View Full Version : Tự điển Việt - Bồ - La của A. de Rhodes
admin
15-04-2008, 05:43 AM
Tự điển Việt - Bồ - La của A. de Rhodes (http://purl.pt/961/1/P1.html)
http://purl.pt/961/1/l-2360-a_JPG/l-2360-a_JPG_24-C-R0072/l-2360-a_0001_rosto_t24-C-R0072.jpg (http://purl.pt/961/1/l-2360-a_JPG/l-2360-a_JPG_24-C-R0072/l-2360-a_0001_rosto_t24-C-R0072.jpg)
xem tiếp ở đây: [/URL] (http://purl.pt/961/1/P1.html) (javascript:zoomOut())[URL="http://purl.pt/961/1/P3.html"]http://purl.pt/961/1/icons/botao_seta_dirt.gif (javascript:zoomIn())
http://purl.pt/961/1/P1.html
admin
24-04-2008, 08:12 PM
GIÁO SĨ ĐẮC LỘ (ALEXANDRE DE RHODES) (1593-1660)
Nguyễn Khắc Xuyên
Bài thuyết trình đọc tại Giáo xứ Công Giáo Việt Nam ở Paris nhân kỷ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ (1593-1993).*
Thưa quí vị,
Trước khi vào đề, tôi xin vắn tắt nói về mấy tác phẩm chính yếu của Đắc Lộ, những sách tôi đã tham khảo để viết bài thuyết trình này. Âu cũng là cách hiểu thêm về Đắc Lộ vì ông không phải chỉ là nhà truyền giáo mà còn là nhà nhân chủng học, nhà phiêu lưu mạo hiểm, nhà ngữ học, xã hội học.
Chúng ta có cuốn Lịch sử Đàng Ngoài in tại Roma bằng tiếng Ý năm 1650, bằng tiếng Pháp 1651 và bằng tiếng Latinh 1652. Cuốn này Đắc Lộ đã viết năm 1636 tại Macao, viết bằng La ngữ. Khi về Roma, ông viết thêm và soạn lại bản tiếng Ý, mục đích gây dư luận và đánh động các hồng y và giáo quyền ở thủ đô Giáo hội. Như Borri đã làm, ông chia cuốn sách này ra làm hai phần rõ rệt, phần một giới thiệu Đàng Ngoài với danh hiệu, địa lý, thổ sản, phong tục, văn hóa, tiếng nói, lịch sử và phần hai là lịch sử việc truyền giáo ở Đàng Ngoài kể từ 1626 cho tới năm 1646. Sách dày 326 trang, bản tiếng Pháp.
Về Đàng Trong, chúng ta có cuốn Tường trình về Đàng Trong, viết tại Macao năm 1645, ấn hành tại Paris năm 1652. Sách dày 135 trang. Thực ra đây là bản phúc trình hoạt động của Đắc Lộ
Tác phẩm Lịch sử Đàng Ngoài của Alexandre de Rhodes,bản in năm 1652 bằng tiếng Latinh
ở Đàng Trong vào năm 1644-1645. Ông đã sốt dẻo viết ngay ở Macao trước khi xuống tàu trở về Âu châu. Trong cuốn này, ông kể lại việc bắt đạo năm 1644 và cuộc tử đạo của thày giảng Anrê. Cuốn thứ ba là cuốn ông viết tại Pháp và ấn hành tại Paris năm 1653. Đó là cuốn Hành trình và Truyền giáo. Chúng tôi không có bản 1653, nhưng có cuốn in năm 1854, dày 448 trang. Cuốn sách chia làm ba phần rõ rệt. Phần một là hành trình từ Roma qua Pháp tới Lisbon, thủ đô Bồ Đào Nha, rồi từ Lisbon vòng bờ biển Phi châu tới Ấn độ, qua Malacca cho tới Macao năm 1623. Hành trình này dài gần tới 5 năm. Phần hai là việc truyền giáo ở Đàng Trong, Đàng Ngoài rồi Đàng Trong, kể từ năm 1624 cho tới 1645, trong đó có 10 năm ông rút về Macao (1630-1640). Những gì ông đã viết tại chỗ ở hai cuốn trên, nay ông ghi lại theo ký ức và suy nghĩ về sự nghiệp truyền giáo của ông. Phần ba là hành trình một nửa đi tàu biển và một nửa đi đường bộ từ Macao qua Malacca rồi từ Malacca đến vùng Vịnh, sau đó đến đất liền qua Ba tư cho tới Địa Trung Hải để lấy tàu về Roma. Trên đây chúng tôi nói ông còn là một nhà phiêu lưu mạo hiểm, thì quả thật là thế: không những ông đã theo người Bồ vượt trùng dương bát ngát mà ông còn mở một con đường bộ đi từ vùng Vịnh qua Aspaan, Ivran, Erzeroun cho tới Smyrne thuộc vùng Tiểu Á, thuộc miền Hồi giáo khá phức tạp và nguy hiểm.
