View Full Version : Tình yêu trường tồn
admin
18-06-2006, 12:24 PM
Tình yêu trường tồn
Lời của người chuyển ngữ
Trước khi dịch cuốn sách nhỏ này, tôi chưa biết gì về đời sống của vị chân phước Maria Merten. Nhưng vì là chỗ quen biết, nên đã được nhà dòng cậy nhờ một công việc tôi chưa từng làm bao giờ. Đây là kết quả đầu tay của tôi trong lãnh vực này.
Tuy được cậy nhờ đã lâu nhnưg bổn phận thường ngày không cho phép một công việc đòi chút liên tục như vậy, nên tôi đã lợi dụng một tuần trong kỳ nghỉ thường niên để dịch cho xong. Kết quả này được hoàn thành trong thời gian eo hẹp đó.
Khi dịch, tôi cố gắng diễn tả sao cho dễ hiểu, đồng thời vẫn trung thành với nguyên bản, nhưng cách hành văn phức tạp trong Đức ngữ, cách dùng chữ cầu kỳ của nguyên bản, cách diễn tả cao sâu của các bài suy niệm do vị chân phước viết ra đã làm cho cố gắng này không được như ý.
Ngoài ra nguyên bản được viết vào năm 1935, nghĩa là cách đây hơn nửa thế kỷ, nên từ ngữ cũng như văn vẻ đã hơi khác hiện nay. Đặc biệt lối trình bày nặng phần trưng dẫn, tuy khoa học nhưng không mạch lạc như một cuốn truyện, làm cho người đọc cũng như người dịch khó theo dõi.
Vì những khó khăn trên đây, xin quý vị lượng tình tha thứ cho tất cả những thiếu sót hoặc lỗi lầm không thể tránh trong bản dịch này.
Khi nhận việc, tôi chỉ muốn ủng hộ hảo ý của nhà dòng là cố gắng giới thiệu với quý độc giả chưa đọc nguyên văn Đức ngữ một gương sáng trong muôn vàn gương sáng của Giáo hội, để may ra chúng ta có noi gương được một chút nào chăng.
Cao nguyên Sauerland, mùa Hè 1988
Lm. Giuse Vũ xuân Huyên
admin
18-06-2006, 12:29 PM
<TABLE width="100%" border=0><TBODY><TR><TD width="40%">
</TD><TD width="17%">http://www.chiase.com/cs_2000/D1_HiepThong/D1_Images/D1_ImagesGIF/g_GiangTrongTuan_RTGS.gif
</TD><TD width="43%"></TD></TR></TBODY></TABLE><TABLE height=174 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD width="100%" height=26>
</TD></TR><TR><TD width="100%" height=26>TÌNH YÊU TRƯỜNG TỒN
Nguyên tác: DIE LIEBE BLEIBT
</TD></TR><TR><TD width="100%" height=26>
</TD></TR><TR><TD width="100%" height=21><HR color=#008080 SIZE=1>Chân phước Nữ tu Blandine Merten, OSU
thuộc dòng Thánh nữ Ursula tại Calvarienberg
viết theo ký ức, thư tín và những chứng từ cá nhân
Tác giả: Mẹ Hermenegildis Visarius
thuộc dòng Thánh nữ Ursula tại Calvarienberg
Ahrweiler - Đức quốc
Lm. Giuse Vũ xuân Huyên chuyển ngữ
Ấn bản thứ 13 năm 1987
Chuẩn ấn số 11/83
Trier, ngày 1. 8. 1983
Lm. Tổng đại diện
G. Jacob
</TD></TR><TR><TD width="100%" height=26>
</TD></TR><TR><TD width="100%" height=25></TD></TR></TBODY></TABLE>
admin
18-06-2006, 12:33 PM
LƯỢC ĐỒ THEO THỜI GIAN
--------------------------------------------------------------------------------
Tiểu sử Chân phước Blandine Merten, OSU
http://www.chiase.com/cs_2000/HV_PhuTung/CayNen.jpg
10. 7. 1883:
sinh tại Dueppenweiler/Saar
