PDA

View Full Version : Diễn từ của ĐTC Bênêđictô XVI đọc tại Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ


admin
22-04-2008, 01:43 PM
Diễn từ của ĐTC Bênêđictô XVI đọc tại Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ

vào ngày Thứ Năm 17 tháng 4, năm 2008

Kính thưa Quý Hồng Y

Các hiền huynh Giám Mục thân mến,

Các Giáo Sư, các Thầy Giáo và các Nhà Giáo ưu tú,

“Đẹp thay bước chân những người đi gieo Tin Mừng” (Rom 10:15-17). Mượn lời Thánh Phaolô trích dẫn từ ngôn sứ Isaia, tôi nồng nhiệt chào mừng mỗi người trong các bạn - là những người mang sự khôn ngoan – và qua các bạn, đến các nhân viên, sinh viên và gia đình của nhiều học viện khác nhau mà các bạn đại diện. Thật là sung sướng cho tôi được gặp và chia sẻ với các bạn một vài tư tưởng về bản chất và căn tính của việc giáo dục Công Giáo ngày nay. Tôi đặc biệt cám ơn Cha David O’Connell, Viện Trưởng và Giám Đốc của Viện Đại Học Công Giáo Mỹ (Catholic University of America). Tôi cảm tạ những lời chào mừng ân cần của Cha. Làm ơn gửi lời cảm ơn tận đáy lòng tôi đến toàn thể cộng đoàn – ban giảng huấn, nhân viên và sinh viên - của trường Đại Học này.

Giáo dục là thành phần của toàn bộ sứ mạng của Hội Thánh trong việc rao giảng Tin Mừng. Trước hết và trên hết, mỗi cơ quan giáo dục Công Giáo phải là một nơi gặp gỡ Thiên Chúa Hằng Sống, là Đấng tỏ bày tình yêu và chân lý có sức biến đổi cho chúng ta qua Đức Chúa Giêsu Kitô (x. Spe Salvi, 4). Sự liên hệ này nảy sinh một ước muốn được lớn lên trong sự hiểu biết Đức Kitô và giáo huấn của Người. Nhờ cách này mà những ai gặp Người được chính quyền năng của Tin Mừng thu hút để sống một đời sống mới được biểu thị bằng tất cả những gì thiện, mỹ và chân thật; một đời sống của một nhân chứng cho Đức Kitô được nuôi dưỡng và củng cố trong cộng đồng các môn đệ của Chúa chúng ta là Hội Thánh.

Động lực giữa sự gặp gỡ riêng tư, sự hiểu biết và làm chứng cho Đức Kitô là những phần trong toàn bộ của việc phục vụ (diakonia) chân lý mà Hội Thánh thực thi giữa nhân loại. Mặc khải của Thiên Chúa cung cấp cho mọi thế hệ cơ hội để khám ra phá chân lý tuyệt đối về chính đời sống mình và mục đích của lịch sử. Công tác này không bao giờ dễ dàng; nó cần sự hợp tác của toàn thể cộng đồng Kitô hữu và thúc đẩy mỗi thế hệ nhà giáo Kitô, để bảo đảm rằng quyền năng chân lý của Thiên Chúa thấm nhuần mọi bình diện của các học viện mà họ phục vụ. Nhờ thế, Tin Mừng của Đức Kitô có thể bắt tay vào việc, hướng dẫn cả thầy lẫn trò đến chân lý khách quan, vượt trên chân lý riêng và chủ quan, hướng về chân lý vạn năng và tuyệt đối, là chân lý giúp chúng ta có thể vững lòng rao giảng niềm hy vọng không làm chúng ta thất vọng (x. Rom 5:5). Được đặt đối diện với những tranh đấu cá nhân, những mập mờ về luân lý, và mảnh vụn kiến thức, các mục tiêu cao quý của việc học rộng và giáo dục được thiết lập trên tính đồng nhất của chân lý, để phục vụ con người và cộng đồng, đã trở thành một dụng cụ rất mạnh mẽ của hy vọng.

Các bạn thân mến, lịch sử dân tộc này có nhiều trường hợp điển hình về quyết tâm của Hội Thánh đối với công tác giáo dục. Thực ra, cộng đồng Công Giáo ở đây đã đặt việc giáo dục lên hàng đầu. Gánh vác trọng trách này không thể xảy ra nếu không có những hy sinh lớn lao. Các nhân vật vĩ đại như Thánh Elizabeth Ann Seton và các Đấng sáng lập nam nữ, với tính hết sức kiên trì và nhìn xa, đã đặt những nền móng cho những hệ thống trường Công Giáo đáng kể ngày nay, góp phần vào sự an mạnh thiêng liêng của Hội Thánh và của quốc gia. Có những vị như Thánh Katharine Drexel, đã hiến trọn đời để giáo dục những người bị người khác bỏ rơi – trong trường hợp Thánh nữ, đó là những người Mỹ gốc Phi Châu và người Mỹ Bản Xứ (Da Đỏ). Qa các trường Công Giáo, không biết bao nhiêu các Nữ Tu, các Thầy Dòng, và Linh Mục cùng với những phụ huynh vị tha đã giúp đỡ những thế hệ dân di cư thoát ra khỏi cảnh nghèo đói để có một thế đứng trong xã hội chính.

Sự hy sinh này vẫn được tiếp tục hôm nay. Đó là một việc tông đồ nổi bật của hy vọng, trong việc tìm cách đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần và tâm linh của trên ba triệu trẻ em, học sinh và sinh viên. Nó cũng cung ứng những dịp đáng khích lệ cho toàn thể cộng đồng Công Giáo để đóng góp cách đại lượng vào nhu cầu tài chánh của các cơ sở giáo dục của chúng ta. Cần phải đảm bảo sự tồn tại của các cơ sở này. Thật ra, phải làm tất cả mọi cách để, với sự hợp tác của cộng đồng rộng lớn hơn, có thể đảm bảo rằng mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội và kinh tế có thể theo học được ở các trường này. Không một trẻ em nào có thể bị khước từ quyền giáo dục về Đức Tin, và chính việc giáo dục này sẽ nuôi dưỡng linh hồn của quốc gia.