Ngoài ba cuốn chính yếu trên đây, còn mấy cuốn ít quan trọng đối với chúng ta hoặc không cần thiết vì đã nói trong những cuốn kể trên rồi như cuốn về thày Anrê tử đạo viết bằng tiếng Ý và xuất bản ở Roma năm 1652, bản tiếng Pháp ở Paris năm 1653, cuốn viết về Truyền giáo tại Nhật năm 1649, cuốn kể lại việc Truyền giáo ở Ba tư, xuất bản ở Paris năm 1659, một năm trước khi Đắc Lộ mất ở Ba tư (1660).
Sau cùng phải nói là cuốn Phép Giảng Tám Ngày viết bằng La ngữ và bằng chữ quốc ngữ mới hình thành, do Bộ truyền bá đức tin ấn hành ở Roma năm 1651. Sách dày 319 trang. Rồi cũng năm 1651 và cũng do thánh bộ ấn hành ở Roma, cuốn Từ
Từ điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes in năm 1651
điển Việt Bồ La dày 450 trang về phần Việt-Bồ-La, có chừng 175 trang về phần Latinh-Việt. Cũng nên kể cuốn Khái niệm Việt ngữ viết bằng tiếng Latinh, dày 31 trang là cuốn ngữ pháp đầu tiên, viết theo cách xếp đặt và phân chia các loại từ theo La ngữ. Cuốn này thường được in với Từ điển như thể một bài dài nhập môn vào tiếng Việt viết theo tự mẫu latinh hay latinh hóa, chúng ta gọi là chữ quốc ngữ.
Ba điểm chính yếu trong sự nghiệp của giáo sĩ Đắc Lộ:
1. Sự nghiệp đóng góp vào việc thành lập giáo hội công giáo nguyên thủy Việt Nam dưới mấy khía cạnh then chốt: đi rao giảng giáo lý, trình bày khoa thần học tín lý và luân lý công giáo, thiết lập phụng vụ và nghi lễ, tổ chức đoàn thể các thày giảng và dự trù huấn luyện giáo sĩ bản xứ.
2. Sự nghiệp đóng góp vào việc tìm hiểu đất nước Việt Nam và Con người Việt Nam thế kỷ 17, không những về phong tục, văn hóa, xã hội mà cả về mấy nhân vật lỗi lạc trong lịch sử ở cái thế kỷ nước Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với Âu châu và trong một thời kỳ chia đôi đất nước và huynh đệ tương tàn, chúng tôi muốn nói thời Trịnh Nguyễn phân tranh.
3. Sự nghiệp lớn lao trong việc hình thành chữ quốc ngữ. Thực ra Đắc Lộ không phải là người sáng chế ra thứ chữ viết theo tự mẫu Latinh. Đây là một sự nghiệp chung của một số giáo sĩ thuộc nhiều dân tộc khác nhau, trong đó đặc biệt là người Bồ, rồi tới người Ý, người Pháp. Nhưng Đắc Lộ là người được nói tới nhiều hơn hết và vì đó kể như có công nhất, bởi vì các tác phẩm của ông còn tồn tại cho tới ngày nay, trong khi nhiều tác phẩm của các đồng nghiệp đã thất lạc….
(trích)
* Nhiều tài liệu ghi A.Rhodes sinh năm 1591. BBT
admin
24-04-2008, 08:12 PM
LINH MỤC ALEXANDRE DE RHODES, “GIÁO SĨ ĐẮC-LỘ”
Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt
THỪA SAI DÒNG TÊN NGƯỜI PHÁP, VỊ KHAI SINH CHỮ QUỐC-NGỮ.
