PDA

View Full Version : Chiến thắng sự chết


admin
22-03-2008, 08:59 PM
...

CHƯƠNG XII : CHIẾN THẮNG SỰ CHẾT

“Descendit ad inferos”

Thể xác đã nằm trong lòng đất, nhưng linh hồn Chúa đã đi đâu. Có lẽ những môn đệ Chúa sẽ tự đặt câu hỏi đó, từ ngày thứ bảy tuần thánh, lúc họ không còn ở bên cạnh Chúa, họ bị suy sụp vì nổi bất hạnh vào đêm hôm trước, họ chỉ có thể nói chuyện về Người trong từng nhóm. Sau này, khi sự kiện Phục sinh đã trả lại cho họ niềm hi vọng, có lẽ họ được chính thầy thông báo cho biết, họ đã trả lời được vấn nạn trên. Theo truyền thống, theo các bài viết của các tông đồ, hình như thánh Phaolô biết và thánh Phêrô báo cáo lại: sau tiếng kêu cuối cùng, linh hồn Chúa Giêsu đã không bay về với Thiên Chúa Cha, nhưng vì vẫn theo đuổi công trình cứu chuộc, linh hồn Ngài đã xuống luyện ngục, nơi mà những con người sống trước thời kì Đấng Cứu Thế đang luôn mong đợi sự giải thoát.” Một khi sống lại, linh hồn Ngài đã đi rao giảng cho các linh hồn bị giam cầm, và những linh hồn thù địch trước kia” (Thư thứ nhất của Phêrô, III,19); “Tin Mừng cũng đã được loan báo cho những kẻ chết” ( nt.IV,6).
Giáo hội đã giữ lại việc rao giảng Tin Mừng ở luyện ngục trong một câu trích từ Tín Điều các Tông đồ được đúc kết lại bằng những truyền thống xa xưa nhất; vì thế nó thuộc về đức tin. Descendit ad inferos. Hình như người ta không hài lòng về việc các tác giả Tin Mừng đã không đá động gì đến tình tiết này! Tác giả thứ tư đã không rút ra được những vẻ đẹp nào? Để làm thoả mãn phần nào tính tò mò của chúng ta, chúng ta nên quay sang các tác giả Nguỵ thư, với tất cả sự dè dặt cần thiết và nhiều hoài nghi. Tác phẩm “Những bài thơ ca ngợi Salomon”, bản văn Ki tô giáo của 1 phần tư đầu thế kỉ thứ hai, có nhắc đến biến cố. Trong Tin Mừng thánh Phê rô, chúng ta đọc thấy: “ Những nhân chứng của sự kiện Phục sinh nghe trên trời một tiếng phán rằng: “ Ngươi có loan báo cho những người đang ngủ phải tuân lệnh hay không? Và có tiếng đáp lại từ thập giá: - Vâng!” Chúng ta không được cho biết nhiều hơn nữa và điều thường xảy ra trong văn chương nguỵ tạo, đó là chúng ta bắt gặp ở đây một chi tiết lạ lùng và hầu như phi lí, vì Chúa Ki tô không còn ở trên thập gía vào lúc Phục sinh.
Nhưng chính trong Tin Mừng thánh Nicodeme lại có những chi tiết lạ lùng nhất. Cũng nên nêu ra toàn bộ trang này; nó cũng đáng để nói. Người kể quy câu chuyện cho hai cái bóng im lặng: Carinus và Leucius, những người con của thánh Siméon luống tuổi, đã chết lúc xảy ra sự kiện Phục sinh và được sống lại trong lúc diễn ra những hiện tượng lạ lùng đi kèm theo cái chết và sự Phục sinh của Chúa Ki tô. Đây chỉ là một bản văn văn học, không có chút giá trị nào về tín lí, nhưng chúng ta không thể phủ nhận vẻ đẹp lạ lùng của nó.
“ Khi chúng tôi đang yên nghỉ cùng với các tổ phụ trong bóng tối của sự chết, thình lình chúng tôi bị bao phủ bởi một ánh sáng rực rỡ như ánh sáng mặt trời. Aùnh sáng vương giả chiếu rọi vào chúng tôi. Ngay lúc đó Adam, người cha của toàn thể nhân loại, nhảy mừng cùng các tổ phụ và các đấng tiên tri. Họ lớn tiếng: - Hỡi ánh sáng! Chính tác giả của ánh sáng vĩnh hằng đã hứa ban cho chúng ta một thứ ánh sáng không lụi tàn! Tất cả những người công chính của Lề luật xưa vui sướng, trong lúc chờ đợi lời hứa được thực hiện. Tuy nhiên Địa ngục đang lo lắng: vị vua của Tartare run sợ vì thấy xuất hiện đấng đã từng làm lung lay quyền năng của y khi cho Lazarô sống lại.- Khi nghe đến sức mạnh của lời phán, y nói, tôi đã run sợ. Chúng tôi đã không thể giữ lại Lazarô: vì thoát khỏi tay chúng tôi, nhanh nhẹn như chim đại bàng bay, ông đã vuột ra khỏi tay chúng tôi. “ Khi y đang nói thế, một giọng nói cất lên, nghe như tiếng sấm, hay tiếng gầm của cơn giông bão, - hỡi những cánh cửa, hãy nâng những đỉnh chóp ra! Hãy mở rộng ra, hỡi những cánh cửa của Đấng Vĩnh hằng, vì Vị Vua Vinh hiển sẽ bước vào! Rồi thủ lãnh của Địa ngục nói với các bộ hạ báng bổ: - Hãy đóng các cửa đồng lại: hãy đẩy những then sắt và chiến đấu một cách dũng mãnh!
“ Một lần nữa vang vọng lên tiếng nói như sấm sét: - Hỡi những cánh cửa, hãy nâng các đỉnh chóp lên! Hãy mở rộng ra, hỡi những cánh cửa của Đấng Vĩnh hằng, Vua Vinh hiển sẽ bước vào… rồi vị Chúa tể uy nghi xuất hiện dưới hình một người đàn ông: ông chiếu sáng bóng tối vĩnh cửu và làm đứt các dây buột, và bóng dáng vô địch của ông đến thăm chúng tôi, khi tất cả chúng tôi đang ngồi trong hố thẳm tăm tối của khuyết điểm, trong bóng tối chết chóc của tội lỗi.
“ Thủ lĩnh của Tartare, Thần Chết, và tất cả các binh đoàn của Địa ngục kinh hoàng khiếp sợ: - Ngài là ai? Họ kêu to với Chúa Giêsu. Ngài từ đâu đến? Nhưng Người không thèm trả lời.
“ Bấy giờ vị Vua Vinh hiển, sau khi đè bẹp Thần Chết dưới chân, và tóm lấy Satan, đã tước bỏ toàn bộ quyền lực của Địa ngục. Người đưa Adam ra ánh sáng. Và Thiên Chúa phán: - Hãy đến với ta, hỡi tất cả những đấng thánh của ta, tất cả các con là hình ảnh của ta. Bấy giờ, tất cả các thánh tập hợp dưới bàn tay Thiên Chúa và cất tiếng hát, họ hát bài ca tụng Người. David, Habacuc và tất cả các tiên tri xướng lên những khúc hát xưa trong đó các ngài đã loan báo trước, bằng những lời nói huyền nhiệm, điều sẽ được thực hiện trong ngày này. Được Tổng lãnh thiên thần Michel hướng dẫn, họ tiến vào Thiên đàng, nơi họ được mong đợi bởi Henoch và Elie, hai người công chính không bị cái chết khuất phục, và kẻ trộm tốt lành đang mang dấu thánh giá trên vai.”

admin
22-03-2008, 08:59 PM
Thật vô ích nếu chúng ta nắm bắt cái trang sách lãng mạn này theo nghĩa đen. Truyền thống Nguỵ thư mong muốn các con trai của Siméon cư ngụ tại Arimathie sau khi sống lại, chuyện kể này được lưu giữ trong các cộng đồng Palestine. Chúng ta không biết rõ điều đó. Nhưng, nếu như nó không được coi là linh ứng, theo ý nghĩa của giáo luật, nó vẫn được coi là linh ứng trong ý nghĩa văn học, nó đã là một trong những nguồn cảm hứng nâng cao tâm hồn những nhà thị kiến lãng mạn nổi tiếng từ Isaia đến Dante. Chúng ta cũng biết thời Trung Cổ đã đánh giá nó rất cao và thời này đã vay mượn trong Nguỵ thư biết bao đề tài nhằm trang trí cho các thánh đường, những bậc thầy làm thuỷ tinh nhờ đó đã sáng tác ra những công trình mỹ thuật như các kính ghép màu ở Tours và Bourges.
Cho dù không nhắc lại một cách công khai sự kiện đi xuống Luyện ngục, nhưng hình như phụng vụ Ki tô giáo trong các lễ nghi của ngày thứ bảy Tuần thánh vẫn đáp ứng một cách huyền nhiệm. Vào ngày này, Giáo Hội li khai thuộc phụng vụ byzantin, cử hành nghi thức làm phép lửa: trong Vương cung thánh đường Mộ thánh, tăm tối, ngọn lửa bùng lên, ngay nơi Chúa Giêsu đã nằm và sau khi thắp lên hàng ngàn cây nến, đèn sáp, đèn dầu từ ngọn đuốc do vị giáo trưởng giơ cao, đám đông các tín hữu biến thành một đại dương lập loè ánh sáng như để nhắc lại giờ khắc những kẻ đang nằm” trong bóng đêm của sự chết” nhìn thấy ánh sáng cứu chuộc đang toả xuống thân xác họ. Từ 40 năm qua, ngọn lửa vẫn còn cháy sáng nơi Mộ thánh này đã được mang đi từng chặng theo vó ngựa đến tận Athens, Byzance, Kiev và Moscou. Trong Giáo Hội Công giáo, tất cả những lễ nghi vào ngày này hình như chỉ có một mục đích: liên kết với những lời hứa giải thoát cho linh hồn của toàn thể nhân loại, những linh hồn của hôm qua và ngày mai; các kinh cầu ca ngợi sự vinh hiển của tất cả các thánh; các bài đọc của 12 thánh tiên tri khiến cho mọi người nhớ lại lề luật xưa: Adam, Noé, Abraham, Moise, các Tiên tri; trong các cộng đồng nguyên thuỷ, đó là ngày ban phép thánh tẩy cho những người dự tòng, và trong khi làm phép nước nhằm phục vụ cho việc thi hành các bí tích trong suốt năm, Giáo hội tập hợp trước hết mọi Ki tô hữu sẽ sinh ra trong cùng niềm xác tín cứu rỗi. Là ngày cuối cùng của “Tuần thánh”, ngày này nhuộm màu tang tóc của ngày hôm trước, nhưng giống như bài kinh nguyện của thánh lễ nhắc đến, cái “đêm cực thánh” này được chiếu sáng bằng sự Phục sinh vinh hiển.

admin
22-03-2008, 09:00 PM
ÁNH SÁNG BUỔI SÁNG CHÚA NHẬT.


