PDA

View Full Version : Đóng góp ý kiến về Nghi Thức Thánh Lễ


admin
01-06-2006, 07:45 AM
Đóng góp ý kiến về Nghi Thức Thánh Lễ

Chúng con vui mừng nhận được quyển “NGHI THỨC THÁNH LỄ” do HĐGMVN mới xuất bản. Vì bản dịch này đúng Tín Lý và Thần Học Công Giáo, nhất là dịch sát quyển Misale Romanum của Tòa Thánh.

Tuy nhiên, theo sự hiểu biết khiêm tốn của chúng con, mấy từ sau đây không được sát nghĩa lắm:

1. “ĐÓ là lời Chúa”?

Khi thừa tác viên vừa đọc xong bài sách thánh, hay thầy sáu hoặc linh mục đọc xong bài Tin Mừng nào đó, các ngài hôn kính lời Chúa rồi đưa sách lên cao để tín hữu cung kính, mà họ lại cao giọng: “ĐÓ là lời Chúa”!?. Tại sao lại “Đó là...” mà không phải là: “ĐÂY là. ..” cho sát ý nghĩa, nhất là đúng văn phạm. Như ngay sau khi các vị chủ tế dâng Mình và Máu Thánh Chúa lên, các ngài cất tiếng: “ĐÂY là mầu nhiệm Đức Tin”. “ĐÂY là…...”, rất ý nghĩa và rất đúng văn phạm. Chứ không thể nói: “Đó là mầu nhiệm Đức Tin”.

2. “Vì này là Mình Thầy”. “Vì này là Mình TA (TÔI)”:

a. Chữ “Thầy” tuy rất thân mật, nhưng theo cách xưng hô kiểu Việt Nam, “Thầy” có thể hiểu là ngôi thứ nhất số ít cũng được, hay ngôi thứ hai số ít cũng được, hoặc ngôi thứ ba số ít cũng được. Vì thế chữ “Thầy” mập mờ, không rõ rệt. Hơn nữa, chữ “Thầy” chỉ dùng với một số người đang có mặt. Chứ không bao quát và mãi mãi. Nhiều giáo phái Tin Lành lập luận rằng: Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu chỉ nói với 12 Tông Đồ thôi. Nên họ không tin Chúa ngự trong Bí Tích Thánh Thể để ở lại thế gian cho đến Tận Thế.

b. Chữ “TA (TÔI)” luôn luôn ở ngôi thứ nhất số ít; rất rõ rệt, không mập mờ lẫn lộn.

Đối với những tín hữu Công Giáo, cha con chúng ta ai cũng tin rằng: Chúa Giêsu ngự thật trong Bí Tích Thánh Thể và hằng ở lại thế gian cho đến Tận Thế như NGƯỜI đã phán. Vì thế những lời Chúa phán trong bữa Tiệc Ly là Chúa truyền cho tất cả nhân loại và truyền cho đến Tận Thế. Chứ không phải Chúa chỉ nói với các Tông Đồ đang có mặt ngay lúc đó thôi. Cho nên theo ý kiến thấp kém của chúng con, nếu có thể được xin các Đấng nên thay chữ “Thầy” bằng chữ “TA hay TÔI” cho thật ý nghĩa, thật rõ rệt, thật bao quát.

3. Cứu Chuộc hay Cứu Độ?

Chúa Giêsu xuống thế gian để CỨU CHUỘC cả nhân loại thoát khỏi án phạt đời đời. NGƯỜI là Chúa Cứu Thế (Redemtor, Salvator, Redempter, Sauver, Redimeer, Savior...). Chứ NGƯỜI không phải là người trần tục (như nhiều bè rối chủ trương) để CỨU ĐỘ (Auxilium, Aide, Help, Paramata, Paramedic...) chúng sinh như Đức Phật. Vì thế, nếu có thể được xin các Đấng thay chữ “CỨU ĐỘ” bằng chữ “CỨU CHUỘC” để thật trọn nghĩa và để nói lên quyền phép cùng tình thương vô biên của NGƯỜI.

Trên đây là những ý kiến thấp kém của chúng con, nếu làm phiền lòng các Đấng, xin các Đấng tha lỗi.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần luôn ban ơn soi sáng dẫn dắt tất cả các Đấng và toàn thể Giáo Hội nhà.

tan_chinh@yahoo.com

admin
01-06-2006, 08:17 PM
Đóng góp ý kiến: Đó là Lời Chúa!



Nhân đọc bài “Đóng góp ý kiến về Nghi Thức Thánh Lễ” của ông Phan Tân, người viết xin mạo muội góp thêm vài ý kiến như sau, đặc biệt là về câu xướng sau khi công bố Lời Chúa.

1. “ĐÓ LÀ LỜI CHÚA” HAY “ĐÂY LÀ LỜI CHÚA”?

Theo ông Phan Tân, sau khi công bố Lời Chúa, nên xướng “Đây là Lời Chúa” mới đúng văn phạm và sát nghĩa. Đoạn văn của ông xem ra nói lên lý do này: cuốn Sách Thánh ở ngay trước mặt mà tại sao lại nói “Đó là Lời Chúa”?

Tôi nghĩ rằng có một sự ngộ nhận ở đây. Lời tạ ơn của cộng đoàn sau khi nghe Lời Chúa là tạ ơn về Lời vừa được công bố, tạ ơn Chúa vì Lời hằng sống, chứ không có ý tạ ơn về cuốn Sách Thánh trước mặt. Cho nên, câu “Đó là Lời Chúa” là đúng chứ không sai, và cũng không gây hiểu lầm như trong câu xướng “This is the word of the Lord” trước đây ở Hoa Kỳ, như tôi sẽ trình bày ngay sau đây.

Trong ấn bản năm 1998 của Sách Bài Đọc (Lectionary) tiếng Anh ở Hoa Kỳ, câu xướng ở cuối bài đọc là “The word of the Lord” thay vì “This is the word of the Lord” như trong ấn bản 1970. Sự thay đổi này đã được thực hiện vào đầu thập niên 1990 theo quyết định của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Các giám mục cũng yêu cầu những người công bố Lời Chúa KHÔNG giơ cao Sách Bài Đọc lên khi đọc câu xướng ấy.

Từ đó một số cộng đoàn Việt Nam ở Mỹ cũng tự động bỏ câu xướng “Đó Là Lời Chúa” và thay bằng câu “Lời của Chúa,” hoặc “Lời của Đức Chúa,” hoặc cụt ngủn là “Lời Chúa.” Tương tự như thế, một số nơi dựa theo bản dịch tiếng Anh mà dùng câu “Phúc Âm của Chúa” hoặc “Tin Mừng của Chúa” sau khi đọc Phúc Âm.

Người Mỹ phải đổi câu xướng thành “The Word of the Lord” là vì một số người đưa cao Sách Bài Đọc lên mà nói “This is the Word of the Lord,” khiến người dự lễ nghĩ Sách Bài Đọc là Lời Chúa (THIS: something close at hand), trong khi câu đó có ý nói: điều vừa được công bố là Lời Chúa (THIS: something just mentioned) (xem Oxford American Dictionary).

Trong tiếng Việt, dù người ta có giơ cuốn Sách Thánh lên mà nói “Đó là Lời Chúa” thì cũng không gây ngộ nhận như câu tiếng Anh. Nếu nói “Đây là Lời Chúa” và giơ sách lên thì đúng là gây ngộ nhận. Đương nhiên đưa Sách Bài Đọc lên là không đúng và thừa, vì lúc đó chúng ta tạ ơn Chúa vì Lời hằng sống vừa được công bố chứ không phải là tung hô cuốn sách chứa Lời Chúa. Câu “Đó là Lời Chúa” rất đầy đặn, trầm bổng, chứ không cụt ngủn như câu “Lời của Chúa.” Đằng khác, trong tiếng Việt, chúng ta thường tránh dùng chữ “của” vì nghe hơi nặng. Thí dụ, chúng ta thường nói “nhà tôi, mẹ tôi, cha tôi, con tôi,” chứ ít khi nói “nhà của tôi, mẹ của tôi, cha của tôi, con của tôi…” Cũng có lúc phải dùng chữ “của,” như “xe của tôi, sách của tôi, tiền của tôi…” nhưng bình thường thì tránh dùng chữ “của” khi có thể được.

Thế “Verbum Domini” trong nguyên bản la-tinh chẳng phải là “Lời (của) Chúa” hay sao? Tại sao lại dịch là “Đó là Lời Chúa? Thưa, bản dịch không nhất thiết phải theo sát chữ, mà có lúc phải chuyển dịch thế nào để thích hợp với người đọc, người nghe, và thích hợp với bối cảnh, miễn là sự thích ứng này không thay đổi ý nghĩa của một điều quan trọng thuộc niềm tin.

Câu “Verbum Domini” sau khi đọc Sách Thánh được dùng như một câu kêu gọi cộng đoàn tạ ơn hoặc tung hô Chúa về Lời vừa được công bố. Chính vì vậy bản dịch tiếng Việt dùng câu “Đó là Lời Chúa” để nhấn mạnh điều vừa được công bố là Lời Chúa, cũng như trước đây trong tiếng Anh người ta đọc “This (something just mentioned) is the Word of the Lord,” và trong tiếng Pháp thì vẫn đọc là “Acclamons la Parole de Dieu” (Hãy tung hô Lời Chúa) sau bài Phúc Âm.

Câu “Mysterium fidei” sau khi truyền phép thì lại được dịch là “Đây là mầu nhiệm đức tin” để ám chỉ mầu nhiệm đang diễn ra nơi bàn thờ. Ở đây mà đọc “Mầu nhiệm đức tin” theo nguyên văn thì nghe sẽ mơ hồ. Cũng không thể nói “Đó là mầu nhiệm đức tin.”

Khi rước lễ, linh mục lại dùng câu “Mình Thánh Chúa Kitô” theo đúng nguyên văn “Corpus Christi” chứ không cần nói “Đây là Mình Thánh Chúa Kitô” bởi vì Mình Thánh Chúa đang ở ngay trước mặt người chịu lễ rồi.

Một câu hỏi nữa được đặt ra là: Có nên dùng câu xướng “Phúc Âm của Chúa” hoặc “Tin Mừng của Chúa” sau khi công bố Tin Mừng?

Trước khi công bố Tin Mừng, linh mục đã nói “Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh…” nên không cần phải nhắc “Phúc Âm của Chúa” sau đó. Chỉ cần dùng một câu “Đó là Lời Chúa” là đủ, vì Lời Chúa bao gồm cả Phúc Âm cũng như các thư của Thánh Phaolô, v.v. Vì vậy, sau khi công bố bài đọc I, bài đọc II, không cần phải nói: “Đó là Cựu Ước,” hoặc “Đó là Thư Thánh Phaolô.”