1. NHÀ TRUYỀN GIÁO GƯƠNG MẪU CỦA THẾ KỶ 17.
Theo một số sử liệu, linh mục Alexandre de Rhodes, tức giáo sĩ Đắc-Lộ, sinh năm 1591. Một số sử liệu khác ghi là năm 1593. Bài này chỉ xin gợi lại những nét đặc thù của một nhà truyền giáo, đã có công rất lớn đối với Giáo Hội Công Giáo và nhất là, đối với dân tộc Việt Nam, vì cha Đắc-Lộ đã khai sinh ra chữ Quốc Ngữ.
Linh mục Alexandre de Rhodes, sinh tại Avignon, miền Nam nước Pháp. Alexandre gia nhập Tập Viện dòng Tên tại Roma vào thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển. Tuy nhiên, cùng với đà tiến này, Giáo Hội Công Giáo cũng gặp sức kháng cự vũ bão của chính quyền các dân tộc được rao giảng Tin Mừng. Vì thế, bên cạnh nhiệt tâm truyền giáo, còn phải kể ước muốn được đổ máu đào minh chứng cho Chúa Giêsu Kitô của các vị thừa sai tiên khởi.
Trong bối cảnh đó, cha Alexandre de Rhodes đã xin và được Bề Trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản.. Ngày 4-4-1619, cha lên đường với số tuổi 26, cùng với kiến thức sâu rộng về thiên văn học và toán học.
Cha Alexandre có thân hình cường tráng, biểu lộ sức khoẻ dồi dào và một tâm tình tươi trẻ. Nơi cha, nổi bật đức tính lạc quan, luôn nhìn khía cạnh tích cực của vấn đề. Cha thích nghi nhanh chóng với mọi môi trường sống. Cha cư xử giản dị trong giao tế với người khác. Ngoài ra, cha có tinh thần linh động, trí
Cuốn Phép giảng tám ngày in năm 1651 của A.Rhodes
nhớ dẻo dai và tâm hồn thật bao dung. Nhất là, cha có tấm lòng nhiệt thành, không bao giờ lùi bước trước gian nguy. Ngay từ xuân trẻ, cha Alexandre đã biết quên mình để đến với người khác và dễ dàng chấp nhận người khác. Với tất cả những đức tính cao quý ấy, cha Alexandre de Rhodes đã trở thành nhà truyền giáo gương mẫu và là một trong những vị thừa sai vĩ đại nhất của lịch sử Giáo Hội Công Giáo. Nhờ cha mà thế giới Tây phương thời đó hiểu rằng, không phải cái nghèo đói hoặc kém văn minh của các dân tộc Châu Á đã lôi kéo sự chú ý của các vị thừa sai, cho bằng, chính nét đẹp cao quý tinh thần của các dân tộc Á Châu đã thu hút và khơi động nhiệt tâm tông đồ của các nhà truyền giáo.
Trước tiên, cha Alexandre de Rhodes cập bến tại Goa, đợi chờ cơ hội thuận tiện đặt chân lên đất Nhật Bản. Nhưng tình hình bách hại Kitô-Giáo dữ dội tại đây đã khiến các Bề Trên buộc lòng chỉ định cha đi Trung Quốc. Cha lên tàu đi Macao. Nơi ngưỡng cửa Trung Quốc, cha ghi lại nhận xét:
“Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng tôi vẽ. Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ còn là chấm nhỏ trong vũ trụ trái đất bao la. Trái lại, nơi bản đồ trái đất hình vuông do họ vẽ, Trung Quốc nằm chính giữa, đúng như tên gọi. Sau đó, họ vẽ biển nằm bên dưới Trung Quốc, trong đó rải rác mấy đảo nhỏ, và họ đề tên: Âu Châu, Châu Phi và Nhật Bản..”.
