại trong đền thờ như thế, Mẹ Maria và Thánh Giuse mới cảm nếm trước được cái tam nhật Khổ Nạn, Tử Giá và Phục Sinh.

Ðể cho Mẹ mình và Thánh Giuse lên đường trở về Galilêa mà không nói cho các vị biết ý định của mình là muốn ở lại trong đền thờ Giêrusalem, thiếu nhi Giêsu đã dẫn các vị vào một thứ mầu nhiệm của khổ đau mang lại niềm vui, báo trước việc Người sau này cũng thực hiện với các môn đệ của mình như thế, khi loan báo cho họ biết về Cuộc Vươt Qua của Người.

Theo Thánh Luca kể lại, khi hành trình trở về Nazarét, Mẹ Maria và Thánh Giuse, sau một ngày đường, đã tỏ ra lo lắng và buồn khổ về số phận của Con Trẻ Giêsu. Các vị đã mất công tìm kiếm Người nơi những người họ hàng và quen biết. Khi trở lại Giêrusalem thì mới gặp Người trong đền thờ, các vị bỡ ngỡ khi thấy Người "ngồi giữa các vị tôn sư, vừa nghe họ nói vừa đặt vấn đề với họ" (Lk 2:46). Cử chỉ của Người hình như có vẻ bất bình thường. Ðối với cha mẹ của Người thì việc tìm thấy Người vào ngày thứ ba chắc chắn đã làm cho các vị khám phá ra một khía cạnh khác nơi con người cũng như nơi sứ vụ của Người.

Người Mẹ hỏi thiếu nhi Giêsu rằng: "Con ơi, sao con lại xử với chúng tôi như thế? Cha con và mẹ đã lo lắng đi tìm kiếm con đó" (Lk 2:48). Ðến đây chúng ta có thể nhận ra âm vang của những "cái tại sao" được rất nhiều bà mẹ đặt ra trước nỗi khổ đau do con cái gây ra cho các bà, cũng như nhận ra những vấn nạn phát xuất từ cõi lòng của hết mọi con người nam nữ ở vào những lúc gặp phải gian nan thử thách.

3.- Câu trả lời theo hình thức nghi vấn của thiếu nhi Giêsu có một ý nghĩa rất sâu xa: "Các vị tìm kiếm tôi làm chi? Các vị không biết rằng tôi phải ở trong nhà Cha của tôi hay sao?" (Lk 2:49).

Trả lời như thế, Người muốn tỏ cho Mẹ Maria và Thánh Giuse thấy mầu nhiệm về bản thân của Người một cách bất ngờ ngoài dự tưởng, để mời gọi các vị hãy vượt ra ngoài những cái dáng vẻ bề ngoài, cũng như để mở ra cho các vị thấy chân trời mới về tương lai của Người.

Trong câu trả lời cho Người Mẹ sầu khổ của mình, Người Con đã trực tiếp tỏ ra cho thấy lý do về hành vi cử chỉ của Người. Mẹ Maria nói: "cha của con," Mẹ có ý chỉ về Thánh Giuse; thiếu nhi Giêsu đáp lại: "Cha của tôi," nghĩa là Người Cha trên trời.

Nói đến nguồn gốc thần linh của mình, Người không có ý nhấn mạnh đến đền thờ, nhà Cha của Người, là một "nơi" tự nhiên đối với việc hiện diện của Người, cho bằng Người muốn nói đến tất cả những gì liên quan đến Cha Người và dự án của Cha. Người có ý nhấn mạnh là ý muốn Cha của Người là qui chuẩn duy nhất buộc Người phải vâng phục mà thôi.

Vấn đề qui chiếu về việc Người toàn hiến cho dự án của Thiên Chúa này đã được nổi bật nơi đoạn Phúc Âm này, ở những lời: "Tôi phải," những lời sau này cũng được thấy xuất hiện khi Người báo trước về Cuộc Khổ Nạn của Người (x Mk 8:31).

Bởi vậy cha mẹ của Người được yêu cầu là hãy để cho Người ra đi thi hành sứ vụ của Người hoàn toàn theo ý muốn Cha trên trời của Người.

4.- Thánh Ký nhận định là: "Các vị không hiểu gì về lời Người nói với các vị" (Lk 2:50).

Mẹ Maria và Thánh Giuse không thấy được ý nghĩa nơi câu trả lời của Người, cũng như không thấy được cách thức (rõ ràng là phủ nhận) Người tỏ ra đối với mối quan tâm của các vị. Với thái độ như thế, thiếu nhi Giêsu có ý mạc khải cho thấy những khía cạnh mầu nhiệm về mối thân tình của Người với Cha Người, những khía cạnh Mẹ Maria chỉ trực giác thấy chứ không hiểu được liên hệ giữa chúng với cuộc thử thách Mẹ đang phải chịu như thế nào cả.

Những lời của Thánh Luca dạy chúng ta về cách thức Mẹ Maria đã sống ở trường hợp thực sự bất thường này như thế nào nơi con người sâu thẳm của Mẹ. Mẹ "đã giữ lấy tất cả những điều ấy trong lòng mình" (Lk 2:51). Mẹ Chúa Giêsu đã liên kết những biến cố này với mầu nhiệm Con Mẹ, mầu nhiệm được tỏ ra cho Mẹ biết ở Biến Cố Truyền Tin, và suy nghĩ về chúng trong âm thầm chiêm niệm, sẵn sàng cộng tác theo tinh thần của lời "xin vâng" tái diễn.

Như thế, mối liên kết đầu tiên này đã được móc thành một chuỗi biến cố sẽ từ từ dẫn Mẹ Maria vượt ra ngoài vai trò tự nhiên làm mẹ của Người, đến chỗ Mẹ hiến thân phục vụ cho sứ vụ của Người Con thần linh của Mẹ.
Tại đền thờ ở Giêrusalem, trong dạo khúc tấu lên sứ vụ cứu độ của Người này, thiếu nhi Giêsu đã liên kết Mẹ Người với bản thân Người; Mẹ không còn là Vị đã sinh ra Người, mà là một Nữ Lưu có thể cộng tác vào mầu nhiệm Cứu Chuộc bằng việc Mẹ tuân phục ý định của Cha Người.

Bởi thế, việc giữ lấy trong trái tim mình một biến cố chất chứa đầy những ý nghĩa ấy, Mẹ Maria đã đạt đến một chiều kích mới của việc Mẹ cộng tác vào ơn cứu độ.

(ÐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 15/1/1997, Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 22/1/1997)

Cao Tấn Tĩnh dịch

Nguồn: http://www.ttmhcg.com/bao/s191thanhmau.html

admin
25-05-2006, 09:18 AM
LỄ ÐỨC MẸ HỒN XÁC VỀ TRỜI


Giáo Hội Tin Tưởng Vào Việc Mông Triệu Của Mẹ Maria



http://www.ttmhcg.com/mry/thgthien.jpg



1.-Theo Trọng Sắc Munificentissimus Deus được Vị Tiền Nhiệm của Tôi là Ðức Piô XII công bố, Công Ðồng Chung Vaticanô II đã xác nhận Vị Trinh Nữ Vô Nhiễm "được đưa cả hồn lẫn xác vào vinh quang thiên quốc khi cuộc sống trần thế của Mẹ chấm dứt" (Lumen Gentium, 59).

Các Nghị Phụ Công Ðồng muốn nhấn mạnh là Mẹ Maria, không giống như trường hợp Kitô hữu chết trong ơn nghĩa Chúa, đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên đình với cả thân xác của Mẹ. Niềm tin rất cổ kính này đã được biểu lộ qua truyền thống lâu dài nơi các ảnh tượng cho thấy Mẹ Maria "tiến vào" thiên đình với cả thân xác của Mẹ.

Tín điều Mông Triệu xác nhận rằng thân xác của Mẹ Maria đã được hiển vinh sau khi Mẹ chết. Thật vậy, đối với những người khác, cuộc phục sinh về thân xác của họ chỉ xẩy ra vào ngày tận thế, còn đối với Mẹ Maria, thân xác của Mẹ đã được hưởng vinh quang trước bằng một đặc ân riêng.

2.- Vào ngày 1/11/1950, khi xác định tín điều Mông Triệu, Ðức Piô XII đã tránh dùng từ ngữ "phục sinh," cũng như đã không khẳng định rõ ràng về vấn đề cái chết của Ðức Trinh Nữ như là một chân lý đức tin. Trọng Sắc Munificentissimus Deus chỉ giới hạn vào việc xác định thân xác của Mẹ Maria được nâng lên trong vinh quang thiên quốc, khi tuyên bố rằng chân lý này là một "tín điều theo mạc khải thần linh."

Làm sao chúng ta lại không thể thấy rằng việc Mông Triệu của Ðức Trinh Nữ bao giờ cũng thuộc về đức tin của dân Kitô giáo, thành phần đã nhắm đến việc công bố sự vinh hiển của thân xác Mẹ, khi xác nhận là Mẹ Maria được vào hưởng vinh quang thiên quốc?

Dấu vết tiên khởi nơi niềm tin tưởng vào việc Mông Triệu của Vị Trinh Nữ này có thể được thấy ở những mẩu truyện trong ngụy kinh dưới nhan đề Transitus Mariae (xin tạm dịch là Cuộc Ðổi Ðời của Ðức Maria), phát xuất từ thế kỷ thứ hai, thứ ba. Những truyện kể này trở nên thịnh hành và đôi khi còn được thêu dệt cho hay, song những sự kiện này cũng đã cho thấy cái trực giác nơi đức tin của Dân Thiên Chúa.

Sau đó là một thời gian dài càng ngày càng suy tư hơn về định mệnh của Mẹ Maria ở đời sau. Việc suy tư này từ từ đã dẫn tín hữu đến chỗ tin tưởng vào việc vinh thăng Người Mẹ của Chúa Giêsu cả xác lẫn hồn, cũng như đến chỗ bên Ðông Phương đã thiết lập các lễ phụng vụ về Cái Chết và Mông Triệu của Mẹ Maria.

Niềm tin vào định mệnh vinh hiển nơi cả xác lẫn hồn của Người Mẹ Chúa Kitô sau khi Mẹ chết đã được truyền lan rất nhanh từ Ðông sang Tây, và đã trở thành phổ thông từ thế kỷ 14. Trong thế kỷ của chúng ta, vào lúc gần xác định tín điều này, niềm tin ấy đã trở thành một sự thật hầu như được mọi người chấp nhận và được công đồng Kitô hữu khắp nơi trên thế giới tuyên xưng.

3.- Bởi đó, vào Tháng Năm 1946, với Thông Ðiệp Deiparea Virginis Mariae, Ðức Piô XII đã kêu gọi một cuộc tham vấn rộng rãi, lấy ý kiến từ các Vị Giám Mục, và qua các vị, từ hàng giáo sĩ và Dân Chúa, về khả thể cũng như về cơ hội xác định việc mộng triệu về thể lý của Mẹ Maria như là một tín lý thuộc đức tin. Kết quả cho thấy hết sức tích cực: chỉ có 6 trong 1.181 hồi âm tỏ ra lưỡng lự làm sao ấy về tính cách mạc khải của sự thật này.