Trong ấn bản tiếng Pháp có sự phân biệt nho nhỏ: Sau bài đọc I hoặc II, người đọc xướng: “Parole du Seigneur,” và cộng đoàn thưa: “Nous rendons gloire à Dieu.” Sau bài Phúc Âm, linh mục xướng: “Acclamons la Parole de Dieu,” và cộng đoàn đáp: “Louange à toi, Seigneur Jésus.” Có lẽ phân biệt như vậy với mục đích giúp cộng đoàn đáp cho đúng câu, nhưng thực ra điều này không cần thiết, vì nội việc mọi người ĐỨNG khi nghe Phúc Âm là đã quá đủ để phân biệt.

2. “VÌ NÀY LÀ MÌNH THẦY” HAY “VÌ NÀY LÀ MÌNH TA/TÔI”?

Theo ông Phan Tân, không nên dùng chữ “Thầy” vì chữ này mập mờ, “có thể hiểu là ngôi thứ nhất số ít cũng được, hay ngôi thứ hai số ít cũng được, hoặc ngôi thứ ba số ít cũng được.”

Tuy nhiên, chữ “ta” mà ông đề nghị dùng cũng có sự mập mờ, có thể được hiểu là ngôi thứ nhất số ít hay ngôi thứ nhất số nhiều. Mấy câu sau đây cho thấy “ta” thường được hiểu là số nhiều (chúng ta) với ý thân mật, gần gũi, ngụ ý coi nhau chỉ là một, và cũng có thể được hiểu là ngôi thứ nhất số ít nếu muốn.

“Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.”

“Cái nhà là nhà của ta, công khó ông cha làm ra…” (lời một bài hát)

Thí dụ thứ hai “của ta” còn ám chỉ những gì thuộc về đất nước, dân tộc mình, để phân biệt với những gì của tây, của tầu.

Ông Tân có thể lý luận rằng chữ “Ta” (viết hoa) ám chỉ ngôi thứ nhất số ít. Có thể chấp nhận là như vậy đi, nhưng khi đọc chữ đó trong Thánh Lễ thì nào ai phân biệt được đó là chữ hoa hay chữ thường. Thực ra tôi không phê bình lối dịch “này là Mình Ta,” mà chỉ có ý nói rằng chữ “Ta” không phải chỉ có một nghĩa như ông Tân nói.

Linh Mục Bùi Tiếng

admin
11-06-2006, 09:33 AM
MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH và SUY TƯ
VỀ NGHI THỨC THÁNH LỄ MỚI

Joseph Nguyễn An

Nhằm giúp người tín hữu tham gia tích cực vào phụng vụ, Giáo hội sau Công đồng Vatican II đã chấp thuận cho sử dụng ngôn ngữ địa phương thay cho tiếng La tinh trong các sinh hoạt phụng vụ, đặc biệt trong thánh lễ. Việc phiên dịch ngôn ngữ phụng vụ từ La tinh ra tiếng bản xứ vì thế được phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, công việc này đòi hỏi người làm công tác dịch thuật phải hết sức cẩn thận, hầu có thể thật sự giúp người tín hữu tham dự phụng vụ vừa đúng theo ý Giáo hội, vừa đem lại ơn ích đích thực cho đời sống đức tin. Khi nghe tin có bản dịch Nghi Thức Thánh Lễ mới, cộng đồng dân Chúa Việt Nam rất vui mừng. Nhưng liền sau đó, cũng có nhiều ý kiến phê bình, đóng góp cho bản dịch. Gần đây, một số cơ quan truyền thông cho đăng một số ý kiến của những người có trách nhiệm và quan tâm, đặc biệt bài trả lời phỏng vấn của Đức cha Trần Đình Tứ, chủ tịch Ủy Ban Phụng Tự. Là tín hữu và là người con của Giáo hội Việt Nam, chúng tôi cũng xin được đóng góp những suy tư của mình về công trình trọng đại này của Giáo hội.

Trước hết, xin cám ơn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN), qua Ủy Ban Phụng Tự (UBPT) đã hết lòng vì công việc chung. Hẳn rằng các đức cha đã mất nhiều công sức, nhận thức đây là trọng trách lớn lao của mình, vì “…trong việc xem xét và chuẩn nhận các văn bản [phiên dịch Phụng vụ], mỗi một giám mục phải xem phần vụ này là một trách nhiệm được ủy thác một cách trực tiếp, trọng thể, và cá nhân.” (1) Cám ơn quý dịch giả đã hy sinh nhiều thời giờ, công sức làm công việc “không tên” (theo quy định của Giáo hội, không ghi tên người phiên dịch trong các tác phẩm phụng vụ). Hơn nữa, ai đã từng tham gia dịch thuật, đặc biệt những bản văn tôn giáo, thần học, triết học, văn học nghệ thuật đều biết rõ công việc này phức tạp thế nào. Văn bản dịch thuật Nghi Thức Thánh Lễ (NTTL) nguyên gốc từ La tinh, là một cổ ngữ ngày nay không ai sử dụng nên dịch thuật càng khó khăn hơn. Một số thuật ngữ tôn giáo muốn dịch cho đúng không phải dễ dàng, vì sự hiểu biết và ứng dụng những từ ngữ này được thay đổi theo thời gian, quan niệm và nhận định khác nhau. NTTL là văn bản tôn giáo quan trọng, chỉ sau Thánh Kinh, lại biểu hiện đức tin nên càng phải cẩn thận. Có lẽ nhiều người trong chúng ta biết câu thời danh của Thánh Prosper d’Aquitaine, “lex orandi, lex credendi.” Câu này được viết đầy đủ như sau, Legem credendi lex statuat supplicandi. Luật của cầu nguyện quy định luật của đức tin.

Xin thưa đây là một bài nhận định phê bình trong tinh thần xây dựng. Những điểm nêu sau đây có thể gây tranh cãi, nhưng vì lòng yêu mến Giáo Hội và thao thức với công việc chung, chúng tôi xin chân thành trình bày suy nghĩ của mình. Phê bình đúng nghĩa không chỉ là chê bai, mà còn nêu được những cái hay, cái tốt hoặc cũng như những hạn chế khưyết điểm cần khắc phục và sửa đổi. Những nhận định này có thể chủ quan, nhưng có lẽ cũng phản ánh phần nào suy nghĩ của không ít người. Cũng cần phải minh định trước tiên rằng để cho ra được một bản dịch hoàn hảo không phải là một điều dễ dàng, nếu không nói là không thể có, vì không thể làm vui lòng mọi người. Văn bản gốc bằng tiếng La tinh viết về tôn giáo, đức tin, thần học đã không dễ hiểu. Hơn nữa, dịch thuật tiếng La tinh (cũng như mọi ngôn ngữ trên thế giới) đâu phải cứ tra từ điển là dịch được? Sự phong phú giàu có của một ngôn ngữ không dễ dàng lột tả, vì thế, khi nói đến dịch thuật ta thường nghe “Dịch là Phản” (Traduttore, traditore). Dịch thuật tuy phải chính xác, nhưng mang tính nghệ thuật nhiều hơn nếu muốn có một bản văn trôi chảy, khúc chiết và dễ hiểu. Hơn nữa, nghệ thuật thường chủ quan, ngôn ngữ lại mang nhiều ý nghĩa biểu cảm khác nhau đối với từng đối tượng riêng biệt. Một ví dụ: có người không thích chữ “công lao” trong lời nguyện dâng của lễ. Họ đề nghị phải dịch là “lao công” mới đúng, vì “công lao” mang ý nghĩa công trạng, tài năng của con người. Thoạt nghe tưởng là đúng, nhưng thực ra trong tiếng Việt hiện đại, người thời nay hiểu chữ “công lao” là “công sức lao động,” rất đúng ý nghĩa với nguyên tác. Còn chữ “lao công” thì lại được hiểu là “việc, người lao động đơn giản như dọn dẹp, làm vệ sinh trong một cơ quan, xí nghiệp.” (Nguyễn Như Ý - Đại Từ Điển Tiếng Việt).

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thông cảm cho những người đang quen sử dụng bản văn phụng vụ cũ, nay bị bắt buộc phải sử dụng bản văn mới. Sự thay đổi nào cũng khó khăn, nhất là phải thay đổi một thói quen đã có từ lâu. Bản Nghi Thức Thánh Lễ 1971 (NTTL1971), rồi 1992 (NTTL1992) ít nhiều đã trở nên quen thuộc. Thực hiện việc thay đổi không phải là một điều dễ dàng. Hơn nữa, nếu nguyên nhân của sự thay đổi này không được hiểu thấu đáo, hoặc được giải thích rõ ràng, thì càng gây khó chịu, nhất là khi việc thay đổi lại mang tính bắt buộc do luật quy định. Chính vì thế, việc góp ý là một điều nên có. Nếu nhìn một cách tích cực, những thư góp ý rất đáng được trân trọng, vì chúng giúp cho công việc chung được tốt hơn. Cũng có người cho rằng, “làm thì khó chứ cứ ở đó phê bình chê bai thì ai chả làm được…” Thực ra, phê bình cũng cần thiết và rất quan trọng, dù có khi chính bản thân người phê bình không làm được những điều các tác giả, dịch giả đã làm. Cứ đếm số lượng tác giả sáng tác (chừng trăm người) và nhà phê bình (chừng ngàn vị) thì biết vai trò người phê bình cũng quan trọng lắm. Hơn nữa, cũng nhờ các thư góp ý mà UBPT và quý dịch giả có cơ hội trình bày kết quả công việc của mình cho công chúng. Qua đó, những người muốn tìm hiểu có dịp học hỏi và hiểu biết thêm. Trong tinh thần đó, chúng tôi cám ơn và cảm phục sự thẳng thắn can đảm của linh mục Trần Văn Bảo, Dòng Xitô, trong thư góp ý gửi cha Kim Long, tổng thư ký UBPT.

admin
11-06-2006, 09:34 AM
TRUNG THÀNH TRONG DỊCH THUẬT

Khi phiên dịch, cần phải tuyệt đối trung thành với văn bản nguồn. Điều này không ai chối cãi, nhưng thế nào là trung thành? Trung thành theo từ vựng? Trung thành theo vị trí chữ, thậm chí sai lạc cả ngữ pháp? Trung thành với ý nghĩa? Có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Thánh Giêrônimô, người đã dịch Kinh Thánh từ các cổ ngữ Do thái, Hy lạp ra tiếng La tinh phổ thông (bản Vulgata) khi bàn về cách tốt nhất để dịch, đã viết, “…cá nhân tôi không những công nhận mà còn công khai ủng hộ việc dịch theo ý, không theo trật tự của ngôn từ, chỉ trừ khi dịch Kinh Thánh, vì trong Kinh Thánh, có khi chính trật tự của từ ngữ cũng là một mầu nhiệm (ubi ipse verborum ordo mysterium est).” qua câu nói trên, ta thấy có hai cách hiểu về phiên dịch. Ở đây, thánh nhân nói về dịch thuật Thánh Kinh, và cách thức phiên dịch hẳn cũng phải khác cách dịch các văn bản trong Phụng vụ.