6 năm truyền giáo tại Goa và tại Macao, tuy hơi ngắn ngủi, cũng đủ giúp cha Alexandre de Rhodes có cái nhìn độc đáo và đúng đắn nhất của vị thừa sai vào thế kỷ 17. Cha viết:
“Chúng ta thường tỏ ra quý chuộng những người ngoại giáo. Nhưng khi họ trở thành Kitô-hữu, chúng ta không đoái hoài đến họ nữa. Thậm chí còn bắt các người theo đạo phải từ bỏ y phục địa phương. Chúng ta đâu biết rằng, đây là một đòi buộc quá khắt khe, mà ngay cả Thiên Chúa, Ngài cũng không đòi hỏi như thế!. Chúng ta ngăn cản người ngoại giáo, không cho họ cơ hội dễ dàng gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Riêng tôi, tôi cực lực phản đối những ai muốn bắt buộc người đàn ông Trung Hoa, khi theo đạo, phải cắt bỏ mái tóc dài họ vẫn để, y như các phụ nữ trong xứ. Làm vậy, chúng ta gây thêm khó khăn cho các nam tín hữu Trung Hoa, một khi theo đạo Công Giáo, không còn tự do đi lại trong xứ, hoặc tìm được dễ dàng công ăn việc làm. Phần tôi, tôi xin giải thích rằng, điều kiện để trở thành Kitô-hữu là phải từ bỏ lầm lạc, chứ không phải cắt bỏ tóc dài..”.
admin
24-04-2008, 08:24 PM
Suy tư của cha Alexandre de Rhodes làm nổi bật ý tưởng của vị thừa sai khôn ngoan, biết phân biệt giữa đòi buộc chính yếu của Phúc Âm và lợi ích riêng tư của Âu Châu. Nhưng phải đợi đến 40 năm sau, 1659, nghĩa là một năm trước khi từ trần, cha Alexandre mới trông thấy phương pháp truyền giáo của mình được Tòa Thánh chính thức công nhận. Trong văn thư gửi các Giám Mục tiên khởi của Hội Thừa Sai Paris, Bộ Truyền Giáo Các Dân Tộc viết:
... “Đừng mất công thuyết phục các dân tộc Á Châu phải từ bỏ các lễ nghi và tập tục của họ. Không gì ngu xuẩn cho bằng, muốn biến đổi người Trung Hoa thành người của một quốc gia Châu Âu nào đó! Đừng tìm cách đưa các tập tục của chúng ta vào xứ sở của họ, nhưng chỉ đưa vào đó Đức Tin. Đức Tin không hề xua trừ cũng không làm tổn thương các nghi lễ cùng các tập tục, miễn là các tập tục và nghi lễ này không quá xấu xa”.
2. LINH MỤC ALEXANDRE DE RHODES, “GIÁO SĨ ĐẮC-LỘ”, THỪA SAI TẠI VIỆT-NAM.
Sau 6 năm giảng đạo tại Goa và Macao, vì thời cuộc biến chuyển, Bề Trên lại chỉ định cha Alexandre de Rhodes đi Việt Nam.
Đầu năm 1625, cha Alexandre cùng với 4 cha dòng Tên khác và một tín hữu Nhật-Bản, cập bến Hội-An, gần Đà-Nẵng. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Thầy dạy tiếng Việt cho cha là một thiếu niên trạc tuổi 10-12. Đây là một cậu bé thông minh. Cha Đắc-Lộ vô cùng mộ mến khi nói về vị thầy tí hon:
“Chỉ trong vòng 3 tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức gì về ngôn ngữ Châu Âu, thế mà, cũng trong vòng 3 tuần lễ này, cậu đã có thể hiểu được tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc học viết tiếng La-tinh và đã có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành thày giảng giúp việc các cha truyền giáo và là một dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của thày và nơi vương quốc Lào láng giềng”.
Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha Alexandre de Rhodes, tức giáo sĩ Đắc-Lộ. Tuy nhiên, duyên nợ của cha đối với quê hương Việt-Nam, không xuôi chảy và vẹn toàn. Cuộc đời truyền giáo thật bấp bênh và vô cùng trôi nổi. Trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến 6 lần. Nhưng sau cả 6 lần ấy, cha đều tìm cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép. Sau này, khi vĩnh viễn từ biệt Việt Nam, cha đau đớn thú nhận:
-“Trái tim tôi vẫn còn ở lại nơi đó!”. Chính tình yêu đặc biệt cha dành cho Việt Nam đã giải thích cho sự thành công của cha, trong lãnh vực truyền đạo cũng như trong lãnh vực ngôn ngữ, văn hóa.
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.