Trích dẫn sự kiện tham vấn này, Trọng Sắc Munificentissimus Deus đã viết: "Từ việc đồng ý chung về Huấn Quyền bình thường của Giáo Hội, Chúng Tôi đã có được một chứng cớ chắc chắn và mạnh mẽ cho thấy rằng việc Mông Triệu về thể lý của Ðức Trinh Nữ Maria về trời. là một sự thật được Thiên Chúa mạc khải, và vì vậy tất cả mọi người con của Giáo Hội cần phải vững vàng và trung thành tin tưởng" (Tông Hiến Munificentissimus Deus: AAS 42, 1950, 757).

Việc xác định tín điều này, hợp với đức tin chung của Dân Chúa, đã hoàn toàn loại trừ hết mọi ngờ vực, và kêu gọi tất cả mọi Kitô hữu phải tỏ ra ưng thuận một cách minh nhiên.

Sau khi nhấn mạnh đến niềm tin thực sự vào việc Mông Triệu, bản Trọng Sắc đã nhắc lại nền tảng Thánh Kinh về sự thật này.

Mặc dù không rõ ràng xác nhận việc Mông Triệu của Mẹ Maria, Tân Ước cũng cống hiến cho thấy cái nền tảng của việc này, vì Tân Ước nhấn mạnh một cách mãnh liệt về việc Ðức Trinh Nữ được hoàn toàn hiệp nhất với định mệnh của Chúa Giêsu. Việc hiệp nhất này, một việc, ngay từ lúc Chúa Cứu Thế được mầu nhiệm thụ thai, được biểu lộ nơi việc Mẹ tham dự vào sứ vụ của Con Mẹ, nhất là trong việc Mẹ liên kết với hy tế cứu chuộc của Con, lại không thể nào không tiếp tục xẩy ra cả sau khi chết. Hoàn toàn được hiệp nhất với đời sống và công cuộc cứu chuộc của Chúa Giêsu, Mẹ Maria cũng được thông phần cả xác lẫn hồn với định mệnh vinh quang của Người.

4.- Trọng Sắc Munificentissimus Deus trên đâyđã qui chiếu về việc người nữ trong cuốn Tiền Phúc Âm tham dự vào cuộc chiến chống lại con rắn, nhìn nhận Mẹ Maria là Tân Evà, và cho thấy việc Mông Triệu là thành quả của việc Mẹ Maria hiệp nhất với công cuộc cứu độ của Chúa Kitô. Về khía cạnh này, bản Trọng Sắc đã viết: "Bởi thế, như Cuộc Phục Sinh vinh hiển của Chúa Kitô là yếu tố chính yếu và là dấu hiệu cuối cùng cho cuộc vinh thắng này thế nào, thì cuộc chiến đấu chung cho cả Ðức Trinh Nữ và Người Con thần linh của Mẹ cũng phải được kết thúc bằng việc vinh thăng thân xác trinh nguyên của Mẹ như vậy" (Tông Hiến Munificentissimus Deus: AAS 42, 1950, 768).

Việc Mông Triệu, bởi vậy, là tuyệt đỉnh của một cuộc chiến đấu mà Mẹ Maria đã quảng đại yêu mến dấn thân cộng tác vào việc cứu chuộc loài người, và là hoa trái của việc Mẹ thông phần với cuộc vinh thắng của Thập Giá.

(Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 9/7/1997)

Cao Tấn Tĩnh tuyển dịch

Nguồn: http://www.ttmhcg.com/bao/s193thanhmau.html

admin
25-05-2006, 07:37 PM
Ngày 11/2
Lễ Mẹ Lộ Đức

Chúa Giêsu thực hiện phép lạ qua lời yêu cầu của Mẹ Maria

http://www.thoidiemmaria.net/Hinh%20Anh/Cac%20Le%20Duc%20Me/MeVoNhiem.jpg



1. Trong đoạn về tiệc cưới ở Cana, Thánh Gioan cho thấy việc can thiệp đầu tiên của Mẹ Maria vào cuộc sống công khai của Chúa Giêsu và nhấn mạnh đến việc Mẹ cộng tác vào sứ vụ của Con Mẹ.

Mở đầu đoạn trình thuật này, Thánh Ký bảo chúng ta biết là “có Mẹ của Chúa Giêsu ở đó” (Jn 2:1), và ngài như có ý nói rằng sự hiện diện của Mẹ là lý do Chúa Giêsu và các môn đệ của Người cũng được đôi tân hôn mời đến tham dự (x Redemptoris Mater, 21), Thánh Ký đã thêm “Chúa Giêsu cũng được mời đến dự đám cưới cùng với các môn đệ của Người” (Jn 2:2). Với những lời dẫn nhập ấy, Thánh Gioan dường như muốn nói lên là tại Cana, cũng như trong biến cố Nhập Thể trọng yếu, Mẹ Maria chính là vị giới thiệu Đấng Cứu Thế.

Ý nghĩa và vai trò của việc Đức Trinh Nữ hiện diện trở nên sáng tỏ vào lúc hết rượu. Là một người nội trợ khéo léo và tinh khôn, Mẹ nhận thấy ngay và can thiệp liền để không ai bị mất vui, nhất là để cứu giúp đôi tân hôn trong cơn khốn khó.

Quay sang Chúa Giêsu lên tiếng “họ hết rượu rồi” (Jn 2:3), Mẹ Maria muốn nói lên mối quan tâm của mình cho Người biết về tình trạng này, mong rằng Người sẽ giải quyết vấn đề. Nói cho chính xác hơn, theo một số nhà dẫn giải, Mẹ của Người đang mong chờ một dấu lạ phi thường, vì Chúa Giêsu không có sẵn rượu.

2- Việc Mẹ Maria có thể kiếm thứ rượu cần thiết ở một nơi nào đó song lại chọn lựa làm như thế chứng tỏ lòng can trường nơi đức tin của Mẹ, vì cho đến lúc ấy Chúa Giêsu chưa làm một phép lạ nào, cả ở Nazarét cũng như ở cuộc đời công khai của Người.

Ở Cana, Đức Trinh Nữ một lần nữa lại tỏ ra cho thấy Mẹ hoàn toàn sẵn sàng đối với Thiên Chúa. Ở biến cố Truyền Tin, Mẹ đã góp phần vào phép lạ thụ thai trinh nguyên bằng việc tin vào Chúa Giêsu trước khi được trông thấy Người; ở đây, lòng Mẹ tin tưởng vào quyền năng chưa tỏ hiện của Chúa Giêsu đã khiến cho Người phải thực hiện “dấu lạ mở tay”, đó là việc biến nước lã hóa thành rượu.

Như thế, Mẹ đã đi trước các môn đệ trong đức tin, thành phần như Thánh Gioan nói, sẽ tin tưởng sau khi xẩy ra phép lạ: Chúa Giêsu “đã tỏ vinh quang của Người ra; và các môn đệ tin vào Người” (Jn 2:11). Như thế là Mẹ Maria đã làm cho đức tin của các vị vững mạnh bằng việc dọn đường cho dấu lạ xẩy ra.2-ÕViệc Mẹ Maria có thể kiếm thứ rượu cần thiết ở một nơi nào đó song lại chọn lựa làm như thế chứng tỏ lòng can trường nơi đức tin của Mẹ, vì cho đến lúc ấy Chúa Giêsu chưa làm một phép lạ nào, cả ở Nazarét cũng như ở cuộc đời công khai của Người.

Ở Cana, Đức Trinh Nữ một lần nữa lại tỏ ra cho thấy Mẹ hoàn toàn sẵn sàng đối với Thiên Chúa. Ở biến cố Truyền Tin, Mẹ đã góp phần vào phép lạ thụ thai trinh nguyên bằng việc tin vào Chúa Giêsu trước khi được trông thấy Người; ở đây, lòng Mẹ tin tưởng vào quyền năng chưa tỏ hiện của Chúa Giêsu đã khiến cho Người phải thực hiện “dấu lạ mở tay”, đó là việc biến nước lã hóa thành rượu.

Như thế, Mẹ đã đi trước các môn đệ trong đức tin, thành phần như Thánh Gioan nói, sẽ tin tưởng sau khi xẩy ra phép lạ: Chúa Giêsu “đã tỏ vinh quang của Người ra; và các môn đệ tin vào Người” (Jn 2:11). Như thế là Mẹ Maria đã làm cho đức tin của các vị vững mạnh bằng việc dọn đường cho dấu lạ xẩy ra.



3- Câu Chúa Giêsu đáp lời Mẹ Maria “Này bà, đâu có can chi tới bà và Tôi. Giờ của Tôi chưa đến” (Jn 2:4) có vẻ tỏ ra chối từ, như thể thử thách niềm tin của Mẹ.

Có một dẫn giải cho rằng từ lúc bắt đầu sứ vụ của mình, Chúa Giêsu đặt lại vấn đề liên hệ con cái theo tự nhiên, mối liên hệ mẹ Người yêu thích. Câu nói này, theo kiểu phát biểu của địa phương, có ý nhấn mạnh đến khoảng cách giữa người với nhau, bằng cách loại trừ đi mối hiệp thông về cuộc sống. Khoảng cách này không làm mất đi lòng trọng kính và cảm nhận; từ ngữ “bà” Người ngỏ lời với Mẹ của mình được Người sử dụng hơi khác với những cuộc đàm thoại xẩy ra giữa Người và phụ nữ Canaan (x Mt 15:28), phụ nữ Samaritanô (x Jn 4:21), phụ nữ ngoại tình (x Jn 8:10) và Maria Mai Đệ Liên (x Jn 20:13), trong những hoàn cảnh cho thấy mối liên hệ tích cực của Chúa Giêsu tỏ ra đối với những vị phụ nữ đối diện với Người.

Bằng câu nói: “Này bà, có can chi với bà và Tôi?”, Chúa Giêsu có ý đặt việc cộng tác của Mẹ Maria vào tầm mức cứu độ, một tầm mức bao gồm đức tin đức cậy của Mẹ, đòi hỏi Mẹ phải vượt ra ngoài vai trò làm mẹ tự nhiên của Mẹ.

4- Lý do Chúa Giêsu nói: “Giờ của Tôi chưa đến” (Jn 2:4) còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn nữa.

Một vài vị học giả đã tìm hiểu đoạn sách thánh này, căn cứ vào lời cắt nghĩa của Thánh Au-Quốc-Tinh, đã đồng hóa “giờ” ở đây và biến cố Vượt Qua. Trái lại, đối với một số khác, nó ám chỉ đến phép lạ đầu tiên sẽ được quyền năng của vị tiên tri thành Nazarét tỏ ra cho thấy. Cũng có những vị cho rằng câu nói này ở thể nghi vấn và có liên hệ đến vấn đề trước đó: “Có can chi tới bà và Tôi? Giờ của Tôi chưa đến cơ mà?”. Như thế Chúa Giêsu làm cho Mẹ Maria hiểu rằng Người không còn lệ thuộc vào Mẹ nữa, mà phải tự mình làm công việc cho Cha của Người. Thế là Mẹ Maria đã ngoan ngoãn cầm mình không thôi thúc Người nữa, trái lại, Mẹ đã quay sang nhóm phục dịch, bảo họ hãy vâng theo lời Người chỉ dạy.