Trung thành trong phiên dịch là làm thế nào diễn tả được nội dung và tình cảm của câu nói, của văn bản gốc bằng một thứ tiếng trung gian, để người nghe (đọc) bản văn dịch thuật có được những hiểu biết, tình cảm và ứng xử như người nghe (đọc) nguyên tác. Điều này không dễ thực hiện, vì đứng trước một văn bản, không phải ai cũng nhận thức như nhau. Tuy nhiên, ta có thể lấy sự hiểu biết chung của độc giả làm thước đo. Ví dụ khi nghe câu tiếng Anh, “no truth is ever a lie” thì phải hiểu như trong câu tiếng Việt, “sự thật bao giờ cũng là sự thật”chứ không ai lại dịch “không sự thật nào là lời nói dối.” Đó là trung thành và nghệ thuật trong phiên dịch.

TỔNG QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP PHIÊN DỊCH

Một nguyên tắc căn bản mà người phiên dịch phải lưu ý trước tiên là chú ý đến “ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG” bản dịch. Nếu mục đích của bản dịch để người sử dụng hiểu ngay, ứng xử ngay theo tình huống thì phương pháp gần như tuyệt đối phải tuân theo là “DỊCH LẤY Ý,” tiếng Anh gọi là dynamic equivalence hoặc thought for thought hoặc functional translation. Ưu điểm của phương pháp này là giúp người dùng bản văn dịch hiểu và ứng xử ngay theo đòi hỏi của nguyên tác. Khuyết điểm của phương pháp này là dễ bị người dịch “tán rộng” hoặc “xuyên tạc” theo ý chủ quan của mình. Một khuyết điểm khác nữa là người nghe hay đọc bản dịch theo phương pháp này có thể sẽ không nắm bắt được cấu trúc, tình tiết, và những yếu tố tinh tế của ngôn ngữ gốc. Tuy nhiên, nội dung, ý nghĩa cần thiết của văn bản đã được truyền đạt. Hướng dẫn “Comme le Prévoit” năm 1969 của Giáo hội về việc phiên dịch Phụng Vụ có thể nói đã chấp thuận và ứng dụng rộng rãi phương pháp này. Comme le Prévoit cũng là kim chỉ nam cho NTTL1992 của UBPT lúc bấy giờ. Nhiều người tưởng phương pháp này dễ sử dụng vì được “tán rộng”; thực ra, phương pháp này đòi hỏi dịch giả phải thật sự hiểu được nội dung của văn bản gốc để có được bản dịch đúng, sát nghĩa và truyền đạt được hết mức có thể nội dung của văn bản dịch. Sử dụng phương pháp này đòi buộc người dịch phải tìm hiểu văn mạch (context), nguồn gốc của câu văn, ngữ căn (etymology) của từ vựng, và khi cần phải đối chiếu với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

Nếu đối tượng của việc dịch là để học hỏi văn bản, hiểu biết thêm về ngôn ngữ thì có thể sử dụng phương pháp “DỊCH LẤY CHỮ” hay còn gọi tương đương hình thức, Anh ngữ gọi là formal equivalence, word-for-word translation. Theo phương pháp này, tuy vẫn chú trọng đến nội dung, ý nghĩa của văn bản, nhưng ưu tiên dành cho việc dịch “sát” (literal) nghĩa. Đây chính là phương pháp của Hướng dẫn Liturgiam Authenticam (LA). Ra đời năm 2001, LA là bản hướng dẫn mới nhất cho việc dịch thuật các văn bản phụng vụ. Phương pháp tương đương hình thức ít được ưa chuộng, vì nếu áp dụng cách máy móc, chúng ta sẽ có những câu văn tối nghĩa hoặc thất nghĩa, thậm chí phản nghĩa. Giáo sư Cao Xuân Hạo, trong bài viết “Suy nghĩ về dịch thuật” có viết một câu rất lý thú, “…bất cứ người nào đã học qua một ngoại ngữ, dù chỉ trong buổi học đầu tiên, cũng đã thấy ngay rằng dịch sát từng chữ là cách tốt nhất để dịch sai hoàn toàn.” Phương pháp này thường chỉ dành để nghiên cứu về ngôn ngữ, hoặc xem xét các nét đặc thù của ngôn ngữ được phiên dịch. Như thế, theo thời gian, Giáo hội đã thay đổi quan niệm về phiên dịch gần như một trăm tám mươi độ. Một ví dụ rất phổ thông là câu đáp Et cum spiritu tuo. Nếu dịch “Và ở cùng cha,” chúng ta đang theo phương pháp “Dịch Lấy Ý.” Nếu dịch là “Và ở cùng thần trí cha” là chúng ta theo phương pháp “Dịch Lấy Chữ.” Có lẽ một số độc giả cho rằng ai mà dịch “Và ở cùng thần trí cha,” dịch gì mà kỳ cục vậy…Xin thưa, thế mà Giáo hội Hoa kỳ đã và vẫn đang tranh cãi vì câu dịch này. Trong khi Giáo hội Việt Nam trình với Rôma và được chấp thuận cho dịch là “và ở cùng cha,” thì Giáo hội Hoa kỳ vẫn còn lúng túng giữa “and also with you” và “and with your spirit.” Qua đó thì thấy tiếng nói của các giám mục Việt nam ta có “trọng lượng” lắm với Rô-ma. Hay cũng có thể, vì ở Rôma đâu có mấy chức sắc biết tiếng Việt? Nhưng qua đó mà ta biết không thể áp dụng LA một cách quá cứng nhắc trong dịch thuật.

Trên thực tế, việc dịch thuật muốn đạt được những thành quả tốt đẹp thường phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai phương pháp (Dịch Lấy Ý và Dịch Lấy Chữ), và đây chính là nơi của tài năng, nghệ thuật được thể hiện. Không thể cứ khăng khăng cho rằng phải “đúng,” phải “sát” nguyên văn để cuối cùng tạo ra một câu văn “dịch” trúc trắc, ngượng ngập: Việt không ra Việt, Tây không ra Tây. Cũng không thể quá tự do để rồi tán rộng, hoặc kèm vào bản dịch những suy diễn của cá nhân không thể chấp nhận. Bản dịch hay là do khéo léo kết hợp tài tình, nhuần nhuyễn giữa ba tính chất của văn dịch “Tín - Đạt - Nhã.” Tóm lại, làm công tác phiên dịch, vừa phải tôn trọng ngôn ngữ được dịch, nhưng đồng thời phải lưu ý đến tính quy ước của ngôn ngữ dịch. Nhiều người cho rằng vì tiếng Việt ta nghèo, nên bị hạn chế. Thiết nghĩ đó là nhận định rất sai lạc và đầy mặc cảm tự ti. Ngôn ngữ nào cũng có mặt mạnh, mặt yếu riêng của nó.

NGÔN NGỮ PHỤNG VỤ

Ngoài việc chú ý đến đối tượng phiên dịch, việc dịch thuật trong Phụng Vụ cũng cần phải đi thêm một bước nữa, là chú ý đến phong cách của ngôn ngữ. Mục đích ngôn ngữ phụng vụ nhằm hướng con người có tâm tình thờ lạy, ca tụng, cầu nguyện cùng Đấng Tối Cao. Vì thế, ngôn ngữ này phải có tính chất “CÔNG BỐ ĐƯỢC,” “CẦU NGUYỆN ĐƯỢC,” nghĩa là phải lưu loát, uyển chuyển, dễ hiểu, đem lại những tình cảm thiêng liêng một cách dễ dàng. Trong Phụng Vụ, người tín hữu cần hiểu ngay, cần nâng tâm hồn ngay, cần tham dự vào Thánh lễ, nên thiết nghĩ phương pháp “Dịch Lấy Ý” cần được sử dụng nhiều hơn. Huấn thị LA không chấp nhận lý luận trên, nên vấn đề trở thành phức tạp. Giả dụ, trong Phụng Vụ, người giáo dân không hiểu, không tham dự được vì những câu văn, kinh nguyện, lời đối đáp thô thiển, khó hiểu, trúc trắc (đặc biệt với giới trẻ) thì chỉ có hại, vì “vô tri bất mộ.” Không hiểu dẫn đến không thích, không thích dẫn đến việc không muốn tham dự. Đối với người trẻ, không hiểu tương đương với “không có ý nghĩa,” không liên quan gì tới tôi. Mà “không có nghĩa gì” thì “tôi không cần tin” hoặc không muốn tin nữa. Như thế, người trẻ dần dần không muốn đến nhà thờ, không thích tham dự thánh lễ, không muốn tham dự các nghi thức phụng vụ chỉ vì không thấy một sự gắn bó nào với câu kinh, lời nguyện xa lạ. Ngoài ra, ngôn ngữ phụng vụ cũng đòi hỏi một số tính cách khác nhưng bài viết này xin được giới hạn ở đây.

admin
11-06-2006, 09:38 AM
ĐÒI HỎI CỦA HUẤN THỊ LITURGIAM AUTHENTICAM (LA)

Điều 43 của Huấn thị LA quy định dịch giả phải dịch theo sát bản văn La tinh, dù có thể vì đó mà có những câu nghe “lạ tai,” “kỳ quặc.” Theo LA, đây có thể là cơ hội để người giáo dân tìm hiểu và học hỏi thêm giáo lý. Thiết nghĩ LA hơi chủ quan. Đồng ý rằng có những từ trong Kinh Thánh mang những ý nghĩa đặc biệt, khi dịch thuật không nên đơn giản hoá, nhưng lý luận rằng “vì không hiểu mà có thêm người muốn tìm hiểu học hỏi” là điều không thực tế. (Dựa trên tỷ lệ người muốn tìm hiểu và người muốn tránh xa một cái gì xa lạ). Nếu lý luận “vì không hiểu người ta sẽ tìm hiểu học hỏi” là đúng thì đâu cần dịch thuật làm gì! Cứ sử dụng tiếng La tinh thì sẽ có thêm nhiều người tìm học tiếng La tinh. Nếu đã phải có bản dịch để giúp người tín hữu hiểu thì phải thực sự giúp cho người ta hiểu. Hơn nữa, LA còn tự mâu thuẫn khi viết trong điều 25, “văn bản dịch phải ‘dễ hiểu.’” Có thể LA cho rằng “lạ tai,” “kỳ quặc” vẫn có thể “dễ hiểu.” Nhưng LA cũng mâu thuẫn với Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh – Sacrosanctum Concilium (SC) của Công Đồng Vatican II. Điều 21 của SC nêu lên ước muốn người tín hữu tham dự đầy đủ, tích cực trọn vẹn nhờ hiểu văn bản, nghi lễ cách dễ dàng. Điều 48 của SC còn mong muốn người tín hữu tham dự tích cực, đầy đủ, ý thức chứ đừng như người bàng quan, chỉ yên lặng. Nếu đọc thưa mà thấy kỳ cục, lạ tai thì làm sao dễ dàng tham dự lời kinh, tiếng hát được đầy đủ, tích cực được? Rồi làm sao mà tham gia tích cực khi không hiểu? Thống kê tại Canada ngày 2 tháng 5 năm 2006 vừa qua cho biết, 50% dân Canada không đi nhà thờ, tuy vẫn cầu nguyện, suy niệm, thờ phượng và đọc Kinh Thánh tại nhà. Tuy có 80% tin Chúa, nhưng chỉ có 19% đi nhà thờ. Có nhiều lý do làm cho người ta không muốn đến nhà thờ, nhưng có thể nói “không hiểu,” “không thấy quan trọng” và ngôn ngữ phụng vụ hiện nay không đáp ứng được nhu cầu tôn giáo tâm linh của con người cũng là một nguyên nhân. Chính vì thế mà ta có thể nói LA hơi quá lạc quan là vậy.

