PDA

View Full Version : Giáo Hội VN đang mất dần tinh thần nghèo khó khiêm nhường?


admin
13-06-2006, 05:09 PM
“Dường như Giáo hội đang mất dần tinh thần nghèo khó, khiêm nhường”

Giáo hội Công giáo Việt Nam dường như chú ý nhiều vào việc xây dựng cơ sở vật chất hơn là phát triển các giá trị Tin Mừng, một khuynh hướng có thể làm cho người nghèo xa lánh Giáo hội, một linh mục cao tuổi cảnh báo.

Linh mục Guy Marie Nguyễn Hồng Giáo, 69 tuổi, cựu giám tỉnh dòng Phanxicô, nói rằng một số linh mục cư xử với giáo dân chẳng khác gì các cán bộ đối xử với người dân.

Vị giáo sư tại Đại Chủng viên Thánh Giuse Sài Gòn lưu ý rằng Giáo hội Việt Nam gần đây được ca ngợi là “rất năng động và đầy sức sống” vì xây dựng được nhiều cơ sở vật chất, có nhiều hoạt động tôn giáo và xã hội, cũng như có nhiều ơn gọi.

Tuy nhiên, vị linh mục dòng Phanxicô đưa ra những đề nghị trong bài bình luận dành cho UCA News rằng Giáo hội địa phương cần tự đổi mới mình và thăng tiến đúng mức đức tin của giáo dân nếu Giáo hội muốn thành công trong việc đương đầu với những thách đố trong xã hội hiện đại.

Theo thống kê của Giáo hội năm 2005, Giáo hội Công giáo Việt Nam có 5,7 triệu người Công giáo trong tổng dân số 82 triệu. Có 3.126 linh mục, 14.413 tu sĩ và 1.249 chủng sinh.

Dưới đây là bài bình luận của cha Giáo:

Sau khi đất nước được thống nhất dưới chế độ cộng sản năm 1975, Giáo hội ở phía Nam mất đi phần lớn tài sản như nhà thương, trường học, cơ sở xã hội và đất đai; phạm vi hoạt động bị thu dồn lại trong khuôn viên nhà thờ dưới sự kiểm soát rất chặt chẽ của chính quyền trong khoảng mười năm đầu.

Nhân sự Giáo hội giảm bớt vì nhiều linh mục, tu sĩ và chủng sinh di tản ra nước ngoài hoặc bị giam giữ, trong khi việc đào tạo nhân sự mới bị giới hạn. Do được chia sẻ số phận chật vật, bấp bênh với người dân, mà Giáo hội địa phương đã trở nên gần gũi với họ hơn.

Nhiều linh mục, tu sĩ cùng với người dân làm các công trình thủy lợi và làm việc trên các đồn điền cao su, hoặc trong nhà máy, xí nghiệp. Bằng cách này, Giáo hội biểu lộ rõ hơn khuôn mặt của Đức Kitô, vị Thầy nghèo khó, khiêm nhường và chịu đóng đinh.

Nhưng từ khi chính quyền bắt đầu chính sách mở cửa vào năm 1986, Giáo hội đã mang một bộ mặt khác. Nhờ sự trợ giúp quảng đại của kiều bào, các Giáo hội nước ngoài và tổ chức từ thiện quốc tế, các giáo phận từ Bắc chí Nam đã xây mới hay tu sửa vô số nhà thờ, nhà xứ, nhà sinh hoạt, tu viện, tòa giám mục và những cơ sở khác.

Các cơ sở này có qui mô rất bề thế và hiện đại, đôi khi vượt quá nhu cầu thực sự. Phải chăng tâm lý thích phô trương và háo thắng vốn có của người Công giáo Việt Nam chúng ta lại đang xuất đầu lộ diện? Nhờ có nhiều phương tiện vật chất Giáo hội làm việc hiệu quả hơn, nhưng cám dỗ phát triển bề ngoài cũng có nguy cơ đe dọa phát triển chiều sâu Tin Mừng.