Dù sao lòng Mẹ đặt tin tưởng nơi Con của Mẹ cũng đã được tưởng thưởng. Chúa Giêsu, Đấng Mẹ hoàn toàn để cho Người được tự do tác hành, đã làm phép lạ, khi Người nhận thấy lòng can đảm và ngoan ngoãn nơi người Mẹ của mình: “Chúa Giêsu nói với họ rằng ‘Các anh hãy đổ đầy các bình’. Và họ đã đổ đầy lên cho tới miệng” (Jn 2:7). Như thế, việc họ vâng lời cũng giúp cho việc có đầy những rượu.

Lời yêu cầu của Mẹ Maria: “Các anh hãy làm những gì Người chỉ bảo”, vẫn còn giá trị thời gian đối với Kitô hữu ở mọi thời đại và cần phải làm cho tác hiệu lạ lùng của nó tái diễn nơi cuộc sống của mọi người. Đó là lời huấn dụ hãy tin tưởng không do dự, nhất là khi con người không hiểu được ý nghĩahay phúc lợi của những gì Chúa Giêsu đòi hỏi.

Như trong trình thuật về người phụ nữ Canaan (Mt 15:24-26), việc ruồng rẫy ra mặt của Chúa Giêsu đã thăng hoa đức tin của bà thế nào, cũng vậy, những lời Con Mẹ nói ”Giờ của Tôi chưa đến”, kèm theo việc Người thực hiện phép lạ đầu tiên, đã cho thấy đức tin cao cả của Mẹ cùng với quyền lực của lời Mẹ nguyện cầu.

Đoạn về tiệc cưới ở Cana thôi thúc chúng ta hãy can đảm trong đức tin và hãy cảm nghiệm trong cuộc sống của mình sự thật của những lời Phúc Âm: “Hãy xin, các con sẽ được nhận lãnh” (Mt 7:7; Lk 11:9).


(ĐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 26/2/1997, Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, trích dịch từ tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 5/3/1997)

Nguồn: Lễ Mẹ Lộ Đức (http://www.thoidiemmaria.net/THANHMAU/Le%20Kinh%20Me%20Maria/lemeloduc.htm)

admin
25-05-2006, 07:41 PM
Ngày 19/3

Lễ Thánh Giuse, Phu Quân Mẹ Maria


MẸ MARIA VÀ THÁNH GIUSE SỐNG TẶNG ÂN ĐỒNG TRINH


http://www.thoidiemmaria.net/Hinh%20Anh/Cac%20Le%20Duc%20Me/MeKetBan-LeThanhGiuse.jpg




1- Khi tỏ cho thấy Mẹ Maria như là một “trinh nữ”, Phúc Âm Thánh Luca còn thêm rằng Mẹ đã “được đính hôn với một người tên là Giuse thuộc giòng dõi Đavít” (Lk 1:27). Hai chi tiết này thoạt tiên chúng ta thấy có vẻ mâu thuẫn với nhau.

Cần phải để ý là tiếng Hy Lạp được dùng trong đoạn văn này không có ý nói đến trường hợp của một người phụ nữ đã có hôn ước và vì thế đang sống đời sống hôn nhân, mà là đến trường hợp của một người đính hôn. Tuy nhiên, không giống như những gì xẩy ra nơi các nền văn hóa tân tiến, tục lệ Do Thái xưa kia về việc đính hôn đã công nhận đó là một khế ước và bình thường đã có giá trị vĩnh viễn, tức là nó đã thực sự đưa con người đính ước vào đời sống hôn nhân, cho dù cuộc hôn nhân hoàn tất chỉ khi nào người nam đem người nữ về nhà mình.

Như thế, vào thời điểm Truyền Tin, Mẹ Maria đã ở trong tình trạng của một người đính hôn. Chúng ta có thể tự nghĩ là tại sao Mẹ lại chấp nhận đính hôn, vì Mẹ đã có ý định vĩnh viễn giữ mình đồng trinh cơ mà. Thánh Luca đã biết được vấn đề này, nhưng vẫn ghi lại sự kiện ấy mà không có một lời giải thích nào cả. Sự kiện mà vị Thánh Ký, trong khi nhấn mạnh đến chủ ý giữ mình đồng trinh của Mẹ Maria, đồng thời lại cho thấy Mẹ là hôn thê của Thánh Giuse, đã là một dấu chứng có tính cách khả tín của lịch sử về hai phần của sự kiện này.

2- Chúng ta có thể cho rằng, vào lúc đính hôn của mình, Thánh Giuse và Mẹ Maria đã biết được dự định của nhau trong việc muốn sống đời trinh khiết. Vả lại, Chúa Thánh Thần, Đấng đã soi động cho Mẹ Maria có ý muốn giữ mình đồng trinh là tình trạng liên quan đến mầu nhiệm Nhập Thể, cũng là Đấng muốn Thánh Giuse thuộc về một đời sống gia đình xứng hợp với việc tăng trưởng của Con Trẻ, cũng rất có thể đã gợi lên lên nơi Thánh Giuse tư tưởng giữ mình đồng trinh nữa.

Thiên thần Chúa đã hiện ra trong giấc mộng mà bảo ngài rằng: “Hỡi Giuse, con Đavít, đừng sợ nhận Maria làm vợ, vì người đã thụ thai bởi Chúa Thánh Thần” (Mt 1:20). Như thế là ngài đã nhận được lời xác nhận cho thấy rằng ngài đã được kêu gọi để sống cuộc sống hôn nhân của mình một cách hoàn toàn đặc biệt. Qua việc hiệp thông trinh khiết với một người nữ được chọn sinh ra Chúa Giêsu như thế, Thiên Chúa muốn kêu gọi thánh nhân hãy cộng tác vào việc thực hiện dự án cứu độ của Ngài.

Loại hôn nhân Chúa Thánh Thần đã kết hợp Mẹ Maria và Thánh Giuse lại với nhau chỉ có thể hiểu được trong tương quan với dự án cứu độ cũng như với một linh đạo cao vời. Sự kiện hiện thực cụ thể của mầu nhiệm Nhập Thể đòi phải có một cuộc hạ sinh trinh khiết vẹn tuyền, một cuộc hạ sinh làm nổi bật tính cách của một người con thần linh, và đồng thời cũng cần đến một gia đình có thể đáp ứng với việc phát triển bình thường nhân cách của Con Trẻ.

Thật vậy, đối với việc đóng góp của mình vào mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời, Thánh Giuse và Mẹ Maria đã được ơn sống cùng một lúc vừa đặc sủng đồng trinh lẫn tặng ân hôn nhân. Mối hiệp thông của Mẹ Maria và Thánh Giuse trong mối tình yêu trinh khiết, mặc dù là một trường hợp đặc biệt liên hệ đến việc hiện thực cụ thể mầu nhiệm Nhập Thể, cũng là một cuộc hôn nhân thực sự (x Tông Huấn Redemptoris Custos, 7).

Cái khó khăn trong việc chấp nhận mầu nhiệm hiệp thông phu phụ cao cả này của các vị đã làm cho một số, từ thế kỷ thứ hai, cho rằng Thánh Giuse đã già lão và coi ngài như vị bảo hộ của Mẹ hơn là hôn phu của Mẹ. Tuy nhiên, cũng có trường hợp lại cho rằng ngài không phải là một ông già vào lúc ấy, song sự trọn lành nội tâm của ngài, hoa trái của ân sủng, đã khiến ngài sống tương quan vợ chồng với Mẹ Maria bằng một mối tình trinh khiết.

3- Việc Thánh Giuse cộng tác vào mầu nhiệm Nhập Thể cũng bao gồm cả việc thực thi vai trò làm cha của Chúa Giêsu nữa. Vị thiên thần đã công nhận phận vụ này của ngài khi hiện ra trong giấc mộng và xin ngài đặt tên cho Con Trẻ: “Người sẽ hạ sinh một con trai và ngươi sẽ đặt tên cho Ngài là Giêsu, vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:21).

Trong khi không dính dáng đến vấn đề truyền sinh về thể lý, thì vai trò làm cha của Thánh Giuse lại là một điều có thực chứ không phải chỉ bề ngoài vậy thôi. Phân tích giữa một người làm cha và một người thụ thai, có một bản văn cổ nói về đức đồng trinh của Mẹ Maria, đó là De Margarita (ở thế kỷ thứ bốn), như thế này: “Việc Trinh Nữ và Thánh Giuse dấn thân chấp nhận vai trò làm chồng và làm vợ khiến ngài có thể được gọi bằng danh xưng (cha) này; tuy nhiên là một người cha không truyền sinh”. Như thế, Thánh Giuse đã thi hành vai trò làm cha của Chúa Giêsu, thi hành một thứ quyền bính được Đấng Cứu Chuộc tự nguyện “vâng phục” (Lk 2:51), thi hành việc góp phần vào tình trạng tăng trưởng của Người cũng như vào những chỉ dẫn cho Người trong nghề thợ mộc.

Kitô hữu luôn luôn nhìn nhận Thánh Giuse là một người đã sống hiệp thông thân tình với Mẹ Maria và Chúa Giêsu, họ cũng cho rằng cả trong giờ lâm chung, thánh nhân cũng được an ủi nơi sự hiện diện âu yếm của các ngài. Theo truyền thống Kitô hữu liên tục này, nhiều nơi đã tỏ lòng tôn sùng đặc biệt với Thánh Gia, cũng như với Thánh Giuse, Vị Bảo Hộ của Đấng Cứu Chuộc. Như mọi người đều biết, Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã phú thác toàn thể Giáo Hội cho việc bảo hộ của thánh nhân.

(ĐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 21/8/1996,

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, trích dịch từ tuần san L’Osservatore Romano,
ấn bản Anh ngữ ngày 28/8/1996)

Nguồn: Lễ Phu Quân Đức Maria (http://www.thoidiemmaria.net/THANHMAU/Le%20Kinh%20Me%20Maria/lephuquanme.htm)

admin
25-05-2006, 07:55 PM
LỄ ĐỨC MẸ CAMELÔ



http://www.thoidiemmaria.net/Saints/jul/jul16.jpg



Áo Đức Bà Carmêlô, một bảo vật cho Giáo Hội


3.- … Đối với các phần tử của Gia Đình Dòng Carmêlô thì Mẹ Maria, Vị Trinh Mẫu của Thiên Chúa và loài người, chẳng những là một mô phạm để bắt chước, mà còn hiện diện như là một Người Mẹ và Người Chị đáng tin tưởng cậy trông. Thánh Têrêsa Giêsu đã có lý để thúc giục các chị em dòng của mình là: “Chị em hãy bắt chước Đức Mẹ, hãy coi Mẹ cao cả là dường nào, và việc chúng ta nhận Người là Quan Thày của mình là một điều tốt lành biết bao” (Interior Castle, III, 1, 3).