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ BẢN DỊCH NTTL 2006

Công thức làm dấu thánh giá của NTTL2006 sử dụng “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (dịch như thế có thể gọi là DỊCH LẤY CHỮ), trong khi công thức của NTTL1992 được dịch như sau: “Nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần (tạm cho là DỊCH LẤY Ý). Bản dịch 2006 cho rằng dịch như thế mới đi sát với chữ gốc La tinh, cũng như nếu thêm chữ “Chúa” sẽ gây hiểu lầm có “ba” Chúa. Thực ra, một người bình thường tham dự thánh lễ, khi thấy ông cha chỉ vào mình, và nghe cha xướng “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần…” thì sẽ dễ nghĩ rằng đây là ông cha làm lễ nhân danh ông cha, và nhân danh con là người tín hữu đang dâng lễ, và nhân danh một thần thánh nào đó. Chắc chắn sẽ có độc giả cho rằng ai mà lại hiểu “khờ khạo” như vậy. Xin thưa rằng vì chúng ta đã quá quen với công thức nên không bị dị ứng. Mấy ai tham dự Thánh Lễ ở Việt Nam dùng sách mà để ý chữ Cha, chữ Con in hoa? Hơn nữa, vừa nói “Nhân danh Cha…” xong, ông cha lại nói, “Chúa ở cùng anh chị em.” Cộng đoàn đáp, “Và ở cùng cha.” Rõ ràng “Chúa” và “cha” khác nhau, và “Cha” khác “cha.” “Cha” ở đầu là Thiên Chúa, còn “cha” sau là ông cha. Rõ ràng Chúa cũng là “Cha” mà “cha” lại không phải là Chúa. Nhưng người nghe có thể đoán “Chúa” khác “cha” vì “Chúa ở cùng cha” mà; nhưng theo giáo lý, thì “Chúa” và “Cha” cũng là một. Tóm lại, “Cha” vừa là “Cha” mà cũng không phải là “cha.” Dài dòng như thế để chúng ta thấy sự lộn xộn khó hiểu do việc dùng một chữ “Nhân danh Cha” gây ra như thế nào. Các ngôn ngữ khác không dùng “Cha (là Chúa)” và “cha (linh mục)” lẫn lộn, vì họ có đại từ you, vous hoặc spiritu tuo. Rồi người tân tòng khi chịu phép rửa cũng bị gặp sự khó hiểu như thế. Nghe câu “Nhân danh Cha…” thì hiểu là người được rửa do danh của ông cha, rồi danh của con (người được rửa) và danh một thánh thần nào đó. Dùng công thức “Nhân danh Cha…” rất dễ gây hiểu lầm cho những người không hoặc chưa theo đạo Công giáo. Như thế thì việc “làm cho đạo cắm rễ vào văn hoá dân tộc” (inculturation) không dễ thực hiện. Hơn nữa, câu kinh với chữ “Chúa Cha” này đã rất phổ thông trong Kinh Sáng Danh, “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần…” sao ta không thể dùng lại công thức 1992 cho phù hợp với câu kinh đã có từ rất xa xưa và gần gũi quen thuộc với cộng đồng tín hữu?

Qua bài viết của đức cha chủ tịch UBPT, chúng ta biết được vấn đề này đã được bỏ phiếu và có 17/29 dịch giả chọn công thức “Nhân danh Cha…” Hoá ra vấn đề cũng gay go, chưa có được con số 2/3 các dịch giả đồng ý công thức cũ. Một mặt, chúng ta tôn trọng quyết định của đa số tương đối, nhưng cá nhân người viết và nhiều người chuyên môn khi trao đổi đã tỏ ra rất tiếc vì bản dịch mới đã bỏ đi chữ “Chúa.” Theo thiển ý, việc thêm chữ “Chúa” là một điều cần thiết, phù hợp với ngôn ngữ và tâm tình Việt Nam. Khi cầu nguyện với riêng một Ngôi, tuy chúng ta có thể nói, “Lạy Cha…” nhưng không thể nói “Lạy Con” cũng như không nói “Lạy Thánh Thần.” Muốn nói như trên, bắt buộc ta phải thêm “Lạy Chúa Con,” và “Lạy Chúa Thánh Thần” hoặc “Lạy Thánh Thần (của) Thiên Chúa.” Việc thêm chữ “Chúa” này không phải là diễn nghĩa hay giải thích, nhưng chính là vì quan tâm đến nhu cầu mục vụ (pastoral sensitivity) của cộng đoàn. Nếu chúng ta lý luận là “không được thêm chữ” vì trong nguyên tác không có, thế sao ta có thể thêm chữ “Xin Chúa” Kitô trong câu Christe, eleison. Làm gì có chữ “Xin” cũng như chữ “Chúa” trong nguyên tác?

admin
11-06-2006, 09:39 AM
Một ví dụ khác: trong câu “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô…” Bản dịch NTTL1992 đã mở đường, nhưng bản dịch 2006 lại khép lại. Dựa trên lý luận tiếng La tinh đâu có chữ Kitô, tại sao lại thêm chữ Kitô vào bản dịch? Đúng thế, tiếng La tinh per ipsum, et cum ipso đâu có chữ Đức Kitô? Thiển nghĩ, những dịch giả (NTTL1992) cũng có ý của họ. Tiếng Việt chúng ta khi đọc đến đây dễ làm cho ta nghĩ đến “chính nhờ con người (là chúng ta) với con người…mà Thiên Chúa được vinh danh ca tụng. Có phải vì thường nghe, “con người là sinh vật cao quý nhất” và “vì dân, với dân và của dân” nên dễ liên tưởng như thế? Chữ La tinh ipsum, ipso tuy không hề có chữ Christum, Christo đi kèm, nhưng ai cũng biết đó là Đức Kitô: nhưng chữ người trong tiếng Việt (khi đọc ai mà biết là chữ đó viết hoa hay viết nghiêng?) thì làm ta chỉ nghĩ đến con người nói chung. Giả dụ có người biết tiếng Anh, tiếng Pháp, chưa từng đọc văn bản Phụng vụ bằng ngoại ngữ, khi đọc câu kinh trên, tự dịch thầm để hiểu, sẽ cho những câu như sau: “Through man, with man, and in man” hoặc “Par l’homme, avec l’homme, et en l’homme.” Nghe ra thấy tức cười hoặc có vẻ phóng đại, nhưng thực tế đã có nhiều người chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ này. Thực ra, cũng khá tế nhị khi phải quyết định, nên cứ bảo thủ là an toàn hơn cả. Mà nếu vì phải “sát” nguyên bản, “bảo thủ” như thế thì thử hỏi chúng ta đã quan tâm thực sự đến người tín hữu chưa? Vấn đề không đơn giản, và sẽ có nhiều ý kiến khác biệt. Nhưng khi đã quyết định để có tính thống nhất, và vì lưu ý đến vấn đề mục vụ thì có lẽ nên cân nhắc hơn để tránh sửa đổi nhiều lần sau này, cũng như để tránh được những câu gây cảm giác “kỳ cục.”

Trong NTTL2006 tuy thế cũng có những câu dịch thoát, không theo sát nguyên bản, chính vì thế tạo ra những hiểu lầm do lỗi ngữ pháp. Ví dụ trong câu dâng bánh rượu: “Benedictus es, Domine, Deus universi, quia de tua largitate accepimus panem…ex quo nobis fiet panis vitae” dịch là “Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này...chúng con dâng lên Chúa để trở nên bánh trường sinh cho chúng con.” Dịch như thế thì phải hiểu rằng “chúng con dâng lên Chúa để (chúng con) trở nên bánh trường sinh.” Tương tự như thế, khi dâng rượu, câu văn sẽ làm người nghe hiểu rằng “chúng con dâng lên Chúa để (chúng con) trở nên của uống thiêng liêng…” Vì đặc thù của ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta vẫn có thể uyển chuyển trong cách dịch giúp bản văn rõ ràng, nhưng không dịch chữ ex quo ở đây đã làm sai ý nghĩa. Trong Kinh Nguyện Thánh Thể II và III cũng có những điểm gây hiểu lầm tương tự như thế. “Chúng con nài xin Chúa, dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hoá những của lễ này để trở nên cho chúng con...” và “…chúng con tha thiết nài xin Chúa…để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô.” Đây không phải là Chúa trở nên mà chính là của lễ này trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô.

admin
11-06-2006, 09:41 AM
Trong công thức truyền phép, tuy chỉ có hai câu ngắn, nhưng các chuyên gia dịch thuật chắc chắn đã phải mất rất nhiều thì giờ tranh luận để đi đến quyết định chọn một câu dịch. Tuy tôn trọng bản văn của NTTL2006, nhưng chúng tôi xin được nêu vài nhận xét:

1/ Tuy việc dùng chữ “Thầy – Các Con” giải quyết được những tranh cãi về ngôn ngữ thiên vị phái nam mà “Thầy – Anh Em” có thể mắc phải, nhưng chúng ta lại gặp khó khăn về ngôn từ. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu gọi các môn đệ là “bạn hữu” (philous – Ga 15,15), và sau này là “anh em” (adelphous – Ga 20, 17 và Mt 28, 10) thì làm sao Chúa có thể gọi “bạn hữu” và “anh em” của mình là “các con” được? Nếu chỉ vì để tránh ngôn ngữ thiên vị mà sử dụng “các con” thì ta đã xa rời sự thật lịch sử, cũng như đã để cho vấn đề ý thức hệ chi phối bản dịch của mình.