Chúng ta muốn có được ngôn ngữ của các nhà thơ để bước vào câu chuyện kể chứa đựng một trong những tình tiết đẹp nhất và gây bối rối nhất: “ Biến cố trọng tâm của toàn bộ Lịch sử” Bossuet nói. Ở đây, cũng như ở thời khắc chúng ta nhắc nhớ lại lễ Noel và những nét hấp dẫn của nó, một thế giới đầy kỉ niệm nảy sinh trong chúng ta từ quá khứ sâu thẳm, lễ Phục sinh của tuổi ấu thơ chúng ta, Phục sinh ở các ngôi làng, nơi mà một khi được đánh thức bởi tiếng chuông lãnh lót, mỗi người chúng ta cảm thấy một niềm an ủi bất ngờ, niềm sung sướng vô thức và an bình biết bao, ngày mà những kẻ không tin đạo vẫn còn mừng lễ, nó còn là một ngày nghỉ bổ sung trên tấm lịch thế tục nhất. Lễ của lời hứa vĩnh cửu này thuộc về cái cốt lõi của nền văn minh Phương Tây, và vì thế một dân tộc cho dù không hiểu tí gì về ý nghĩa của nó vẫn còn tham gia vào điều mầu nhiệm nhất trong những mầu nhiệm, điều mầu nhiệm đó, theo thánh Phaolô, “làm cho chúng ta ngồi cùng với Chúa Ki tô trong nước Trời”.
Ngày Sabbat đã kết thúc vào chiều thứ bảy, khi mặt trời lặn. Sáng Chúa nhật người ta có thể đi đâu tuỳ thích mà không phạm Lề luật và nếu có thể được, người ta còn săn sóc cho thể xác để lại huyệt mộ quá vội vàng vào ngày hôm kia.
Các môn đệ của Chúa Giêsu đã làm gì từ thảm hoạ bắt bớ Thầy? Ngoài Gioan là người dám phiêu lưu trên đồi Calvaire, tất cả đã nhượng bộ cho nỗi sợ hãi nên lẫn trốn. Truyền thống cho rằng thánh Jacques ẩn mình trong một ngôi mộ giữa nghĩa trang Josaphat, một huyệt mộ được đào trong vách đá dựng đứng, và người ta vẫn còn chỉ rõ chỗ trú ẩn này có trang trí bằng một hành lang với những cây cột mạ vàng, “ngôi mộ Hesir”. Trong Tin Mừng nguỵ tác được cho là của thánh Phêrô, chúng ta đọc thấy: “ Tôi và các bạn đồng hành, sầu não tận đáy lòng, chúng tôi đã đi trốn, vì người ta đang tìm kiếm chúng tôi như những kẻ bất lương, những kẻ bị nghi ngờ muốn phóng hoả Đền thờ. Ngồi bó gối trong nước mắt và tang tóc, chúng tôi nhịn đói…” Thánh Marc cũng đã cho biết họ “buồn sầu và khóc lóc” (Marc XVI,10). Không còn gì nữa. Phải làm gì đây? Mọi niềm hi vọng nhân loại hình như vô ích. Một vài người chuẩn bị lên đường đi Galilê. “Tất cả các con sẽ bị nản lòng vì Ta, Thầy đã tiên đoán, vì có lời chép: người ta sẽ đánh kẻ chăn chiên và các con chiên sẽ bị tan tác.” (Marc,XIV, 27).
Hai chị em Maria, Salomé, Jeanne vợ của Chuza cũng đã phản ứng lại biến cố giống như các phụ nữ có thói quen làm. Họ lại tiếp tục công việc, cam chịu những gì thuộc về vai trò của họ. Ngày Sabbat kết thúc, họ đã chuẩn bị nước thơm và các loại hương liệu, có thể họ dùng cối giã tán nhỏ cây cam tùng, kinh giới hoặc lô hội, nhưng trong ngày Sabbat, họ vẫn nghỉ ngơi theo luật dạy (Luc, XXIII, 56). Ngày của Chúa kết thúc, họ không đi ra ngoài ngay vào chiều thứ bảy: đồi Golgotha ảm đạm không phải là nơi mà họ thích phiêu lưu vào ban đêm. Nhưng từ tảng sáng (Tin Mừng ghi rõ chi tiết), các bà vội vàng lên đường đi đến huyệt mộ , vì họ nghĩ Chúa Giêsu, người mà họ yêu mến đang nằm ở đó. Người ta tưởng tượng một ban mai tháng tư sáng sủa, mùa xuân làm cho chân trời Palestine trong sáng tinh tuyền: về phía đông, bên trên các mái nhà thành phố, chân trời màu trắng đục nhuộm màu ngọc trai trong khi ở phía tây màn đêm lùi dần nhưng vẫn còn để lại đường viền màu tím hoa cà và nâu xám trên các ngọn đồi. “ Bình minh có đôi mắt nâu” như Virgile từng ca tụng, “ Aùnh rạng đông với những ngón tay màu hồng” thân thiết với lão già Homere: hình như trong những giây phút đặc biệt này toàn bộ thiên nhiên tràn trề một lời hứa khôn tả và trong tâm hồn bất hạnh nhất của con người vẫn còn reo lên lời kêu gọi của Aân sủng Thiên Chúa.
Bốn tác giả Tin Mừng đã kể lại mỗi người mỗi cách ngôi mộ được các phụ nữ thánh thiện tìm thấy trống không như thế nào. Họ nhất trí cho rằng các biến cố mầu nhiệm được mạc khải trước tiên cho các phụ nữ : vì họ can đảm hơn, vâng phục nhiều vào tình yêu hơn vào sự dè dặt của họ và có lẽ nhờ bản tính, họ cũng có khả năng đi sâu vào những sự kiện mà lí trí phân tích kém và vô thức của họ cảm nhận với một niềm xác tín lạ lùng. Dù sao, lòng tin và trực giác của họ đã dẫn dắt họ.
Họ đi lên huyệt mộ. Họ vẫn còn rất lo lắng và đau khổ vì những biến cố của ngày hôm kia. Họ chế ngự nỗi sợ hãi nhưng họ thật sự can đảm; và trong khi lên đường vào lúc tảng sáng, một lần nữa mặt đất lại rung chuyển: người ta nghe một tiếng rền giống như tiếng sấm, nhưng hình như đến từ thành phố sát bên, từ các vùng phụ cận Giêrusalem.
Những tín đồ anh hùng này là những ai? Tất cả các tài liệu đều chấp nhận vị trí hàng đầu dành cho Maria Madalêna, cô gái của thị trấn Magdala, người mà Chúa Giêsu đã buộc bảy quỉ dữ phải xuất ra và đã ban cho cuộc sống. Chỉ có thánh Gioan nêu tên bà; ba Tin Mừng Nhất Lãm, các Nguỵ Thư nêu rõ tên bà. Hình như bà chạy nhanh hơn các bà khác, vì được thôi thúc bởi một đức tin và niềm hi vọng siêu phàm. Chạy theo phía sau cũng là một nhóm nhỏ sốt sắng, Marie khác, mẹ của Jacques, và Salomé, Jeanne, tổng cọng có đến năm hoặc sáu người. “ Và họ kháo nhau: Ai sẽ đẩy tảng đá lấp cửa mồ cho chúng ta đây?” (Marc, XVI, 1,3). Các bản viết tay xưa còn thêm: “ Phải đến 20 người đàn ông mới có thể di chuyển được tảng đá ra một tí.”

admin
22-03-2008, 09:01 PM
Khi đến huyệt mộ, các bà nhìn thấy ngôi mộ mở ra: “ tảng đá bị lăn ra phía ngoài mộ” (Luc,XXIV,2) và bên trong, thi thể không còn nằm trong hốc nữa. Đã xảy ra chuyện gì? Thánh Matthieu có nói: “ Một thiên thần Chúa từ trời xuống và lăn tảng đá ra”; mặt đất rung chuyển vào tảng sáng, đó là việc làm của thiên thần. Hình dáng của thiên thần giống như ánh chớp; quần áo của ngài trắng, chói lọi như tuyết. Vừa trông thấy, “ bọn lính canh kinh hoàng khiếp sợ và trở nên giống như chết” (Matt, XXVIII,2,4). Đó là tất cả những gì Tin Mừng tường thuật về phép lạ này. Cảnh tượng lạ lùng với Chúa Giêsu bước ra khỏi mồ phía trên bọn lính canh nằm la liệt đã được Murillo, một trong số nhiều hoạ sĩ, mô tả trong tuyệt tác Phục sinh, sự kiện đó hầu như chỉ được gợi lại một cách hết sức giản dị bằng hai từ.
Cần chú ý kỉ sự kiện đó: chính sự kiện Phục sinh đã không được bất cứ tác giả Tin Mừng chính thức nào thuật lại. Nó trở thành đề tài cho những phóng tác đa dạng của những nhà văn luôn bận tâm đến tính cách sống động lôi cuốn đông đảo quần chúng. Để đánh giá đầy đủ tính cách giản dị này, nên đọc điều mà các Nguỵ Thư đã viết. Trong Tin Mừng thánh Phêrô, sự kiện đó trở thành: “ Ban đêm khi ánh sáng bình minh ló dạng, trong khi quân lính đang canh gác, mỗi phiên hai người, một tiếng nói to vang vọng trên bầu trời, và họ nhìn thấy bầu trời mở ra, hai người đàn ông sáng chói hiện xuống và đến gần ngôi mộ. Tảng đá chặn cửa lăn ra nằm bên cạnh: ngôi mộ mở ra, và hai người thanh niên đi vào. Khi trông thấy cảnh tượng đó, lính canh liền đánh thức viên đội trưởng và các kì mục, những người này cũng đang canh gác ở đó. Giống như lính canh mô tả điều họ đã trông thấy, họ cũng nhìn thấy một lần nữa ba người đàn ông bước ra khỏi mồ, hai người nâng đỡ người thứ ba, và thánh giá đi theo sau họ. Đầu của hai người dìu đỡ đụng đến bầu trời, và đầu người được dìu đỡ vượt quá bầu trời.” So với chuyện ba hoa mang màu sắc thị kiến này, có lẽ chúng ta chuộng tính cách khô khan của thánh Matthieu hơn.
Kinh hãi vì thân thể Chúa biến mất, và nhận thấy các lính canh không còn ở đó nữa, các phụ nữ thánh thiện tỏ ra bối rối, hết sức lo sợ. Madeleine, người nhanh nhẹn nhất (qua việc này người ta có thể đoán là một thiếu nữ) vội chạy đi báo tin cho các môn đệ (Jean XX,2). Những người khác đều có mặt ở đó, người bên trong mồ, người gần cửa ra vào. Sau một lúc lo lắng, rồi đột nhiên, “ hai người đàn ông mặc áo dài sáng chói, hiện ra trước mặt các bà”. Họ nghiêng mình, phủ phục xuống đất, lo sợ. Nhưng các thiên thần liền nói với họ: “ Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết? Người không còn ở đây, vì Người đã sống lại. Hãy nhớ lại điều mà Người đã từng nói với các bà trước kia tại Galilê: Con Người phải bị giao nộp vào tay những kẻ tội lỗi, phải bị đóng đinh thập giá và sẽ sống lại vào ngày thứ ba.,” (Luc XXIV, 4,7). Thánh Matthieu và thánh Marc chỉ nói đến một thiên thần duy nhất, nhưng ý nghĩa của việc nhìn thấy đều giống nhau. Chúa Giêsu đã sống lại.
Tuy nhiên Madaleine đã tìm được các tông đồ, kể lại cho họ biến cố xãy ra. Rồi trong cơn phấn khích dễ hiểu, những người khác cũng đến và mang về chứng cớ giống nhau. Thánh Marc và thánh Luca thẳng thắn ghi nhận phản ứng ban đầu của các môn đệ là nghi ngờ: người ta hoài nghi những câu chuyện của các bà! “ Chuyện ngồi lê đôi mách, những chuyện bép xép vô bổ biết chừng nào!” Tuy nhiên Phêrô muốn nhìn thấy tận mắt: ông chạy đến mồ; một môn đệ khác chạy theo ông, có lẽ Gioan, người không được nêu đích danh vì khiêm tốn; vì người thứ hai chạy nhanh hơn, ông đã chạy đến mồ trước (Jean XX,4). Tất cả đều đúng như lời các bà đã nói: khăn liệm được đặt dưới đất, tảng đá đã bị di chuyển. Phêrô đến, ông cũng đã nhận thấy như thế. Trong góc ngôi mộ, vải liệm bọc lấy xác Chúa Giêsu được cuốn lại. Lúc bấy giờ, trong cơn bối rối, bất chợt họ cảm thấy tâm hồn họ rộn lên niềm tin tưởng. Họ chưa hiểu Kinh Thánh đã được thực hiện, lời hứa về sự sống lại do Thầy loan báo được tuân giữ, mặc dù rất bối rối, nhưng tâm hồn họ cảm nhận một nguồn an ủi bí mật.
Chỉ còn lại ngôi mộ. Không, Madeleine vẫn luôn ở đó. Tình yêu siêu phàm này đã dẫn dắt bà đến mồ đầu tiên, và không cho phép bà rời xa nóù. Bà có biết Chúa Giêsu có thật sự sống lại hay không? Có lẽ không, bà không nghĩ ngợi gì cả; bà khóc. Thế là bà được thị kiến. Hai thiên thần mặc y phục trắng ở trong phòng dưới mặt đất, một vị ngồi tại nơi đặt xác Chúa và vị kia tại vị trí đầu thi thể Chúa. Các thiên thần hỏi bà: “ – Tại sao bà lại khóc? Bà liền đáp: - Người ta đã lấy đi xác Chúa tôi, và tôi không biết người ta để xác Ngài ở đâu. Vừa nói xong những lời này, bà liền quay lại phía sau: một người đàn ông đang đứng. Bà không biết kẻ đó là ai. Người đó hỏi bà: - Này bà, tại sao bà khóc? Bà tìm ai? Và bà tưởng đó là một người làm vườn trông nom nghĩa địa.- Nếu ông đã đem xác Ngài đi, hãy cho tôi biết ông đã để xác Ngài ở đâu, tôi sẽ đi lấy. Bấy giờ người lạ chỉ thốt lên một tiếng: - Maria! Và bà nhìn ngắm Ngài, bà đã nhận biết; bà chạy về phía Ngài và thì thầm: - Rabboni (tiếng Do thái) Lạy Thầy!” Sự thật đã chinh phục bà hoàn toàn. Chúa Giêsu đã phục sinh. Cảnh tượng thống thiết có tính hiện thực mãnh liệt và lạ lùng biết bao! Trường phái Italia rất thích chọn cảnh đó làm để làm đề tài khiến trí nhớ chúng ta khó quên: Chúa Giêsu, đứng thẳng, trong một cảnh trí lộng lẫy đang chúc lành cho Madeleine quỳ bên phải Người; Giotto, Duccio, Lorenzo de Credi, Raphael cũng đã nhìn thấy như thế và Corrège, người mà chúng ta bỏ qua cho hình ảnh Đức Ki tô mờ nhạt vì ánh sáng đáng khâm phục bao trùm trên bức hoạ của ông. Chỉ một tiếng nói cũng đủ để trấn an Maria, nó đánh thức tính xác thực của đức tin của bà, có người Ki tô hữu nào lại không mơ ước lắng nghe từ thuở đời đời tiếng mà Thiên Chúa kêu gọi chúng ta và chúng ta không nghe vì bị điếc?

admin
22-03-2008, 09:01 PM
“TERTIA DIE RESURREXIT A MORTUIS.”