4.- Cuộc sống thiết tha với Mẹ Maria ấy, một cuộc sống được thể hiện nơi việc tin tưởng nguyện cầu, nhiệt thành chúc tụng và tỉ mỉ bắt chước, giúp cho chúng ta hiểu được lý do tại sao hình thức tôn sùng chân thực nhất đối với Đức Trinh Nữ, một việc tôn sùng được bộc lộ nơi dấu hiệu Giây Đức Bà Carmêlô thô sơ, đó là việc tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ (xem Đức Piô XII, Bức Thư Neminem Profecto Latet [11-2-1950: AAS 42, 1950, pp. 390-391]; Hiến Chế Lumen Gentium, 67). Thực hiện điều này, tâm hồn sẽ lớn lên trong sự hiệp thông và thân tình với Đức Trinh Nữ, “như một cách sống mới đối với Thiên Chúa cũng như tiếp tục cách sống yêu mến của Chúa Giêsu trên thế gian đối với Mẹ Maria của Người” (xem Huấn Từ Buổi Nguyện Kinh Truyền Tin trong Insegnamenti XI/3, 1988, p. 173). Bởi đó, như chân phước tử đạo Dòng Carmêlô Titus Brandsma diễn tả, chúng ta sống hòa hợp sâu xa với Mẹ Maria Thiên Mẫu, và, như Mẹ, chúng ta trở nên những người thông truyền sự sống thần linh: “Chúa cũng sai thiên thần của Ngài đến với chúng ta… cả chúng ta cũng phải chấp nhận Thiên Chúa nơi tâm hồn của mình, nuôi dưỡng Ngài và làm cho Ngài lớn lên trong chúng ta, để Ngài được hạ sinh từ chúng ta và sống với chúng ta như Vị Thiên Chúa ở với chúng ta” (theo bản tường trình về Chân Phước Titus Brandsma trong Hội Nghị Thánh Mẫu Học ở Tongerloo, 8/1936).

Qua giòng thời gian, với việc phổ biến lòng tôn sùng Giây Thánh Đức Bà, gia sản Thánh Mẫu phong phú này đã trở thành một bảo tàng cho cả Giáo Hội. Nơi tính cách thô sơ của nó, nơi giá trị về nhân loại học của nó cùng với mối liên hệ của nó với vai trò của Mẹ Maria liên quan với Giáo Hội và nhân loại, việc tôn sùng này đã được Dân Chúa hưởng ứng một cách hết sức nồng nhiệt và rộng rãi, đến nỗi nó đã được thể hiện qua việc tưởng niệm vào ngày 16/7 theo lịch phụng vụ của Giáo Hội hoàn vũ.

5.- Dấu hiệu Giây Đức Bà Carmêlô cho thấy một tổng lược hay ho về linh đạo Thánh Mẫu, một linh đạo nuôi dưỡng lòng tôn sùng của các tín hữu và làm cho họ cảm nhận được sự hiện diện âu yếm của Vị Trinh Mẫu nơi đời sống của họ. Giây Đức Bà Carmêlô thực sự là một “chiếc áo dòng” (“habit”). Những ai lãnh nhận chiếc áo dòng này thì không nhiều thì ít được liên kết chặt chẽ với Dòng Carmêlô và hiến thân phụng sự Đức Bà cho lợi ích của toàn thể Giáo Hội (xem “Formula of Enrolment in the Scapular”, in the Rite of Blessing of and Enrolment in the Scapular, được Thánh Bộ Phượng Tự Và Bí Tích chuẩn nhận ngày 5/1/1996). Những ai mặc Áo Đức Bà Carmêlô, nhờ đó, được đưa vào mảnh đất Carmêlô, để họ được “thưởng thức hoa trái của nó cùng với những sự tốt lành của nó” (x Jer 2:7), cũng như cảm nghiệm được sự hiện diện âu yếm và từ mẫu của Mẹ Maria trong việc họ dấn thân hằng ngày để được mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, cũng như để tỏ hiện Người ra qua cuộc sống của họ cho lợi ích của Giáo Hội và toàn thể nhân loại (xem “Formula of Enrolment in the Scapular”, cit.).

Bởi thế, dấu hiệu Áo Đức Bà Carmêlô gợi lên cho thấy hai chân lý: chân lý thứ nhất đó là việc liên lỉ bảo vệ của Đức Trinh Nữ, chẳng những trong cuộc hành trình của cuộc sống mà còn vào giây phút bước đến cõi trường vinh toàn mãn; chân lý thứ hai đó là nhận thức rằng lòng tôn sùng Mẹ không chỉ giới hạn vào các kinh nguyện và những cách thức tôn kính Mẹ ở một số dịp, mà phải trở thành một “thói quen” - “habit”, (biệt chú của người dịch: ở đây ĐTC dùng chữ “habit”, theo tiếng Anh, vừa có nghĩa là “áo dòng”, như Ngài đã nói đến ở trên, lại vừa có nghĩa là “thói quen”), tức là, một hướng chiều thường xuyên nơi tác hành của người Kitô hữu, một hướng chiều liên kết giữa việc cầu nguyện và đời sống nội tâm, qua việc năng lãnh nhận các bí tích, với những việc làm cụ thể nơi hoạt động từ thiện về phương diện tinh thần cũng như vật chất. Có như thế, Áo Đức Bà Carmêlô mới trở thành một dấu hiệu “giao ước” và cho thấy mối hiệp thông với nhau giữa Mẹ Maria và người tín hữu: thật vậy, nó là một việc chuyển dịch cụ thể cái ý nghĩa của tặng ân Mẫu Thân được Chúa Giêsu trên thập giá trao ban cho tông đồ Gioan, và qua vị tông đồ này, cho tất cả chúng ta, và cả ý nghĩa việc trao phó vị Tông Đồ yêu dấu này cùng với chúng ta cho Mẹ, Vị đã trở nên Mẹ thiêng liêng của chúng ta.

6.- Mẫu gương sáng ngời của linh đạo Thánh Mẫu này, một linh đạo khuôn đúc nội tâm con người và làm cho họ nên giống Chúa Kitô, trưởng tử của nhiều anh em, là chứng từ cho thấy sự thánh thiện và khôn ngoan nơi rất nhiều vị thánh của Dòng Carmêlô, tất cả những vị này đã lớn lên dưới bóng phủ và trong sự chở che của Người Mẹ các vị.

Tôi cũng đeo Áo Đức Bà Carmêlô trước ngực một thời gian rất lâu! Vì yêu mến Vị Thiên Mẫu chung của chúng ta, Đấng Tôi luôn cảm nghiệm được việc Người bảo vệ chở che, Tôi tin rằng năm Thánh Mẫu này sẽ giúp cho tất cả mọi tu sĩ nam nữ Carmêlô và tín hữu đạo hạnh có lòng tôn kính Mẹ với tình con thảo được lớn lên trong tình yêu của Người, và chiếu tỏa cho thế giới thấy sự hiện diện của Người Nữ thầm lặng và nguyện cầu này, một Người Nữ được kêu cầu như Mẹ Tình Thương, Mẹ Hy Vọng và Ân Sủng…



(Thư ĐTC Gioan Phaolô II gửi Dòng Carmêlô cả hai ngành OCD và O.Carm., đề ngày 25/3/2001,
nhân dịp kỷ niệm 750 năm Áo Đức Bà Carmêlô.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ
Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 4/4/2001)
Nguồn: Lễ Đức Mẹ Camêlô (http://www.thoidiemmaria.net/THANHMAU/Le%20Kinh%20Me%20Maria/lemecamelo.htm)

admin
25-05-2006, 07:58 PM
Ngày 22 tháng 8

LỄ MẸ NỮ VƯƠNG


http://www.thoidiemmaria.net/Hinh%20Anh/Cac%20Le%20Duc%20Me/MeNuVuong.jpg



Kitô Hữu Nhìn Lên Nữ Vương Maria


1.- Lòng tôn sùng thịnh hành vốn kêu cầu Mẹ Maria như là một Vị Nữ Vương. Công Đồng Chung Vaticanô II, sau khi nhắc lại Việc Đức Trinh Nữ Mông Triệu “cả xác lẫn hồn vào vinh quang thiên quốc”, đã giải thích rằng Mẹ “được Chúa tôn làm Nữ Vương trên tất cả mọi sự, để Mẹ có thể hoàn toàn nên giống hơn Con Mẹ là Chúa các chúa (x Rev 19:16) và là Đấng chiến thắng tội lỗi cùng sự chết” (Lumen Gentium, 59).

Thật vậy, bắt đầu từ thế kỷ thứ năm, hầu như trong cùng một giai đoạn Công Đồng Chung Êphêsô công bố Mẹ là “Mẹ Thiên Chúa”, thì tước hiệu Nữ Vương cũng đã được bắt đầu được gán cho Mẹ. Nhận biết hơn về vai trò cao cả của Mẹ như thế, dân Kitô giáo muốn đặt Mẹ lên trên tất cả mọi thụ tạo, vinh thăng vai trò và tầm quan trọng của Mẹ nơi đời sống của hết mọi người cũng như của cả thế giới.

Thế nhưng, trong một khúc bài giảng được cho rằng của giáo phụ Origen, cũng đã chất chứa lời dẫn giải này về những lời bà Elizabét thốt lên trong biến cố Thăm Viếng: “Đáng lẽ chị phải đến thăm em, vì em có phúc hơn mọi người nữ, em là Người Mẹ của Chúa chị, em là Vị Tôn Nữ của chị” (Fragment, PG 13, 1902 D).

Bản văn chuyển một cách tự nhiên từ lời diễn tả “Người Mẹ của Chúa chị” sang tước hiệu “Vị Tôn Nữ”, trước cả những gì Thánh Gioan Đamascênô sau này nói khi thánh nhân gán cho Mẹ tước hiệu “Vương Chủ”: “Khi Mẹ trở nên Mẹ của Đấng Hóa Công, Mẹ thực sự trở nên nữ vương của tất cả mọi tạo vật” (De fide orthodaxa, 4, 14, PG 94, 1157).

2.- Vị Tiền Nhiệm đáng kính Piô XII của Tôi, trong bức Thông Điệp Ad coeli Reginam, một văn kiện được bản văn của Hiến Chế Lumen Gentium qui chiếu, xác định việc Mẹ cộng tác vào công cuộc Cứu Chuộc đã là nền tảng cho vai trò nữ vương của Mẹ Maria, thêm vào vai trò mẫu thân của Mẹ. Bức Thông Điệp đã lập lại bản văn phụng vụ: “Có Thánh Maria, Nữ Vương thiên đàng và là Vị Vương Chủ thế giới, đau thương đứng kề bên cây Thập Giá của Chúa Giêsu Kitô” (AAS 46 [1954] 634). Như thế, bức Thông Điệp này đã nêu lên tính cách tương tự giữa Mẹ Maria và Chúa Kitô, một tính cách tương tự giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng nơi trạng thái trung thành của Đức Trinh Nữ. Chúa Kitô là Vua không phải chỉ vì Người là Con Thiên Chúa, mà còn vì Người là Đấng Cứu Chuộc; Mẹ Maria là Nữ Vương không phải chỉ vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, mà còn vì Mẹ đã cộng tác vào công cuộc cứu chuộc loài người, với tư cách là tân Evà cùng với tân Adong.