2/ Chúng tôi đồng ý với nhận xét của cha Bảo phê bình cách dùng từ “Nhận lấy.” Mặc dù chữ “Accipite” trong câu truyền phép cũng có thể có nghĩa là “nhận lãnh,” nhưng nếu bỏ chữ “Hãy” thì “Cầm lấy” mà ăn nghe hợp tâm tình người Thầy nói với môn đệ hơn. Trong dịch thuật, đã đến lúc phải mạnh dạn gạt bỏ từ “Hãy” tuy rất quen thuộc với nhà đạo, nhưng đã lỗi thời do ngôn ngữ phát triển. Làm sao mà cứ lúc nào dịch thời Imperative cũng phải thêm chữ “HÃY” vào, như trong “…Hãy nhận lấy mà ăn…Hãy làm việc này…” Thì Imperative đúng là dành cho mệnh lệnh, lệnh truyền. Nhưng tiếng Việt đâu ai nói như thế. Trong quân đội, khi ra lệnh, người ta chỉ hô, “CHẠY”, “XUNG PHONG”, “BẮN” chứ có ai nói, Hãy Chạy, Hãy Xung Phong, Hãy Bắn bao giờ đâu? huống chi là “Hãy Ăn” “Hãy Uống” và có khi ra lệnh cho cả Chúa, “Chúa hãy ban cho…hãy đoái thương…”

3/ Không nên dịch chữ hoc, hic bằng từ “Này.” Tiếng Việt không dùng từ “Này” riêng biệt như trong câu truyền phép. Chữ “Này” ngoài cách dùng để kêu gọi sự chú ý, liệt kê hoặc đe dọa, chỉ được dùng kết hợp trong “cái này,” “người này,” “việc này” và cụm từ “này nọ” mà ý nghĩa thường không tích cực cho lắm. Không ai nói, “Này là tân giám mục giáo phận…” Sao ta không dùng “Đây” là một từ nghiêm trang phù hợp hơn nhiều? Hơn nữa, sau này, khi soạn nhạc cho công thức trên, các nhạc sĩ sẽ gặp liền 7 từ vần bằng, khiến giai điệu và cung trầm bổng bị giới hạn.

4/ Từ “Bị nộp” có nên xem lại? Chỉ riêng câu “quod pro vobis tradetur” của bản Vulgata biến thành “quod pro vobis est ” của bản Nova Vulgata đã cho thấy Giáo hội có thay đổi trong nghiên cứu Thánh Kinh. Khi dịch ra “bị nộp,” chúng ta thấy chỉ thấy việc Chúa “thụ động chịu chết.” Đúng là Chúa Giêsu không muốn chết, và Ngài đã bị Giuđa bán, nhưng chính Chúa đã quyết định “tự hiến tế” hoặc “hy sinh” vì chúng ta. Ưu điểm của tiếng Việt cho chúng ta có thể dịch thời thụ động bằng chữ “bị” hoặc chữ “được.” Như thế, việc sửa đổi bản văn tiếng Việt cũng cần thiết như Giáo hội đã sửa giữa bản Vulgata và Nova Vulgata. Ở đây tiếc là chúng ta chưa lưu ý và dám thay đổi..

Trong NTTL2006 vẫn còn có chỗ “kỳ cục,” “lạ tai” mà thiết nghĩ có thể sửa đổi dựa trên những thành tựu của NTTL1992 (theo thiển ý, đây là một bản văn rất khá). Qua những thư góp ý, thắc mắc và nhận định đuợc đăng tải trên Internet và đây đó của linh mục Trần Văn Bảo và linh mục Thiện Cẩm, đã có một số điểm được trình bày khá chi tiết; bài trả lời phỏng vấn của đức cha Trần Đình Tứ và linh mục Nguyễn Thế Thủ cũng giải toả một số thắc mắc. Tuy nhiên, thiết nghĩ điều quan trọng cần làm trước là chọn được nguyên tắc phiên dịch Phụng Vụ phải theo, rồi sau khi đã đồng thuận những nguyên tắc đó, tìm xem điều gì có thể mở, điều gì có thể đi xa hơn, thì mới dễ dàng quyết định cho việc phiên dịch, giúp cho việc chọn từ ngữ và hành văn. Hơn nữa, khi cần, phải đối chiếu với ngôn ngữ Kinh Thánh (cổ ngữ Hy lạp, Do thái, A-ram) trong phiên dịch. Những ai đã đọc bản Chú Thích Bản Dịch Nghi Thức Thánh Lễ của Ủy Ban Phụng Tự 1992 đều thấy cách làm việc nghiêm túc và cẩn trọng như thế nào của Ban Dịch Thuật này. Không biết UBPT sẽ cho phổ biến bản giải thích cách làm việc của NTTL2006? Nói thế không có nghĩa là mọi người đều đồng ý với NTTL1992, cũng như không phải cứ lấy ý kiến tổng hợp “chung chung” là giải quyết được vấn đề. Có điều nếu những giải thích này được mọi thành phần dân Chúa hoặc người quan tâm biết được, thì sẽ tránh được nhiều thắc mắc “nhức đầu” không cần thiết.

admin
11-06-2006, 09:42 AM
LITURGIAM AUTHENTICAM và VIỆC ÁP DỤNG TRONG DỊCH THUẬT

Trên đây đã trình bày sơ lược về chiều hướng trái ngược nhau trong hai văn bản hướng dẫn dịch thuật của Giáo hội. Sở dĩ huấn thị LA có vẻ siết chặt vì có quá nhiều biến dạng trong văn bản Phụng Vụ của các Giáo hội địa phương trên thế giới, đặc biệt là ở châu Phi, Ấn độ và các nước dùng Anh ngữ. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta sợ đến nỗi biến tiếng Việt thành một ngôn ngữ ngoại lai ngay trong lòng dân tộc. Ngôn ngữ chúng ta có những hạn chế, nhưng cũng có những ưu điểm của nó. Vậy cần vận dụng thế nào để ngôn ngữ ấy, nếu dùng trong Phụng Vụ có thể giúp cho người tín hữu tham dự tích cực, ý thức, và đầy đủ trọn vẹn, ngõ hầu đem lại lợi ích cho cộng đồng dân Chúa. Thiết nghĩ, kiểu nói “…chúng con chúc tụng Chúa vì vinh quang cao cả Chúa..” đâu có phải là cách nói và hiểu của người Việt nam. Có ai nói “tôi khen ngợi đức cha vì (sự) cao lớn đẹp đẽ (của) đức cha” bao giờ đâu? Giả như chưa ai từng để ý, nhưng NTTL1992 đã dịch, “…chúng con cảm tạ Chúa, vì Chúa vinh hiển vô biên” trước rồi, sao ta không thể sử dụng? Cũng như thêm chữ “quan”(2) vào Phongxiô Philatô thì được (trong bản La tinh không có), và thêm chữ “chúc” trong “chúc anh chị em đi bình an” cuối lễ thì được, mà thêm chữ “Chúa” vào chữ Cha thì không dám? Sao không bỏ chữ “Đó” trong câu “Đó là lời Chúa”? Tiếng La tinh chỉ có “Verbum Domini” đâu có chữ “đó” (Hoc hay Ecce). Rồi tại sao lại bỏ chữ “đã” trong “…chúng con loan truyền Chúa chịu chết… tuyên xưng Chúa sống lại…” Có phải đây là một ý tứ thần học muốn nhấn mạnh “thời hiện tại?” Như thế phải hiểu là Chúa sẽ chết nhiều lần, sống lại nhiều lần vì chúng ta? Thế thì tại sao trong câu sau lại “…Chúa ĐÃ dùng thánh giá…” Khi quá lệ thuộc vào La tinh, chúng ta dễ vướng mắc những điều trên mà khó lý giải hoặc tìm được cách giải quyết thích hợp.

Mặc dù cần phải tuân theo quy định của LA, nhưng với tinh thần sáng tạo và chú ý đến những đặc thù của ngôn ngữ Việt nam, ta vẫn có thể đưa ra một bản dịch khá hơn. Cũng có người lý luận rằng cần dịch sát chữ, rồi tuy khó hiểu do lạ tai, hoặc không hiểu do kỳ cục, nếu được lập đi lập lại lâu ngày, sẽ tạo được thói quen, và do đó câu kinh sẽ có “tính mầu nhiệm” hay “tính nhà đạo,” hoặc “truyền thống.” Không thể phủ nhận điều này, nhưng khi đã thấy nhu cầu “hội nhập” mà cứ theo ý mình, bất chấp quy định ngôn ngữ thành văn hoặc bất thành văn thì làm sao mà cắm rễ vào hồn dân tộc? Hay như trình bày ở trên, cứ làm lễ đọc kinh bằng tiếng La tinh hay một thứ tiếng cổ của các cha truyền giáo những thế kỷ xưa? Khi không hiểu mà người tín hữu cứ lập đi lập lại thì rất dễ tạo ra một cung cách giữ đạo và thờ lạy vô hồn, không sống hoặc thể hiện được lòng tin của mình. Như thế thật là tai hại, vì rất dễ tạo ra những người “mê tín,” và không thể làm chứng được cho niềm tin sống động của mình.

Một ví dụ về việc “niềm tin” và “lời nguyện” không đi đôi với việc làm được thể hiện khá rõ nét trong kinh Lạy Cha. Bản dịch NTTL2006 đã giữ lại bản dịch cũ truyền thống “…và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Qua bài trả lời của đức cha chủ tịch UBPT, chúng ta biết rằng ban phiên dịch NTTL2006 đã đề nghị “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con…” Nhưng các đức cha lại bảo lưu bản 1971. Ở đây có hai điều cần lưu ý (a) gọi người khác là “kẻ.” Trong tiếng Việt hiện đại, chữ kẻ chỉ dùng với những cụm từ như kẻ trộm, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ lạ, kẻ thù. Chúng ta thưa với Chúa, lạy Chúa, con là kẻ có tội thì được, vì chúng ta bất xứng trước Chúa. Nhưng nếu ta tha thứ cho anh chị em mình là ai đó, đồng thời coi họ là tầm thường, là xấu trước mặt ta khi gọi họ là kẻ, thì hỏi bác ái Kitô giáo có được thể hiện rõ ràng chưa? (b) đọc rang rảng trong nhà thờ là tha nợ cho người khác, mà có bao giờ ta tha nợ cho họ đâu? Như thế, đối với quần chúng nói chung và tín hữu nói riêng, việc đọc kinh và việc sống đạo chẳng có quan hệ gì với nhau cả, mà nếu thế thì đạo của nhà thờ và của xã hội đâu liên quan gì đến nhau? Làm chứng thế nào được? Chỉ vì ngôn ngữ đã biến đổi, mà ta không biến theo, vì cứ nghĩ phải giữ cho được truyền thống (3). Bản dịch NTTL1992 đã sửa được điều này, tiếc là ít nơi sử dụng. Đáng lẽ bản NTTL2006 phải tiếp nối được, nhưng tiếc thay HĐGM-VN đã quyết định khác, rồi được phê chuẩn của Toà Thánh…Đó là nguyên nhân làm cho một số người nhận xét, bản NTTL2006 có “vẻ” đi thụt lùi so với NTTL1992. HĐGMVN không đồng ý với đề nghị của ban phiên dịch, còn Toà Thánh thì tin vào HĐGM Việt Nam!