Một ít người ngày nay thắc mắc về việc can thiệp vào vấn đề giáo dục của Hội Thánh, và cho rằng tốt hơn Hội Thánh nên dùng tài nguyên vào việc khác. Chắc chắn rằng với một nước như nước này thì quốc gia có thể cung cấp dư thừa những cơ hội cho việc giáo dục và thu hút được nhiều người dấn thân vào nghề cao quý này. Như vậy thật là đúng lúc để suy tư về những gì đặc thù của các học viện Công Giáo. Các học viện này đóng góp thế nào vào lợi ích của xã hội qua sứ vụ chính là truyền giáo của Hội Thánh?

admin
22-04-2008, 01:43 PM
Tất cả mọi hoạt động của Hội Thánh được phát sinh từ việc Hội Thánh ý thức rằng mình là cơ quan mang một sứ điệp phát nguồn từ Chính Thiên Chúa: trong sự tốt lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã chọn để bày tỏ Chính Ngài và cho người ta biết mục đích thầm kín của Thánh Ý Ngài (x. Eph 1:9; Dei Verbum, 2). Thiên Chúa muốn tỏ Mình ra cho chúng ta, và ao ước bẩm sinh của tất cả mọi người là biết chân lý, vì thế mà con người đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. Cuộc gặp gỡ đặc biệt này được đứng vững trong cộng đồng Kitô hữu của chúng ta: người đi tìm chân lý là người sống nhờ Đức Tin (x. Fides et Ratio, 31). Điều đó có thể được diễn tả như là một sự di chuyển từ “Tôi” đến “Chúng Tôi”, đưa người ta vào số của những người Dân Thiên Chúa.

Cũng động lực này của căn tính cộng đồng – tôi thuộc về ai? – làm cho nét đặc thù của các học viện Công Giáo của chúng ta trở nên có sinh khí. Căn tính của một đại học hay một trường học Công Giáo không đơn thuần chỉ là vấn đề số lượng sinh viên học sinh Công Giáo. Nhưng là vấn đề xác tín – chúng ta có thực sự tin rằng chỉ có trong mầu nhiệm Ngôi Lời làm người mà chúng ta thật sự hiểu rõ mầu nhiệm về loài người không (Gaudium et Spes, 22)? Chúng ta có sẵn sáng hiến toàn thể con người chúng ta – trí thông minh và ý chí, trí khôn và linh hồn – cho Thiên Chúa không? Chúng ta có chấp nhận chân lý mà Đức Kitô mặc khải không? Đức tin có hiển hiện trong các trường đại học hay trường học của chúng ta không? Đức tin ấy có được diễn tả cách mãnh liệt qua Phụng Vụ, bí tích, cầu nguyện, các việc bác ái, quan tâm đến công lý, và tôn trọng các tạo vật của Thiên Chúa không? Chỉ bằng cách này mà chúng ta mới thật sự làm chứng cho ý nghĩa của việc chúng ta là ai và xác tín gì.

Từ viễn cảnh này một người có thể nhận ra rằng “cuộc khủng hoảng chân lý” bắt nguồn từ “cuộc khủng hoảng Đức Tin.” Chỉ nhờ Đức Tin chúng ta mới tự do tán đồng chứng từ của Thiên Chúa và thừa nhận Ngài như là Đấng bảo đảm siêu việt cho chân lý mà Ngài mặc khải. Một lần nữa, chúng ta thấy tại sao nuôi dưỡng sự liên hệ mật thiết với Đức Chúa Giêsu Kitô và làm chứng cho chân lý yêu thương của Người cách cộng đồng là điều tối cần thiết trong những học viện Công Giáo. Nhưng tất cả chúng ta đều biết, và quan sát với lo ngại, sự khó khăn hay ngần ngại mà nhiều người ngày nay gặp phải trong việc phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa. Đó là một hiện tượng phức tạp mà cũng là điều làm tôi suy nghĩ hoài. Trong khi chúng ta chuyên cần tìm cách tác động trí thông minh của người trẻ thì chúng ta lại bỏ bê ý chí của các em. Hậu quả là chúng ta đau buồn mà quan sát rằng khái niệm về tự do bị méo mó. Tự do không phải là chọn bất hợp tác, nhưng là chọn cộng tác với Chính Đầng Hữu Thể. Vì thế, người ta không bao giờ đạt được tự do chân chính bằng cách chối từ Thiên Chúa. Chọn lựa như thế là tuyệt đối không đếm xỉa gì đến chính chân lý mà chúng ta cần để hiểu chính mình. Cho nên trách nhiệm đặc biệt của mỗi người trong các bạn, và đồng nghiệp của các bạn, là gợi lên giữa những người trẻ ao ước hành động Đức Tin, khuyến khích các em dấn thân vào đời sống Hội Thánh theo niềm tin này. Chính ở đây sự tự do đạt được sự chắc chắn của chân lý. Bằng cách chọn sống theo chân lý này, chúng ta nắm chắc được sự sung mãn của đời sống Đức Tin mà Chúa ban cho chúng ta trong Hội Thánh.

Như thế, rõ ràng là căn tính Công Giáo không lệ thuộc vào thống kê. Căn tính này cũng không thể chỉ được đặt ngang hàng với sự chính thống của nôi dung các môn học. Nó đòi hỏi và gây cảm hứng nhiều hơn nữa: nghĩa là mỗi và mọi bình diện của cộng đồng học hỏi của các bạn phải phản ảnh trong đời sống Đức Tin của Hội Thánh. Chỉ trong Đức Tin mà chân lý mới có thể nhập thể và lý trí mới thật sự là của con người, có thể hướng dẫn ý chí theo đường tự do (x. Spe Salvi, 23). Bằng cách này các học viện của chúng ta có thể đóng góp hữu hiệu vào sứ mạng của Hội Thánh và thực sự phục vụ xã hội. Chúng trở thành những nơi mà ở đó người ta nhận ra sự hiện hữu cách chủ động của Thiên Chúa trong các công việc của con người, và ở đó mỗi người trẻ khám phá ra niềm vui được tham gia vào “việc sống cho tha nhân” của Đức Kitô (x. Spe Salvi, 28).