Trong Phúc Âm Thánh Marcô, chúng ta đọc thấy rằng, vào ngày Thăng Thiên, Chúa Giêsu “được đưa lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa” (16:19). Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, “ngồi bên hữu Thiên Chúa” nghĩa là chia sẻ quyền bính tối cao. Ngồi “bên hữu Cha”, Người thiết lập vương quốc của Người, vương quốc của Thiên Chúa. Được đưa lên trời, Mẹ Maria được liên kết với quyền năng của Con Mẹ, và được giành vào việc phát triển Vương Quốc này, ở chỗ thông phần vào việc ban phát ân sủng thần linh trên thế giới.

Nhìn vào tính cách tương tự giữa việc Chúa Giêsu Thăng Thiên và việc Mẹ Maria Mông Triệu, chúng ta có thể kết luận rằng, Mẹ Maria, dựa vào Chúa Kitô, là một Vị Nữ Vương nắm thượng quyền và thực hiện thượng quyền do Con Mẹ ban Mẹ trên vũ trụ.

3.- Tước hiệu Nữ Vương dĩ nhiên không thay thế cho tước hiệu Làm Mẹ, ở chỗ, vai trò làm nữ vương của Mẹ vốn là hệ quả của sứ vụ đặc biệt làm mẹ, và chỉ để thể hiện quyền năng được ban cho Mẹ để Mẹ thi hành sứ vụ ấy mà thôi.

Trích lại Trọng Sắc Ineffabilis Deus của Đức Piô IX, Đức Piô XII nhấn mạnh đến chiều kích làm mẹ nơi vai trò nữ vương của Đức Trinh Nữ: “Cảm thương chúng ta với lòng từ mẫu và quan tâm đến phần rỗi của chúng ta, Mẹ vươn vòng tay săn sóc của Mẹ ra ôm ấp tất cả loài người. Được Chúa cắt đặt làm Nữ Vương trời đất, được nâng lên trên tất cả mọi ca đoàn thiên thần cũng như tất cả mọi hàng ngũ các thánh trên trời, ngự bên hữu Người Con duy nhất của mình là Chúa Giêsu Kitô, Mẹ chắc chắn chiếm được những gì Mẹ muốn dùng lời nguyện cầu từ mẫu của Mẹ mà kêu xin; Mẹ chiếm được những gì Mẹ tìm kiếm và không bị khước từ” (xem AAS 46 [1954] 636-637).

4.- Bởi thế, Kitô hữu hãy tin tưởng nhìn lên Nữ Vương Maria, và điều này chẳng những không làm suy giảm mà thực sự làm tăng thêm việc trao phó bản thân mình với tình con thảo của họ cho Mẹ, Đấng làm mẹ theo cấp trật ân sủng.

Thật vậy, nỗi quan tâm của Nữ Vương Maria đối với loài người có thể hoàn toàn tác hiệu chính là vì trạng thái vinh hiển của Người xuất phát từ việc Mẹ Mông Triệu. Thánh Germanus I ở Contantinôpôli đã cho thấy sự kiện này rất hay. Thánh nhân chủ trương rằng trạng thái này bảo toàn mối liên hệ thân mật giữa Mẹ Maria với Con của Mẹ, và cho phép Mẹ thực hiện việc Mẹ can thiệp hộ giúp chúng ta. Ngỏ lời cùng Mẹ Maria, thánh nhân viết, Chúa Kitô muốn “có một kết nối giữa môi miệng của Mẹ với lòng trí của Mẹ; bởi thế Người đồng ý với tất cả mọi ước muốn Mẹ bày tỏ cùng Người, khi Mẹ chịu đựng vì con cái của Mẹ, Người làm tất cả mọi sự Mẹ kêu xin Người bằng quyền năng thần linh của Người” (Hom. 1 PG 98, 348).

5.- Người ta có thẻ kết luận rằng Việc Mông Triệu làm cho Mẹ Maria chẳng những hoàn toàn hiệp thông với Chúa Kitô, mà còn với mỗi một người trong chúng ta nữa, ở chỗ, Mẹ ở bên chúng ta, vì tình trạng vinh hiển của Mẹ khiến cho Mẹ có thể theo chúng ta trong cuộc hành trình trần thế hằng ngày của chúng ta. Như chúng ta cũng đọc thấy ở Thánh Germanus: “Mẹ ở với chúng con một cách thiêng liêng, và việc Mẹ hết lòng coi sóc chúng con cho thấy Mẹ hiệp thông đời sống với chúng con” (Hom. 1, PG 98, 344).

Bởi vậy, thay vì tạo nên khoảng cách giữa Mẹ và chúng ta, tình trạng vinh hiển của Mẹ Maria lại tạo nên một tình trạng liên tục gần gũi và chăm sóc. Mẹ biết hết mọi sự xẩy ra trong đời sống của chúng ta, và nâng đỡ chúng ta bằng tình yêu từ mẫu của Mẹ trong những cơn thử thách cuộc đời của chúng ta.

Được đưa về trời vinh hiển, Mẹ Maria hoàn toàn hiến mình cho công cuộc cứu độ, để thông truyền cho hết mọi con người sống động thứ hạnh phúc Mẹ lãnh nhận. Mẹ là một Vị Nữ Vương ban phát tất cả những gì Mẹ chiếm hưởng, trước hết, ở chỗ Mẹ tham dự vào cuộc sống và tình yêu của Chúa Kitô.


(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 30/7/1997)

Nguồn: Lễ Mẹ Nữ Vương (http://www.thoidiemmaria.net/THANHMAU/Le%20Kinh%20Me%20Maria/lemenuvuong.htm)

admin
25-05-2006, 08:02 PM
Mẹ Maria được thoát khỏi tất cả mọi tư tội


1.- Việc xác định tín điều Hoài Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội chỉ trực tiếp liên quan đến giây phút đầu tiên của cuộc đời Mẹ Maria, từ đó Mẹ được “gìn giữ khỏi hết mọi tì vết nguyên tội”. Như thế, Huấn Quyền của giáo hoàng chỉ muốn xác nhận sự thật từng là đề tài tranh luận qua các thế kỷ: đó là việc Mẹ được gìn giữ khỏi nguyên tội, chứ không xác nhận nhân đức thánh thiện kéo dài nơi Vị Trinh Mẫu của Chúa Kitô.

Sự thật này vốn được chung dân Kitô giáo nhận thức. Được gìn giữ khỏi nguyên tội, Mẹ Maria thực sự cũng được gìn giữ khỏi tất cả mọi tội mình làm, và sự thánh thiện nguyên khởi này đã được ban cho Mẹ là để cho cả cuộc đời của Mẹ.

2.- Giáo Hội đã liên lỉ coi Mẹ Maria được thánh thiện cũng như được thoát khỏi tất cả mọi tội lỗi hay khỏi tất cả mọi bất toàn về luân lý. Công Đồng Triđentinô đã diễn tả niềm xác tín này khi xác nhận là không một ai “có thể tránh được tất cả mọi thứ tội lỗi, ngay cả các tội nhẹ, suốt cả cuộc sống của mình, trừ khi họ được đặc ân riêng, như Giáo Hội chủ trương về trường hợp của Đức Trinh Nữ” (DS 1573). Ngay cả trường hợp người Kitô hữu được ân sủng biến đổi và canh tân cũng không thoát được việc họ vẫn có thể phạm tội. Ân sủng không gìn giữ họ khỏi tất cả mọi thứ tội lỗi trong suốt cuộc đời của họ, trừ khi, như Công Đồng Chung Triđentinô chủ trương, họ được ban cho một đặc ân riêng để bảo toàn tình trạng miễn nhiệm tội lỗi này. Đó là những gì đã xẩy ra nơi trường hợp Mẹ Maria.

Công Đồng Chung Triđentinô không muốn xác định đặc ân này, nhưng lại công bố là Giáo Hội mạnh mẽ khẳng định đặc ân ấy như là một “Giáo điều” (Tenet), tức là Giáo Hội vững tin điều đó. Quyết định ấy, chẳng những không làm giảm giá sự thật này đối với niềm tin đạo hạnh hay đối với chủ trương sùng kính, mà còn xác nhận bản chất của nó như là một giáo điều vững chắc, hoàn toàn hợp với đức tin của Dân Chúa. Hơn nữa, niềm xác tín này được căn cứ vào thứ ân sủng mà thiên thần đã qui về cho Mẹ Maria trong giây phút Truyền Tin. Gọi Mẹ là “đầy ơn phúc”, kecharitoméne, vị thiên thần tuyên nhận Mẹ như là một người nữ được trang bị bằng một sự trọn lành bền bỉ cũng như bằng một mức độ hoàn toàn thánh đức, không hề có một bóng mờ tội lỗi hay bất toàn nào về luân lý hay về tâm linh.

3.- Có một số giáo phụ đầu tiên của Giáo Hội, những vị chưa xác tín về tình trạng thánh đức trọn lành của Mẹ, đã qui cho Mẹ Maria những sự bất hảo hay những khiếm khuyết về luân lý. Một số tác giả gần đây cũng đã chủ trương giống như vậy. Tuy nhiên, các đoạn Phúc Âm được họ trích dẫn để biện minh cho những ý kiến này không có nền tảng vững chắc đối với việc họ qui cho Mẹ của Đấng Cứu Chuộc một tội nào, kể cả một điều bất toàn nào về luân lý.

Câu Chúa Giêsu trả lời cho mẹ của Người vào năm lên 12 tuổi: “Cha mẹ tìm Con làm chi? Cha mẹ không biết rằng Con phải ở trong nhà của Cha Con hay sao?” (Lk 2:49), đôi khi được hiểu như một lời trách móc kín đáo. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ đoạn trình thuật này, chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu đã không trách cứ Mẹ của Người và Thánh Giuse về việc tìm kiếm Người, vì các vị có trách nhiệm phải coi sóc Người.

Sau khi lo lắng tìm kiếm Người, Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu với câu hỏi “tại sao” Người làm như vậy mà thôi: “Hỡi Con, tại sao Con lại đối xử với chúng ta như vậy?” (Lk 2:48). Và Chúa Giêsu đã trả lời bằng một vấn đề “tại sao” khác, không hề khiển trách tí nào, song chỉ có ý nói đến mầu nhiệm vai trò làm con thần linh của Người.

Những lời Người nói ở tiệc cưới Cana cũng vậy: “Này Bà, Tôi với bà đâu có can dự gì? Giờ của Tôi chưa đến” (Jn 2:4), được cắt nghĩa như là một lời khiển trách. Thấy được cái khả dĩ bất lợi gây ra cho đôi tân hôn bởi việc thiếu rượu, Mẹ Maria đã nói với Chúa Giêsu một cách giản dị, ký thác vấn đề cho Người. Mặc dù biết rằng mình là Đấng Thiên Sai buộc phải vâng lời nguyên ý muốn của Cha mà thôi, Người cũng đã đáp ứng điều yêu cầu dụng ý của Mẹ. Trước hết, Người đáp lại đức tin của Vị Trinh Nữ, và bởi thế Người cũng đã thực hiện phép lạ đầu tiên để qua đó Người có thể tỏ vinh quang của Người ra.