Việc thực hiện theo hướng dẫn LA cũng bị coi là thiếu uyển chuyển. Xin được nêu một vấn nạn của LA khi bàn về việc phiên dịch Lời Chúa trong Sách Bài Đọc. Theo LA, Dịch Lời Chúa phải lấy từ nguyên ngữ (Do thái, A-ram, Hy Lạp) và đối chiếu bản La tinh (Nova Vulgata) khi có sự khác biệt (điều 24). Đánh giá về những đòi hỏi về dịch thuật Lời Chúa của LA, các học giả Kinh Thánh Công Giáo Hoa Kỳ cho rằng những quy định của LA khó tạo được sự hiệp thông đại kết và làm cho học thuật Thánh Kinh của Công Giáo sẽ bị “xuống cấp” so với học thuật Kinh Thánh của thế giới, nhất là của anh chị em Tin Lành. Qua quy định này, LA đã đặt bản Nova Vulgata (cũng chỉ là một bản dịch) vị trí cao hơn bản văn gốc (bản được linh hứng) trái với thông điệp Divino Afflante Spiritu của Đức Giáo Hoàng Piô XII. Chương 16 của thông điệp này có viết, “Bản nguyên tác, do được viết bởi tác giả đã được linh hứng, có giá trị và quyền hạn hơn bất kỳ bản văn dịch thuật nào, cổ xưa hay hiện đại, dù dịch hay đến mấy.” Đức Giám mục Trautman, chủ tịch Uỷ ban Phụng Tự của HĐGM Hoa Kỳ, là một chuyên viên Thánh Kinh và Thần Học, cũng đã phải công nhận huấn thị LA có nhiều khiếm khuyết, nhưng vì LA là văn bản chính thức của Bộ Phụng Tự và không thể thu hồi vì những thiếu sót (ví dụ không được chính thức duyệt xét bởi Ủy ban Giáo Hoàng về Kinh Thánh và nhiều ví dụ khác) nên cần phải tìm giải pháp để có kết quả tốt hơn về phiên dịch trong tương lai.

admin
11-06-2006, 09:43 AM
VIỆC THỰC HIỆN VÀ THI HÀNH BẢN DỊCH NTTL2006

Qua bài phỏng vấn Đức cha chủ tịch UBPT-VN và bài của cha Nguyễn Thế Thủ, chúng ta biết được ban phiên dịch NTTL2006 đã có ưu điểm là quy tụ được nhiều giáo phận và 2 chủng viện Thánh Giuse Saigòn và Sao Biển Nha Trang giúp cho. Tuy nhiên, chúng ta không thấy có sự góp mặt của chuyên viên và dịch giả của các dòng tu nam nữ. Hơn nữa, số lượng dù là ưu điểm, nhưng cũng cần để ý đến chất lượng. Các chuyên gia phiên dịch, ngoài khả năng tiếng La-tinh và tiếng Việt, còn cần có đời sống cầu nguyện và phải biết thêm một chuyên môn Công giáo khác; đặc biệt khả năng đối chiếu với những văn bản cổ ngữ nguyên tác Do thái, Hy lạp, A-ram, hoặc các văn bản cổ đã được dịch ra một sinh ngữ thông dụng. Một ví dụ cho thấy sự khó khăn về chuyên môn khi dịch cụm từ Prex Eucharistica. Đồng ý là việc dịch câu trên thành “Kinh Nguyện Thánh Thể” thật dễ dàng tiện lợi, nhưng như thế cũng dễ gây lầm lẫn như một số bài phê bình đã vạch ra. Hơn nữa, Prex Eucharistica có một cách hiểu phong phú hơn là việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc một công thức, rồi tức thì bánh và rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa. Thánh lễ không chỉ là phần này, dù đây là phần rất quan trọng trong Thánh lễ. Phụng vụ hiện nay hiểu đây là việc Chúa cầm lấy bánh và đọc lời tạ ơn (berakah). Phải hiểu việc Chúa lập bí tích Thánh Thể trong bối cảnh bữa tiệc Vượt qua của người Do thái, và ý nghĩa tạ ơn nổi bật đến nỗi thánh Phaolô phải đặt cho một tên, Chén Chúc Tụng “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa …(1Cr 10:16) Ý nghĩa của từ berakah phong phú đến nỗi tiếng Hy lạp phải dùng 2 từ để dịch là eulogia và eucharistia. Hai từ này nghĩa gần tương đương với nhau, nhưng có một phân biệt tế nhị là trong khi eulogia là lời ca tụng ngợi khen Thiên Chúa, thì eucharistia mang ý nghĩa tạ ơn Thiên Chúa vì người quảng đại cho chúng ta được hưởng những kỳ công vĩ đại của Người (magnalia Dei). Berakah còn được dịch ra tiếng Hy lạp bằng exomologeo, có nghĩa thú nhận, công nhận (tuyên xưng, bày tỏ, thừa nhận, ngợi khen - exomologeo/mai) như trong Mt 11: 25 (4) “…Con ‘công nhận’ (thú nhận, ngợi khen) Cha là Chúa Trời đất…” Như thế, việc tuyên tín và thú nhận lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa, và việc ngợi khen tạ ơn Cha là điều tất yếu. Như vậy, một đàng dịch Kinh Nguyện Thánh Thể tuy dễ dàng (vì cứ dịch Eucharistica là Thánh Thể) nhưng đã không lột tả được tâm tình Tạ Ơn, Ngợi Ca và Hoàn toàn Tín Thác vào Thiên Chúa của lời kinh bậc nhất của Giáo hội. Chắc chắn còn nhiều tranh cãi về cách dịch tên gọi của kinh này, nhưng nếu đơn thuần gạt bỏ đề nghị dịch của NTTL1992 hoặc không tìm ra một từ ngữ diễn tả đầy đủ khác thì thật đáng tiếc. Một điều đáng chú ý khác là ngay cả trong bản dịch Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II của Phân Khoa Thần Học Giáo Hoàng Học Viện Piô X mãi từ những năm ngay sau Công Đồng Vatican II cũng đã dịch chữ eucharistica là Lễ Tạ Ơn và Hy Tế Tạ Ơn (5).

Như đã trình bày ở trên, tìm được một bản dịch vừa lòng mọi người là một điều hầu như không thể có, nhưng thiết nghĩ nếu biết tận dụng tài năng và công sức lao động của các chuyên gia trong và ngoài nước, HĐGM và UBPT có thể cho ra đời một bản dịch tương xứng cho một Giáo hội Việt Nam đã trưởng thành. Chúng ta có nhiều chuyên viên dịch thuật có kinh nghiệm về Kinh Thánh, thần học và phụng vụ ở trong nước cũng như hải ngoại. Để tránh những khó khăn có thể xảy ra sau này, cần thiết lập được quy chế chi tiết tốt hơn và thống nhất, nhưng cũng dự phòng cho những biến thể do ngôn ngữ tiếng Việt mang lại. Bản ratio tranlationis này cần chi tiết nhưng cũng linh động đủ để áp dụng khi phiên dịch các sách Bài Đọc và toàn Sách Lễ. Dù hiện nay chúng ta có hệ thống tin học giúp việc liên lạc hữu hiệu, nhưng việc phiên dịch các bài đọc trong Kinh Thánh mà phải chia ra các tổ làm việc riêng biệt, mỗi tổ cách xa nhau về địa lý, các thành viên cách biệt nhau về trình độ, thì khả năng có được bản dịch thống nhất về ngôn từ, cách hành văn của một tác phẩm tổng thể là điều không dễ dàng thực hiện.

Có người nhận xét là Tòa Thánh đã chuẩn nhận (recognitio) quá vội vàng. Qua các bài giải thích của ban phiên dịch chúng ta thấy phải mất đến 5 năm mới có được NTTL mới này. Một mặt, ta có cảm tưởng như công việc dịch thuật quá cẩn thận và mất nhiều thời gian; mặt khác thì hình như “vội vã” khi Bộ Phụng Tự của Tòa Thánh chấp thuận (chỉ trong vòng chưa đầy một tháng), sau khi HĐGMVN nộp lại lần thứ hai. Thực ra, công việc này rất phức tạp; hơn nữa, có lẽ tiếng Việt không phải là thứ tiếng mà Bộ Phụng Tự của Toà Thánh cho là quan trọng lắm vì không có nhiều người trên thế giới sử dụng. Nhưng cũng chính vì thế mà chúng ta cần phải chủ động làm cho thật tốt. Đây chỉ là NTTL, và là phần rất ngắn trong toàn bộ các tác phẩm phụng vụ so với các Sách Bài Đọc và Sách Các Phép. Nếu chúng ta biết rằng, HĐGM Hoa Kỳ từ lúc nộp Sách Bài Đọc Chúa Nhật (đã được các Giám mục thông qua) đến khi được Bộ Phụng Tự chuẩn nhận phải mất đến 1954 ngày! Đã có lúc vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của Giáo hội Hoa Kỳ, 7 hồng y Hoa Kỳ phải đến Rôma để làm việc với Bộ Phụng Tự về bản dịch. Tại sao chúng ta không có thời gian sử dụng thử nghiệm (ad experimentum) NTTL2006? Hơn nữa, nếu chỉ thử nghiệm ở các chủng viện thì chưa đủ, vì các tu sinh, các thầy thường là “người nhà Chúa Trời,” quá quen với ngôn ngữ “nhà đạo” nên ít thắc mắc. Đối tượng sử dụng của các bản dịch Phụng Vụ là toàn thể dân Chúa, vì thế, bản dịch phụng vụ cũng cần được thử nghiệm rộng rãi hơn.

admin
11-06-2006, 09:43 AM
Tương lai, việc dịch Sách Bài Đọc còn gặp nhiều gian truân. Nếu thiếu cẩn trọng, chúng ta sẽ mất nhiều công sức mà không đạt được một tác phẩm dịch thuật tương đối chấp nhận được. Đó sẽ là điều rất đáng tiếc vì chúng ta đã có kinh nghiệm và thành quả đáng quý của NTTL1971 và NTTL1992. Khách quan nhận xét, NTTL1992 đã quy tụ được nhiều chuyên gia giỏi, trình độ cao, có kinh nghiệm về dịch thuật. Tuy chưa phải là kiệt tác, nhưng NTTL1992 đã giải quyết được một số vấn nạn phiên dịch (có đối chiếu với cổ ngữ, thần học, linh đạo, mục vụ, ngôn ngữ tiếng Việt, phát âm, cũng như các bản dịch trước) mà bản dịch 2006 còn vướng phải. Hơn nữa, chúng ta cũng đã có trọn bộ Kinh Thánh của Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV) thực hiện trước đây và đã được phép imprimatur, sao không cùng cộng tác làm việc chung, để có một Sách Bài Đọc vừa đạt yêu cầu, lại đỡ mất tài nguyên, thì giờ và công sức? Xét về học thuật chuyên môn, bản dịch Kinh Thánh của CGKPV đạt được những yêu cầu nghiêm nhặt của việc phiên dịch Lời Chúa từ nguyên ngữ Hy lạp, Do thái và A-ram. Trong một bài chia sẻ trước đây (6), chúng tôi đã nêu vấn đề tận dụng các thành quả của học thuật chuyên môn và của những người đi trước, tiếc rằng thực tế đã không có được sự cộng tác chung này. Bản dịch Kinh Thánh của nhóm CGKPV (hiện nay vẫn đang được hầu hết các dòng tu, giáo xứ cộng đoàn trong và ngoài nước sử dụng) là công trình quý báu giá trị đáng được trân trọng để học hỏi và phổ biến Lời Chúa cho tín hữu.