Giai đoạn thứ hai đang mở ra trong đời sống Chúa Giêsu. Một khi vượt qua cái chết như vượt qua một hẻm vực khủng khiếp, Ngài đã hiện lên trong ánh sáng chan hoà vào buổi sáng lễ Vượt qua: Người sẽ hiện diện trở lại trên trần thế trong bốn mươi ngày, sống giữa các môn đệ, giảng dạy và soi sáng cho họ như trước kia. Sự khẳng định này được Ki tô giáo nêu lên như một trong những nền tảng của mình và tín điều của các tông đồ cũng như của Công đồng Nicé nhắc lại một cách long trọng. Sự khẳng định đó công kích thẳng thừng điều mà chủ nghĩa duy lí có thói quen xem như là có thể và xác thực. Đối với những ai phủ nhận vai trò của siêu nhiên trong tự nhiên, tín điều Phục sinh chỉ là một tai tiếng, một chuyện huyền thoại. Nhưng đối với những ai biết sự giải thích tối hậu về vũ trụ không thuộc về tại sao và như thế nào, nó là dấu chỉ của những dấu chỉ, nó tóm tắt và biện minh cho những mầu nhiệm chúng ta đang sống. Chuyện kể về cuộc sống thứ hai của Chúa Giêsu dựa trên nhiều bản văn Tân Ước; bốn Tin Mừng tường thuật những sự kiện đó và được chứng thực bởi toàn bộ các Thư của thánh Phaolô, Thư thứ nhất của thánh Phêrô, Tông đồ công vụ, chưa kể đến khối lượng tác phẩm văn học đồ sộ của các Giáo phụ cũng như nhiều bản văn nguỵ tác. Nếu chỉ giới hạn vào các tác giả Tin Mừng, chúng ta sẽ không thể biết tại sao phải nghi ngờ phần này của chứng từ, khi nó cũng được đảm bảo như toàn bộ phần còn lại của các sách của họ. Thật là một phương pháp lạ lùng nếu chấp nhận toàn bộ những văn bản khác dừng lại vào lúc Chúa chịu chết nhưng lại phủ nhận chúng từ khi Phục sinh với một lí do duy nhất, đó là những bài tường thuật gây bối rối cho những thói quen tri thức của chúng ta!
Tuy nhiên vẫn còn lại một điều thận trọng và đồng thời là điều quan trọng. Nếu như cả bốn tác giả Tin Mừng đều tường thuật những biến cố sau Phục sinh, họ làm công việc đó một cách hết sức ngắn gọn, mỗi Tin Mừng Nhất Lãm chỉ đề cập đến trong hai hoặc ba trang, Thánh Gioan trong tám hoặc chín trang. Có một sự mất cân đối hiển nhiên giữa tầm quan trọng của sự kiện và sự khiêm tốn trong tường thuật và bình luận. Tuy nhiên, chỉ cần mở Các Thư của Thánh Phaolô cũng đủ để chúng ta nhận thấy thần học về Phục sinh đã chiếm một vị trí đồ sộ biết chừng nào ngay thời của ngài, trong giai đoạn Ki tô giáo nguyên thuỷ.
Sự việc có vẻ ít gây ngạc nhiên hơn, nếu như chúng ta quan sát kỉ sự kiện sau đây. Những biến cố trong bốn mươi ngày này hoàn toàn tương tự với những biến cố đã đánh dấu cuộc sống thường nhật của Chúa Giêsu. Thậm chí chúng ta cũng nhận thấy việc đánh cá kì diệu hình như lập lại một tình tiết trước kia. Cuộc sống sau khi chết có vẻ tiếp nối cuộc sống trước đó. Nó chỉ kéo dài bốn mươi ngày. Nếu chúng ta tham khảo nhiệm vụ của Chúa Giêsu ở Galilé hoặc Judée, chúng ta sẽ thấy những giai đoạn bốn mươi ngày trong các Tin Mừng không chiếm nhiều chỗ hơn. Thậm chí một vài giai đoạn, như các tháng Bảy- tháng Mười năm 28, tháng Tám-thángChín năm 29 và tháng Hai năm 30 cũng cung cấp rất ít chi tiết. Sự dè dặt của các tác giả Tin Mừng được Giáo hội công nhận là bằng chứng cho tính trung thực của họ. Các Nguỵ thư, chẳng hạn như Tin Mừng thánh Barthelemy hoặc Thư của các Tông đồ, lại đua nhau thêu dệt và sáng tác ra biết bao câu chuyện lí thú. “ Ước gì giọng nói các con thốt lên: Vâng-vâng; không-không”,Chúa Giêsu đã khuyên các môn đệ. Họ đã chống laị con quỉ tưởng tượng, kẻ khéo nịnh nọt nhất đối với những người cầm bút.
Tuy nhiên, bốn bản văn liên quan đến giai đoạn Phục sinh không bị trùng lấp nhau. Giữa chúng không có bất cứ mâu thuẩn nào, bất cứ sự khác nhau căn bản nào, nhưng không thể nào xếp chúng lên nhau một cách thuần tuý và đơn giản. Ở đây, cũng cần nhắc lại các tác giả Tin Mừng không phải là những nhà viết sử chuyên nghiệp; sách của họ chỉ nhằm mục đích giáo dục, đào tạo các tín đồ, nhưng không có mục đích cung cấp những tư liệu đầy đủ về mọi mặt. Chính vì sự kiện Phục sinh là một biến cố chủ yếu về mặt biện hộ, mỗi người đã chọn cách tường thuật những sự kiện có sức thuyết phục nhất, gây ấn tượng nhất cho mình. Cũng có thể họ đã có trong tầm tay những nguồn tư liệu khác nhau về giai đoạn này. Điều đó không gây thiệt hại cho ấn tượng xúc động về sự thật mà bốn văn bản cung cấp, với niềm tin là Chúa Giêsu đã sống lại thật sự, Ngài đã thực sự sống bốn mươi ngày nữa trên trần thế, con người đã thực sự nhìn thấy, tiếp xúc với Ngài trong cuộc sống mới này.
“ Chỉ có sự thật mới vững bền….Renan đã viết như thế. Tất cả những gì phục vụ cho sự thật đều được duy trì như một thứ vốn nhỏ, nhưng thu được lợi lộc trong kho báu nhỏ, không có gì bị mất đi. Ngược lại, điều gì giả trá sẽ bị sụp đổ. Điều dối trá không có căn cứ, trong khi ngôi nhà nhỏ của sự thật là bằng thép và luôn lớn lên.” Ngôi nhà nhỏ thuộc tín điều về Phục sinh có vẻ yếu ớt về nền tảng; nhưng nó đã đứng vững qua 2000 năm, hằng triệu trí tuệ con người đang chấp nhận nó, trước tất cả mọi lí lẽ đối nghịch, và điều đó cũng có uy lực.

admin
22-03-2008, 09:02 PM
Tuy nhiên, Thiên Chúa biết rằng có nhiều giả thuyết khác nhau được bịa ra để loại bỏ sự kiện đó. Một vài giả thuyết làm động lòng người pha trò. Vào thời kì người ta đưa phương pháp so sánh tôn giáo vào tất cả các chức năng do ảnh hưởng của Fraser, Salomon, Reinach và nhiều tác giả khác, các nhà huyền thoại học không ngại khẳng định Chúa Ki tô chỉ là một vị thần mặt trời, và sự phục sinh của Ngài ám chỉ đến hiện tượng xuất hiện và biến mất của tinh tú này trên chân trời: bằng chứng cho thấy trong việc lựa chọn ngày Chúa nhật, dies solis (ngày mặt trời) như là ngày xuất hiện trở lại của nó. Lí lẽ này đương nhiên sẽ vững vàng hơn nếu như Tin Mừng được những người Lapons viết ra, trong khí hậu có đêm dài 6 tháng và hiện tượng trở lại đột ngột của ban ngày! Ban đầu, người ta tìm cách phủ nhận những biến cố sáng Chúa nhật, việc mở cửa mồ và việc xác Chúa Giêsu biến mất. Không phải Ngài chỉ bị ngất đi trên thập giá làm cho người ta tin Ngài chết nhanh hay sao? Một khi tĩnh lại trong mồ, có thể Ngài đi ra ngoài. Giả thuyết này có thể khiến người ta tưởng tượng một chút. Sự kiện Chúa Giêsu chết thật sự được xác nhận không những trong bốn Tin Mừng (Matt,XXVII, 57,61; Marc, XV42,47; Luc,XXIII, 50,56; Jean, XIX, 38,42) nhưng còn trong Sách Tông đồ công vụ (II, 25,32; XIII, 26,30) và nhiều lần trong các Thư thánh Phaolô ( I Cor.,XV 3,5; Coloss., II, 11,12 và III,3), người Do thái thuộc phái Pharisien có thể biết xử sự như thế nào. Con người đó bị hành hạ, bị đánh đòn, kiệt sức sau ba giờ bị treo lên, phải chăng việc ông ta chết là điều không bình thường? Ngọn giáo do tên lính đâm không đủ sức để giết ông ta hay sao? Nếu công nhận ngay cả điều không thể, sự hôn mê theo giả thuyết, thì 100 livrơ hương liệu – ba mươi sáu kilô – trên và xung quanh người ông dù sao cuối cùng cũng làm cho ông ta chết ngạt. Renan đã chấm dứt cuộc tranh luận: “Điều bảo đảm hay nhất mà nhà viết sử có được về một điểm của bản chất này. Đó là lòng căm thù đa nghi của những kẻ thù chống lại Chúa Giêsu. “ Những người Do Thái quan tâm quá nhiều về việc tin chắc Ngài đã chết thật sự.
Vậy chúng ta hãy chấp nhận Ngài đã chết và được an táng; các môn đệ Ngài không phải đã thành công trong việc đánh cắp xác Ngài hay sao? Thánh Matthieu tường thuật sự kiện những người Do thái vội bịa ra câu chuyện này. Một khi họ được các lính canh báo tin về biến cố lạ lùng, các thủ lĩnh của các tư tế và các trưởng lão “ đã đút lót một món tiền hậu hỉnh cho bọn lính và dặn: “ Các ngươi hãy rêu rao là các đồ đệ của ông ta đã đến vào ban đêm và đã đánh cắp xác trong khi các anh đang ngủ. Nếu tổng trấn có đến tra xét, chúng tôi sẽ trấn an ông ta và các người sẽ được che chở. Bọn lính canh nhận tiền và làm đúng như điều người ta bảo chúng. Tiếng đồn lan truyền và ngày nay vẫn còn lập lại nơi những người Do Thái.”. (Matt, XXVIII, 12,14). Điều vu khống này có thành công tí nào không? Một vài người có khuynh hướng nghĩ như thế, từ khi vào năm 1930, một bản khắc bằng tiếng Hi Lạp được tìm thấy tại Nazareth đã được công bố và tấm bản khắc này hình như có niên đại từ thời Tibere: đó là chỉ dụ của Hoàng đế kết án tử hình những người xâm phạm các ngôi mộ, “ những người chuyển dịch các tảng đá”. Người ta tự hỏi phải chăng tiếng đồn do người Do Thái tung ra không lọt đến tai tổng trấn Pilate, vì ông này sẽ xin chỉ thị ở La Mã trong trường hợp có “những biến cố” như thế xảy ra. Nhưng đó chỉ là một câu chuyện ngồi lê đôi mách bịa đặt và người ta không biết tại sao các môn đệ lại có thể thực hiện một cách kín đáo đến nỗi ngay cả lính canh cũng không thức giấc.
Thế là bằng cách không tranh cãi việc đánh cắp xác, một vài người đã phủ nhận toàn bộ sự kiện Phục sinh. Từ những thế kỉ đầu kỉ nguyên, nhà bút chiến chống Ki tô giáo Celse đã tự hỏi không biết câu chuyện này có xuất phát từ bộ óc kích động của một phụ nữ được ơn soi sáng là Madeleine hay không. Nếu người ta đi theo con đường này, những chi tiết cụ thể không còn ý nghĩa nào nữa; nếu tất cả thuộc lãnh vực huyền thoại, các môn đệ rất có tài tưởng tượng ra việc khám phá ngôi mộ trống, cũng như họ đã nghĩ ra việc thấy Chúa Giêsu còn sống. Mục đích của những kẻ phê bình là đặt toàn bộ câu chuyện Phục sinh trong thứ tự của điều tuyệt vời với những khúc quanh không thể định nghĩa trong đó đối tượng và chủ thể hoà trộn vào nhau và óc phân tích mất đi quyền lực. Trong trường hợp này, người ta sẽ gợi lại những sự xuất thần tập thể được những nhà chép sử biên niên về dân Camisards ở Cevenes vào thế kỉ XVII ghi lại cũng như những biểu lộ siêu tâm lí do F.W.H. Myers hoặc tiến sĩ Richet nghiên cứu; người ta sẽ kể đến những giọng nói của Jeanne D’Arc hoặc những sự xuất hiện của Thomas Becket hoặc của Savonarole
Chẳng có nỗ lực “giải thích “ nào đứng vững. Người ta có muốn đồng hoá những biến cố Phục sinh với những việc hồn ma xuất hiện hay không? Cho dù người ta không chịu tranh cãi về việc xuất hiện của những kẻ thoát xác, điều này cũng nằm ngoài chủ đề của chúng ta, hoặc căn cứ vào Cựu Ước nhắc đến hồn ma của Samuel đứng trước mặt Saolô trong hang của một bà bói toán ở Endor, người ta vẫn chấp nhận điều đóù, dù sao những bản văn vẫn rõ ràng và phủ nhận giả thuyết. Chúng ta sẽ thấy Chúa Giêsu phục sinh không sống cùng một cách như Chúa Giêsu trước khi chết: nhưng đúng là trò chơi chữ khi nói về hồn ma đối với một con người mà người ta thấy ăn uống và có thể sờ vào cạnh sườn.