4.- Sau này còn có một số đã giải thích cách tiêu cực về lời Chúa Giêsu phát biểu khi Mẹ Maria và họ hàng của Người yêu cầu được gặp Người vào lúc mở màn cho cuộc đời công khai của Người. Thuật lại cho chúng ta nghe câu Chúa Giêsu trả lời với kẻ trình Người rằng “Mẹ của Người và anh em của Người đang đứng ở bên ngoài mong được gặp Người”, Thánh Ký Luca đã cống hiến cho chúng ta một mấu chốt cắt nghĩa cho trình thuật này, một trình thuật phải được hiểu theo những hướng chiều nội tại của Mẹ Maria, những hướng chiều hoàn toàn khác với của các “anh em” Người. Chúa Giêsu đã đáp lại rằng: “Mẹ của Tôi và anh em của Tôi là những người nghe lời Thiên Chúa mà giữ lấy” (Lk 8:21). Ở trình thuật Truyền Tin, Thánh Luca thật sự đã cho thấy Mẹ Maria là mẫu gương lắng nghe lời Chúa và hết sức dễ dạy. Hiểu theo khía cạnh này thì lời Chúa Giêsu đáp trong đoạn Mẹ muốn gặp Con Mẹ là lời hết sức ca ngợi Mẹ, một con người đã hoàn toàn làm trọn dự án thần linh nơi cuộc đời của mình. Mặc dù những lời của Chúa Giêsu có trái ngược với nỗ lực của anh em Người (trong việc họ cố gắng chu toàn dự án của Thiên Chúa như Mẹ Maria - người dịch hiểu ý ĐTC muốn nói ở chỗ này là như thế), những lời ấy cũng ca ngợi lòng trung thành của Mẹ Maria với ý muốn của Thiên Chúa, và ca ngợi vai trò làm mẹ cao cả của Mẹ nữa, một vai trò Mẹ sống chẳng những về phương diện thể lý mà còn về cả phương diện thiêng liêng nữa.

Trong việc bày tỏ lời khen tặng một cách gián tiếp này, Chúa Giêsu sử dụng một phương pháp đặc biệt, đó là Người nhấn mạnh đến tính cách cao quí nơi tác hành của Mẹ Maria theo ý nghĩa của những câu phát biểu tổng quát, và chứng tỏ cho thấy rõ hơn về sự liên kết và gần gũi của Vị Trinh Nữ này với loài người trên con đường nên thánh khó khăn.

Sau hết, những lời “Phúc thay cho ai nghe lời Thiên Chúa mà giữ lấy!” (Lk 11:28), được Chúa Giêsu nói để trả lời cho người đàn bà đã khen Mẹ diễm phúc, chẳng những không gây ra sự nghi ngại về sự toàn thiện bản thân của Mẹ Maria, mà còn làm sáng tỏ việc Mẹ trung thành hoàn tất lời của Thiên Chúa: Giáo Hội đã hiểu những lời này như thế, nên đã đặt câu nói ấy vào việc cử hành phụng vụ để tôn kính Mẹ Maria.

5.- Đặc ân riêng Thiên Chúa đã ban Mẹ, một con người “toàn thánh”, khiến chúng ta phải lên tiếng ca ngợi những kỳ công ân sủng đã thực hiện nơi cuộc đời của Mẹ. Đặc ân riêng này cũng nhắc nhở chúng ta rằng Mẹ Maria luôn luôn và hoàn toàn thuộc về Chúa Kitô, và không có một bất toàn nào có thể tác hại đến tình trạng Mẹ hoàn toàn sống hòa hợp với Thiên Chúa.

Đời sống trần gian của Mẹ do đó đã được đánh dấu bằng một cuộc liên lỉ lớn lên một cách cao quí trong đức tin, đức cậy và đức mến. Như thế, đối với các tín hữu, Mẹ Maria là dấu chỉ sáng ngời tỏ ra Tình Thương thần linh, và là một vị hướng đạo lành nghề dẫn đến những chóp đỉnh thánh thiện và mức thiện toàn của Phúc Âm.


(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ
Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 26/6/1996)

Nguồn: Đức Maria được thoát khỏi tất cả mọi tư tội (http://www.thoidiemmaria.net/THANHMAU/Le%20Kinh%20Me%20Maria/lesinhnhatme.htm)

admin
25-05-2006, 08:05 PM
Ngày 12/9

Lễ Thánh Danh Maria của Đức Mẹ



Huấn Từ Truyền Tin về Lễ Thánh Danh Mẹ Maria và về phong trào Tông Đồ Giáo Dân



Chúa Nhật 12/9/2004 là ngày Giáo Hội cử hành Lễ Thánh Danh Maria của Đức Mẹ theo sắc lệnh điều chỉnh mới của Tòa Thánh ban hành vào Mùa Chay năm 2002. Cũng trong lần điều chỉnh phụng vụ lần hai từ sau Công Đồng Chung Vaticanô II này, Mẹ Maria có thêm một lễ nữa, đó là Lễ Mẹ Fatima 13/5 hằng năm. Tổng cộng mỗi năm Đức Mẹ có tất cả 16 Lễ, ngoại trừ hai Lễ, Lễ Đức Mẹ Guadalupê và Lễ Đức Mẹ Xuống Tuyết. Ngày xưa còn có Lễ Đức Mẹ Chuộc Kẻ Làm Tôi 24/9 nữa.

Riêng Lễ Mẹ Guadalupê 12/12 mới chỉ được tôn kính ở Mỹ Châu, chưa được kính trong Giáo Hội hoàn vũ; và Lễ Cung Hiến Đền Thờ Đức Bà Cả ở Rôma ngày 5/8 cũng gọi là Lễ Đức Mẹ Xuống Tuyết (St Mary ad Nives hay St Mary of the Snow), vì theo truyền khẩu thì Mẹ Maria đã chọn nơi này để xây một nhà thờ cho Mẹ, bằng cách làm một phép lạ cho tuyết rơi xuống ngay vào mùa hè, và hiện ra trong giấc mơ của một nhà quí tộc tên là Gioan, người đã xây dựng nhà thờ ấy trên Đồi Esquiline vào thời giáo hoàng Liberius (352-366), bởi thế Đền Thờ Đức Bà Cả này đầu tiên được gọi là Đền Thờ Liberian.

Lễ Thánh Danh Maria 12/9 của Đức Mẹ được bắt đầu ở Tây Ban Nha vào năm 1513 và vào năm 1671 được lan khắp Tây Ban Nha và Vương Quốc Naples. Vào năm 1683, vua nước Balan là Gioan Sobieski mang quân đến ngoại thành Vienna để ngăn chặn bước tiến của các đạo quân Hồi Giáo trung thành với hoàng đế của họ là Mohammed IV ở Constantinople. Sauk hi ký thác bản thân cho Đức Trinh Nữ Maria, vua và quân Balan đã hoàn toàn đánh bại người Hồi Giáo. Sau đó, Đức Innocent XI (1676-1689) đã truyền cho toàn thể Giáo Hội dâng lễ kính Thánh Danh Maria của Đức Mẹ.

Sau đây là nguyên văn huấn từ truyền tin của ĐTC GPII cho Lễ Kính Thánh Danh Maria của Đức Mẹ.

1. Theo truyền thống xưa kia, hôm nay là ngày lễ kính Thánh Danh Maria. Gắn liền bất khả phân ly với Thanh Danh Giêsu (biệt chú của người dịch: xưa kia được kính vào ngày 3/1), tên gọi này rất ưu ái đối với Kitô hữu, vì nó nhắc nhở tất cả chún g ta về người Mẹ chung của chúng ta. Chúa Giêsu hấp hối đã trao phó cho Mẹ tất cả mọi người như là con cái của Mẹ.

Chớ gì Mẹ Maria canh chừng nhân loại vào thời điểm tràn nay những bùng nổ bạo loạn này đây. Xin Mẹ đặc biệt coi giữ những thế hệ mới là thành phần đáng ước mong để xây dựng một tương lai hy vọng cho tất cả mọi người.

2. Tôi cũng đã nhận thấy nỗi khát vọng thiết tha này hướng về một thế giới công chính và an bình nơi thành phần trẻ em, giới trẻ và người lớn của phong trào Tông Đồ Giáo Dân Ý Quốc, những người Tôi đã gặp gỡ Chúa Nhật vừa qua ở Loreto vào dịp hành hương toàn quốc của họ.

Tôi cám ơn Chúa đã cho Tôi cơ hội để tham dự vào biến cố giáo hội quan trọng này, mà tột đỉnh của nó là việc tôn phong 3 vị tân chân phước: Alberto Marvelli, Pina Suriano and Pere Tarrés i Claret.

Gợi lại chứng từ của các vị, Tôi muốn nhắc nhở anh chị em 3 đòi hỏi mà ở Loreto Tôi đã trao phó cho phong trào Tông Đồ Giáo Dân, đó là “chiêm niệm”, tức tiến bước trên con đường thánh đức; “hiệp thông”, tức bồi dưỡng linh đạo hiệp nhất; “sứ vụ truyền giáo” phải là men phúc âm ở hết mọi nơi mọi chốn.

3. Chớ gì Đức Mẹ giúp cho phong trào Tông Đồ Giáo Dân được tiếp tục nhiệt thành nỗ lực thực hiện chứng từ tông truyền của mình, luôn hoạt động sát cánh với phẩm trật, và tham dự một cách hữu trách vào sinh hoạt giáo xứ cùng việc mục vụ của giáo phận.

Giáo Hội tin tưởng vào sự hiện diện chủ động của phong trào Tông Đồ Giáo Dân cũng như vào việc trung thành dấn thân của nó cho Vương Quốc của Chúa Kitô. Tôi cũng hết lòng tin tưởng phong trào Tông Đồ Giáo Dân và khuyến khích tất cả mọi phần tử của phong trào này hãy trở thành những nhân chứng nhiệt thành loan báo phúc âm vui mừng, mang lại cho xã hội ngày nay niềm hy vọng tìm kiếm an bình.

Nguồn: Lễ Thánh Danh Maria của Đức Mẹ (http://www.thoidiemmaria.net/THANHMAU/Le%20Kinh%20Me%20Maria/lethanhdanhducme.htm)

admin
25-05-2006, 08:10 PM
Ngày 15 tháng 9

Mẹ Đau Thương


http://www.thoidiemmaria.net/Hinh%20Anh/Cac%20Le%20Duc%20Me/MeDauThuong.jpg






Mẹ Maria Liên Kết Bản Thân vào Hy Tế của Chúa Giêsu



1.- Regina ceali laetare, alleluia! (Hãy vui lên, hỡi Nữ Vương Thiên Đàng hãy vui mừng!)
Giáo Hội đã xướng lên như thế trong Mùa Phục Sinh đây, kêu gọi tín hữu hãy dự phần vào niềm vui thiêng liêng của Mẹ Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Niềm hân hoan của Đức Trinh Nữ trong việc Phục Sinh của Chúa Kitô còn cao cả hơn nữa, nếu người ta xét đến việc Mẹ sâu xa tham dự vào cả cuộc sống của Chúa Giêsu.