Sứ vụ chính của Hội Thánh là truyền giáo, mà trong đó các cơ quan giáo dục đóng vai trò chủ yếu, phù hợp với ước vọng của quốc gia là phát triển một xã hội thực sự xứng đáng với nhân phẩm. Đôi khi người ta thắc mắc về giá trị của sự đóng góp của Hội Thánh vào diễn đàn công cộng. Cho nên cần phải nhắc lại rằng chân lý Đức Tin và lý trí không bao giờ đối nghịch nhau (x. CĐ Vaticanô I, Hiến Chương Dei Filius, IV; DS 3017; Th. Augustinô, Contra Academicos, III., 20, 43). Thực ra, sứ vụ của Hội Thánh là phải đóng góp vào cuộc chiến đấu của nhân loại để đi đến chân lý. Bằng cách phát biểu rõ ràng chân lý được mặc khải, Hội Thánh phục vụ tất cả mọi phần tử của xã hội qua việc thanh luyện lý trí, để bảo đảm rằng nó vẫn mở rộng để suy nghĩ về những chân lý tuyệt đối. Rút ra từ sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Hội Thánh soi sáng vào nền tảng của luân lý và đạo đức của nhân loại, và nhắc nhở cho tất cả mọi nhóm người trong xã hội rằng không phải tục lệ (praxis) tạo ra chân lý mà phải dùng chân lý làm nền tảng cho tục lệ. Thay vì hạ giá tính khoan dung của sự đa dạng hợp lý, đóng góp như thế tỏa sáng chính chân lý giúp người ta dễ đạt đến thỏa thuận, và giúp cho những cuộc tranh luận công cộng được hợp lý, trung thực, và có trách nhiệm. Cũng thế, Hội Thánh không bao giờ mệt mỏi trong việc duy trì những phạm trù luân lý đúng và sai, nếu không làm như vậy, hy vọng sẽ chỉ còn cách úa tàn, nhường chỗ cho những toan tính vị lợi thực dụng lạnh nhạt, là điều coi con người không hơn gì con tốt trên một bàn cờ tư tưởng nào đó.

admin
22-04-2008, 01:44 PM
Đối với diễn đàn giáo dục, việc phục vụ (diakonia) chân lý có một ý nghĩa cao vời hơn trong một xã hội mà tư tưởng thế tục đang xẻ đôi chân lý và Đức Tin. Sự chia cắt này đưa đến một khuynh hướng coi chân lý ngang hàng với kiến thức, và theo một não trạng thực chứng, trong đó người ta loại bỏ siêu hình học, chối từ nền tảng của Đức Tin và tẩy chay sự cần thiết của một quan điểm luân lý. Chân lý còn có ý nghĩa hơn kiến thức: hiểu biết chân lý đưa chúng ta đến việc khám phá ra sự tốt lành. Chân lý nói với từng cá nhân trong trạng thái toàn vẹn của cá nhân ấy, mời gọi chúng ta đáp trả hết mình. Người ta tìm thấy cái nhìn lạc quan này trong Đức Tin Kitô giáo của chúng ta bởi vì Thiên Chúa đã ban cho một Đức Tin như thế cái nhìn của Ngôi Lời, là Lý Trí sáng tạo của Thiên Chúa, trong việc Nhập Thể, đã được mặc khải như là chính Sự Tốt Lành. Còn hơn là việc chỉ truyền thông những sự kiện có thực – “cung cấp kiến thức” – chân lý đáng yêu của Tin Mừng thì có tính sáng tạo và đổi đời – “làm thể hiện” (x. Spe Salvi, 2). Với niềm tự tin, các nhà giáo dục Kitô giáo có thể giải phóng người trẻ khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa thực chứng và đánh thức khả năng đón nhận chân lý, Thiên Chúa và sự tốt lành của Ngài. Bằng cách này các bạn cũng sẽ giúp đào luyện lương tâm của các em, là lương tâm một khi được Đức Tin làm cho phong phú, sẽ mở một con đường chắc chắn cho bình an trong tâm hồn và tôn trọng người khác.

Như vậy chúng ta không ngạc nhiên rằng không những chỉ những cộng đồng Hội Thánh của chúng ta, mà cách chung cả xã hội đang kỳ vọng rất nhiều vào các nhà giáo dục Kitô giáo. Điều này đặt trên các bạn một nhiệm vụ và cho các bạn một cơ hội. Càng ngày càng nhiều người - đặc biệt là các phụ huynh - nhận ra sự cần thiết của sở trường trong việc đào luyện nhân bản cho con cái họ. Như Mẹ và Thầy (Mater et Magistra), Hội Thánh cùng chia sẻ quan tâm này. Khi không có gì vượt trên cá nhân được nhìn nhận là dứt khoát, thì điều kiện tiên quyết của phán đoán trở thành ‘cái tôi’ và việc làm thoả mãn những ước muốn nhất thời của cá nhân. Người ta có thể đánh mất tính khách quan và triển vọng, là những gì chỉ có được nhờ công nhận chiều kích siêu việt cần thiết của con người. Trong một chân trời tương đối như vậy thì không tránh khỏi việc cắt xén mục tiêu của giáo dục. Dần dần, việc hạ thấp các tiêu chuẩn xảy ra. Ngày nay chúng ta nhận thấy có một sự nhát đảm trước phạm trù của điều tốt, và một sự theo đuổi vu vơ điều mới lạ được diễn tả như là việc thể hiện tự do. Chúng ta chúng kiến một sự thừa nhận rằng mọi thí nghiệm đều có giá trị như nhau và một sự miễn cưỡng thú nhận sự bất toàn và sai lầm. Và đáng lo ngại nhất là việc hạ giá phạm vi giáo dục về phái tính xuống thành những cách thế tránh “rủi ro” mà không còn nhắc đến vẻ đẹp của tình yêu hôn nhân.

Các nhà giáo dục Kitô giáo phải trả lời thế nào? Những sự phát triển độc hại này chỉ cho chúng ta thấy một sự cấp bách đặc biệt mà chúng ta có thể gọi là “bác ái trí thức.” Bình diện bác ái này mời gọi các nhà giáo dục nhận ra rằng trách nhiệm nặng nề trong việc dẫn đưa người trẻ đến chân lý không có gì khác hơn là một việc làm bác ái. Thật ra, chân giá trị của việc giáo dục hệ tại việc nuôi dưỡng sự hoàn hảo và hạnh phúc thật sự của những người được giáo dục. Trên thực hành, “bác ái trí thức” mắm vững được sự hợp nhất chính yếu của kiến thức trái ngươc với việc phân hóa là điều phải xảy ra khi người ta tách rời lý trý ra khỏi việc theo đuổi chân lý. Nó hướng dẫn người trẻ đến một thỏa mãn sâu xa trong việc thực hành sự tự do trong tương quan với chân lý, và nó cố gắng giải thích cách rõ ràng liên quan giữa Đức Tin với tất cả các bình diện của đời sống gia đình và công dân. Một khi lòng mê say tìm kiếm sự đầy đủ và hợp nhất của chân lý đã được đánh thức, người trẻ chắc chắn sẽ thích thú khi khám phá ra rằng thắc mắc về điều mà các em có thể biết sẽ mở ra cuộc mạo hiểm rộng lớn về điều các em phải làm. Ở đây các em sẽ cảm nghiệm được rằng các em có thể hy vọng “vào cái gì” và “trong ai”, và sẽ được khích lệ để đóng góp vào xã hội một cách có thể tạo nên hy vọng nơi tha nhân.