admin
22-03-2008, 09:03 PM
Người ta muốn nói đến những ảo giác tập thể ư? Hiện tượng này tồn tại, và chúng ta biết trong nhiều trường hợp, trong niềm tin đích thực, những đám đông tin rằng họ đã thấy, thật sự thấy ở nơi chẳng có gì cả. Vả lại Giáo Hội nghi ngờ nhiều hiện tượng thuộc loại đó và điều tra nghiêm khắc những xuất hiện như thế: chẳng hạn như Giáo Hội không công nhận những cuộc xuất hiện kì lạ tại ngôi làng nhỏ Tilly-en-Calvados vào cuối thế kỉ vừa qua.. nhưng tính chất căn bản của ảo giác tập thể là tất cả những người hiện diện đều tham gia vào đó, luồng tin tưởng lôi cuốn tất cả. Vậy, người ta nhận thấy điều gì trong các câu chuyện về Phục sinh? Các nhân chứng do dự tin theo, hoài nghi. Các tông đồ không phải là những kẻ cuồng nhiệt, những nhà linh cảm; đức tin của họ không thể gợi nên đối tượng của nó: chỉ riêng thí dụ của Thomas cũng đủ để chứng thực sự kiện đó.
Đối với việc tin vào những thị kiến thần bí giống như những thị kiến của thánh Catherine Immerich hoặc thánh Catherine thành Sienne, để chấp nhận điều đó cũng phải thông qua các bản văn. Loisy, con người ít hoài nghi đối với những giải thích siêu nhiên, có viết một cách thích đáng như sau: “ Các tông đồ và thánh Phaolô không nghe kể lại những ấn tượng chủ quan: họ nói đến sự hiện diện của Chúa Ki tô khách quan, bên ngoài, nhạy cảm, chứ không phải một sự hiện diện lí tưởng, và càng không phải là một sự hiện diện tưởng tượng.” Cuối cùng, hoặc người ta chấp nhận các bản văn tường thuật hoặc người ta phủ nhận chúng; trong trường hợp thứ hai, đó là vấn đề chú giải mà chúng tôi đã đề cập đến; nhưng trong trường hợp thứ nhất, không thể nào giải thích từ Phục sinh một cách khác hẳn với ý nghĩa từ nguyên của nó.( Lí thuyết của Guignebert kết hợp nhiều yếu tố giải thích. Sau cái chết của Thầy, các môn đệ đã nghĩ, đã tin rằng tinh thần của Chúa Giê su không thể chết. Trong tình trạng xuất thần của họ, người này hoặc người nọ có những thị kiến. Dần dần, niềm tin tinh thần vào sự sống lại được cụ thể hoá. Người ta đi tìm trong những lời nói của Chúa Giêsu và trong các bản văn của Cựu Ước cách làm cho nó phong phú thêm, và rồi người ta sáng tác ra một câu chuyện Phục sinh. Đó là niềm tin Phục sinh”. Điểm yếu của luận đề này nằm ở chỗ Guignebert không dám khẳng định niềm tin sáng tạo huyền thoại này không bắt nguồn từ bất cứ điều gì. Oâng chấp nhận những thị kiến, nhưng ông chẳng có ý kiến gì về bản chất của chúng Chúng có phải là siêu tâm lí, thần bí hoặc ảo giác không? Vả lại, nếu các môn đệ viết thêm những chi tiết làm biến đổi hiện thực, tại sao họ còn đưa ra những nhân chứng Phục sinh, họ còn cứng lòng tin và hoài nghi như thánh Phêrô chẳng hạn? Còn đáng kinh ngạc hơn nữa khi họ thốt lên:” Chúng tôi chắc chắn về điều đó! Ngài đã sống lại!” Hơn nữa, chúng ta nhận thấy rằng cuộc đời của Chúa Giêsu, suốt bốn mươi ngày, không diễn biến chính xác theo thứ tự như trong giai đoạn trước; thân xác ngài hình như đã được thần linh hoá, được loại bỏ một phần những trở ngại của tình trạng nhân loại. Nếu huyền thoại xuất phát từ sự sắp xếp của các tông đồ, tại sao người ta để cho những triệu chứng lạ lùng đó tồn tại? Điều đó chỉ nằm trong thứ lô gic đặt nặng khía cạnh vật chất, và nhục thể của Chúa Giêsu mà thôi.)
“Resurrexit a mortuis”, cách nói trong kinh Tin Kính phải được hiểu theo nghĩa đen, không những bởi tín hữu, nhưng còn bởi nhà viết sử. Mặc dù điều đó khiến chúng ta sửng sốt, Chúa Giêsu đã ra khỏi mồ, đã sống một cuộc sống thứ hai trong bốn mươi ngày. Sự kiện thuộc về lịch sử tương tự như những biến cố khác trong cuộc sống của Chúa Ki tô. Thậm chí nó cũng có thể được xác định thời gian; Chúa Giêsu đã ra khỏi mồ và bắt đầu cuộc sống thứ hai tertia die (vào ngày thứ ba), như Tín điều của các tông đồ đã chép, “ngày thứ ba” sau khi chết.
Sự chính xác này do Tin Mừng tường thuật là điều không thể chối cãi. “Ngày đầu trong tuần” cả bốn Tin Mừng đều nói về việc Phục sinh. Cụm từ được những người Do Thái cũng như những người La Tinh hiểu rõ, hiện nay những người Hi Lạp cũng chỉ rõ các ngày như thế: second (thứ hai), troisieme (thứ ba), quatrieme (thứ tư), cinquieme ( thứ năm), paraskevi (chuẩn bị cho ngày Sabat, thứ sáu), Sabbat (thứ bảy) và dominical (Chúa nhật). Ngày Sabbat kết thúc tuần lễ, vì ngày thứ bảy của công cuộc sáng tạo Đức Yahweh nghỉ ngơi, ngày Chúa nhật đúng là ngày đầu tiên. Vì vậy Phục sinh sẽ diễn ra vào ngày thứ ba sau khi chết, điều này ứng nghiệm với điều đã được tiên tri về chính Chúa Giêsu, theo thánh Matthiêu thuật lại (XVI, 21; XX,19) và thánh Luca (IX,22;XVIII,33); Thánh Marc cũng đã viết “Ngày thứ ba” (IX,30), nơi khác, ngài cũng đã dùng một cách nói khác hai lần: “Ba ngày sau đó” (VIII,31; X,34), điều này có thể được giải thích do thói quen của người Do Thái là tính ngày bắt đầu và ngày kết thúc một hoạt động. Người ta tự hỏi không biết, trong con số đích xác này, có ám chỉ vào niềm tin do các Rabbi giảng dạy rằng trước tiên linh hồn lượn qua lượn lại đau buồn bên cạnh thể xác mà nó vừa rời bỏ và chỉ đến ngày thứ ba nó mới lìa bỏ một cách dứt khoát. Marthe, chị của Lazare, đã không nói với Chúa Giêsu là không có gì hi vọng vì em trai của cô ở trong mồ đã được bốn ngày đó hay sao?

admin
22-03-2008, 09:04 PM
Trong bụng cá, Jonas đã trải qua những ba ngày; cũng thế, Con Người đã ở dưới đất ba ngày.. Đó là “dấu chỉ của Jonas” mà chính Chúa Giêsu đã loan báo. Con quái vật trả lại con mồi, cái chết trả lại nạn nhân của nó. Trong những đám đông các tín hữu thất thần và buồn sầu, tiếng đồn đi nhanh vào ngày Chúa nhật lễ Vượt qua. Vì muốn phân biệt ngày lễ của mình với ngày lễ của dân Israel, Giáo hội sớm lựa chọn ngày Phục sinh để mừng lễ. Dies dominica, ngày của Chúa; từ thời Tông đồ công vụ, Thư đầu tiên gửi tín hữu Côrintô, Sách Khải huyền, sự thay thế này đã được thực hiện. Từ đó về sau, ngày Chúa nhật của chúng ta vẫn giữ lại kỉ niệm đó.


CUỘC SỐNG MỚI CỦA CHÚA GIÊSU



Thật khó mà xác định niên đại của những biến cố đánh dấu cuộc sống của Chúa Giêsu phục sinh. Khi đọc Tin Mừng thánh Matthieu (XXVIII,10) hoặc thánh Marc (XVI,7) chúng ta có cảm giác Chúa tỏ mình ra trước tiên tại Galilê, khi đọc Tin Mừng thánh Gioan, chúng ta lại nghĩ đến Giêrusalem nhiều hơn. Nhưng những câu chuyện cần được đọc bổ sung cho nhau, và điều mà các nhà chú giải làm chính là tìm hiểu xem chúng có thể bổ sung cho nhau theo trật tự nào. Sự giải thích được chấp nhận rộng rãi nhất là có những việc hiện ra đầu tiên của Chúa phục sinh trong Thành thánh, và sau khi các môn đệ quay về quê nhà sau lễ Vượt qua, những lần xuất hiện khác có lẽ diễn ra tại Galilê.
Nhưng có một nhận xét hết sức quan trọng có thể gợi ra một cách giải thích. Rõ ràng những điều kiện sống của Chúa Giêsu sau Phục sinh không giống như những điều kiện sống ở giai đoạn trước: đó là điều hiển nhiên đối với ai đọc bản văn Tin Mừng và nó thuộc về giáo huấn truyền thống của Giáo Hội. Thân xác của Người không tồn tại trong những điều kiện không giống như trước. Người ta cho rằng sự hiện diện của Ngài thuộc phạm vi hoạt động của ý muốn Ngài. Với Madeleine chạy đếùn cùng Ngài trong cơn xúc động, Ngài nói: “ Chớ sờ vào Thầy!” nhưng với Thomas, kẻ cứng lòng tin, Ngài lại ra lệnh đặt bàn tay vào vết thương nơi sườn Ngài. Ngài “tự tỏ mình” cho các tín hữu, cụm từ mà Giáo Hội không bao giờ sử dụng trong ý nghĩa này, hình như chỉ rõ họ sẽ không thấy Ngài nếu Ngài không muốn.
Nhiều chi tiết nhấn mạnh đến những tính cách lạ lùng của cuộc sống thứ hai này. Chúa Phục sinh xuất hiện giữa các môn đệ trong khi các cửa phòng đều đóng kín và họ tưởng tượng họ nhìn thấy một hồn ma (Luc,XXIV,36; Jean,XX,19); trong bối cảnh của các môn đệ ở Emmaus, Ngài “trở nên vô hình”, hoàn toàn biến đi trước mắt họ. (Luc XXIV,31). Ngài có hình dáng lạ lùng; Marie-Madeleine tưởng đó là một người làm vườn; các môn đệ đi thành Emmaus” có đôi mắt bị lừa dối đến nỗi họ không thể nhận biết ngài” (Luc,XXIV, 16) và Chúa Giêsu tỏ mình ra cho họ “dưới hình dáng một người ngoại quốc” (Marc XVI,12); tại bờ hồ Galilê, chính Phêrô và các môn đệ thân thiết nói chuyện với Ngài mà không nhận ra Ngài (Jean XVI,4).
Phải chăng chính vì những biến đổi mà tác giả của chứng mất khả năng nói lạ lùng cũng nghĩ : “ Hình như tôi không phải là điều tôi từng là” ? nhưng – điều này đáp ứng với những luận đề chúng ta đã biết – không có gì xa vời ý tưởng của các tác giả Tin Mừng hơn là xem Chúa Giêsu phục sinh như là một hồn ma. Với các tín đồ tập trung và sợ hãi việc hiện hình của Chúa, Ngài nói : tại sao các con lại bối rối? Tại sao những mối hoài nghi làm xao xuyến tâm hồn các con? Các con hãy nhìn bàn tay và bàn chân của Thầy: chính Thầy đây. Hãy sờ vào Thầy và hãy tin rằng một hồn ma không thịt không xương giống như các con nhìn thấy.” Vì họ còn do dự, chưa hết ngạc nhiên, Ngài nói với họ: “ Ở đây chúng con có gì ăn không? Và Ngài chia sẻ với họ cá và một tầng ong trong bữa ăn (Luc, XXIV, 36,43).” Đối với tôi, Thánh Ignace D’Antioche viết từ cuối thế kỉ thứ nhất, tôi tin chắc rằng ngay sau khi sống lại, Chúa Giêsu Kitô đã có một thân xác. Ngài đã ăn, và đã uống cùng với các môn đệ, mặc dù Ngài kết hợp với Thiên Chúa Cha về mặt tinh thần.” (Chúng ta cũng kể ra lí lẽ thú vị của Nguỵ thư của các tông đồ: “ một hồn ma không ghi lại dấu chân trên đá!”)
Những lời sau cùng này chỉ rõ sự kì diệu. Một vài nhà phê bình, như M. Goguel, tin có thể phân biệt trong các sách Tin Mừng hai quan niệm về Phục sinh: Một quan niệm thần linh hơn, “công nhận Đấng Phục sinh không còn bị áp đặt dưới những điều kiện thông thường của cuộc sống con người” quan niệm kia thuộc về sự tái sinh; và cho là chúng “ không thể dung hoà”. Trong trật tự tự nhiên của con người, vâng; nhưng phải chăng ở đây chúng ta không ở trong một trật tự siêu nhiên ? Phải chấp nhận rằng sau khi chết, Chúa Giêsu đã mạc khải một bản tính không hoàn toàn thuộc về nhân loại, theo nghĩa hạn hẹp của từ và trong khi vẫn duy trì tất cả những đặc điểm của xác thịt, Ngài có thể thoát ra khỏi những lệ thuộc thuộc về nhân loại. Điều đó cũng giống như nơi Ngài, Thiên Chúa đã làm cho lớp vỏ xác thịt kiệt sức nhiều hơn nhờ cái chết.

