admin
31-03-2008, 09:44 PM
PHỤNG VỤ THÁNG 3 NĂM 2008 MỪNG CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ PHỤC SINH
Theo truyền thống Phụng Vụ, hằng năm Hội Thánh dành tháng 3 dâng kính Thánh Cả Giu-se là vị Thánh được Giáo Hội Việt Nam chọn làm Bổn Mạng. Riêng năm nay 2008, cao điểm trong tháng 3 là Lễ Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh, gọi tắt là Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật 23 tháng 3. Vì thế, chủ điểm của bài viết này hướng vào Mừng Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh. Tuy vậy, để chu kỳ Phụng Vụ được trọn vẹn, trước khi khai triển về nguồn gốc và ý nghĩa Lễ Phục Sinh, chúng tôi xin lược qua một ít Phụng Vụ và thông tin cần biết trong tháng 3 năm 2008.
ĐẠI LỄ CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH
Lễ Phục Sinh là ngày lễ trọng đại trong Phụng Vụ Ki-tô Giáo như Giáo Lý hướng dẫn: “Mầu nhiệm Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của Đức Tin về Chúa Ki-tô, là điều được tin và sống như chân lý trung tâm trong cộng đoàn Ki-tô giáo nguyên thủy; rồi được truyền đạt lại như chân lý nền tảng bởi Truyền Thống, được xác định bởi các tài liệu Tân Ước, được giảng dạy như thành phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua cùng với mầu nhiệm Thập Giá” ( GL 638 ). Mầu nhiệm Phục Sinh được các Tông Đồ hằng rao giảng và Hội Thánh xác tín: “Không có Phục Sinh thì không có Ki-tô Giáo” ( GL 639 ).
Với Đức Tin tông truyền, người Ki-tô hữu tuyên xưng: Tôi tin kính Đức Giê-su Ki-tô “ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại” hoặc “Tôi tin kính một Chúa Giê-su Ki-tô .. ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh” ( Kinh Tin Kính Ni-xênê đọc vào Chúa Nhật và Lễ trọng ).
Thánh Phao-lô Tông Đồ còn khẳng định: “Nếu Đức Ki-tô không trỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả Đức Tin của anh em cũng trống rỗng” ( 1Cr 15, 14 )
Do tính cách trọng đại như thế, Phụng Vụ Lễ Phục Sinh có nguồn gốc và ý nghĩa rất siêu việt.
Trước tiên, Lễ Phục Sinh đã có từ lâu đời trong Giáo Hội, được các Ki-tô hữu mừng kính, ngay cả vào thời kỳ đạo Chúa bị bách hại kinh khủng, thế kỷ 1, năm 64, dưới thời Nê-rôn ( 37 – 68 ) làm hoàng đế Rô-ma năm 54 – 68. Thế kỷ thứ 2, trong Giáo Hội, có nhiều vị lãnh đạo thánh thiện, như Giám Mục Ignatius thành An-ki-ô-ki-a ( tử đạo tại Rô-ma năm 110 ), Giám Mục Polycarp thành Smyrna ( tử đạo khoảng năm 155 ), đã đem Phụng Vụ Phục Sinh vào Chúa Nhật, tuy không có ngày cố định mà chỉ sau lễ Vượt Qua của Do Thái Giáo. Ngay cả Chúa Nhật, ý chỉ chính yếu của Phụng Vụ hướng về mầu nhiệm Phục Sinh. Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh là Đại Lễ Hiệp Nhất của người Ki-tô-hữu Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, kể cả Chính Thống Giáo.
Lễ Phục Sinh nối kết Cựu Ước với Tân ước và có liên hệ với Lễ Vượt Qua của Do Thái Giáo vì phục sinh đi liền với khổ nạn và chịu chết của Chúa Giê-su, mà căn cứ vào trích thuật của các thánh sử về sự thương khó Chúa Ki-tô ( Mt 26; 27; 28; Mc 14; 15; 16; Lc 22; 23; 24: Ga 13; 14; 18; 19; 20 ), Người ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ, đã lập phép Thánh Thể, trước khi vào vườn Ghết-sê-ma-ni cầu nguyện, rồi bị quân dữ bắt, đem đi xử án, vác thập giá, chịu đóng đinh, chịu chết và, sau ba ngày, đã sống lại. Các nhà nghiên cứu Thánh Kinh còn diễn giải: Đức Ki-tô là Con Chiên được hiến tế vào ngày người Israel ăn thịt chiên mừng Lễ Vượt Qua, nghĩa là Chúa Giê-su chịu chết vào ngày 15 tháng Nisan và sống lại ngày 17 Nisan. Theo Tân Ước, trước khi vào Tiệc Ly, Chúa Giê-su bảo các môn đệ: “Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá” ( Mt 26, 1 – 2 ).