12. 7. 1883:
rửa tội tại nhà thờ giáo xứ Dueppenweiler
1889 - 1897:
học tại trường làng Dueppenweiler
12. 4. 1896:
rước lễ lần đầu tại nhà thờ giáo xứ Dueppenweiler
21. 4. 1896:
thêm sức tại nhà thờ giáo xứ Reimsbach
1897 - 1898:
học bổ túc và giúp cô giáo Genter ở Dueppenweiler
Từ Phục sinh 1898 tới Phục sinh 1899: tự học để chuẩn bị nhập khóa nữ giáo chức
Từ 4.1899 tới 9.1902:
học khóa huấn luyện nữ giáo chức tại Marienau gần Vallendar
Từ 11.1902 tới 4.1908:
cô giáo tại Oberthal gần St. Wendel, Hunsrueck - Grossrosseln
22.4.1908:
nhập dòng thánh nữ Ursula
3.11.1910:
khấn tạm
11.1910:
thuyên chuyển về Saarbruecken (trường học và nội trú)
10.6.1911:
thuyên chuyển về Trier (trường học và nội trú)
4.11.1913:
vĩnh thệ
25.9.1916:
lâm bệnh
18.5.1918:
qua đời tại Trier
21.5.1918:
an táng tại nghĩa trang St. Paulin, Trier
10. và 16.12.1953:
cải táng rồi chôn lại tại St. Paulin, Trier
13.11.1954:
ủy ban điều tra giáo phận Trier bắt đầu làm việc
9.6.1962:
ủy ban điều tra giáo phận kết thúc
10.7.1962:
chuyển hồ sơ lên Thánh bộ phụng tự tại Roma
17. và 21.12.1968:
Thánh bộ phụng tự công nhận những bút ký của Sr. Blandine và ĐGH Phaolô VI chứng nhận.
4.12.1980:
ĐGH Gioan Phaolô II cho phép khởi sự vụ án phong chân phước
9.6.1983:
sắc lệnh của ĐGH Gioan Phaolô II chứng nhận nữ tỳ Chúa đã thực hành nhân đức cách anh hùng
7.3. tới 30.4.1985:
ủy ban điều tra địa phận Wien nghiên cứu trường hợp khỏi bệnh của Sr. Irimberta Puntigam
4.5.1985:
hồ sơ phép lạ ở Wien được chuyển về Thánh bộ phong thánh Roma
25.6.1986:
cuộc họp của ủy ban chuyên viên y khoa: sự lành bệnh của Sr. Irimberta Puntigam không cắt nghĩa được bằng cách tự nhiên.
19.12.1986:
cuộc họp của ủy ban thần học: sự lành bệnh là một phép lạ do lời cầu bầu của Sr. Blandine
17.3.1987:
hội đồng Hồng y chứng nhận phán đoán của ủy ban thần học
8.5.1987:
đọc sắc lệnh phong chân phước trước mặt Đức thánh Cha - kết thúc vụ án phong chân phước
3.6.1987:
cải táng lần nữa
1.11.1987:
ĐGH Gioan Phaolô II phong chân phước.
http://www.chiase.com/cs_2000/HV_PhuTung/BoCauTrang2.gif
admin
18-06-2006, 12:37 PM
KHAI TỪ
của Mẹ Hermenegildis Visarius
ly trần ngày 1.4.1970
Để giới thiệu đời sống và hoạt động của một tâm hồn đơn sơ nhưng đầy ơn Chúa, tôi thấy không có gì thích hợp hơn là dùng lại lời của Đức Cha Faber trong cuốn sách nhan đề "Bethlehem" của ngài như sau: "Có một thế giới nho nhỏ gồm những tâm hồn âm thầm trong Giáo Hội. Thế giới ấy nằm dưới sâu vàdân cư của thế giới đó cũng ít khi được đem ra ánh sáng, càng không phải bằng vinh quang của việc phong thánh. Thế giới ấy nằm dưới lòng đất, là mỏ kim cương của Giáo Hội, thỉnh thoảng một viên ngọc sáng ngời được khai thác lên, để dưỡng nuôi lòng tin của chúng ta, để an ủi chúng ta vàđồng thời cũng là để mạc khải cho chúng ta những hoạt động dồi dào nhưng đôi khi cũng rất âm thầm của ơn Chúa".