Về hình thức, nhìn chung sách NTTL2006 in ấn khá đẹp, bìa chữ vàng, bên trong in mầu phân biệt chữ đen, chữ đỏ. Có các giây và nẹp màu ngăn sách rõ ràng. Tuy nhiên, vì sách bị dán sửa một vài chỗ, lại là chỗ quan trọng (Kinh Lạy Cha), nên mặt mỹ thuật bị xuống cấp nặng nề. Vẫn biết đây là lỗi của in ấn và người duyệt xét, nhưng cũng tạo cho người đọc một cảm giác bản in được làm vội vã, cẩu thả. Đáng lý nhà in phải thu hồi và cho in lại những phần sai lỗi trước khi phát hành, để NTTL2006 xứng đáng là một quyển sách trang trọng và “không thể thiếu” của Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Một nhận xét nhỏ là theo điều 81 của LA quy định, chủ tịch UBPT ký concordat cum originali, và chủ tịch HĐGM ký imprimatur, nhưng sách NTTL2006 chỉ có đức cha chủ tịch UBPT ký chung cho cả hai. Hơn nữa, dịch câu Contrariis quibuslibet minime obstantibus là “Bất chấp những điều trái ngược” thì quả là “sát” chữ nhưng rất khó hiểu. Chắc chắn rằng ban phiên dịch và Hội Đồng Giám Mục cũng có lý lẽ mà ta chưa biết, vậy nếu cần xin cũng nên in ra một bản văn với những lý giải cách dịch thuật của NTTL2006 để những người muốn hiểu biết có cơ hội học hỏi.

Thông thường, trước khi đưa xin recognitio của Toà thánh, văn bản cũng cần có thời gian thử nghiệm và xem xét trên thực tế. Quyết định mang tính pháp lý và hành chánh có vẻ hơi vội vã làm cho một số linh mục và giáo dân trong nước gặp khó khăn và lúng túng khi sử dụng, cũng như làm cho cộng đồng người Việt hải ngoại hoang mang, khó chịu vì sự thiếu nhất quán này. Hơn nữa, một số cơ quan truyền thông thì lại cho rằng tất cả các sách cũ đã có lệnh thu hồi. Sách đạo mà bị thu hồi thì phải hiểu như thế nào? Lạc đạo? Truyền bá sai tín lý? Không thành sự nếu sử dụng? Thực khó mà giải thích cho những thắc mắc được đặt ra. Hy vọng đây chỉ là một tin đồn vô căn cứ, và vì không kiểm chứng được nên chúng tôi không rõ thực hư. Không phải mọi nơi đều bị tình trạng này, nhưng một con sâu có thể làm rầu nồi canh (7). Trên đây chúng tôi chỉ nêu một số nhận định, còn nhiều vấn đề chưa bàn tới hoặc các vấn đề dịch thuật khác đã được một số linh mục và giáo dân đặt vấn đề.

Chính vì thế, ước mong HĐGM Việt nam cho xem xét, sửa chữa lại NTTL2006. Sau đó, xin cho thử nghiệm rộng rãi; và xin chú ý hơn khi làm việc với các phần còn lại của Sách Lễ Rôma và Sách Bài Đọc.

admin
11-06-2006, 09:44 AM
KẾT LUẬN

Khi nêu lên những nhận xét trên, chúng tôi không hề muốn đả phá hoặc bi quan chán nản, hoặc tệ hơn là “bất cần,” cũng như hy vọng không phải nghe những câu trả lời đại loại “luật là luật!” NTTL2006 cũng có những điểm tích cực, thí dụ như đặt chữ “CÙNG” vào đúng vị trí trong kinh Tin Kính. Phải cám ơn các dịch giả, nhờ có bản văn mới nên người tín hữu hoặc các linh mục ý thức hơn về tầm quan trọng của Phụng Vụ, của lời kinh Phụng Vụ để tìm hiểu học hỏi nguyên nhân của những sửa đổi. Riêng cá nhân người viết xin được qua đây bày tỏ lòng biết ơn với tất cả các dịch giả NTTL 1971, 1992 và 2006, đặc biệt với ban dịch thuật NTTL1992. Qua việc phiên dịch Sách Lễ 1992, các dịch giả lúc bấy giờ đã đáp ứng được nhu cầu cần thiết của Giáo hội Việt nam trong thời kỳ rất khó khăn; cũng như tạo cơ hội cho rất nhiều người ý thức tầm quan trọng của Phụng Vụ, và qua đó phát sinh lòng yêu mến học hỏi Lời Chúa, lời kinh phụng vụ. Cũng như cha Bảo trong bài viết đã nhấn mạnh, “vâng lời trọng hơn của lễ,” và cha Thủ khẳng định, “…khi đón nhận bản dịch này thì không phải đón nhận một bản dịch của ai đó với những giới hạn của con người, mà đón nhận một sự hiệp thông trong công việc chung của Hội thánh…” Điều này rất đúng, tuy nhiên, chúng ta cũng không quên rằng “đây là công việc chung của Hội thánh,” tức là mọi thành phần dân Chúa đều có trách nhiệm tham gia đóng góp theo khả năng của mình, bằng lời cầu nguyện, bằng cách nêu lên những ý kiến xây dựng; và không nên từ chối khi được mời tham gia đóng góp. Cha Thủ cũng viết “Hội Thánh không nhắm đến sự hoàn hảo của bản dịch cho bằng sự thống nhất trong một cử hành.” Ngoài câu hỏi về tính “thống nhất trong một cử hành” có hiện thực hay không như ghi chú ở trên, xin được đặt câu hỏi: có phải chúng ta đang đặt Thiên Chúa và việc thờ phượng Ngài trong một khuôn khổ La-tinh mà ta cho là chắc chắn không sợ sai lầm? Thiên Chúa lớn hơn những gì chúng ta quy định cho Ngài. Truyền thống rất quan trọng vì chính nhờ Truyền Thống mà chúng ta biết về Chúa và thờ phượng Ngài, nhưng Truyền Thống cũng là một sự sống đang tiếp diễn, không phải chỉ gồm là quá khứ. Truyền Thống Giáo Hội luôn sống động và linh hoạt như Chúa Thánh Thần đã và luôn sống động trong Giáo Hội.


Giáo hội Việt Nam đã và đang sống chứng nhân không những trong lòng dân tộc mà còn vươn ra trên toàn thế giới. Ước mong trong công tác dịch thuật, việc tham khảo được mở rộng hơn và bao gồm được nhiều thành phần dân Chúa, quy tụ được nhiều ban chuyên môn đã có, thêm vào sự góp mặt của nhiều dòng tu nam nữ là nơi có đời sống Phụng vụ sâu xa cũng như nhiều xứ đạo trên toàn quốc. Được sự cộng tác và hiệp thông như thế, Giáo hội Việt Nam sẽ phong phú hơn nhờ có nhiều tác phẩm hữu ích giúp người tín hữu học hỏi và sống trưởng thành theo Lời Chúa.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần là nguồn mạch khôn ngoan thông hiểu hướng dẫn và ban phúc cho tất cả những ai thao thức đến việc thờ lạy, ca tụng và ngợi khen Thiên Chúa, để Lời Chúa được rao giảng, Danh Chúa được ca tụng và chúng ta được cùng hợp xướng hát bài ca chúc tụng, tạ ơn Thiên Chúa không ngừng●

Joseph Nguyễn An

______________________________


1 Huấn thị hướng dẫn phiên dịch của Giáo hội, Liturgiam Authenticam, điều 70.

2 Chỉ có phương Đông mới có chức ‘quan’ (mandarin), còn phương tây thì chỉ có chức sắc (official). Philatô là một ‘thống sứ’ (governor).

3 Một ví dụ khác về cách dùng từ ngữ. Tuy không có trong NTTL2006, nhưng rất có thể sẽ xuất hiện trong Sách Bài Đọc: chữ “MỐI” trong Bát Phúc. Tiếng Việt ngày nay hiểu chữ “mối” trong cụm từ “mối lái,” “mối manh,” “mối hàng,” “mối tơ vò.” Dùng chữ “Mối” trong Bát Phúc thiển nghĩ chẳng đem lại tâm tình thiêng liêng, quý trọng gì ngoài những hình ảnh thô thiển của các cụm từ trên. Hơn nữa, từ nhà đạo lại có cụm từ “Bảy Mối Tội Đầu” thì đâu dễ đi đôi với “Tám Mối Phúc Thật” được?

4 Hy lạp: Exomolygoumai soi, pater - La tinh: Confiteor tibi, pater. Confiteor ở đây thì hầu hết là dịch : Con NGỢI KHEN Cha. Trong khi đó Confiteor trong kinh Cáo Mình thì được dịch là ‘tôi CÁO MÌNH cùng Đức Chúa Trời’ hay ‘tôi THÚ NHẬN cùng Thiên Chúa.’

5 Việc phiên âm tiếng nước ngoài cũng là vấn đề. Tuy được biết Hội nghị toàn quốc ngày 14 tháng 3 năm 2002 đã quyết định viết liền tên riêng mà không có gạch ngang giữa các âm vận, cũng như thêm dấu vào tên riêng cho người đọc có thể phát âm dễ dàng. Điều này theo thiển ý chữ in ra sẽ đẹp mắt nhìn, nhưng không biết có giúp cho quảng đại quần chúng đọc được dễ dàng? Những chữ như Giêsu, Kitô thì đa số đều biết và có thể đọc đúng, nhưng chữ Ephêsô thì phải đọc làm sao? E-phê-sô hay Ep-hê-sô? Thực ra thì cũng khó quyết định, có điều viết tên riêng kiểu Nixê-Constantinople thì không biết ta đang theo phương pháp nào.