Hằng năm, việc lập Lễ Phục Sinh, điểm chính yếu của Niên lịch Phụng Vụ, căn cứ vào lịch Do Thái với lễ Vượt Qua vào Mùa Xuân và sau Xuân Phân, ngày 14 tháng Nisan âm lịch, nên Chúa Giê-su “chịu nạn, chịu chết và sống lại” sau ngày trăng rằm 15 Nisan. Từ thế kỷ thứ 4, sau khi Con-xtan-ti-nô ( 279 / 288 – 337 ) lên ngôi đại đế Rô-ma ( 306 – 337 ) và cho Ki-tô-giáo được tự do, Chúa Nhật Lễ Phục Sinh trở thành ngày đại lễ, nhưng thay đổi hằng năm vì Tân Ước không nói mừng Chúa Phục Sinh vào ngày cố định nào. Đến năm 325, mới có minh định từ Công Đồng Ni-xê-a ( Nicêa ): “Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật sau tiết Xuân Phân ( 21 tháng 3 DL ), và sau trăng rằm ( 15 tháng Nisan ), nghĩa là từ 22 tháng 3 đến chậm nhất vào 25 tháng 4.
Ví dụ: Năm 2008, Lễ Phục Sinh ngày 23 tháng 3, và năm 2011, ngày 24 tháng 4.
Sau biến cố năm 1054, từ thế kỷ 11, Chính Thống Giáo tách ra khỏi Công Giáo, và, từ thế kỷ 16, thời Martin Luther ( 1480 – 1546 ) và Jean Calvin ( 1509 – 64 ) thành lập Giáo Hội Cải Cách ( Reform ) tách khỏi Công Giáo ( sau 1517 ), cũng như Henry VIII ( 1509 – 47 ), vua Anh Quốc, đưa AnhGiáo ly khai khỏi Công Giáo. Dù vậy, hằng năm các Giáo Hội Ki-tô đều mừng đại lễ Phục Sinh cùng Chúa Nhật theo lịch Julian là dương lịch được hoàng đế Jules César ban hành và khởi sự từ năm 45 trước Công Nguyên. Nhưng lịch Julian có sai lệch với một số yếu tố thiên văn vì quá nhiều năm nhuận.
Vì thế, Đức Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô XIII ( 1572 – 85 ) đã cho nghiên cứu và ban hành lịch mới ( lịch Gregorien ) từ năm 1582, được nhiều nước Tây Phương chấp nhận và cho áp dụng như niên lịch hiện hành. Từ đó, các Giáo Hội Ki-tô – Tin Lành, Công Giáo, Anh Giáo – mừng cùng ngày Chúa Nhật Phục Sinh; còn Chính Thống Giáo, vẫn theo lịch Julian, nên Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật, nhưng khác ngày. Ví dụ: Năm 2008, Lễ Phục Sinh Công Giáo vào Chúa Nhật 23 tháng 3; còn Chính Thống Giáo, Chúa Nhật 27 tháng 4; năm 2009, Công Giáo mừng Lễ Phục Sinh 12 tháng 4; còn Chính Thống Giáo vào 19 tháng 4.
Lý do: Chính Thống Giáo nói rằng Giáo Hội Ki-tô mừng Lễ Phục Sinh sau tiết Xuân Phân và sau trăng rằm đầu tiên, nhưng không nói đến Lễ Vượt Qua; mà Do Thái theo âm lịch, nên ngày rằm ( 15 tháng Nisan ) của họ có thể vào sau ngày Lễ Phục Sinh Công Giáo. Tuy vậy cũng có năm cùng ngày, như 2007, vào Chúa Nhật 8 tháng 4 và 2010 vào Chúa Nhật 10 tháng 4, do đó đã và đang có nhiều thảo luận giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo tiến đến Lễ Phục Sinh cùng ngày.
Dù không thống nhất về ngày lễ, nhưng hiệp nhất về tinh thần: Hằng năm, trong 40 ngày, các nghi thức phụng vụ đều giúp Ki-tô hữu chuẩn bị Lễ Phục Sinh qua Mùa Chay và Tuần Thánh.