Các bạn thân mến, tôi muốn kết luận bằng cách đặc biệt kéo chú ý của chúng ta vào điều quan trọng hết sức của tính cách nhà nghề và việc làm nhân chứng của chính các bạn trong các đại học và các trường Công Giáo. Trước hết, tôi xin cám ơn các bạn về sự tận tâm và đại lượng của các bạn. Tôi biết từ những ngày chính tôi còn là một giáo sư, và tôi đã được nghe từ các Giám Mục của quý bạn, và các nhân viên của Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, rằng các học viện giáo dục Công Giáo ở nước này được nổi danh phần lớn nhờ các bạn và những người đi trước các bạn. Những đóng góp vô vị lợi - từ việc nghiên cứu xuất sắc đến sự tận tâm của những người làm việc trong những trường trong nội vi thành phố - phục vụ cả quốc gia lẫn Hội Thánh. Vì thế tôi xin chân thành cảm ơn tận đáy lòng.

admin
22-04-2008, 01:44 PM
Về các thành phần ban giảng huấn ở các trường cao đằng và đại học, tôi muốn tái xác nhận giá trị lớn lao của sự tự do nghiên cứu học hỏi. Vì sự tự do này mà các bạn được mời gọi để tìm kiếm chân lý ở bất cứ nơi nào mà bằng chứng đưa các bạn đến. Nhưng cũng có trường hợp nại vào nguyên tắc tự do nghiên cứu học hỏi mà việc biện minh cho những chủ trương ngược lại với Đức Tin và giáo huấn của Hội Thánh sẽ cản trở hay phản lại căn tính và sứ vụ của đại học; một sứ vụ ở trọng tâm của munus docendi (nhiệm vụ giáo huấn) của Hội Thánh, chứ không một cách nào đó tự trị hay độc lập với nhiệm vụ ấy.

Các thầy cô và những người điều hành, dù ở các đại học hay các trường học, có nhiệm vụ và đặc quyền để đảm bảo rằng các sinh viên học sinh nhận được giáo huấn trong giáo lý và thực hành Công Giáo. Điều này đòi hỏi việc làm chứng cho cách sống của Đức Kitô nơi công cộng, như được tìm thấy trong Tin Mừng và xác nhận bởi Huấn Quyền Hội Thánh, hình thành tất cả các bình diện của đời sống học viện, cả trong lẫn ngoài lớp học. Đi sai cái nhìn này là làm yếu đi căn tính Công Giáo và thay vì thăng tiến tự do, nó không tránh khỏi đem lại nhầm lẫn về luân lý, hiểu biết hay tâm linh.

Tôi cũng muốn nói lên một lơì khuyến khích đặc biệt với các thầy cô dạy Giáo Lý cả giáo dân lẫn tu sĩ là những người đang cố gắng để đảm bảo rằng các người trẻ càng ngày càng trở nên quý mến hồng ân Đức Tin hơn. Giáo dục về tôn giáo là một việc tông đồ đầy thách đố, nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy nhiều người trẻ ao ước được học về Đức Tin và thực hành Đức Tin ấy một cách mãnh liệt. Nếu sự tỉnh ngộ này được lan rộng, các thầy cô cần phải hiểu biết cách rõ ràng và chính xác bản chất và vai trò đặc biệt của giáo dục Công Giáo. Họ cũng phải dẫn đầu quyết tâm của toàn thể cộng đồng nhà trường để giúp đỡ những người trẻ của chúng ta, và gia đình các em, để họ cảm nghiệm được sự hòa hợp giữa Đức Tin, đời sống và văn hóa.

Ở đây tôi đặc biệt nài xin các Thầy tu, các Sơ và các Linh Mục: đừng bỏ việc tông đồ trường học; thật ra, hãy tái xác quyết tâm phục vụ các trường học của các bạn, nhất là các trường ở những vủng nghèo. Ở những nơi có quá nhiều lời hứa xuông, đưa đẩy ngưòi trẻ xa rời con đường chân lý và tự do chân chính, việc làm chứng cho các lời khuyên Phúc Âm của những người đã được thánh hiến là một món quà không thể thay thế được. Tôi khuyến khích sự có mặt của các tu sĩ để đem lại một nhiệt tình được đổi mới trong việc cổ võ ơn thiên triệu. Hãy biết rằng việc làm chứng của các bạn về ý tưởng thánh hiến và truyền giáo giữa những người trẻ chính là một nguồn cảm hứng lờn lao về đức tin cho các em và gia đình các em.

Cùng tất cả các bạn tôi xin thưa: hãy làm chứng cho hy vọng. Nuôi nấng việc làm nhân chứng của các bạn bằng cầu nguyện. Trả lời về lý do của niềm hy vọng biểu thị đời sống của các bạn (x. 1 Phr 3:15) bằng cách sống chân lý mà các bạn đề ra cho học sinh của các bạn. Giúp các em biết và yêu mến Đấng mà các bạn đã gặp, mà chân lý và sự tốt lành của Người các bạn đã cảm nghiệm được trong vui mừng. Cùng với Thánh Augustinô, chúng ta hãy nói: “chúng tôi là người nói và các bạn là người nghe, chúng ta cùng coi mình như môn đệ của một Vị Thầy” (Sermons, 23:2). Với những tâm tình hiệp thông này, tôi hân hạnh gửi đến các bạn, các đồng nghiệp và sinh viên học sinh của các bạn, cùng gia đình các bạn Phép Lành Toà Thánh của tôi.