admin
22-03-2008, 09:04 PM
Khi nói về sự Phục sinh từ kẻ chết trong một đoạn văn quan trọng trong Thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô công nhận lời hứa cho chính sự biến đổi như thế dành cho mỗi người. “Có người nào đó lên tiếng: - những người chết sống lại như thế nào? Và họ sẽ quay về với thể xác nào? Đồ điên rồ, điều ngươi gieo sẽ không lấy lại cuộc sống, nếu trước tiên nó không chết đi. Còn cái ngươi gieo, không phải thể chất mà ngươi đặt xuống đất sẽõ sinh ra, nhưng chỉ là một hạt lúa mì, chẳng hạn, hoặc một hạt giống nào khác. Thiên Chúa ban cho nó thể chất mà Ngài thấy là tốt cho nó, mỗi hạt giống đều có thể chất thích hợp. Mỗi một thể xác không giống với những thể xác khác, thể xác con người khác với thể xác của thú vật, chim, cá. Cũng vậy, chúng ta có những thể xác thần linh, những thể xác trần thế. Và đây cũng là điều giống như đối với sự Phục sinh. Thể xác được gieo có thể hư nát; nó sống lại không thể hư nát; nó được gieo đáng khinh bỉ, nó sống lại vinh hiển; nó được gieo đau ốm, nó sống lại đầy sức mạnh; nó được gieo với thân xác động vật và nó sống lại với thân xác tinh thần.” Theo ý nghĩa của thánh Phaolô, như được giải thích trong đoạn này, thân xác Chúa Giêsu đã sống lại là một thân xác con người đích thực, những vinh hiển. Phải chăng chúng ta không có quyền tự hỏi việc giải thích điều có vẻ mâu thuẩn trong các sách Tin Mừng sẽ không tồn tại trong định nghĩa này hay sao? Những phạm trù thời gian và không gian điều thuộc về điều kiện của con người. Chính chúng mới áp đặt cho chúng ta những giới hạn một cách tàn nhẩn nhất. Nhưng “thân xác vinh hiển” có bị chúng khuất phục không? Phải chăng Ngài không thể ở nơi này nơi khác cùng một lúc, vì đối với Ngài, không có không gian và hôm qua, hôm nay, ngày mai đều cùng tồn tại trong vĩnh hằng hay sao? Phải chăng chúng ta không biết đến việc thánh Phaolô xác nhận giả thuyết này trong đoạn thánh thư trên (XV,5,8), vì sau khi ám chỉ đến những lần hiện ra của Chúa Giêsu trong 40 ngày Phục sinh, ngài cũng nêu lên việc Chúa hiện ra với ngài trên đường đi Damas bốn năm sau đó, rất lâu sau khi Chúa Kitô về trời hay sao?
Đó là ý nghĩa của Phục sinh như chính Chúa Giêsu đã từng loan báo. Đối với các môn đệ tụ họp được Ngài tỏ mình, Ngài nói: “ Đó là điều Thầy nói cho các con biết, khi Thầy còn ở với các con, tất cả mọi sự được viết về Thầy trong lề luật Maisen trong các sách Tiên tri và sách Thánh Vịnh phải được thực hiện.” (Luc XXIV,44). Họ nhóm họp ở đó ngay tại phòng Tiệc ly, nơi ít ngày trước đó, Chúa Giêsu đã từng ban cho họ máu thịt Ngài trong bữa ăn sau cùng. Họ nói đến những biến cố gây ngạc nhiên vào buổi sáng, về ngôi mộ trống không, về điều các phụ nữ tường thuật với họ, về điều Phêrô và Gioan đã trông thấy; vì họ còn hết sức lo sợ cơn giận dữ của người Do Thái, họ đóng chắc các cửa ra vào. Hai môn đệ, có lẽ hai trong số 70 mà Chúa Giê su trao cho sứ mạng rao giảng, cũng vừa mới đến phòng Tiệc ly. Họ vừa thở hổn hển vừa kể lại rằng cách đó vài dặm, trên đường đi Emmaus, Thầy đã cùng đồng hành và chuyện trò với họ. Người ta xôn xao bàn tán chứng cớ của họ.Toàn bộ bí mật của thế giới bay lượn trên nhóm người này; linh hồn họ tràn trề hi vọng, thứ hi vọng mà lí trí họ vẫn chưa chấp nhận. Chính vào lúc đó Chúa Giêsu đã hiện ra và nói với họ : “ Các con đừng sợ!”
Những lần xuất hiện kiểu này đã diễn ra rất nhiều, chắc chắn một số lớn mà Tin Mừng không tường thuật chi tiết, vì Simon Phêrô đã hưởng được một lần và thánh Phaolô nói đến một lần xuất hiện khác với hơn 500 nhân chứng. Những đàn ông và phụ nữ từ hơn hai năm qua đã từng sống trong chính mầu nhiệm nhưng không hiểu một cách trọn vẹn, bây giờ họ bị ném vào đó, cuộc sống thường nhật của họ với nghề đánh cá và làm thủ công đã hoàn toàn bị đảo lộn.
Vẫn còn có những người kháng cự lại. “ Thomas, một trong số 12, biệt hiệu là Đidyme, kẻ song sinh, không ở cùng với những người khác, khi Chúa Giêsu hiện ra tại nhà Tiệc ly. Khi các môn đệ nói với ông: - Chúng tôi đã trông thấy Thầy! – Còn tôi, ông đáp, nếu tôi không thấy những dấu đinh trong bàn tay Người và nếu tôi không đặt ngón tay tôi vào những lỗ đinh, bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, tôi sẽ không tin! Tám ngày sau, cùng tại địa điểm đó, khi Thomas đang ở cùng với các tông đồ, Chúa Giêsu lại hiện đến, trong khi cửa vẫn còn đóng kín – Bình an cho các con, Ngài nói. Rồi gọi Thomas – Hãy đặt ngón tay con và nhìn bàn tay của Thầy; hãy đưa bàn tay con lại gần đây và đặt nó vào cạnh sườn Thầy. Chớ cứng lòng tin, hỡi Thomas! Thomas bối rối kêu lên : Lạy Thầy và Thiên Chúa của con! Chúa Giêsu chỉ đáp: - Con đã tin vì con đã nhìn thấy, Thomas. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!” (Jean, XX,24,29) Một cảnh tượng thật đẹp, rất chân thật trong đó vị tông đồ lại trở nên đúng đắn, vững vàng, hay lí sự giống như chúng ta đã thấy trong suốt sáchTin Mừng, trong đó Chúa Giêsu tỏ ra khoan dung đối với những kẻ hoài nghi, nghệ thuật trong biết bao thánh đường đã không tái hiện cảnh tượng đó, như chúng ta thấy trên tranh ghép mảnh vĩ đại tại nhà thờ Thánh Marc ở Venise hay sao? Bởi vì ít có những ai thông cảm hơn đối với sự yếu đuối của nhân loại, ít có những người mang lại nhiều hi vọng và nâng đỡ hơn cho tâm hồn bối rối nhất.

admin
22-03-2008, 09:05 PM
Sau đó những lần hiện ra diễn ra tại Galilê. Các Tin Mừng Nhất Lãm nói bóng gió đến một trong những lần xuất hiện đó (Matt, XXVIII,16), nhưng Thánh Jean đã dành cho sự kiện đó một chương bổ sung, một thứ phụ trang và Tin Mừng nguỵ tác của Phêrô cũng có nhắc đến trong một đoạn nhưng lại kết thúc đột ngột. “ Chúng tôi, mười hai tông đồ của Chúa, chúng tôi đang sống trong nước mắt và tang tóc, và mỗi người buồn rầu quay về nhà mình. Riêng tôi, Simon Phêrô và em trai André, chúng tôi đem lưới đi đến Biển hồ Galilê, đồng hành với chúng tôi còn có Lêvi, con của Alphê, người mà Chúa…” Theo thánh Gioan, họ có mặt ở đó gồm Phêrô, Thomas, Nathanael ở thành Cana, các con ông Zêbêdê và hai môn đệ khác nữa. Họ đã thả lưới suốt đêm nhưng không bắt được gì. Vào ban sáng, một người lạ mặt lên tiếng với họ từ trên bờ: “ Này các chàng trai, các anh không có gì ăn sao?” Họ đành trả lời: - Không. “ Vậy các anh hãy ném lưới phía bên phải thuyền và các anh sẽ bắt được cá!” Họ liền vâng lời và chỉ một mẻ, chiếc lưới nặng đến mức họ không thể kéo lên được (XXI,1,15).
Gioan là người đầu tiên nhận biết: ông nói với Phêrô: “ Chính Thầy đấy!” Rồi vội vàng mặc quần áo do xấu hổ, vì mình trần lúc làm việc, vị thủ lãnh của các tông đồ liền nhào xuống hồ và bơi về phía Chúa Giêsu. Cũng như trước kia, trên cùng mặt nước, mẻ lưới lạ lùng đã mở lòng những con người đơn sơ chất phác, và đây là lần thứ hai, cũng điều kì diệu lại soi sáng họ một cách dứt khoát. Phép lạ đầu tiên đã đặt những cột mốc đầu tiên của Giáo Hội; phép lạ thứ hai giống như lời hứa của những mẻ cá lớn mà những kẻ đánh bắt cá người sẽ sớm thành công. Ở viện bảo tàng Geneve, một bức tranh tuyệt vời của Conrad Witz cho chúng ta thấy cảnh tượng qua phong cảnh của hồ Leman, nằm giữa Eaux-Vives và Cologny với Saleve và Voirons và phía sau là Núi Trắng thay cho núi Hermon: sự chuyển đổi có thể chấp nhận và gây xúc động, vì từ nay về sau, những con cá mà tấm lưới sẽ đánh bắt không những là những con cá của hồ Tiberiade, nhưng của toàn thể trái dất, những con người thuộc mọi quốc gia.
Những bài học cuối cùng mà Chúa Giêsu ban cho các môn đệ trong những giờ phút sau cùng khi cuộc sống thứ hai được ban cho Ngài để làm cho đức tin của họ bén rễ, đó là chuẩn bị Giáo Hội, hướng dẫn sứ mạng của Giáo Hội.
“ Chúng con hãy đi rao giảng cho mọi dân tộc, ban phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hãy rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu rỗi; Ai không tin sẽ bị luận phạt. Và đây là những phép lạ đi kèm cùng những kẻ tin: họ sẽ đuổi ma quỉ nhân danh Ta; họ sẽ nói các thứ tiếng; họ sẽ nắm bắt những con rắn mà không bị trừng phạt và nếu họ uống nước giải khát độc hại, họ sẽ không cảm thấy đau bệnh gì. Họ sẽ đặt tay trên các bệnh nhân và các người này sẽ được chữa lành. Các con hãy đi đi, này đây, Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.!” (Matt,XXVIII, 18,20; Marc, XVI, 15,19).
Quyền hành và bổn phận của Giáo Hội từ nay về sau đã được thiết lập một cách rõ ràng. Chính vị thủ lĩnh đã được xác nhận ưu thế. Sau mẻ cá lạ lùng, từ bữa ăn người ta dùng một số trong một trăm năm mươi ba con cá đánh bắt được, Chúa Giêsu nói với Simon Phêrô: “ Này Simon, con của Gioan, con có yêu mến thầy hơn những người khác không? – Vâng, thưa thầy, ông đáp, Thầy biết con yêu mến thầy. Chúa Giêsu nói với ông: - Hãy chăn dắt các chiên của Ta! Ngài lập lại lần thứ hai: -Này Simon, con trai của Gioan, Con có yêu mến Thầy không? Phêrô đáp: - Vâng, thưa thầy, thầy biết rõ con yêu mến thầy. Chúa Giêsu nói với ông: Hãy chăn dắt các chiên của ta. Và lần thứ ba, Ngài còn hỏi: - Này Simon, con trai của Gioan, con có yêu mến thầy không? – Lạy Thầy, thầy biết tất cả mọi sự, vị tông đồ đáp, với tâm trạng buồn rầu vì sự nhắc đi nhắc lại này, thầy biết rõ là con yêu mến thầy! – Hảy chăn dắt các chiên của ta! (Jean, XXI,15,17). Người mục tử tốt lành, trước khi biến mất, đã giao phó đoàn chiên của mình cho kẻ mạnh nhất, kẻ xứng đáng nhất. Phêrô chấp nhận sứ mạng, mặc dù ngay sau đó thầy đã loan báo cuộc tuẫn đạo của ông: “ Khi còn trẻ, con tự mình buộc thắt lưng và con đi đâu tuỳ thích; nhưng khi về già, con sẽ giang rộng cánh tay và một người khác sẽ thắt lưng cho con và sẽ dẫn con đi đến nơi nào con muốn!” (Jean XXI, 18). Thập giá nơi Simon sẽ chết được gọi là “Đá tảng” thành hình trong sự gợi lại mập mờ này. Sự gợi ý đó không làm cho ông lo sợ; ông đã chấp nhận tận đáy lòng mình. Bấy giờ Chúa Giêsu nói với ông hai từ: “ Hãy theo ta!” và trên bờ hồ Tiberiade, dọc theo các bãi cát, màu xám và đen hoặc màu hồng êm dịu, nơi cát phủ đầy những vỏ ốc nhỏ lấp lánh, họ tách rời nhau; vì lời khuyên cuối cùng nào? Vì những lời dạy sau cùng nào?
Trong suốt bốn mươi ngày, những người này đã sống trong một bầu khí siêu nhiên như thế. Người ta hiểu rằng đức tin của họ đã được củng cố mãi mãi. Rồi, một ngày nọ, không xa Thành thánh bao nhiêu, trên đồi Oliu, nơi họ đã cùng đến với Chúa Giêsu khải hoàn, khi Chúa chuyện trò với họ và đưa tay chúc phúc cho họ, Ngài tự cất mình lên trên không trung, nhưng càng lúc càng cách biệt họ hơn. Ngài biến đi; Ngài để lại cho họ Niềm Vui.