Vì thế, quần chúng nghèo khó có lẽ đang cảm thấy Giáo hội xa cách mình dần dần. Gần đây một vài kiều bào ở Mỹ và châu Âu lên tiếng công khai phê bình một số giáo sĩ và tu sĩ trong nước lúc nào cũng nói cộng đoàn của mình có nhu cầu để rồi không biết dừng lại trong việc xin tiền ngoại viện. Họ còn tỏ ra nghi ngờ số tiền xin được không phải lúc nào cũng phục vụ cho lợi ích chính đáng của Giáo hội hay người bất hạnh. Đúng hay sai, đó vẫn là những lời phê bình đáng cho ta ngẫm nghĩ.

Tiền của bao giờ cũng dễ kéo theo cám dỗ ngọt ngào như tính phô trương, tự đắc, ham hố danh vọng, chức quyền và nhiều thứ khác ngược với Tin Mừng.

Bác ái yêu thương là sứ điệp Kitô giáo căn bản và không thay đổi qua mọi thời. Nó bắt đầu từ trong nội cộng đoàn Giáo hội rồi mở ra với xã hội, nhất là với người nghèo khó, người đau khổ tinh thần và thể xác.

Nếu đời sống và hoạt động của Giáo hội nêu cao được khía cạnh căn bản bác ái này, thì đó mới thật là sức sống của Giáo hội. Chúng ta thường đồng hóa bác ái Phúc âm với các việc làm từ thiện, nhưng sự gia tăng các phương tiện vật chất và các việc làm từ thiện không đồng nghĩa với việc gia tăng lòng bác ái của chúng ta.

Đó là vì chúng ta đang giới thiệu cho người khác chính bản thân ta thay vì Thiên Chúa, hoặc vì chúng ta làm phúc với thái độ của người trên ban phát xuống người dưới. Đừng quên rằng trong hoàn cảnh cởi mở của đất nước hiện nay, các tôn giáo khác, cũng như các tổ chức, đoàn thể và rất nhiều cá nhân ngoài Kitô giáo, cũng rất nhiệt thành làm việc xã hội từ thiện.

Công đồng Vatican II nhấn mạnh sự bình đẳng và phẩm giá căn bản giữa mọi người trong Giáo hội là con cái Thiên Chúa. Giáo hoàng, giám mục, linh mục trước tiên là những Kitô hữu như các Kitô hữu khác. Quyền bính, chức vị trong cơ cấu thiết yếu của Giáo hội mà Chúa Kitô đã thiết lập, chỉ là những dịch vụ và không thêm bớt gì vào bản chất ơn gọi làm Kitô hữu của các ngài.

Vậy giáo dân là thành phần trọn vẹn của Giáo hội. Hàng giáo sĩ phải yêu mến và kính trọng họ, và giúp họ thăng tiến, cũng như nâng đỡ và khuyến khích họ cộng tác vào đời sống và hoạt động của Giáo hội. Giáo sĩ nên coi họ như anh chị em, như con cái và như những cộng sự viên đích thực.
Về điểm này, tôi thấy nhiều chủ chăn vẫn coi giáo dân như người bề dưới để sai bảo, dù đó là ông chủ tịch hội đồng giáo xứ do giáo dân bầu ra. Thậm chí giáo dân bầu người này, nhưng cha xứ chỉ định người khác hoặc giải tán một hội đồng giáo xứ mà ngài không vừa ý.

Tôi có cảm tưởng rằng cách cư xử của linh mục với giáo dân tại nhiều giáo xứ còn quá xa với giáo lý Công đồng Vatican II và giáo luật mới, thậm chí không khác cung cách của nhiều cán bộ nhà nước đối với nhân dân mà nhiều người lên án.

admin
13-06-2006, 05:10 PM
Vì thế, chúng ta đừng vội hài lòng với những lời khen ngợi về Giáo hội chúng ta gần đây của một số lãnh đạo Giáo hội ở nước ngoài.

Nói chung giáo dân vẫn còn sợ các cha; sự sợ hãi đó có thể chỉ là tình cảm tự nhiên của bề dưới đối với bề trên. Giáo hội địa phương vẫn còn nặng tính tôn ti đẳng cấp kiểu Nho giáo trong cách xử sự và thi hành quyền bính của mình như quan liêu, hống hách, áp đặt, cha chú của một số chủ chăn với giáo dân. Nhiều giáo dân chỉ “vừa mặt, không vừa lòng” với chủ chăn mình nhưng sợ không dám nói ra.