+ ĐTC Bênêđictô XVI Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

admin
25-04-2008, 09:01 PM
GẶP GỠ CÁC NHÀ GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
HUẤN TỪ CỦA ĐGH BENEDICT XVI

Phòng Họp Viện Đại học Mỹ tại Washington, D.C. ngày thứ năm 17 tháng 4, 2008

Trần Hữu Thuần dịch

Kính thưa quí Hồng y,
Anh Em Giám mục thân mến,
Quí vị Giáo sư, Thầy Cô giáo và Nhà Giáo dục,

“Đẹp biết chừng nào bước chân của những ai đem tin vui đến” (Rm 10, 15-17). Với các lời đó của Isaiah trích bởi Thánh Phaolô, tôi nồng nhiệt chào mừng từng người trong quí vị - những người thông báo sự khôn ngoan – và qua quí vị đến ban tham mưu, sinh viên học sinh và gia đình của các cơ quan giáo dục nhiều và đa dạng mà quí vị đại diện. Chính là một niềm vui sướng được gặp gỡ quí vị và để chia sẻ với quí vị một vài suy nghĩ liên quan đến bản chất và nhân dạng của nền giáo dục Công giáo ngày nay. Cách riêng tôi muốn cám ơn Cha David O’Connell, Chủ tịch và Viện trưởng Đại học Công giáo Mỹ. Các lời chào mừng êm dịu của Cha đã được ghi nhận. Xin chuyển lời tri ân tận đáy lòng của tôi đến toàn thể cộng đoàn – phân khoa, tham mưu và sinh viên – của Viện Đại học này.

Giáo dục là thiết yếu trong trách vụ của Giáo hội để truyên xưng Tin Mừng. Trước hết tất cả, mỗi một cơ sở giáo dục Công giáo là một nơi để gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống, Đấng trong Đức Giêsu Kitô mặc khải tình yêu và chân lý chuyển hóa của Người (xem Spe Salvi, 4). Mối tương quan này khơi dậy một ước vọng trưởng thành trong tri thức và nhận thức về Đức Kitô và giáo huấn của Người. Trong phương cách này, những ai gặp gỡ Người được cuốn hút bởi uy quyền tột mực của Phúc âm để sống một cuộc sống mới tiêu biểu bởi tất các những gì là đẹp, tốt, và đúng; một cuộc sống chứng nhân Kitô giáo được nuôi dưỡng và tăng sức trong phạm vi cộng đồng các môn đệ Chúa, là Giáo hội.

Sự năng động giữa gặp gỡ cá nhân, tri thức và chứng nhân Kitô giáo là thiết yếu cho diakonia[1]của chân lý mà Giáo hội thực hiện giữa nhân loại. Mặc khải của Thiên Chúa cống hiến cho mọi thế hệ cơ hội để khám phá chân lý tối thượng về chính cuộc sống của mình và mục đích của lịch sử. Nhiệm vụ này không bao giờ là dễ dàng; nó liên quan đến toàn thể cộng đồng Kitô giáo và động viên từng thế hệ các nhà giáo dục Kitô giáo đảm bảo rằng quyền lực của chân lý của Thiên Chúa thấm nhuần mọi chiều kích của cơ sở họ phục vụ. Trong phương cách đó, Tin Mừng của Đức Kitô được đưa vào hành động, hướng dẫn cả thầy cô giáo cả học sinh sinh viên đến chân lý đối thể, trong khi vượt qua cá biệt và chủ thể, chân lý đó chỉ ra tính phổ quát và tuyệt đối cho phép chúng ta tuyên xưng với lòng tin chắc niềm hy vọng không làm cho thất vọng (xem Rm 5, 5). Chống lại vùng vẫy cá nhân, bối rối luân lý và vụn vặt tri thức, các mục tiêu cao quí của học thuật và giáo dục, xây dựng trên sự duy nhất của chân lý và trong việc phục vụ con người và cộng đồng, trở thành một công cụ uy lực đặc biệt của hy vọng.

Các bạn thân mến, lịch sử của quốc gia này bao gồm nhiều ví dụ về sự cam kết của Giáo hội trong vấn đề này. Công đồng Công giáo ở đây quả thực đã làm cho giáo dục trở thành một trong các ưu tiên cao nhất của mình. Việc đảm trách này không phải xẩy ra mà không có sự hy sinh to lớn. Các khuôn mặt nổi bật, như Thánh Elizabeth Ann Seton và các nhà thành lập nam nữ khác, với sự kiên trì và tiên liệu to lớn, đã đặt nền móng cho những gì mà ngày nay là một hệ thống đáng kể của các trường học giáo xứ góp phần vào sự giàu có tinh thần của Giáo hội và đất nước. Số khác, như Thánh Katharine Drexel, tận tụy cuộc đời vào việc giáo dục những người bị người khác ruồng bỏ - trong trường hợp của bà, người Mỹ gốc Phi và người Mỹ bản địa. Vô số các Anh Chị Em Tu sĩ và Linh mục tận tụy cùng với các bậc cha mẹ vị tha đã, qua các trường học Công giáo, giúp đỡ nhiều thế hệ người di dân vươn lên khỏi nghèo khổ và có chỗ đứng trong xã hội chính yếu.

Ngày nay, sự hy sinh đó còn tiếp tục. Chính là một việc tông đồ tuyệt vời của hy vọng, tìm cách đáp ứng các nhu cầu vật chất, trí tuệ và tinh thần của trên ba triệu trẻ em và học sinh. Nó cũng cung cấp một cơ hội rất đáng ca ngợi cho toàn thể cộng đồng Công giáo để góp phần quãng đại vào các nhu cầu tài chánh của các cơ sở của chúng ta. Việc duy trì dài hạn của họ phải được bảo đảm. Quả thế, mọi điều có thể được phải được hoàn thành, hợp tác với cộng đồng rộng lớn hơn, để bảo đảm họ có thể vươn tới được con người thuộc mọi giai tầng xã hội và kinh tế. Không một trẻ em nào bị từ khước quyền được giáo dục trong đức tin, điều đến lượt sẽ nuôi dưỡng linh hồn của một quốc gia.

admin
25-04-2008, 09:01 PM
Ngày nay một số người nghi vấn sự liên hệ của Giáo hội vào giáo dục, thắc mắc liệu tài nguyên của Giáo hội có tốt hơn nếu đặt vào nơi khác. Dĩ nhiên trong một quốc gia như quốc gia này, Nhà nước cung cấp các cơ hội bao la cho giáo dục và lôi cuốn đàn ông đàn bà tận tụy và quãng đại vào nghề nghiệp đáng kính này. Lúc đó, thực đúng lúc để suy tư về những gì là cá biệt của các cơ sở Công giáo. Làm sao họ có thể đóng góp cho lợi ích của xã hội qua trách vụ hàng đầu của Giáo hội về phúc âm hóa?
Mọi hoạt động của Giáo hội trỗi sinh từ việc nhận biết rằng Giáo hội là người thông báo thông điệp bắt nguồn trong chính Thiên Chúa: trong sự tốt đẹp và khôn ngoan của Người, Thiên Chúa chọn mặc khải chính mình và tỏ ra cho biết mục đích dấu kín của ý nguyện của Người (xem Ep 1, 9 và Dei Verbum, 2). Ước vọng của Thiên Chúa tự tỏ mình cho biết, và ước vọng nội tại của mọi hiện thân con người muốn biết chân lý, cung cấp một bối cảnh cho việc tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống của con người. Việc gặp gỡ độc đáo này được duy trì trong cộng đồng Kitô giáo chúng ta: người tìm kiếm chân lý trở thành người sống bằng đức tin (xem Fides et Ratio, 31). Nó có thể được mô tả như là một chuyển dịch từ “tôi” đến “chúng tôi”, dẫn cá nhân đến việc được liệt vào dân Thiên Chúa.