Nữ tu Blandine Merten từ trần ngày 18. 5. 1918 trong tu viện dòng Ursulinen tại thành phố Trier. Nơi đó chị đã sống rất âm thầm, hầu như chẳng ai để ý tới.
Sau đó ít lâu người ta thấy chị vẫn "âm thầm và kín đáo làm việc lành như xưa chị đã làm nơi dương thế".(1)
Lòng biết ơn sâu xa đã thúc đẩy tôi viết nên tập sách nhỏ này, ước mong "hình ảnh một tâm hồn trung tín và luôn kết hợp với Chúa được nhiều người biết đến và thế giới được muôn ơn lành do lòng sùng kính chị tuôn ra".(2)
Trước hết tác giả chỉ muốn mô tả cuộc đời tu trì của chị nữ tu đầy ơn phước đó dựa theo sự quen biết riêng tư cũng như dựa theo những bút tích của chính chị. Nhưng để đầy đủ hơn, quãng đời trước khi chị bước chân vào tu viện cũng được thêm vào dựa theo lời khai của những nhân chứng sống.
Lá thư của Đức Cha Dr.Bares, người biết rõ đời sống nội tâm của chị Blandine, sẽ giải đáp thỏa đáng những thắc mắc liên quan đến cách kết cấu toàn phần của tập sách nhỏ này. Lời ngài sẽ biện minh cho nội dung cũng như cách thức trình bày như sau: "Có hai cách viết tiểu sử: đơn giản theo diễn biến thời gian và theo tiến trình tâm lý. Nơi những người đơn sơ, trong trắng và quyết tâm như chị Blandine, ta nên viết theo kiểu thứ nhất. Vì không có những rạn nứt và những bước nhảy vọt, nên cũng không cần đến phương pháp tâm lý, để đạt đến chiều sâu của 'bản chất con người'. Mọi sự đều sáng tỏ như ban ngày. Sự đơn sơ, hồn nhiên và giản dị trong cách kết cấu toàn phần, theo tôi, rất thích hợp với tâm hồn đơn sơ, không giả tạo, chỉ biết có một nghệ thuật duy nhất: yêu Chúa trên mọi sự và trong mọi sự, ngay cả trên thánh giá và trong thử thách.
Ở đâu tác phẩm của Chúa nơi những tâm hồn thánh thiện trực tiếp lôi cuốn và tác động, ở đó không cần đến nghệ thuật trình bày.
Những chuyện khác sẽ có chị Blandine lo".
Berlin, ngày 22. 6. 1934
Boppard cạnh dòng sông Rhein
- đồi Maria ngày lễ Mân côi năm 1935.
D. V.
-----
(1) Dr. N. Bares, Giám mục địa phận Berlin +1.3.1935.
(2) P. Augustin, Merk S.J. +3.4.1945.
admin
18-06-2006, 12:38 PM
NGOÀI ĐỜI (1883-1908)
--------------------------------------------------------------------------------
1. Trong gia đình
Ngôi nhà của song thân chị Blandine nằm trên một ngọn đồi thuộc khu thượng làng Dueppenweiler trong vùng Saar, một ngôi nhà nông dân được chia làm nhiều phòng nhỏ.
Sát bên nhà là cánh đồng và một miếng vườn rộng khoảng 6 sào. Giáp ranh với miếng vườn nhà xứ, cùng nằm trên sườn đồi, chỉ dưới một chút là khu nhà xứ xinh xắn.
Ngôi nhà được thân phụ chị, ông Johann Merten, một nông dân làng Dueppenweiler, xây cất vào năm 1860. Ông là người chất phác, khoẻ mạnh.
Theo gương tổ tiên, những nông dân chính hiệu và đạo đức, ông coi trọng những tập tục cổ truyền, mỗi ngày lần hạt chung trong đại gia đình, khi mùa Vọng và mùa Chay đến. Nơi ông tình yêu Chúa và tình yêu tha nhân luôn luôn song hành. Cha sở Bartholomaeus Kary ở Haustadt đã quả quyết: "Nếu mọi người ở Dueppenweiler đều như ông, thì tên làng không còn là Dueppenweiler nữa nhưng là 'làng tình yêu'".