Theo truyền thống Phụng Vụ, hằng năm Hội Thánh dành tháng 3 dâng kính Thánh Cả Giu-se là vị Thánh được Giáo Hội Việt Nam chọn làm Bổn Mạng. Riêng năm nay 2008, cao điểm trong tháng 3 là Lễ Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh, gọi tắt là Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật 23 tháng 3. Vì thế, chủ điểm của bài viết này hướng vào Mừng Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh. Tuy vậy, để chu kỳ Phụng Vụ được trọn vẹn, trước khi khai triển về nguồn gốc và ý nghĩa Lễ Phục Sinh, chúng tôi xin lược qua một ít Phụng Vụ và thông tin cần biết trong tháng 3 năm 2008.
ĐẠI LỄ CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH
Lễ Phục Sinh là ngày lễ trọng đại trong Phụng Vụ Ki-tô Giáo như Giáo Lý hướng dẫn: “Mầu nhiệm Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của Đức Tin về Chúa Ki-tô, là điều được tin và sống như chân lý trung tâm trong cộng đoàn Ki-tô giáo nguyên thủy; rồi được truyền đạt lại như chân lý nền tảng bởi Truyền Thống, được xác định bởi các tài liệu Tân Ước, được giảng dạy như thành phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua cùng với mầu nhiệm Thập Giá” ( GL 638 ). Mầu nhiệm Phục Sinh được các Tông Đồ hằng rao giảng và Hội Thánh xác tín: “Không có Phục Sinh thì không có Ki-tô Giáo” ( GL 639 ).
Với Đức Tin tông truyền, người Ki-tô hữu tuyên xưng: Tôi tin kính Đức Giê-su Ki-tô “ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại” hoặc “Tôi tin kính một Chúa Giê-su Ki-tô .. ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh” ( Kinh Tin Kính Ni-xênê đọc vào Chúa Nhật và Lễ trọng ).
Thánh Phao-lô Tông Đồ còn khẳng định: “Nếu Đức Ki-tô không trỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả Đức Tin của anh em cũng trống rỗng” ( 1Cr 15, 14 )
Do tính cách trọng đại như thế, Phụng Vụ Lễ Phục Sinh có nguồn gốc và ý nghĩa rất siêu việt.
Trước tiên, Lễ Phục Sinh đã có từ lâu đời trong Giáo Hội, được các Ki-tô hữu mừng kính, ngay cả vào thời kỳ đạo Chúa bị bách hại kinh khủng, thế kỷ 1, năm 64, dưới thời Nê-rôn ( 37 – 68 ) làm hoàng đế Rô-ma năm 54 – 68. Thế kỷ thứ 2, trong Giáo Hội, có nhiều vị lãnh đạo thánh thiện, như Giám Mục Ignatius thành An-ki-ô-ki-a ( tử đạo tại Rô-ma năm 110 ), Giám Mục Polycarp thành Smyrna ( tử đạo khoảng năm 155 ), đã đem Phụng Vụ Phục Sinh vào Chúa Nhật, tuy không có ngày cố định mà chỉ sau lễ Vượt Qua của Do Thái Giáo. Ngay cả Chúa Nhật, ý chỉ chính yếu của Phụng Vụ hướng về mầu nhiệm Phục Sinh. Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh là Đại Lễ Hiệp Nhất của người Ki-tô-hữu Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, kể cả Chính Thống Giáo.
Lễ Phục Sinh nối kết Cựu Ước với Tân ước và có liên hệ với Lễ Vượt Qua của Do Thái Giáo vì phục sinh đi liền với khổ nạn và chịu chết của Chúa Giê-su, mà căn cứ vào trích thuật của các thánh sử về sự thương khó Chúa Ki-tô ( Mt 26; 27; 28; Mc 14; 15; 16; Lc 22; 23; 24: Ga 13; 14; 18; 19; 20 ), Người ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ, đã lập phép Thánh Thể, trước khi vào vườn Ghết-sê-ma-ni cầu nguyện, rồi bị quân dữ bắt, đem đi xử án, vác thập giá, chịu đóng đinh, chịu chết và, sau ba ngày, đã sống lại. Các nhà nghiên cứu Thánh Kinh còn diễn giải: Đức Ki-tô là Con Chiên được hiến tế vào ngày người Israel ăn thịt chiên mừng Lễ Vượt Qua, nghĩa là Chúa Giê-su chịu chết vào ngày 15 tháng Nisan và sống lại ngày 17 Nisan. Theo Tân Ước, trước khi vào Tiệc Ly, Chúa Giê-su bảo các môn đệ: “Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá” ( Mt 26, 1 – 2 ).