Năng động như thế của nhân dạng cộng đồng – tôi thuộc về ai? – làm sống động ethos[2] của các cơ sở Công giáo của chúng ta. Nhân dạng của một đại học hay trung tiểu học Công giáo không đơn giản chỉ là câu hỏi về số lượng học sinh sinh viên Công giáo. Đó chính là câu hỏi của niềm vững tin – chúng ta có thực sự tin rằng chỉ có mầu nhiệm Lời làm người làm cho mầu nhiệm của loài người thực sự trở nên rõ ràng không? (xem Gaudium et Spes, 22). Chúng ta có sẵn sàng cam kết toàn thể con người chúng ta – trí tuệ và ý nguyện, tâm trí và tâm hồn – cho Thiên Chúa không? Chúng ta có chấp nhận chân lý Đức Kitô mặc khải không? Đức tin có cụ thể trong các trường đại học hoặc trung tiểu học của chúng ta không? Nó có đưa ra diễn đạt nhiệt tình một cách phụng vụ, một cách bí tích, qua kinh nguyện, hành động từ thiện, quan tâm đến công bình, và tôn trọng sự tạo dựng của Thiên Chúa không? Chỉ có trong phương cách đó mà chúng ta thực sự làm chứng cho ý nghĩa về chúng ta là ai và ủng hộ điều gì.

Từ quan điểm đó người ta có thể nhận ra rằng “tai biến chân lý” đương thời bắt rễ trong “tai biến đức tin.” Chỉ qua đức tin chúng ta mới có thể tự do đưa ra sự tán đồng của chúng ta với lời chứng của Thiên Chúa và nhận biết Người là Đấng bảo đảm siêu việt của chân lý mà Người mặc khải. Một lần nữa, chúng ta thấy tại sao thúc đẩy sự thân mật cá nhân với Đức Giêsu Kitô và chứng nhân chung cho chân lý yêu thương của Người là thiết yếu trong các cơ sở giáo dục Công giáo. Thế nhhưng chúng tất cả đều biết, và quan sát với quan tâm, sự khó khăn hoặc miễn cưỡng mà nhiều người ngày nay có trong việc giao phó mình cho Thiên Chúa. Đó là một hiện tượng phức tạp và là một hiện tượng mà tôi liên tục cân nhắc. Trong khi chúng ta cần cù tìm cách thu hút trí thức của giới trẻ, có lẽ chúng ta đã lãng quên ý chí. Hậu quả là chúng ta nhận thấy, với đau đớn, khái niệm về tự do đang bị bóp méo. Tự do không phải là một khước từ. Nó là một chọn lựa – một sự tham gia vào chính Đấng Hiện thân. Từ đó tự do đích thực không bao giờ có thể đạt được bằng cách xa cách Thìên Chúa. Một sự chọn lựa như vậy rốt cuộc sẽ bỏ qua chính chân lý chúng ta cần nhằm hiểu được chính chúng ta. Do đó một trách nhiệm cách riêng cho mỗi một người trong quí vị, và đồng song của quí vị, là khơi dậy trong giới trẻ ước vọng để hành động cho đức tin, khuyến khích họ cam kết chính họ vào đời sống giáo hội, kết quả từ niềm tin đó. Chính ở đây mà tự do đạt đến sự chắc chắn của chân lý. Bằng chọn lựa sống với chân lý đó, chúng ta chấp nhận sự tràn đầy của cuộc sống đức tin mà chúng ta được Giáo hội trao cho.

Vậy, rõ ràng nhân dạng Công giáo không tùy thuộc vào thống kê. Nó cũng không thể đơn giản ngang bằng với sự chính thống của nội dung môn học. Nó đòi hỏi và cảm hứng nhiều hơn thế: nói rõ ra là mỗi một và tất cả các khia cạnh của các cộng đoàn giáo dục của quí vị vọng lại trong phạm vi đời sống giáo hội của đức tin. Chỉ trong đức tin mà chân lý có thể nhập thể và lý luận thực sự con người, có khả năng lèo lái ý nguyện theo con đường của tự do (xem Spe Salvi, 23). Bằng phương cách đó các cơ sở của chúng ta sẽ đóng góp một phần sống còn cho trách vụ của Giáo hội và thực sự phục vụ xã hội. Các cơ sở đó trở thành các nơi trong đó sự hiện diện tích cực của Thiên chúa được nhận biết và trong đó mọi người trẻ khám phá ra niềm vui đi vào trong “hiện thân của Đức Kitô cho tha nhân” (xem sđd., 28).