admin
22-03-2008, 09:06 PM
ĐỨC TIN KITÔ GIÁO


“Nếu như Chúa Ki tô không sống lại, việc rao giảng của chúng tôi là vô ích, và đức tin của các anh em đối với tất cả mọi người cũng vô ích!” ba mươi năm sau thánh Phaolô sẽ viết như thế cho tín hữu Corintô (I Cor, XV, 14). Từ biến cố kì diệu đó, cuộc sống thứ hai của một người sau khi chết, điều mà những người theo thuyết bất khả ngộ chỉ có thể coi là chuyện hoang đường, chẳng hạn như Renan đã âm thầm loại nó ra khỏi Lịch sử khi cho dừng câu chuyện vào lúc an táng xác Chúa Giêsu, Giáo hội Công giáo biến nó thành viên đá góc tường cho ngôi nhà của mình. Ngay trung tâm thần học cũng như luân lí, nổi bật lên hình ảnh của Người Thầy chiến thắng cái chết. Niềm hi vọng Ki tô giáo bắt nguồn hoàn toàn từ đó, vì “nếu chỉ vì đời này thôi mà chúng ta đặt niềm tin vào Chúa Ki tô, chúng ta là những kẻ bất hạnh nhất trong tất cả.” (I Cor, XV, 19).
Hình ảnh một vị thần chết giống như tất cả mọi người đã chết, nhưng sống lại để giảng dạy họ có thể chiến thắng cái chết như thế nào là một trong những hình ảnh đã từng ám ảnh lương tâm của những người đang sống từ hàng thiên niên kỉ qua. Dù hình ảnh đó được biểu lộ dưới hình thức nào đi nữa, nó vẫn có sự cao quý. Bị nhốt kín trong một cuộc sống có ranh giới tiền định, hình như tất cả những gì đầu óc con người cho là độc nhất, không thể thay thế đều có thể tiếp tục tồn tại bên kia tuổi thọ đã dành cho họ. Cũng giống như tất cả những huyền thoại vĩ đại, con người đó sinh ra từ nơi bí mật nhất của sự lo lắng nhân loại, và như là chứng cứ của cùng một sự lo lắng, nếu có mặc lấy những hình thức giống nhau từ thời đại này qua thời đại khác, con người đó vẫn toát lên sự cao cả như thế.
Lịch sử của Chúa Kitô sống lại ra khỏi mồ có thể được đồng hoá với nhiều huyền thoại khác hay không? Sự xúc động ở đồi Golgotha, theo J.B Fraser viết trong tác phẩm Rameau d’or, kinh thánh của trường phái so sánh, tạo nên hàng ngàn sợi dây liên kết ở bất cứ nơi nào mà nhân loại làm quen với câu chuyện cũ rích về thần linh chết đi và sống lại.” Theo nghĩa rộng, cách nói này không thể chấp nhận: vì nhiều yếu tố của giáo lí Ki tô giáo, tín điều Phục sinh thoả mãn sự mong đợi có từ lâu trong tâm hồn mọi người, sự mong đợi mà các chuyện kể hoang đường của Ai cập và Syri chỉ cố gắng đưa ra một biểu hiện ô trọc và vụng về. Nhưng nơi nào sự sai lầm bắt đầu, nơi đó người ta có tham vọng đồng hoá sự Phục sinh của Chúa Giêsu với những kiểu phục sinh khác, biến nó thành một kiểu tranh đua của thần Osiris, Attis, Adonis, đặt nó trên cùng bình diện với chúng.
Không có bất cứ ảnh hưởng nào của những chuyện hoang đường ngoại giáo đối với tư tưởng Do Thái vào thời Chúa Ki tô lại không thể bị tiết lộ, vì nó giải thích sự hình thành của giáo lí về một vị thần linh phục sinh. Trái lại, tất cả những điều người ta biết về cộng đồng nhỏ bé Israen ở những thế kỉ cuối cùng cho thấy nó xơ cứng trong tình trạng chối bỏ man rợ. Người ta còn nhớ điều đó: những người Lagide cũng như những người Seleucide đã không thể gieo rắc niềm tin trên mãnh đất Palestine. Nếu huyền thoại vị thần phục sinh là một sản phẩm nhập khẩu của Ai Cập và Tiểu Á vào Giêrusalem, đó sẽ là một lí do để người ta chối bỏ nó một cách dứt khoát. Có nên chấp nhận rằng ở đây chúng ta đang đứng trước một sự tuột dốc tự nhiên của trí óc con người, một sự tuột dốc hiển nhiên đến mức đề tài tương tự đó đã có thể xuất hiện trên bờ sông Nil, trên các cao nguyên Anatoli, hoặc trong Thành thánh Giêrusalem hay không? Nhưng, nói cho đúng hơn, điều mà sự so sánh thổi bùng lên, đó là sự khác nhau hoàn toàn, tuyệt đối giữa những huyền thoại trên với câu chuyển kể của Tin Mừng.
Người ta có thể kể ra nhiều câu chuyện về những “vị thần chết và sống lại đó”; chuyện nổi tiếng nhất là Osiris, vị thần mà những người Ai Cập từ 1500 năm trước kỉ nguyên chúng ta coi như người hướng dẫn có khả năng đưa con người vượt qua hẻm vực đen tối của huyệt mộ; ngoài ra đó là chuyện của thần Thammouze từ bờ sông Euphrate đến bờ Địa Trung Hải, nơi mà những người Hi Lạp vay mượn lại câu chuyện, số phận của vị thần săn bắn trẻ tuổi bị giết bởi một con lợn rừng và được nữ thần Aphrodite làm cho sống lại, sẽ trở thành số phận của chàng Adonis đẹp trai và tha thiết; hơn nữa, đó là chuyện của thần Attis, chồng của Cybele, vị thần có máu tuôn chảy theo nước mùa xuân của những dòng sông ở Phrygie và được những tín đồ tôn kính giữa những cơn xuất thần và những cuộc giải phẫu cắt cụt rùng rợn; đó còn là câu chuyện về thần Dionysos Zagreus, “vị thần nhỏ có sừng” mà Orphisme sẽ đi tìm trong những khu rừng rậm của Thrace để giới thiệu nó cho toàn phương đông Hi Lạp, vị thần trai tân bị xâu xé bởi những phụ nữ điên cuồng và có trái tim tan chảy bị thần Zeus uống để giải khát và lại nảy mầm ở bụng của thần để rồi tái sinh.

admin
22-03-2008, 09:06 PM
Nhưng mỗi lần đề cập đến một trong số những đề tài này, chúng ta cần hết sức thận trọng. Từ những tôn giáo thần bí này, phần lớn thời gian, chúng ta chỉ biết vẻ bề ngoài, một tập hợp các từ ngữ và lễ nghi và chúng ta rất khó khôi phục lại niềm tin sâu xa của nó từ bên trong. Nên cảnh giác với việc cầu cứu đến những tài liệu và văn bản bằng cách sử dụng các từ ngữ và sơ đồ tư tưởng Ki tô giáo để giải thích chúng. Chẳng hạn như khi M.Morel viết: “ việc thể hiện cuộc khổ nạn và cái chết của thần Osiris luôn đi kèm với việc sống lại của vị thần”, người ta nắm bắt ở đó một cố gắng nho nhỏ để gợi lại một sự tương cận, cho dù là vô tình; những từ Khổ nạn và Phục sinh là từ vựng Ki tô giáo và không bao giờ có trong những văn bản Ai Cập; đặc biệt từ đầu tiên, Khổ nạn, gợi nên trong đầu ý tưởng Ki tô giáo về quà tặng của mình, về nỗi đau cứu chuộc và được chấp nhận một cách tự nguyện, ý tưởng mà những người Ai Cập không bao giờ có được; và về trạng từ chắc chắn, nó là một sự thừa nhận, vì nói đúng ra, sự sống lại của thần Osiris không bao giờ được xác nhận một cách rõ ràng. Những khác biệt giữa Chúa Giêsu chiến thắng cái chết và những thần linh”sống lại” khác đánh mạnh vào tâm trí đến nỗi chúng làm giảm bớt những sự giống nhau một cách đặc biệt. Chúng ta hãy bỏ qua một bên những chướng tai gai mắt mà nhiều huyền thoại chứa đựng và Tin Mừng không bị tác động, sự kiên trì mà Isis chứng tỏ trong việc tập hợp những phần cơ thể rải rác của người chồng và khóc cho cái bộ phận duy nhất còn thiếu, thứ làm cho nữ thần thụ thai hoặc nhiệm vụ mà Attis phải hi sinh khả năng sinh con của mình, tất cả những thứ đó chỉ khiến chúng ta tham gia vào tính cách thô tục, qua đó những bộ tộc nguyên thuỷ tỏ ra thơ ngây hơn là tinh nghịch. Nhưng những ám chỉ giới tính có một ý nghĩa chính xác: chúng cho thấy rằng ngay nền tảng của ý tưởng “Phục sinh” được gợi ý, đó chỉ là bản năng sinh tồn, khát vọng cấp thiết, trong tâm hồn con người muốn vượt qua bản thể quá phù du của mình trong sự sinh tồn nhờ sinh sản. M Franz Cumont, chuyên gia lỗi lạc về những vấn đề này phân biệt trong các huyền thoại như sau“ việc tôn thờ căn bản khả năng sinh sản với khát vọng khêu gợi khả năng đó”. Oâng ta cũng lưu ý trong những câu chuyện kể đó, “vị trí hàng đầu thuộc về phụ nữ”, tác nhân rõ ràng của việc truyền sinh, tác nhân tượng trưng của sự sống lại.
Một dữ kiện khác, còn mang tính cách tự nhiên hơn, xuất hiện trong phần lớn những điều huyền bí về các thần linh chết và sống lại; dữ kiện về cây cối phục hồi vào mùa xuân, hình ảnh mà con người, năm này qua năm khác có thể chiêm ngưỡng như một bảo chứng của cuộc sống không ngừng tái sinh. Các tôn giáo của Anatolie, Phrygie và Syrie xem đề tài này hết sức quan trọng: Attis có một cây thông con như là biểu tượng; Adonis được xem như là “một hạt giống trong Người Mẹ vĩ đại”, Người Mẹ vĩ đại đó là Cybele, hình ảnh của trái đất. Ngay trong nước Ai Cập, một trong những lễ nghi tôn vinh thần Osiris gồm có việc gieo một hình nhân nặn bằng đất bùn cùng với lúa mì: khi mọc lên, những thân lúa non tạo thành hình ảnh của một cuộc sống tái sinh. Cho dù người ta có thích cắt nghĩa thế nào đi nữa, trong cả hai trường hợp, người ta đều thú nhận là rất khác xa với quan niệm Ki tô giáo.
Nếu như chúng ta nghiên cứu kỉ hơn huyền thoại cao cả và thuần tuý nhất trong toàn bộ huyền thoại, huyền thoại Osiris, những dữ kiện cụ thể của nó thật khác xa với những dữ kiện của Tin Mừng biết chừng nào! Osiris là một vị thần tốt bụng, một ông chủ công bằng, một người tổ chức gia đình và đô thị, một điển hình về đạo đức: nhưng ông ta không phải, ông ta không bao giờ là một con người giống như chúng ta. Sự đồng hoá của thần với sông Nil, nguồn nước phì nhiêu, giúp cho nước Ai cập sinh sống, ban cho nó một ý nghĩa của thuyết linh hồn. Bi kịch cái chết, cuộc ám sát của thần bởi Set-Typhon, người anh trai xấu xa ( hoang mạc khô cằn và nắng cháy), việc cắt đứt các chi thể và phân tán chúng, những tình tiết lạ lùng này có thể mang một ý nghĩa tâm linh cao cả, chẳng hạn như đưa những sức mạnh mù quáng và mọi rợ chống lại tinh thần tổ chức và hào hiệp. Thật ra đó không phải là một của lễ hiến tế tự nguyện được một sinh vật thực hiện bằng mạng sống mình để chuộc lấy tội lỗi con người và đưa họ ra khỏi sự khốn khổ. Trong khi Isis, nhờ Horus giúp đỡ, gom lại các mảnh vụn của cơ thể thần linh và bằng những phép thuật, tạo nên một xác ướp, xác ướp đầu tiên, không phải là một sự sống lại đích thực, nhưng chỉ là khởi động để tiếp tục cuộc sống bên kia cái chết.
Những mâu thuẩn trên không là gì so với mâu thuẩn cuối cùng thuộc phạm trù đạo đức và tinh thần. Trong việc tôn kính thần Osiris cũng như trong tất cả các tôn giáo thần bí, điều cốt yếu là sự bắt chước nghiêm khắc, có tính cách vật chất của vị thần. Để linh hồn thần sống trong mồ, người Ai Cập nghĩ rằng thân xác thần cần được ướp theo những phương pháp do thần Isis phát minh xưa kia. Ngoài quan niệm hết sức vật chất và ma thuật này còn có ý tưởng cuộc phán xét các linh hồn qua hàng thế kỉ, trong đó vị thần chủ trì là Osiris, công minh nơi kẻ chết cũng như nơi người sống. Nhưng điều cốt yếu vẫn là lễ nghi, nó độc lập với phần thưởng đạo đức. Một câu khắc trên mộ chí Ai Cập tuyên bố : “ Cũng như Osiris đã sống thực sự, người này cũng sẽ sống, cũng như Osiris không bị huỷ hoại, người này cũng sẽ không bị huỷ hoại.” M.Cumont chú giải như sau: “ Số phận Osiris, vị thần đã chết và sống lại, cuối cùng đã trở thành nguyên mẫu cho số phận của mọi người tuân thủ các lễ tang. Đó là sự khác biệt cơ bản. Đối với người Kitô hữu, sự Phục sinh của Chúa Giêsu không phải là một lời hứa cuộc sống vĩnh hằng tự động, mà việc chấp nhận một vài lễ nghi bảo đảm cho; để dự phần vào niềm hạnh phúc bất diệt của những kẻ được tuyển chọn, phải “sống trong Chúa Kitô”, tự làm cho mình trở nên hình ảnh tinh thần của Chúa Kitô. Điều này khiến cho sự Phục sinh của Chúa Giêsu khác biệt một cách hoàn toàn với tất cả những “phục sinh” khác, chính ý hướng mới điều khiển điều đó: sự Phục sinh không nằm trên cùng bình diện như những phục sinh khác.