Cả thân mẫu của chị Blandine, bà Katharina, nhũ danh Winter, cũng sinh trưởng trong một gia đình nông dân đạo đức, quê ở Fraulautern, được người đời kính trọng. Cuốn gia phả của giòng họ Winter đã có từ năm 1647. Theo những chứng từ đáng tin cậy, bà Katharina thuộc loại khôn ngoan, tốt lành, sẵn sàng khuyên nhủ và giúp đỡ người khác, nhất là lòng đạo đức rất sâu xa.
(Bà Kath. Wirth)
"Trong gia đình của chị Blandine, nơi tôi thỉnh thoảng có dịp lui tới, nổi bật sự êm ấm, bầu khí đạo đức và vẻ bình an hài hoà. Chắc chắn nhờ cha mẹ không bao giờ lớn tiếng. Tôi biết cả 4 người chị của Blandine. Sau này, trong nghề tôi vẫn còn có dịp gặp lại họ. Họ luôn tự chủ và thanh tao".
(Thanh tra giáo dục Kell)
"Tôi thường về nghỉ hè với ông bà tôi ở Dueppenweiler. Chính mắt tôi trông thấy ông bà tôi đem phân phát lương thực cho người nghèo khó, nào là bánh mì, khoai tây, thịt, rau và những giỏ đầy hoa trái. Mỗi trưa bà tôi bảo chúng tôi mang giỏ thức ăn đến cho người nghèo và những bệnh nhân. Nhờ đó đã khơi dậy trong tôi và dì Blandine lòng ước ao được giúp đỡ giới người này. Ông bà tôi để ý cả đến việc trang hoàng bàn thờ bằng cách sai chúng tôi mang hoa tươi tới giáo đường".
(Nữ tu Edelburga, Dòng Borromêo)
Trong bầu không khí tràn đầy tình thương tha nhân đích thực đó người con thứ 9 - một cô gái nhỏ - đã hạ sinh ngày 10. 6. 1883, và được Chúa tuyển chọn làm con cưng đặc biệt. Hai ngày sau em đã lãnh nhận phép Thánh tẩy với tên thánh là Maria Magdalena. Sau này còn thêm được một cậu con trai, nhưng chỉ mấy ngày là chết. Maria trở thành cô con út trong nhà.
Maria tính tình nhạy cảm. Cần nhiều tình thương như mọi trẻ em khác. Tình thương chan chứa trên cô. Cô được cả nhà chiều chuộng. Những anh chị đã lập gia đình và bà con thân thuộc thường mời cô về chơi. Có lần cô về nghỉ lễ Giáng sinh tại nhà anh Phanxicô tại Dillingen, người mà cô thương mến nhất. Từ lâu anh cô rất vui mừng vì có người em gái nhỏ dễ thương sẽ tới thăm. Khi ra về cô còn được bao nhiêu quà xách theo. Phanxicô nhớ rất kỹ, có lần ngồi ru võng cho em, tự nhiên lòng rung động, cậu nói với mẹ: "Nếu mà không có em Maria, thì con không biết phải làm gì, mẹ ạ!"
Sau này ông kể lại: "Maria khác hẳn chúng tôi. Lúc em còn nhỏ xíu, chúng tôi đã phục em rồi. Trong chuyến hành hương Roma của tôi vào năm 1933 Đức Cha Bares cũng đồng hành. Trong lúc chào mừng đoàn hành hương vào ngày thứ hai, vừa nghe đến tên tôi, ngài liền hỏi lại, có phải tôi là anh của nữ tu Blandine không. Ngài nói tiếp: 'Ông có quyền hãnh diện về người em gái của ông, vì chị đã là một vị thánh. Không, tôi phải nói: chị đang là một vị thánh mới đúng
Elise, người chị cả, còn kể thêm hai mẩu chuyện nhỏ của thời thơ ấu như sau:
"Mẹ tôi thường đem con đi nhà thờ rất sớm. Vào một ngày Chúa nhật Maria cùng đi với tôi. Ở Dueppenweiler chỉ có một nhà thờ quá nhỏ so với một giáo xứ đang hồi phát triển. Các học sinh phải quỳ sát bên nhau dưới nền đất gần bàn thờ. Em tôi mới 3, 4 tuổi đã chiếm được chỗ ngồi ngay trước mặt cô giáo. Cô ngạc nhiên quan sát vẻ trang nghiêm của em. Cô chú ý nhất là lúc truyền phép, em chắp đôi tay nho nhỏ, mắt hướng lên Mình Thánh Chúa, rồi chậm rãi đưa tay đấm ngực. Cô có cảm tưởng là em đã ý thức được sự hiện diện của Chúa trên bàn thờ. Sau này cô vẫn còn kể lại hoài chuyện đó.