admin
25-04-2008, 09:02 PM
Trách vụ chính yếu của Giáo hội về phúc âm hóa, trong đó các cơ sở giáo dục giữ một vai trò thiết yếu, phù hợp với khát vọng căn bản của quốc gia để phát triển một xã hội thực sự xứng đáng với tư cách con người trần thế. Tuy nhiên, có lúc giá trị của đóng góp của Giáo hội vào diễn đàn công cộng bị nghi vấn. Do đó thật là quan trọng để nhắc lại rằng các chân lý của đức tin và của lý trí không bao giờ đối nghịch nhau (xem Công đồng Giáo hội Vatican thứ nhất, Hiến pháp Giáo thuyết về Đức tin Công giáo Dei Filius, IV: DS 3017; Thánh Augustine, Contra Academicos, III, 20, 43). Quả thực, nhiệm vụ của Giáo hội liên quan vào nỗ lực của nhân loại để đến được chân lý. Bằng cách nhấn mạnh đến chân lý mặc khải, Giáo hội phục vụ mọi thành viên của xã hội bằng cách thanh luyện lý trí, bảo đảm rằng lý trí vẫn cởi mở cho việc xem xét của các chân lý tối thượng. Rút ra từ khôn ngoan siêu nhiên, Giáo hội chiếu ánh sáng trên nền tảng của luân lý và đạo đức con người, và nhắc nhở mọi nhóm trong xã hội rằng không phải thực hành tạo thành chân lý mà chính chân lý phải phục vụ như là căn bản của thực hành. Không phải làm suy yếu sự khoan nhượng của tính đa dạng hợp lý, sự đóng góp như vậy soi sáng chân lý đích thực làm cho sự nhất trí có thể đạt đến, và giúp gìn giữ tranh cãi công cộng hữu lý, thành thhực và đáng tin cậy. Một cách tương tự, Giáo hội không bao giờ không quan tâm đến việc gìn giữ các thể loại luân lý thiết yếu của điều đúng điều sai, không có như vậy hy vọng chỉ có thể héo hắt, nhường lối cho các tính toán thực dụng lạnh lùng của lợi ích làm cho con người trở thành chỉ hơn một chút con tốt trên bàn cờ hệ tư tưởng.
Về vấn đề diễn đàn giáo dục, diakonia của chân lý mang một ý nghĩa cao siêu hơn trong các xã hội nơi ý thực hệ tục hóa đóng một chốt nêm vào giữa chân lý và đức tin. Sự chia cắt này đã dẫn đến một xu hướng ngang bằng chân lý với tri thức và chấp nhận một trạng thái tâm lý theo chủ nghĩa thực dụng, bằng cách loại bỏ siêu hình học, từ khước các nền tảng của đức tin và loại bỏ nhu cầu một viễn ảnh luân lý. Chân lý có ý nghĩa sâu xa hơn tri thức: nhận biết chân lý dẫn chúng ta đến khám phá điều thiện. Chân lý nói với cá nhân trong tính toàn thể của người đó, mời gọi chúng ta đáp ứng với toàn thể hiện thân chúng ta. Viễn ảnh lạc quan này tìm thấy được trong đức tin Kitô giáo vì đức tin như vậy đã cho phép viễn ảnh của Logos, Lý Trí sáng tạo của Thiên Chúa, điều trong Nhập thể, được mặc khải như chính là Sự Thiện. Không phải chỉ là một truyền thông của dữ kiện sự kiện – “tính thông tin” – chân lý yêu thương của Phúc âm là sáng tạo và thay đổi đời sống – “tính thực hiện” (xem Spe Salvi, 2). Với tin tưởng, các nhà giáo dục Kitô giáo có thể giải phóng giới trẻ khỏi ranh giới của chủ nghĩa thực chứng và đánh thức tính tiếp nhận chân lý, Thiên Chúa và sự thiện của Người. Bằng phương cách này, quí vị cũng sẽ giúp đào tạo lương tâm họ, được phong phú bởi đức tin, lương tâm đó mở ra một lối đi chắc chắn vào hòa bình nội tại và tôn trọng tha nhân.

Vậy, không gì đáng ngạc nhiên khi không chỉ các cộng đoàn giáo hội chúng ta mà cả xã hội nói chung đều có niềm tin cậy cao vào các nhà giáo dục Công giáo. Điều này đặt cho quí vị một trách nhiệm và cống hiến một cơ hội. Ngày càng nhiều người – cách riêng các bậc cha mẹ - nhận thấy nhu cầu tiến đến hoàn thiện trong việc đào tạo nhân tính cho con cái họ. Là Mater et Magistra[3], Giáo hội chia sẻ mối quan tâm của họ. Khi không có gì vượt quá cá nhân được nhận biết như là cùng đích, tiêu chuẩn tối thượng của phán đoán trở thành bản ngã và sự thỏa mãn ước muốn trước mắt của cá nhân đó. Mục tiêu và triển vọng, những điều chỉ có thể đến qua việc nhận biết chiều kích siêu việt thiết yếu của con người trần thế, có thể bị mất đi. Trong phạm vi chân trời thuộc chủ thuyết tương đối, các mục đích của giáo dục không tránh khỏi bị giảm thiểu. Từ từ, sự hạ thấp tiêu chuẩn xẩy ra. Chúng ta nhận thấy ngày nay một sự e dè khi đối diện với phạm trù sự thiện và một theo đuổi không mục đích của điều mới lạ khoe khoang như là sự thực hiện tự do. Chúng ta chứng kiến một giả định rằng mọi kinh nghiệm đều ngang bằng giá trị và một sự e dè thú nhận ra sự không hoàn toàn và lầm lỗi. Và rối loạn cách riêng là việc giảm thiểu lãnh vực quí giá và tế nhị của giáo dục giới tính để còn lại chỉ là giải quyết “nguy cơ,” mất năng lực dẫn chiếu đến vẻ đẹp của tình yêu vợ chồng.

Các nhà giáo dục Công giáo có thể đáp ứng thế nào? Các phát triển hiểm nghèo đó chỉ ra một cấp bách đặc biệt của những gì chúng ta có thể gọi là “từ thiện trí tuệ.” Khía cạnh này của lòng từ thiện mời gọi các nhà giáo dục nhận biết rằng trách nhiệm sâu xa dẫn dắt giới trẻ đến chân lý không gì hơn là một hành động của yêu thương. Quả thực, tư cách của giáo dục nằm trong việc thúc đẩy sự hoàn thiện và hạnh phúc thực sự cho những ai được giáo dục. Trong thực hành, “từ thiện trí tuệ” gìn giữ sự duy nhất thiết yếu của tri thức chống lại sự vụn vặt là kết quả khi lý trí bị tách rời khỏi việc theo đuổi chân lý. Nó hướng dẫn giới trẻ hướng về sự thỏa mãn sâu xa của việc thực hiện tự do liên hệ đến chân lý, và nỗ lực nhấn mạnh đến tương quan giữa đức tin và mọi khía cạnh của gia đình và đời sống công dân. Một khi khát vọng về sự tràn đầy và duy nhất của chân lý đã được đánh thức, giới trẻ chắc chắn sẽ thưởng thức sự khám phá ra rằng vấn đề những gì họ có thể biết mở ra cuộc phiêu lưu bao la của những gì họ phải làm. Nơi đây họ sẽ kinh nghiệm đưọc “trong cái gì” và “trong người nào” khả dĩ có niềm hy vọng, và được gây cảm hứng để đóng góp cho xã hội trong một phương cách gây niềm hy vọng trong tha nhân.