Tôi không muốn nói tới thứ tự do dân chủ như trong xã hội, nhưng tự do của con cái Chúa chẳng lẽ thấp kém hơn sao? Trong Giáo hội chúng ta có tự do góp ý, phê bình không? Tôi không thấy một bầu khí thuận lợi cho việc tự do phát biểu trong Giáo hội, phần nào giống như trong xã hội Việt Nam. Giữa các giám mục như thế nào thì tôi không biết, nhưng giữa linh mục với nhau, nhất là giữa linh mục có quyền với anh em khác, giữa linh mục già và linh mục trẻ, hay giữa cha chánh và cha phó, thật sự chưa có tự do dù không có luật lệ nào cấm đoán.

Vì thế rất hiếm có tự do giữa linh mục với giáo dân. Tôi nghĩ yếu tố văn hóa, xã hội và chính trị góp phần vào tình trạng thiếu tự do này, nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ dựa vào đó mà coi nhẹ những đòi hỏi của Tin Mừng? Tôi từng nghe có người bình phẩm rằng về mặt nào đó, Giáo hội Việt Nam đang ở vào thời Trung cổ! Một lời phê bình rõ ràng là phóng đại, nhưng chúng ta đoán được tại sao họ dám “quá khích” đến thế.

Luật lệ xác định quyền lợi và nghĩa vụ để bảo vệ con người và tự do của họ, và phát huy công ích, chứ không phải để khống chế con người. Xã hội Việt Nam hiện chưa phải là một xã hội pháp trị. Không những luật lệ còn thiếu mà lắm khi vì quyền lợi cục bộ mà người cầm quyền vẫn muốn duy trì những luật lệ lỗi thời hoặc bày ra đủ thứ qui định không hợp lý. Trong đạo cũng như đời, điều tối thiểu là nhà cầm quyền phải hành xử đúng luật và giúp người dưới làm đúng luật.

Tuy nhiên, dường như vẫn có giáo sĩ cố tình duy trì một vài điều khoản của bộ giáo luật cũ nay không còn trong giáo luật mới nữa. Tôi cứ thường nghe chỗ này chỗ kia giáo dân bị “cấm chịu các bí tích” hoặc bị “dứt phép thông công” vì những lý do xem ra không đúng với tinh thần giáo luật. Còn khá phổ biến việc một số giáo sĩ tự ý đưa ra những qui định không chính đáng, gây phiền hà và tạo gánh nặng cho giáo dân. Tình hình này gây ra cho người Công giáo cảm tưởng rằng nhập đạo Công giáo là “mất tự do”, hoặc “là bước vào một tổ chức đầy những bó buộc nặng nề”. Đây là trở ngại lớn cho công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo hội hiện nay.

Nếu những nhận xét trên đây là đúng, thì bức tranh toàn cảnh về Giáo hội địa phương hiện nay không hoàn toàn tươi sáng và không phải là không có vấn đề. Không ai phủ nhận sức sống và tiềm năng của Giáo hội ta mà nền tảng có lẽ là đức tin còn mạnh mẽ của tín hữu Việt Nam. Nhưng Giáo hội tiến bước giữa trần gian và trong một xã hội nhất định, và do đó chịu tác động của xã hội.

Chỉ trong 20 năm sau khi chính quyền áp dụng chính sách mở cửa, chúng ta đã có thể thấy một số tác động tiêu cực trên đời sống tín hữu bên cạnh một số ảnh hưởng tích cực tuy khó dễ thấy hơn.

Xã hội Việt Nam đang hiện đại hóa theo kiểu phương Tây, vốn duy trần tục, duy vật chất, đề cao tự do cá nhân, thực dụng và hưởng thụ. Tinh thần đó đang thấm dần vào giới trẻ, và đe dọa truyền thống văn hóa dân tộc. Tôi tự hỏi liệu Giáo hội địa phương có thể đứng vững bằng cách nào trước làn sóng trần tục hóa và cám dỗ đó.

Nếu chúng ta không quan tâm tới một nền giáo dục đức tin chiều sâu, không tiếp tục tự canh tân mạnh mẽ hơn theo tinh thần Vatican II, đặc biệt nếu chúng ta không tạo điều kiện đứng mức cho giáo dân thăng tiến vai trò của họ, thì không ai dám chắc tương lai của Giáo hội là hoàn toàn tích cực.

Nguồn: UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/06/w3/th06t3z.txt)