6 Joseph Nguyễn An, Một Số Vấn Đề Về Phiên Dịch Thánh Kinh, Maranatha số 50, phát hành ngày 27 tháng 5 năm 2005.

7 Hiện nay, được biết, khi cử hành thánh lễ ở ngoài thánh đường, nhiều linh mục dùng một bản dịch Kinh Thánh nào đó - có imprimatur hay không - để cử hành thánh lễ. Ngoài ra, dù HĐGMVN đã ‘ra lệnh’ là bản mới được sử dụng từ đầu Mùa Phục Sinh 2006, nhưng cho đến nay hầu hết các nhà thờ đều vẫn cử hành với bản văn cũ, kể cả những lời đối đáp của giáo dân và kinh Tin Kính. Nếu tình trạng này kéo dài, vì nhiều lý do khác nhau, thì liệu văn bản ‘mới và chính thức’ này giúp thực hiện “sự thống nhất trong một cử hành” hay ngược lại? Điều chắc chắn, đối với niềm tin giáo dân, dù linh mục có dùng bài đọc nào và sử dụng bản dịch nào thì Thánh Lễ vẫn thành sự.

admin
11-07-2006, 04:50 AM
<TABLE id=tblmain cellSpacing=0 cellPadding=10 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=CONTENT style="PADDING-RIGHT: 30px; PADDING-LEFT: 10px; FONT-SIZE: 10pt; PADDING-BOTTOM: 0px; WIDTH: 100%; PADDING-TOP: 30px; FONT-FAMILY: Verdana">CHA HAY CHÚA?



Cha hay Chúa đều được cả, vì người công giáo vẫn gọi Thiên Chúa là Cha và xưng với Người là Chúa. Có điều phải tùy chỗ mà gọi hay xưng với Người cho thuận hợp.

Bình thường đối với Ngôi I trong Ba Ngôi Thiên Chúa, người ta quen gọi và xưng với Người là Cha, đúng với danh xưng của Người là Chúa Cha. Đối với Ngôi II, người ta vẫn gọi và xưng với Người là Chúa : Chúa Giê-su Ki-tô. Còn đối với Ngôi III, rõ rệt và giản dị hơn, bao giờ người ta cũng gọi và xưng với Người là Chúa Thánh Thần. Chỉ có từ Chúa là đôi khi có thể lẫn lộn mà hiểu cả về Chúa Cha lẫn Chúa Con.

Vậy, để phân biệt cho rõ, do thói quen và dường như có một sự thoả thuận ngầm không ai bảo ai, khi nói về Ba Ngôi hay Chúa Ba Ngôi, người ta quen dùng từ Thiên Chúa. Còn riêng về mỗi Ngôi thì như nói ở trên, Cha là Chúa Cha, Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô, Thánh Thần là Chúa Thánh Thần.

Huấn thị V, số 51 cũng đề cập đến vấn đề này, khi nói về những hình thức thân thưa với Thiên Chúa mà dùng những từ như Domine, Deus, Omnipotens aeterne Deus, Pater. Số này nói là bản văn gốc dùng nhiều từ khác nhau thì trong bản văn dịch, chừng nào có thể, cũng phải dùng những từ khác nhau cho tương xứng. Ví dụ, trong bản dịch chỉ dùng một từ để dịch các đông từ la tinh khác nhau như “satiari”, “sumere”, “vegetari” và “pasci”, hay những danh từ như “caritas”, “dilectio”, hoặc các từ khác như “anima”, “animus”, “cor”, “mens” và “spiritus”, thì việc lặp lại những từ ấy có thể làm cho bản văn ra nhàm chán và nhạt nhẽo. Cũng vậy, khi dịch những từ xưng hô với Chúa như “Domine”, “Deus”, “Omnipotens aeterne Deus”, “Pater” hay những từ khác bày tỏ sự van nài mà dịch thiếu thì có thể làm lu mờ kiểu nói phong phú và đặc biệt trong bản văn la tinh người ta dùng để nói lên mối liên hệ giữa các tín hữu và Thiên Chúa.

“Ceterum varietati vocabulorum in textu originali occurrenti respondeat, quantum fieri potest, varietas, qua, translationes sint praeditae. Exempli gratia, usus ejusdem vocabulari vulgaris, quo variae formae verborum latinorum reddantur, sicut “satiari, “sumere”, “vegetari” et pasci ex una parte, aut nomina “caritas” ac “dilectio” ex altera, aut item vocabula “anima”, “animus”, “cor”, “mens” et spiritus, cum iterantur, textum potest extenuare ac tritum efficere. Item defectus in translatione variorum modorum alloquendi, velut “Domine”, “Deus”, Omnipotens aeterne Deus”, “Pater” et cetera, aut variorum verborum supplicationem exprimentium, potest translationem efficere taediosam atque obscurare modum locuplem ac speciosum, quo in textu latino relatio inter fideles ac Deum significatur.” (LA 51)

Tuy nhiên, đến số 53, Huấn thị lại nói :”Mỗi lần một từ la tinh nào có ý nghĩa quan trọng mà khó chuyển sang ngôn ngữ hiện hành trong thời đại chúng ta (như các từ “munus”, “famulus”, “consubstantialis”, “propitius”, etc.), thì trong bản dịch có thể dùng những kiểu khác, hoặc một từ hay nhiều từ kết hợp, hoặc đặt ra một từ mới có thể là thích hợp, hay chuyển đổi bằng một kiểu viết khác đối chiếu với nguyên bản, (xem số 21 ở trên) hoặc đưa vào một từ đã có nhiều nghĩa.”

“Quotiescumque vocabulum aliquod latinum significationem habet gravem, quam difficile est in linguam aetate nostra vigentem reddere (veluti verba “munus”, “famulus”, “consubstantialis”, “propitius”, in translatione adhiberi possunt variae rationes, sive eo quod vocabulum uno verbo sive pluribus conjunctis redditur, sive ut vocabulum novum condatur, fortasse aptatum aut transcriptum diverso scribendi modo, respectu habito textus primogenii (cf supra n.21), sive inducendo vocabulum, quod jam habitur pluribus sensibus praeditum.” (LA 53)

Các từ Pater, Dominus, Deus, thường được dùng trong các kinh Tạ Ơn. Trong các kinh này, các từ ấy khi thì nói với Chúa Cha, khi thì nói với Chúa Giê-su Ki-tô. Để phân biệt các Ngôi trong Ba Ngôi Thiên Chúa, thiết tưởng nên dùng hai từ Cha và Chúa. Khi có từ Cha không thì hiểu về Chúa Cha, khi có từ Chúa không thì hiểu về Chúa Giê-su Ki-tô, dù trong bản văn la tinh dùng chữ Dominus hay Deus, nhưng theo nghĩa thì pphải phân biệt là Chúa Cha hay Chúa Con. Về cách xưng hô với Thiên Chúa, trong bản giải thích của Ban Phụng Tự năm 1992 có đề nghị như sau :

“Trong các kinh tạ Ơn, bản la tinh xưng với Thiên Chúa khi thì “Cha” (Pater), khi thì “Chúa” (Dominus), khi lại “Thiên Chúa” (Deus). Trong một kinh đọc liên tục mà thay đổi cách xưng hô như vậy, kể cũng lạ tai, chẳng khác nào khi nói chuyện, một tín hữu xưng với linh mục khi thì “linh mục”, khi thì lại “cha”. Vì cũng ý thức như vậy mà một số bản dịch Phụng vụ nước ngoài như Ý, Bồ đào nha cũng uyển chuyển trong cách xưng hô này.

Thay đổi cách xưng hô trong một kinh như vậy lại càng chói tai trong tiếng Việt.. Trong tiếng la tinh cũng như trong đa số các tiếng khác (kể cả tiếng Trung Hoa) thì sau khi xưng “Cha” (Pater) chẳng hạn, văn phạm các tiếng ấy chỉ dùng đại từ thay thế hoặc hiểu ngầm. Ví dụ trong knh Tạ Ơn IV, lời Tiền Tụng xưng Pater sancte, nhưng rồi đại từ Tibi, Te thay thế Pater, hoặc et fecisti (danh từ Pater hoặc đại từ Tu được hiểu ngầm hoặc diễn tả trong đuôi động từ). Trong tiếng Việt, chúng ta không thể làm như vậy mà phải nói ra, lặp lại. “Lạy Cha chí thánh, tạ ơn Cha, tôn vinh Cha, Cha là Cha, Cha còn…” Mà nếu trong một kinh, chúng ta nghe “Cha, Cha, Cha” rồi “Chúa, Chúa, Chúa” thì đã có người nói : “Bốn Cha, ba Chúa”. Điều ấy lại càng chói tai, vì nội dung tình cảm của hai từ Cha và Chúa khác nhau : con người đang thưa với Thiên Chúa như con thưa với cha, rồi bỗng nhiên, con người ấy lại thưa với Thiên Chúa như người xa lạ.

Để giải quyết những thắc mắc ấy và dựa theo cách dịch của những Giáo Hội Công Giáo một số nước khác Ủy Ban đề nghị : trong các kinh Tạ Ơn, chúng ta xưng hô với Thiên Chúa là Cha, vì một đôi lý do sau đây :



*Khi đọc các lời nguyện, trong thánh lễ cũng như ngoài thánh lễ, chúng ta đã kêu Thiên Chúa là Chúa nhiều rồi.
*Hơn nữa, theo tinh thần kinh Lạy Cha sẽ đọc sau kinh Tạ Ơn, danh xưng “Cha” giúp người tín hữu nhớ lại rằng nhờ Chúa Ki-tô, chúng ta được diễm phúc gọi Thiên Chúa là Cha, và rằng cùng Chúa Ki-tô, chúng ta dâng lời nguyện và lễ tế lên Chúa Cha. Sau hết và cụ thể hơn, Thiên Chúa mà chúng ta xưng hô trong các kinh Tạ Ơn là Chúa Cha : nhờ Chúa Ki-tô là Chúa Con, chúng ta cầu xin Chúa Cha đổ ơn Chúa Thánh Thần xuống để thánh hóa lễ phẩm. Do đó, chúng ta nên nói rõ để mọi người dễ ý thức trong phần quan trọng này của Thánh lễ.” (Chú thích bản dịch Nghi thức Thánh lễ 1992 của Ủy Ban Phụng Tự trang 88-89)Như vậy, gọi hay xưng hô với Thiên Chúa là Cha hay Chúa đều được cả. Có điều, như đã nói ở trên, là nên phân biệt (như trong các kinh Tạ Ơn chẳng hạn), để việc xưng hô với từng Ngôi Vị được rõ ràng và do đấy, biểu lộ được mức độ tình cảm và lòng trọng kính phải có trong mỗi trường hợp.
</TD></TR><TR><TD class=AUTHOR style="WIDTH: 100%" align=left>LM An-rê Đỗ xuân Quế, OP

Nguồn: Vietcatholic (http://vietcatholic.net/News/Html/35888.htm)
</TD></TR></TBODY></TABLE>