Trong việc chấp nhận bằng tất cả tấm lòng cởi mở trước những lời của Thiên Thần Gabiên, vị truyền tin cho Mẹ rằng Mẹ sẽ trở nên Mẹ Đấng Thiên Sai, Mẹ Maria đã bắt đầu tham dự vào thảm kịch Cứu Chuộc. Việc Mẹ gắn liền với hy tế Con của Mẹ, được Simêon tiết lộ cho biết ở việc Mẹ dâng Con Mẹ trong Đền Thờ, tiếp tục chẳng những trong đoạn Phúc Âm trình thuật về việc lạc mất rồi tìm thấy thiếu nhi Giêsu 12 tuổi, mà còn suốt cả cuộc đời sống công khai của Người nữa.

Tuy nhiên, việc Đức Trinh Nữ liên kết với sứ vụ của Chúa Kitô chỉ đạt đến tột đỉnh của mình ở Giêrusalem, vào lúc Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Kitô mà thôi. Như Phúc Âm Thứ Bốn chứng thực, Mẹ cũng đã có mặt ở Thành Thánh vào lúc có thể là thời gian cử hành lễ Vượt Qua của người Do Thái.

2.- Công Đồng đã nhấn mạnh đến khía cạnh sâu xa của việc Đức Trinh Nữ hiện diện ở đồi Canvê, khi nhắc nhở rằng: “Mẹ kiên trì một cách trung thành trong việc hiệp nhất với Con Mẹ cho đến chân cây Thập Giá” (Lumen Gentium, 58), và vạch ra cho thấy là cuộc hiệp nhất này “nơi công cuộc cứu độ được bộc lộ từ lúc Chúa Kitô hoài thai cho đến khi chết đi” (cùng nguồn vừa trích dẫn, 57).

Với ánh mắt được soi chiếu bằng ánh quang Phục Sinh, chúng ta hãy lặng thinh để suy niệm về việc Người Mẹ tham dự vào Cuộc Khổ Nạn cứu chuộc của Con mình, một cuộc khổ nạn được hoàn tất bằng việc Mẹ thông phần vào cuộc khổ đau của Người. Một lần nữa chúng ta hãy trở lại, nhưng giờ đây theo quan điểm của biến cố Phục Sinh, với cây Thập Giá là nơi Người Mẹ này đã chịu đựng “cùng với Người Con duy nhất của mình cơn khổ đau thống thiết của Người, bằng việc liên kết bản thân Mẹ với hy tế của Người trong lòng của Mẹ, và bằng việc sẵn lòng đồng ý với việc sát tế của hy vật được Mẹ sinh ra đó” (cùng nguồn vừa dẫn, 58).

Bằng những lời này, Công Đồng nhắc nhở chúng ta về “lòng thương cảm của Mẹ Maria”; tất cả những gì Chúa Giêsu phải chịu đựng nơi thân xác và linh hồn của Người đều dội lại nơi trái tim Mẹ, vì Mẹ sẵn lòng thông phần vào hy tế cứu chuộc của Con Mẹ và liên kết nỗi đau khổ mẫu thân của Mẹ với lễ dâng tư tế của Người.

Bản văn của Công Đồng còn nhấn mạnh rằng việc ưng thuận của Mẹ cho việc Chúa Giêsu sát tế không phải là một việc chấp nhận một cách thụ động, mà là một tác động yêu thương đích thực, một tác động Mẹ thực hiện để hiến dâng Con Mẹ như là một “hy vật” đền bù tội lỗi của tất cả nhân loại.

Sau hết, Hiến Chế Lumen Gentium đã liên kết Đức Trinh Nữ với Chúa Kitô, Đấng đóng vai trò chính yếu trong việc Cứu Chuộc, bằng cách cho thấy rằng trong việc gắn bó bản thân mình “với hy tế của Người”, Mẹ đã đóng vai trò phụ trợ cho Người Con thần linh của Mẹ.

3.- Ở Phúc Âm Thứ Bốn, Thánh Gioan viết rằng “đứng bên Thập Giá của Chúa Giêsu có Mẹ của Người, cùng người chị em của Mẹ Người là Maria vợ Clêôpha, và Maria Mai-Đệ-Liên” (19:25). Sử dụng động từ “đứng”, theo nghĩa đen có nghĩa là “ở trên đôi bàn chân”, là “thẳng đứng”, có lẽ vị Thánh Ký này muốn cho thấy tư cách và sức mạnh được tỏ ra nơi nỗi buồn khổ của Mẹ Maria và của hai người nữ kia.

Việc Đức Trinh Nữ “thẳng đứng” dưới chân Thập Giá đã nhắc lại việc Mẹ không ngừng trung thành và can đảm phi thường khi đối diện với khổ đau. Nơi những biến cố thảm thương ở đồi Canvê, Mẹ Maria vẫn vững tin, một đức tin kiên cường qua những biến cố của đời Mẹ, nhất là trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Công Đồng nhắc lại rằng “Đức Trinh Nữ tiến tới trong cuộc hành trình đức tin của Mẹ và trung thành bảo trì việc Mẹ hiệp nhất với Con Mẹ cho đến chân cây Thập Giá” (Lumen Gentium, 58).

Chia sẻ với những cảm xúc sâu xa nhất của Người, Mẹ đã phản ngược lại những xỉ nhục ngạo mạn nhắm vào Đấng Thiên Sai bị đóng đinh, bằng sự chịu đựng và bằng một tấm lòng thứ tha, liên kết mình với lời Người nguyện cầu cùng Cha: “Xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lk 23:34). Trong việc thông phần vào cảm thức phó mình cho ý muốn của Chúa Cha, qua lời cuối cùng Chúa Giêsu bày tỏ trên Thập Giá: “Lạy Cha, Con xin phó thần trí Con trong tay Cha” (Lk 23:46), Mẹ cũng đã, như Công Đồng ghi nhận, tỏ ra lòng mến yêu ưng thuận của mình “về việc sát tế của hy vật được sinh ra bởi Mẹ ấy” (Lumen Gentium, 58).

4.- Lời “xin vâng” hết mình của Mẹ Maria này đã chiếu tỏa niềm hy vọng tin tưởng nơi một tương lai huyền nhiệm, một tương lai được bắt đầu với cái chết của Người Con tử giá của Mẹ. Những lời Chúa Giêsu dạy các môn đệ trong cuộc hành trình lên Giêrusalem là “Con Người phải chịu nhiều khổ đau, bị các kỳ lão, trưởng tế và luật sĩ loại trừ, rồi bị giết chết, rồi sau ba ngày Người sẽ sống lại” đã vang vọng nơi trái tim Mẹ vào giờ khắc thảm thiết trên đồi Canvê, khi khơi lên niềm mong đợi và hướng vọng Phục Sinh.

Niềm hy vọng của Mẹ Maria dưới chân Thập Giá chất chứa một thứ ánh sáng mạnh hơn thứ bóng tối cai trị nơi nhiều cõi lòng, ở chỗ, trong việc Hy Tế cứu chuộc được thực hiện, niềm hy vọng của Giáo Hội cũng như của nhân loại đã được phát sinh nơi Mẹ Maria.


(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ
Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 9/4/1997)

Nguồn: Mẹ đau thương (http://www.thoidiemmaria.net/THANHMAU/Le%20Kinh%20Me%20Maria/lemedauthuong.htm)

admin
25-05-2006, 08:16 PM
Ngày 8/12



Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội





Mẹ Maria được thụ thai vô nhiễm nguyên tội



1- Đức Maria “đầy ơn phúc” được Giáo Hội công nhận là Đấng “hoàn toàn thánh thiện và không vương nhiễm một tì ố tội lỗi nào”, “từ giây phút đầu tiên trong lòng thai mẫu đã được sáng ngời với một sự thánh thiện trọn vẹn có một không hai” (Lumen Gentium, 56).

Việc nhận biết này đã phải trải qua một tiến trình dài suy tư về tín lý để rồi cuối cùng đã dẫn đến việc long trọng công bố tín điều Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Danh xưng “được đầy ơn phúc”, do thiên thần ngỏ cùng Đức Maria vào lúc Truyền Tin, ám chỉ hồng ân thần linh phi thường ban cho người nữ trẻ Nazarét này liên quan đến vai trò làm mẹ như lời loan báo, thế nhưng, một cách trực tiếp hơn, danh xưng ấy cho thấy hiệu quả của ân sủng thần linh nơi Đức Maria; Đức Maria được tràn đầy ơn phúc bề trong một cách vĩnh viễn nên Mẹ cũng đã được thánh hóa. Danh hiệu kecharitoméne này có một ý nghĩa rất phong phú và Chúa Thánh Thần đã không ngừng làm cho Giáo Hội ngày càng hiểu biết sâu xa hơn.

2- Trong các bài giáo lý trước đây, Tôi đã cho thấy là nơi lời chào của thiên thần, lời diễn tả “đầy ơn phúc” hầu như đóng vai trò như là một tên gọi: đó là tên gọi của Đức Maria trong con mắt của Thiên Chúa. Theo dụng ngữ của các dân Semite (biệt chú của người dịch: chính yếu là Do Thái và Ả Rập, trước đó có cả Assyria và Phonicia) thì tên gọi nói lên thực tại của người và vật mang tên ấy. Bởi thế, danh xưng “đầy ơn phúc” cho thấy chiều kích sâu xa nhất nơi bản vị của người nữ trẻ Nazarét này, ở chỗ, người nữ trẻ Nazarét ấy được ân sủng khuôn đúc và là đối tượng của lòng Thiên Chúa ưu ái, đến độ bản chất của người nữ này được làm nên bởi tấm lòng biệt ái ấy.

Công Đồng Chung Vaticanô II nhắc lại việc các Vị Giáo Phụ ám chỉ về sự thật này khi các ngài gọi Mẹ Maria là “Đấng hoàn toàn thánh hảo”, đồng thời các ngài cũng xác nhận là Mẹ được “Chúa Thánh Thần thực sự khuôn đúc và hình thành như một tạo vật mới” (Lumen Gentium, 56).

Nếu hiểu ân sủng theo ý nghĩa của “ơn thánh hóa” là ơn làm phát sinh thánh đức nơi con người thì ân sủng đã làm cho Mẹ Maria trở thành tạo vật mới, làm cho Mẹ hoàn toàn phù hợp với dự án của Thiên Chúa.

3- Việc suy tư về tín lý bởi thế có thể qui về cho Mẹ Maria một tầm mức trọn lành thánh thiện mà, để hoàn bị, cần phải bao gồm cả giây phút mở màn cuộc sống của Mẹ nữa.

Đức Giám Mục Theoteknos ở Livias miền Palestine, vị đã sống vào khoảng thời gian giữa năm 550 và 650, xem như đã ngả về chiều hướng tinh tuyền nguyên thủy này. Khi trình bày cho thấy Mẹ Maria “thánh hảo và tuyệt mỹ”, “tinh tuyền và vô tì tích”, ngài đã nói đến việc hạ sinh của Mẹ bằng những lời thế này: “Là người bởi đất xét tinh tuyền vô nhiễm, Mẹ được sinh ra như thần cherubim” (Panegyric for the feast of the Assumption, 5-6).