admin
22-03-2008, 09:07 PM
TÍN ĐIỀU PHỤC SINH


Tầm quan trọng mà những người Ki tô hữu dành cho tín điều Phục sinh như thế còn hơn cả mối quan tâm lịch sử. Cuộc sống thứ hai của Chúa Giêsu không gì khác hơn là một giai đoạn đáng kinh ngạc thêm vào tiểu sử của Ngài một chương bổ sung. Ki tô giáo sẽ bị giản lược vào một nền luân lí, như những người tin lành “tự do” mong muốn, nếu sự Phục sinh không vượt lên trên nền luân lí này trong môn siêu hình học; đối với ai tin vào tín điều này, đó chính là toàn bộ thảm kịch của cuộc sống, mầu nhiệm của thân phận con người sáng lên từ một ngày mới. Ơû đây không phải là một sự giải thích thần học do bộ óc tinh tế của thánh Phaolô. Nếu như vị Tông đồ Dân Ngoại đã trình bày giáo thuyết này một cách sâu sắc, trong Thư thứ nhất gởi giáo hữu Côrintô, chỉ cần đọc bài diễn văn của thánh Phêrô trong Tông đồ công vụ để nhận thấy toàn bộ thế hệ ki tô hữu đầu tiên đã đánh giá sự kiện ở mức độ tương tự; khi Mathias được chỉ định thay thế cho Judas, sự kiện đó là nhằm làm cho ông trở thành “ chứng nhân của sự Phục sinh”. Tiếp theo thánh Clement thành La Mã, thánh Ignace d’Antioche, thánh Polycarpe thành Smyrne, thánh Justin, Origene, thánh Augustin, tất cả các Giáo Phụ lần lượt nhấn mạnh trên dữ kiện này, họ công bố tầm quan trọng cơ bản của niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh.
Phục sinh là lời hữa cao trọng nhất của Ki tô giáo, Chúa Giêsu phục sinh từ kẻ chết “ là hoa trái đầu mùa của những kẻ đã chết” (I Cor., XV, 20). Giống như Ngài đã thoát ra khỏi huyệt mộ, mỗi người đi theo Ngài cũng có thể hi vọng thoát ra khỏi nơi đó. “ Đây là một mầu nhiệm, thánh Phaolô lên tiếng, một mầu nhiệm mà tôi bày tỏ cho tất cả anh em: chúng ta sẽ không chết! Tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong chớp mắt, ngay tiếng kèn trom pét sau cùng. Vì tiếng kèn sẽ vang lên, và những kẻ chết sẽ sống lại không bị hư nát, và chúng ta sẽ được biến đổi.” (I Cor., XV.51)
Niềm hi vọng lớn lao này, giống như bao dữ kiện của đức tin Ki tô giáo, sẽ nảy mầm từ từ, phình to ra, chín mùi ở tận nơi sâu thẳm nhất của lương tâm Israel. Các tiên tri cả đã nói đến điều đó: sự chết sẽ bị huỷ diệt mãi mãi (Isaia XV, 8). “ Những người chết sẽ sống; những thây ma sẽ sống lại! Các ngươi hãy thức dậy, hãy hát lên, hỡi những người đang ngủ trong bụi đất!” (Isaia XXVI,19).” Những người nằm ngủ trong bụi đất sẽ phải thức dậy, có kẻ vì cuộc sống đời đời, có kẻ vì án phạt đời đời.” (Daniel XII,2). Kẻ tin nào lại không nghe tiếng kêu vui sướng của Job, lời tuyên bố khó quên của ông : “ Từ bộ xương được mặc lại da và thịt, tôi sẽ nhìn thấy Thiên Chúa!” (Job XIX, 26).
Chính nhờ niềm hi vọng này mà sự Phục sinh của Chúa Ki tô mới ban cho vòng hoa chắc chắn. Trong cuộc sống, khi Chúa Giêsu gợi lại bi kịch của Ngài dưới biểu trưng Đền thờ bị phá huỷ và được xây lại trong ba ngày, các môn đệ đã không hiểu. Không hơn gì dấu lạ “Đền thờ”, ngay cả dấu lạ “Jonas” cũng không làm cho họ sáng mắt. Nhưng khi sự kiện Phục sinh buộc họ mở mắt ra, họ hiểu, họ biết và nói rằng biến cố này liên quan đến họ và liên quan đến tất cả mọi người. Từ cái còn là cảm giác hoặc niềm tin bị tranh cãi ít nhiều trong Cựu Ước, Tân Ước đã biến nó thành cái cốt lõi của Giáo thuyết. Về điểm này, cũng như về tất cả những điểm khác, mức độ Mạc khải cuối cùng đã được đạt đến.
Nhưng niềm tin vào Phục sinh còn cố gắng ban cho con người bị kết án tử một niiềm hi vọng sau cùng. Đó là toàn bộ quan niệm về cuộc sống được biến đổi. Toàn bộ nền triết học cổ xưa dạy rằng thân xác con người là điều dữ, một nhà ngục, một thứ xiềng xích, thậm chí một nấm mồ. “ Linh hồn, Platon viết trong tác phẩm Phédon, chỉ hoàn toàn thuộc về thân xác nếu bị tách rời khỏi nó… được giải thoát và trong sạch khỏi sự điên cuồng của thể xác, chúng ta sẽ sống.” Ngược lại, Ki tô giáo, bằng cách kết hợp thể xác với chiến thắng vĩnh hằng của linh hồn, đã quả quyết con người toàn diện gồm linh hồn và thể xác được liên kết với nhau bằng một trách nhiệm hổ tương. Sự khinh miệt thể xác là điều không thể vì thể xác được mời gọi tham dự vào niềm vinh quang đời đời của con người trọn vẹn. “ Nếu những kẻ chết không sống lại,, chúng ta cứ ăn nhậu đi!” (I Cor, XV 32), nhưng vì họ sống lại, trong chúng ta và trong những người khác, chúng ta hãy tôn trọng thân xác được hứa cho sự biểu dương. “Hoa trái đầu mùa” cho sự phục sinh của mỗi người, sự Phục sinh của Chúa Giêsu là sự khẳng định cho nhân phẩm; không bao giờ là một huyền thoại, một biểu trưng văn học, nó là bằng chứng cho hiện thực lành mạnh nhất, và cuối cùng, chính trên sự kiện đó mà nền luân lí và xã hội học Ki tô giáo xây dựng nền móng.
“Hỡi cái chết, chiến thắng của ngươi ở đâu? Hỡi cái chết, cái kích thích của ngươi ở đâu?” tiếng kêu vui mừng của thánh Phaolô vang vọng trong truyền thống Ki tô giáo, lời nói an ủi. Nhưng ngài còn nói thêm: “ Vật kích thích chính là tội lỗi…” (I Cor., XV, 55,56), trong vài từ này, tất cả đều nhắm đến số kiếp của con người, với việc chiến thắng cái chết, Chúa Giêsu cũng đã chiến thắng sức mạnh của sự dữ. Chính bởi tội lỗi mà cái chết đã đi vào Lịch sử; nhưng điều mà Chúa Giêsu minh chứng, đó là con người có thể vượt qua thân phận khốn cùng và ti tiện theo lời hứa của Thiên Chúa, cho dù nó lớn lao đến đâu đi nữa. Vương quốc của Chúa Cha, nơi Ngài sẽ ngự trị trong vinh quang, đó cũng chính là vương quốc “ở trong con người chúng ta”, nó nảy mầm, ban đầu là hạt cãi, rồi thành cây có muôn ngàn lá, trong linh hồn các vị thánh. Dự phần vào Chúa Giêsu Phục sinh, tức là đự phần vào bài học cao cả Ngài đã ban trong cuộc sống của Ngài. Vì thế sự dữ và cái chết đều giống như nhau; cái nhượng bộ cho tội lỗi nơi chúng ta đều hướng đến cái chết, nhưng bất cứ nổ lực nào hướng đến sự lành là một bước tiến về cỏi vĩnh hằng. Phục sinh không chỉ là một sự kiện lịch sử, một biến cố xảy ra trong một điểm, một thời gian nào đó. Đó là sự giải thích cho chính bi kịch của con người: chúng ta chỉ giữ cho sống trong chúng ta cái đáng tồn tại, tồn tại đời đời.

admin
22-03-2008, 09:08 PM
Nhiều thế kỉ trước kia, trên chính mảnh đất Chúa Giêsu vừa sinh sống, đau khổ và chiến thắng cái chết, một dân tộc nhỏ bé dần dần khám phá ra cái ý tưởng vĩ đại là Thiên Chúa không chỉ là sức mạnh, ý chí, huyền nhiệm của mọi sự, Ngài còn vượt trên mọi điều tốt lành, sự hoàn mỹ cuối cùng. Rồi dân tộc này dần dần đào sâu những nguyên tắc, những đòi hỏi để đặt tất cả những điều khoản lề luật đạo đức dưới các bản án của Đấng Tối Cao và đó là dân tộc duy nhất đã công bố không có đạo đức nào mà không xuất phát từ Thiên Chúa. Phải đi xa hơn nữa, xa đến mức không có bất cứ tôn giáo nào dám làm một cuộc tổng hợp này: thống nhất thành một mối duy nhất toàn bộ nền luân lí và siêu hình để ban cho con người một phương thế thực hiện ước mơ ngàn đời của mình là trở nên “như những vị thần” Vào giờ khắc Chúa Giêsu biến đi ngay giữa các môn đệ, niềm vui sướng mà ngài truyền cho họ sẽ được thực hiện một cách chắc chắn, - và linh cảm của Israel sẽ được hoàn thành như thế: con người và điều thiện là những điều giống nhau, không chỉ đối với Thiên Chúa, nhưng còn đối với con người, và phương thế duy nhất để dự phần vào Thiên Chúa, vào cỏi vĩnh hằng, đó là thực hành từ cuộc sống hư nát này những bài học mà Chúa Giêsu đã trình bày công thức và mẫu mực, những giới luật nghiêm ngặt về tình yêu.



SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA KITÔ



Chúa Giêsu sẽ trở về cùng Thiên Chúa Cha và mắt trần của con người sẽ không nhìn thấy Ngài nữa. Nhưng sau khi Ngài biến mất, thông điệp của Ngài vẫn còn, các môn đệ đã truyền bá thông điệp đó theo lệnh Ngài đã truyền cho họ. Trong một vài thế hệ, giống như hạt giống của dụ ngôn Tin Mừng, hạt lúa mì của lời ngài sẽ gieo rắc trên mọi lãnh thổ của Vương quốc; nó sẽ mang lại những vụ mùa bội thu. Giáo thuyết của một kẻ chiến bại này sẽ chinh phục thế giới chỉ trong vòng ba trăm năm: một mầu nhiệm khác mà Lịch sử khâm phục và làm chứng một cách khác.
Phải chăng đó là thông điệp Ngài để lại khi về trời? Từ một người biến mất, chỉ còn lại một kỉ niệm, một vài chữ được viết ra hoặc lập lại, và những thiên tài vĩ đại được nhắc đến qua công trình và giáo thuyết của họ hình như được giản lược thành một hình ảnh hoá thạch nào đó. Nhưng từ Thiên Chúa hằng sống, cái còn lại, còn hơn cả một bài giáo huấn, đó là sự hiện diện. Ki tô giáo, với tính cách là một niềm tin, là một điều gì khác hơn là một quan niệm triết học: sự tham dự vào Chúa Giêsu, nó đòi hỏi mọi người đồng nhất theo kiểu mẫu của nó, và điều các Ki tô hữu gọi là Ân sủng chính là Thiên Chúa làm người vẫn tiếp tục sống trong mỗi người chúng ta.
Trong chuyện kể Tin Mừng về “cuộc sống thứ hai” của Chúa Kitô, có một tình tiết rất đơn giản, nhưng rất phong phú về tinh thần. Đó là sự kiện do thánh Luc kể lại (XXIV, 13,35), được thánh Marc xác nhận, sự kiện Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmaus. Đó là hai người đàn ông khiêm tốn, hai người đàn ông giống như tất cả những người khác, những thành viên đầu tiên của Giáo Hội, ngoài 12 Tông đồ và các Phụ nữ thánh thiện, mà bản văn Tân Ước cho chúng ta biết tường tận, hình như họ được chọn để thụ hưởng sự mạc khải đặc biệt này, chỉ vì họ giống với mọi người, họ loan báo, họ tiên báo cho thành phần khiêm tốn của đoàn chiên Chúa Kitô. Họ yêu mến Chúa Giêsu hết linh hồn. Họ không hiểu hết thông điệp của Ngài, điều mà họ vẫn còn hiểu theo nghĩa hết sức phàm tục; một người tên là Cleophas, và đó là tất cả những gì chúng ta biết về họ.
Họ lên đường, lòng hết sức buồn rầu, sau khi chứng kiến thảm kịch Khổ nạn. Ngôi làng mà họ hướng đến, làng Emmaus, có phải là quê hương của họ hay không? Phải chăng họ trở về để tiếp tục công việc hàng ngày, công việc tẻ nhạt của người đàn ông, vì cuộc phiêu lưu vĩ đại có lúc lôi kéo họ ra khỏi những nếp cũ đã kết thúc? Ngày nay người ta đang tranh cãi về vị trí của ngôi làng Emmaus trong Tin Mừng này, một số người xác định vị trí của nó ở Qoubeibeh, cách Giêrusalem 60 dặm (chừng 12 kilômét) theo thánh Luc, số người khác trung thành với truyền thống cổ xưa nhất đồng hoá nó với Amouas hiện nay, tức Nicopolis xưa kia, cách xa 60 dặm (chừng 30 kilômét), tuy nhiên điều này khiến chúng ta khó chấp nhận một chuyến đi khứ hồi trong cùng một ngày. Ở sườn đồi nhin xuống tận các cánh đồng Jaffa, Emmaus theo truyền thống là một thị trấn nhỏ sáng sủa giống như nhiều thị trấn khác: những cây trắc bá và thích trắng, những ngôi nhà trắng hình khối vuông, con suối nhỏ róc rách dưới đáy một thung lũng màu xám. Nhưng, ở cách hai bước, những tu sĩ dòng Trappe, xuất phát từ tu viện Pháp Sept-Fons, ở El-Athroun, không chỉ muốn làm chứng cho việc chiêm niệm ki tô giáo ở bất cứ nới nào Chúa Giêsu tỏ mình: công việc biến vùng bán hoang mạc này thành một mảnh đất màu mỡ của những gốc nho, cam, ôliu và khoác lên những ngọn đồi đỏ hoe tấm áo choàng màu vàng của lúa đại mạch in sâu vào tâm trí chúng ta hình ảnh sự chúc phúc của Thiên Chúa như là bằng chứng sống động cho thấy ân sủng đã đến tại nơi này ( Phần lớn những công trình nghiên cứu gần đây nhất xác nhận việc nhận dạng theo truyền thống, thành Emmaus có lẽ không xa Lydda trong cánh đồng Séphala,” ở nơi mà các dãy núi bắt đầu vươn lên”, như lời thánh Jerome nói, một ngôi làng bình thường, theo ngôn từ Tin Mừng, cũng chính nơi đó Judas Maccabee tiêu diệt một đội quân Hi Lạp ( I Maccabees III,IV), một xóm khiêm tốn với các nguồn nước mát mà truyền thống Talmud nói đến. Vào năm 4 sau Công Nguyên, vào thời kì bạo loạn Athronges, dân cư ở đây tấn công một đoàn công voa La mã; kết quả dẫn đến cuộc trừng phạt khủng khiếp khiến cho ngôi làng bị thiêu rụi. Ngôi làng mới được phục hồi khi diễn ra biến cố mà Tin Mừng nhắc đến. Về vấn đề khoảng cách, người ta khó mà thống nhất ý kiến: trong các bản viết tay xưa nhất, một số cho là 60 dặm, số khác cho là 160; hai bản có chú thích như sau:” nên đọc 160, vì nó phù hợp với các bản văn chính xác cũng như việc công nhận của Origene.” Tính cách không nhất quán của các bản văn chứng tỏ sự kiện quay về Giêrusalem từ một ngôi làng cách xa 29 km có vẻ khó chấp nhận. Các bản văn địa lí xưa nhất như Table de Peutinger, địa lí Ptolémé, cuộc hành trình của người hành hương từ Bordeaux, cũng xác nhận con số 160. Vì vậy phải chấp nhận hoặc do phấn khích nên cả hai môn đệ vội trở về ngay và thực hiện 60 km trong một ngày, hoặc khi trở về họ cưỡi lừa. Cũng nên chú ý một chi tiết thú vị: chính Jules Africain làm cho Emmaus nổi tiếng, khi ông ta yêu cầu hoàng đế Heliogabale, vị hoàng đế tâm thần, ban cho ông khoản tín dụng dành cho việc tái thiếtù : thành phố mới được mệnh danh là Nicopolis).

admin
22-03-2008, 09:08 PM
“ Trong khi họ đang chuyện trò và tranh luận, chính Chúa Giêsu đến và cùng đồng hành với họ; nhưng đôi mắt họ bị cản trở nên không nhận ra Ngài. – Các ông đang bàn luận gì khi đi đường, Ngài hỏi họ, sao các ông lại buồn rầu thế? Cleophas, một trong hai người liền đáp: - Chắc ông là người ngoại quốc duy nhất đến Giêrusalem mà không biết điều gì đã xảy ra ở đó vào mấy ngày nay sao! – Chuyện gì thế?- Chuyện ông Giêsu thành Nazareth ! Đó là một vị tiên tri rất có uy tín về việc làm và lời nói trước mặt Thiên Chúa và dân chúng. Thế mà các trưởng tế và các phán quan đã lên án tử hình và đóng đinh Ngài trên thập giá. Còn chúng tôi, chúng tôi hi vọng chính Ngài sẽ là người giải phóng nước Israel! Những sự việc này đã diễn ra được ba ngày rồi… nói thật ra một vài phụ nữ trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc; họ kể lại khi đi đến mồ từ tảng sáng, họ không còn tìm thấy xác Ngài ở đó nữa, các thiên thần đã hiện ra với họ, đã báo cho họ biết Ngài vẫn còn sống. Một số người trong nhóm chúng tôi cũng đã đi đến mồ và đã nhìn thấy mọi sự đúng y như lời các bà đã nói; nhưng còn Ngài thì họ không thấy.”
“ Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: - Hỡi những kẻ kém tin! Những tâm hồn chậm tin lời các tiên tri! Không phải tất cả mọi sự đó phải xảy ra cho Đấng Cứu Thế để Ngài bước vào nơi vinh quang sao? Rồi bắt đầu từ Moise qua các Tiên tri, Ngài giải thích cho họ biết điều tiên báo về Ngài trong Kinh thánh.
“Khi họ đi đến cổng làng, Ngài giả vờ muốn đi xa hơn. Nhưng họ nài ép Ngài và nói: - Hãy ở lại với chúng tôi; ngày đã xế chiều, trời đã muộn. Ngài đi vào cùng với họ. Trong khi nằm dài ở bàn bên cạnh họ, Ngài cầm lấy bánh, làm phép, bẻ ra và trao cho họ. Ngay lúc đó mắt họ liền mở ra, họ nhận ra Ngài, nhưng Ngài trở nên vô hình và biến đi trước mắt họ. Bấy giờ họ liền kháo với nhau: “ Không phải trái tim chúng ta đang rạo rực trong người chúng ta, khi Ngài nói chuyện trên đường đi, khi Ngài giải thích Kinh Thánh cho chúng ta hay sao? Và ngay lúc đó, họ trở lại Giêrusalem và đi đến nơi mười một vị tông đồ và các bạn của họ đang ở; họ kể lại chuyện đã xảy ra trên đường đi và họ đã nhận biết Chúa Giêsu lúc phân chia bánh như thế nào. (Đó có phải là một bữa ăn bình thường hoặc “việc phân chia bánh này” lập lại lễ nghi thánh thể trong bữa Tiệc ly hay không? Truyền thống đang tranh cãi điều này và từ 19 thế kỉ nay đã không được xác định. Thánh Augustin nghĩ rằng: “qua việc phân chia bánh khiến hai môn đệ đã nhận ra Chúa Cứu Thế, không ai không chấp nhận Bí tích làm cho chúng ta tham gia vào việc nhận biết Ngài”. Sự giải thích này được đánh giá rất cao đến tận thế kỉ XVI; ngày nay nhiều nhà chú giải uyên bác bác bỏ ý kiến này hoặc ít ra chỉ nhắc lại nó một cách dè dặt).
Chính vì dựa trên cảnh tượng gây xúc động sau cùng này mà người ta muốn rời bỏ hình ảnh của Chúa Giêsu. Trong bức hoạ nhỏ ở Louvre, Rembrant đã gợi lại cảnh tượng đó một cách thật hoàn hảo. Bức tranh đầy bóng tối; ánh sáng hình như toả ra từ chính Chúa Giêsu. Trên bàn ăn, ở giữa tấm khăn trải bàn là chiếc bánh mang một ý nghĩa bí tích. Chúa Giêsu cầu nguyện; cả hai người đàn ông cũng cầu nguyện ngay lúc tâm hồn họ mở ra; một người làm cử chỉ rụt mình, người kia tỏ ra tôn kính. Trong phút chốc người khách bí mật biến đi, nhưng hình như tất cả mọi thứ đều cho thấy sự hiện diện của Ngài, dù vô hình, lại rõ ràng, sự hiện diện đó sẽ còn đọng lại trong tâm hồn các môn đệ niềm rạo rực trong khi Ngài giảng dạy.
Niềm rạo rực trong tâm hồn này là gì nếu không phải là dấu chỉ của sự hiện diện của Ngài? Chính sự hiện diện đó sẽ thuyết phục các vị tử đạo hi sinh mạng sống trần tục của họ vì một cuộc sống khác, quyết định hơn. Chính nhờ nó mà các nhà thần bí nổi tiếng sẽ nuôi dưỡng lòng nhiệt tình anh hùng và các thảm kịch thầm lặng của họ. Đó là sự hiện diện mà người tín hữu khiêm tốn nhất mang trong mình khi nhận lãnh Bánh Thánh, tâm hồn cảm thấy mạnh mẽ hơn, khoan dung hơn, cháy bỏng hơn. Trãi qua bao thế kỉ, các tín đồ của Chúa Giêsu có nhiều cách nói để diễn tả sự Hiện diện này: “ cơn bão vô hình của tình yêu”, Jean de Fecamp nói, “vực thẳm mà tôi không thể thăm dò độ sâu”, thánh Therese de Lisieux viết: “ nhưng tất cả mọi người đều nhất trí khẳng định sự hiện hữu đó.” “ Không phải tôi sống, nhưng chính Chúa Kitô sống trong tôi!” thánh Phaolô thốt lên như thế. Từ hơn hai thiên niên kỉ, một số đông người đã nói đến sự Hiện diện này, như là một thực tại chắc chắn nhất; Chúa Giêsu, dù đã lên trời, nhưng vẫn còn là hữu thể có cuộc sống mà những người vào thời đại Ngài đã yêu mến và những con người khác sau thời Ngài cũng yêu mến Ngài với một tình yêu bất diệt. Chứng từ của nữ thánh Therese d’Avila, của nữ thánh Gertrude, của chân phúc Maria Nhập thể cũng như của thánh Bernard, thánh Francois d’Assise không thể nào bị lãng quên. Khi thánh Bernard nói với Chúa Kitô: “ Ngài thân thiết đối với tôi còn hơn chính tôi”, khi Claudel định nghĩa Ngài: “ Người nào đó ở trong tôi hơn là chính tôi ở trong tôi”, đó chính là sự Hiện diện đáng tin mà họ nhắc đến. Dù ai nói với chúng ta: “ Các bạn đã thoát ra khỏi các sự kiện, các bạn đang bước vào cõi siêu hình”, chúng ta sẽ đáp lại rằng tất cả những người biết lí lẽ, “ có lương tri cao thượng”như Bergson nói, đều khẳng định hàng ngàn lần Chúa Giêsu là một hữu thể hằng sống đối với họ, điều đó cũng là một sự kiện. Nhà sử học Đức Welhoausen đã viết: “ Nghề nghiệp của Chúa Giêsu để lại ấn tượng là không kết thúc, nhưng đã bị gián đoạn khi vừa bắt đầu.” Có lẽ trên bình diện nhân loại; nhưng nghề nghiệp này thuộc những nghề mà sự thất bại hoặc cái chết cũng không thể làm gián đoạn; nó được tiếp tục trong tâm hồn các môn đệ.
Lúc biến đi trước mặt các môn đệ, Chúa Giêsu đã nói với họ những lời mà thánh Matthieu dùng để kết thúc sách Tin Mừng của ngài: “ Thầy sẽ ở cùng các con cho đến tận thế.” Trong suốt 30 tháng thi hành sứ mạng trên trần thế, Ngài kiên trì chuẩn bị cho những người có thể làm cho Ngài tồn tại; Ngài đã lựa chọn, đào tạo, tổ chức họ; Ngài đã ban cho họ điều tốt nhất từ linh hồn Ngài. Giờ đây họ có nhiệm vụ làm chứng cho Ánh sáng mà họ đã nhận lãnh; họ sẽ không bị thất bại.
Lịch sử của Thiên Chúa hằng sống từ nay về sau còn tiếp diễn trong lịch sử của “thân thể mầu nhiệm” mà Ngài cổ vũ khích lệ bằng sự Hiện diện của Ngài, cái thực tế vĩ đại này được ghi vào tâm điểm các thế kỉ: Giáo hội của Chúa Giêsu Ki tô.