Các bạn thân mến, tôi muốn kết luận bằng tập trung sự chú ý của chúng ta cách riêng vào sự tối quan trọng của tính chuyên nghiệp và chứng nhân của chính các bạn trong các trường đại học và trung tiểu học Công giáo. Trước hết, cho tôi cám ơn lòng tận tụy và quãng đại của các bạn. Tôi biết từ những ngày tôi còn là một giáo sư, và tôi đã nghe từ các Giám mục của các bạn và nhân viên của Ủy ban giáo dục Công giáo, rằng uy tín của các cơ sở giáo dục Công giáo tại đất nước này phần lớn nhờ vào chính các bạn và các vị tiền nhiệm của các bạn. Sự đóng góp vị tha của các bạn – từ việc nghiên cứu tuyệt vời đến sự tận tụy với những ai làm việc trong nội vi các trường học – phục vụ vừa cho quê hương của các bạn vừa cho Giáo hội. Tôi gửi lời cám ơn sâu xa của tôi về điều này.

admin
25-04-2008, 09:02 PM
Đối với các thành viên phân khoa các trường đại học Công giáo, tôi muốn tái xác định giá trị to lớn của tự do giáo dục. Về sự tự do này, quí vị được mời gọi tìm kiếm chân lý bất cứ nơi nào việc phân tích cẩn thận chứng cứ dẫn dắt quí vị. Thế nhưng trường hợp bất cứ việc nhân danh nguyên lý tự do gíáo dục nào nhằm biện minh các quan điểm nghịch lại với đức tin và giáo huấn của Giáo hội sẽ cản trở hoặc thậm chí phản bội nhân dạng và trách vụ của trường đại học; một trách vụ trong tâm tư munus docendi[4] của Giáo hội và cách nào đó không tự trị và độc lập với nó.

Thầy cô giáo và ban giám hiệu, cho dù ở các đại học hay trung tiểu học, có nhiệm vụ và đặc ân để bảo đảm rằng học sinh sinh viên nhận được sự giáo dục theo giáo thuyết và thực hành Công giáo. Điều này đòi hỏi rằng chứng nhân công cộng đó theo phương cách của Đức Kitô, như tìm thấy trong Phúc âm và gìn giữ bởi Quyền giáo huấn của Giáo hội, định hướng mọi khía cạnh của đời sống của một cơ sở, vừa bên trong vừa bên ngoài phòng học. Tách ra khỏi viễn ảnh này làm suy yếu nhân dạng Công giáo và, không cách nào tiến tới tự do, chắc chắn dẫn đến bối rối, hoặc luân lý, trí tuệ, hoặc tinh thần.

Tôi cũng muốn tỏ bày một lời đặc biệt khuyến khích các thầy cô giáo giáo lý viên cả giáo dân cả Tu sĩ đang nỗ lực bảo đảm giới trẻ hàng ngày trở nên biết ơn về ân huệ đức tin. Giáo dục tôn giáo là một công việc tông đồ thách thức, thế nhưng có nhiều dấu hiệu về ước vọng trong giới trẻ để học hỏi về đức tin và sống đức tin cách mãnh liệt. Nếu sự thức tỉnh này lớn mạnh, thầy cô giáo đòi hỏi một sự hiểu biết rõ ràng và chính xác về bản chất và vai trò đặc biệt của giáo dục Công giáo. Ho cũng phải sẵn sàng dẫn dắt sự cam kết của toàn thể công đoàn học đường để giúp đỡ giới trẻ của chúng ta, và gia đình họ, kinh qua sự hài hòa giữa đức tin, đời sống và văn hóa.

Ở đây tôi muốn nói một lời kêu gọi đặc biệt với các Anh Chị Em Tu si và các Linh mục: xin đừng từ bỏ việc tông đồ học đường; quả thế, xin làm mới cam kết của anh chị em về các trường học cách riêng những ai ở những vùng nghèo khó. Ở những nơi có các lời hứa rỗng tuếch dối gạt giới trẻ xa rời con đường chân lý và tự do đích thực, chứng nhân cho lời khuyên răn phúc âm của người được hiến thánh là một ân huệ không thể thay thế. Tôi khuyến khích các Tu sĩ hiện diện đem niềm phấn khởi được đổi mới để đề cao ơn gọi. Xin hãy nhớ rằng chứng nhân của anh chị em về lý tưởng của hiến thánh và trách vụ giữa giới trẻ là một nguồn khát vọng to lớn trong đức tin cho họ và gia đình họ.

Với tất cả quí vị, tôi nói: hãy mang chứng nhân của hy vọng. Nuôi dưỡng chứng nhân của quí vị bằng kinh nguyện. Ghi nhận niềm hy vọng tiêu biểu đời sống quí vị (xem 1Pr 3, 15) bằng cách sống chân lý mà quí vị đề nghị cho học sinh sinh viên của quí vị. Giúp học nhận biết và yêu mến Đấng mà quí vị đã gặp gỡ, chân lý và sự thiện của Đấng ấy quí vị đã kinh qua với niềm vui. Cùng với Thánh Augustine, chúng ta hãy nói: “chúng tôi các người nói và quí vị các người nghe hãy tự thừa nhận là môn đệ của chỉ một thầy duy nhất” (Sermons, 23, 2). Với các tình cảm thông hiệp đó, tôi hân hoan gửi đến quí vị, các đồng song và học sinh sinh viên của quí vị, và đến gia đình quí vị, Chúc lành Tông đồ của tôi.

--------------------------------------------------------------------------------

[1] Diakonia: “Diễn đạt chủ động của chứng nhân Kitô giáo đáp ứng với các nhu cầu và thách thức của công đoàn trong đó Kitô hữu và Giáo hội sống.” Theo thuật ngữ Orthodox, Diakonia tại tâm hồn là chia sẻ sự đau khổ, mang gánh nặng cho nhau, do đó chu toàn luật của Đức Kitô.” Diakonia như là diễn đạt của tình yêu và chia sẻ thì bao gồm tất cả, “nó bao gồm các đấu tranh và hành động phát triển xã hội cũng như quan tâm môi trường, như là chứng nhân trong hành động.” (Báo cáo tại Sharing & Service Commission sau Canterra Assembly 1992) (người dịch).
[2] Ethos: Bản chất, đặc tính (người dịch)
[3] Mater et Magistra: Mẹ và Thầy (người dịch)
[4] Munus docendi: Một trong ba hành động mục vụ của Giáo hoàng gồm Munus sanctificandi (Thánh hóa), Munus regendi (Chăn chiên) và Munus docendi (Giáo huấn). Giáo hoàng giáo huấn qua Tông thư (encyclicals) và Thư Tông huấn (Apostolic letters) (người dịch)