Lời diễn tả vừa rồi, khi nhắc lại việc tạo dựng nên con người đầu tiên, một con người được khuôn đúc bởi đất xét không nhiễm tội lỗi, đã gán cho việc Mẹ Maria vào đời cũng có những đặc tính này, đặc tính nguồn gốc của Mẹ Maria cũng “tinh tuyền và vô nhiễm”, tức là, không có bất cứ một tội lỗi nào. Việc so sánh với thần cherubim cũng nhấn mạnh đến sự thánh thiện trổi vượt làm nên đặc tính của cuộc sống Mẹ Maria từ giây phút hiện hữu đầu tiên của Mẹ.

Chủ trương của giám mục Theoteknos đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc suy tư về tín lý nơi mầu nhiệm của Mẹ Chúa. Các vị Giáo Phụ Hy Lạp và Đông Phương công nhận ân sủng đã làm cho Mẹ Maria tinh tuyền, một là trước biến cố Nhập Thể (Thánh Gregory Nazianzen, Oratio, 38, 16), hai là vào chính giây phút Nhập Thể (Thánh Ephrem, Severian Gabala, James Sarug). Giám mục Theoteknos Livias xem ra muốn thấy Mẹ Maria hoàn toàn tinh tuyền ngay từ khi Mẹ bắt đầu cuộc sống. Thật vậy, vị được ấn định trở nên Mẹ Đấng Cứu Thế phải có một nguồn gốc trọn lành thánh hảo, hoàn toàn vô tì tích.

4- Vào thế kỷ thứ tám, Andrew ở Crete là thần học gia đầu tiên thấy được Mẹ Maria là một tạo vật mới nơi việc vào đời của Mẹ. Nhà thần học ấy lập luận như thế này: “Hôm nay đây (biệt chú của người dịch: hiểu theo ý nghĩa toàn câu văn thì chữ “hôm nay đây” ám chỉ ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ) nhân loại nhận được nét đẹp cổ kính xa xưa của mình, nơi tất cả những gì chiếu tỏa ra từ tính cách cao sang vô nhiễm của họ. Nỗi ô nhục của tội lỗi đã làm tối tăm mù mịt đi ánh quang cùng với nét hấp dẫn của bản tính nhân loại; thế nhưng, khi Người Mẹ của Đấng Tuyệt Mỹ sinh vào đời thì bản tính này đã lấy lại nơi con người của Mẹ những đặc ân xưa kia, cũng như được khuôn đúc theo mẫu thức hoàn hảo thực sự xứng đáng với Thiên Chúa... Việc canh tân bản tính của chúng ta bắt đầu vào ngày hôm nay đây, và cái thế giới già lão, được Thiên Chúa hoàn toàn biến đổi, sẽ lãnh nhận những hoa trái của cuộc tạo dựng lần hai” (Serm. I on the Birth of Mary).

Thế rồi, sử dụng lại hình ảnh đất xét của thuở nguyên khai, nhà thần học này phát biểu: “Thân xác của Đức Trinh Nữ là thứ đất Thiên Chúa đã cầy sới, là hoa trái đầu mùa của thứ đất Adong được Chúa Kitô thần linh hóa, là hình ảnh đúng như vẻ đẹp trước kia, là đất xét được nhào nặn bởi Vị Nghệ Sĩ thần linh”. (Serm I on the Dormition of Mary).

Cuộc đầu thai tinh tuyền và vô nhiễm của Mẹ Maria như thế được coi như mở màn cho việc tân tạo. Đó là vấn đề liên quan đến đặc ân riêng giành cho người nữ được tuyển chọn làm Mẹ Chúa Kitô, Người Mẹ loan báo thời gian viên mãn ân sủng cho toàn thể nhân loại biết như ý Thiên Chúa muốn.

Tín lý này, cũng vào thế kỷ thứ tám còn được Thánh Germanus Contantinople và Thánh John Damascene bàn đến, đã làm sáng tỏ giá trị về sự thánh thiện ngay từ ban đầu của Mẹ Maria, một sự thánh thiện được trình bày cho thấy như mở màn cho việc Cứu Chuộc thế giới.

Như thế, truyền thống Giáo Hội đã thấm nhuần và làm sáng tỏ ý nghĩa đích thực của danh xưng “đầy ơn phúc” như thiên thần đặt cho Đức Thánh Trinh Nữ. Mẹ Maria đầy ơn thánh hóa và đầy ơn thánh hóa này ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc sống. Ơn thánh hóa này, theo Thư gửi Giáo Đoàn Êphêsô (1:6) là ơn được ban trong Chúa Kitô cho tất cả mọi tín hữu. Sự thánh thiện ngay từ ban đầu của Mẹ Maria là tiêu biểu cho một thứ mẫu mực thượng đẳng về tặng ân, cũng như tiêu biểu cho việc phân phát ân sủng của Chúa Kitô trên thế gian.



(ĐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 15/5/1996,

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 22/5/1996)



Nguồn: Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (http://www.thoidiemmaria.net/THANHMAU/Le%20Kinh%20Me%20Maria/lemevonhiem.htm)

admin
31-08-2006, 02:58 PM
70 BÀI GIÁO LÝ VỀ ĐỨC MARIA


CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II


Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ

Bài 1: Đức Maria là mẫu gương thánh thiện cho Giáo Hội
Bài 2: Đức Maria là Mẹ đồng trinh của Thiên Chúa
Bài 3: Đức Maria hợp nhất với chúa Giêsu trên thánh giá
Bài 4: Giáo Hội càng ngày càng thêm hiểu biết vai trò của Đức Maria
Bài 5: Tôn kính Đức Maria là đi tới Chúa Giêsu
Bài 6: Đức Maria là gương mẫu sự thinh lặng trường kỳ
Bài 7: Đức Maria chứng tỏ Thiên Chúa nể trọng người nữ
Bài 8: Đức Maria rọi soi ánh trên sáng vai trò người nữ
Bài 9: Giáo huấn công đồng về Đức Maria thật phong phú và tích cực
Bài 10: Chỗ đứng Đức Mẹ cao nhất sau Chúa Kitô
Bài 11: Tương quan của Đức Maria với tương quan Thiên Chúa
Bài 12: Chiến thắng tội lỗi đến từ một người nữ
Bài 13: Lời tiên tri ngôn sứ Isaia được hoàn thành trong nhập thể
Bài 14: Chức làm mẹ là một ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa
Bài 15: Vai trò không thể thiếu của người nữ trong lịch sử cứu rỗi
Bài 16: Người nữ lý tưởng là một kho tàng quý báu
Bài 17: Thiên Chúa luôn trung tín với giao ước của người
Bài 18: Đức Maria đáp ứng lại Chúa với tình yêu vợ chồng
Bài 19: Đức Trinh Nữ Rất Thánh được tràn đầy ân sủng Chúa
Bài 20: Đức Maria thụ thai không mắc tội tổ tông
Bài 21: Mối thù của Đức Mẹ với Satan là tuyệt đối
Bài 22: Ân sủng Chúa Kitô đã gìn giữ Đức Maria khỏi tội
Bài 23: Vô nhiễm thai được Đức Piô IX định tín
Bài 24: Đức Maria được giải thoát khỏi mọi tội cá nhân
Bài 25: Đức Maria tự do cộng tác với chương trình Thiên Chúa
Bài 26: Sự thụ thai còn đồng trinh là một sự kiện thuộc sinh vật học
Bài 27: Đức Mẹ chủ ý ở đồng trinh
Bài 28: Người Con đời đời của Thiên Chúa cũng được sinh ra bởi Đức Maria
Bài 29: Sự lựa chọn của Đức Maria được gợi hứng sự đồng trinh tận hiến
Bài 30: Đức Maria và Thánh Giuse đã sống ơn đồng trinh
Bài 31: Giáo hội giới thiệu Đức Maria là "Người nữ trọn đời đồng trinh"
Bài 32: Đức Maria là gương mẫu tuyệt vời trong việc phục vụ
Bài 33: Đức Maria, bà Eva mới, đã vâng lời Chúa cách tự do
Bài 34: Sự thăm viếng mở đầu cho sứ mạng Chúa Giêsu
Bài 35: Đức Maria hát ca ngợi lòng nhân từ của Chúa
Bài 36: Giáng sinh cho thấy Đức Maria ở gần Chúa Giêsu
Bài 37: Giáo Hội tuyên xưng Đức Maria là "Mẹ Thiên Chúa"
Bài 38: Đức Trinh Nữ rất thánh là mẫu gương trọn hảo
Bài 39: Ông Simêon được khai mở theo hành động của Thiên Chúa
Bài 40: Vai trò của Đức Maria trong sứ mạng cứu rỗi của Chúa Giêsu
Bài 41: Chúa Giêsu kêu gọi các người nữ chia sẻ sứ mạng của mình
Bài 42: Đức Maria hợp tác bằng sự đích thân vâng lời
Bài 43: Đời sống ẩn dật của Đức Maria là gương mẫu cho các bà mẹ
Bài 44: Chúa Giêsu làm phép lạ vì Đức Maria xin
Bài 45: Đức Maria đã xin Chúa Giêsu thực hiện phép lạ đầu tiên tại Cana xứ Galilê
Bài 46: Vai trò của Đức Maria trong sứ vụ công khai của Chúa Giêsu
Bài 47: Đức Maria tự kết hợp với của lễ của Chúa Giêsu
Bài 48: Sự hợp tác của Đức Maria là hoàn toàn có một không hai
Bài 49: Chúa Giêsu nói với người môn đệ: "Nầy là Mẹ con"
Bài 50: Sự sùng kính Đức Maria đặt nền tảng trên ý muốn của Chúa Giêsu
Bài 51: Đức Maria là nhân chứng toàn bộ mầu nhiệm Phục Sinh
Bài 52: Đức Maria cầu xin Chúa Thánh Thần xuống
Bài 53: Đức Maria và thảm cảnh sự chết của con người
Bài 54: Giáo Hội tin sự quy thiên của Đức Maria
Bài 55: Đức Maria là thụ tạo đầu tiên vui hưởng sự sống đời đời
Bài 56: Người Kitô hữu nhìn lên Đức Nữ Hoàng Maria
Bài 57: Đức Maria là thành phần ưu việt của giáo Hội
Bài 58: Đức Maria là hình ảnh nổi bậc của Giáo Hội
Bài 59: Đức Maria là gương sáng đối với chức làm mẹ của Giáo Hội
Bài 60: Đức Maria hoàn toàn trung thành với chân lý mạc khải
Bài 61: Đức Maria: mẫu gương Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến
Bài 62: Đức Maria: mẫu gương cầu nguyện cho Giáo Hội
Bài 63: Đức Trinh Nữ rất thánh là Mẹ giáo Hội
Bài 64: Đức Maria là Mẹ thiêng liêng phổ quát
Bài 65: Sự trung gian của Đức Maria xuất phát từ sự trung gian của Chúa Kitô
Bài 66: Đức Maria luôn luôn được sùng kính cách đặc biệt
Bài 67: Người tín hữu tôn kính Đức Maria với tình con thảo
Bài 68: Giáo hội thúc giục các tín hữu tôn kính Đức Maria
Bài 69: Chúng ta có thể cậy vào sự bàu chữa của Đức Maria
Bài 70: Những anh em ly khai cũng tôn kính Đức Maria