Hằng năm, việc lập Lễ Phục Sinh, điểm chính yếu của Niên lịch Phụng Vụ, căn cứ vào lịch Do Thái với lễ Vượt Qua vào Mùa Xuân và sau Xuân Phân, ngày 14 tháng Nisan âm lịch, nên Chúa Giê-su “chịu nạn, chịu chết và sống lại” sau ngày trăng rằm 15 Nisan. Từ thế kỷ thứ 4, sau khi Con-xtan-ti-nô ( 279 / 288 – 337 ) lên ngôi đại đế Rô-ma ( 306 – 337 ) và cho Ki-tô-giáo được tự do, Chúa Nhật Lễ Phục Sinh trở thành ngày đại lễ, nhưng thay đổi hằng năm vì Tân Ước không nói mừng Chúa Phục Sinh vào ngày cố định nào. Đến năm 325, mới có minh định từ Công Đồng Ni-xê-a ( Nicêa ): “Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật sau tiết Xuân Phân ( 21 tháng 3 DL ), và sau trăng rằm ( 15 tháng Nisan ), nghĩa là từ 22 tháng 3 đến chậm nhất vào 25 tháng 4.
Ví dụ: Năm 2008, Lễ Phục Sinh ngày 23 tháng 3, và năm 2011, ngày 24 tháng 4.
Sau biến cố năm 1054, từ thế kỷ 11, Chính Thống Giáo tách ra khỏi Công Giáo, và, từ thế kỷ 16, thời Martin Luther ( 1480 – 1546 ) và Jean Calvin ( 1509 – 64 ) thành lập Giáo Hội Cải Cách ( Reform ) tách khỏi Công Giáo ( sau 1517 ), cũng như Henry VIII ( 1509 – 47 ), vua Anh Quốc, đưa AnhGiáo ly khai khỏi Công Giáo. Dù vậy, hằng năm các Giáo Hội Ki-tô đều mừng đại lễ Phục Sinh cùng Chúa Nhật theo lịch Julian là dương lịch được hoàng đế Jules César ban hành và khởi sự từ năm 45 trước Công Nguyên. Nhưng lịch Julian có sai lệch với một số yếu tố thiên văn vì quá nhiều năm nhuận.
Vì thế, Đức Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô XIII ( 1572 – 85 ) đã cho nghiên cứu và ban hành lịch mới ( lịch Gregorien ) từ năm 1582, được nhiều nước Tây Phương chấp nhận và cho áp dụng như niên lịch hiện hành. Từ đó, các Giáo Hội Ki-tô – Tin Lành, Công Giáo, Anh Giáo – mừng cùng ngày Chúa Nhật Phục Sinh; còn Chính Thống Giáo, vẫn theo lịch Julian, nên Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật, nhưng khác ngày. Ví dụ: Năm 2008, Lễ Phục Sinh Công Giáo vào Chúa Nhật 23 tháng 3; còn Chính Thống Giáo, Chúa Nhật 27 tháng 4; năm 2009, Công Giáo mừng Lễ Phục Sinh 12 tháng 4; còn Chính Thống Giáo vào 19 tháng 4.
Lý do: Chính Thống Giáo nói rằng Giáo Hội Ki-tô mừng Lễ Phục Sinh sau tiết Xuân Phân và sau trăng rằm đầu tiên, nhưng không nói đến Lễ Vượt Qua; mà Do Thái theo âm lịch, nên ngày rằm ( 15 tháng Nisan ) của họ có thể vào sau ngày Lễ Phục Sinh Công Giáo. Tuy vậy cũng có năm cùng ngày, như 2007, vào Chúa Nhật 8 tháng 4 và 2010 vào Chúa Nhật 10 tháng 4, do đó đã và đang có nhiều thảo luận giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo tiến đến Lễ Phục Sinh cùng ngày.
Dù không thống nhất về ngày lễ, nhưng hiệp nhất về tinh thần: Hằng năm, trong 40 ngày, các nghi thức phụng vụ đều giúp Ki-tô hữu chuẩn bị Lễ Phục Sinh qua Mùa Chay và Tuần Thánh.