Một lần khác Maria theo đám trẻ con trong làng chui vào vườn của một bànhà nghèo để ăn trộm mận. Em cũng làm đầy một yếm và đưa về cho mẹ. Maria còn quá nhỏ để hiểu đó là chuyện bất lương. Mẹ biết trước nên nhìn con buồn rầu mà nói: 'Mình thì có cả một vườn cây ăn trái, còn bà ta chỉ có mỗi một cây mận. Con hãy trở lại ngay mà xin lỗi bà!' Rồi mẹ sai đi hái một giỏ đầy trái ngon, bảo tôi và Maria đem lại xin lỗi".
Câu chuyện nho nhỏ đó chứng tỏ người mẹ đã biết giáo dục con bằng bàn tay yêu thương mà cũng cứng rắn đồng thời cũng cho biết Maria luôn sẵn sàng vâng theo lời mẹ.
Một bà láng diềng còn cho biết thêm: "Hồi nhỏ, có lần tôi phải lội qua một con suối, nhưng không biết phải làm cách nào nên đành đứng đó. Maria vừa trông thấy, đã vội cởi giày mà cõng tôi sang. Tôi mừng quá".
admin
18-06-2006, 12:40 PM
2. Trong trường học
Lúc trẻ em được đưa đi học ngày đầu tiên là lúc quan trọng vì đánh dấu một quãng đời mới. Đối với Maria cũng vậy. Tất cả những bạn cùng lớp ngày xưa mà nay còn sống đều ca tụng Maria về cách đối xử gương mẫu và sự chăm chỉ học hành.
Trong khi kể lại, họ thường nhắc đến một câu: "Chị ấy là một thiên thần".
Ông hiệu trưởng D. là con trai của người hàng xóm còn chú thích thêm: "Mẹ tôi cứ nói hoài: 'Khi cô bé ấy mỉm cười chào ai, thì ai nấy đều tưởng như gặp được thiên thần. Mẹ muốn biết sau này cô bé đó sẽ ra sao'".
Thiên thần là những thiên sứ trung thành, đấng che chở chúng ta. Các ngài muốn đưa chúng ta về với Chúa và thúc đẩy loài người yêu mến Chúa. Dù lúc còn rất nhỏ, Maria đã có bổn phận và sứ mạng thiên thần. Sau này ở Marienau và nhất là trong tu viện chị vẫn tiếp tục sứ mạng đó.
Làm bạn và hay chơi chung với Maria là cháu Kathchen, con của bà chị cả. Sau này Kathchen kể lại: "Dì Maria tốt bụng và dễ mến. Dì nhẫn nại giúp tôi làm bài hoặc làm những việc vặt trong nhà. Dì rất để ý đến thứ tự và sạch sẽ. Dì rất thích chơi với ba đứa em của tôi. Dì dạy chúng chắp tay cầu nguyện và khuyên chúng ngoan ngoãn vâng lời. Dì không chấp nhận chuyện cãi cọ giữa chúng tôi. Vào một tháng Năm nọ, dì dựng cho chúng tôi một bàn thờ nhỏ và bắt chúng tôi cầu nguyện và hát chung với dì. Dì học chung với tôi cho tới năm 10 tuổi. Trong giờ ra chơi thỉnh thoảng bắt gặp những đứa khác chửi bới hoặc cãi nhau, dì liền xông vào giữa mà quát: "Đừng làm thế!" Có khi đang chơi dì đến cầm tay tôi mà bảo: "Mình đi chào Chúa đi! Có lẽ Ngài đang cô đơn".
Đôi lúc chúng tôi đi hái dâu dại trong cánh rừng gần nhà. Khi ấy dì thường kể lại cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Một hôm chúng tôi lại vào rừng. Hồi đó tôi mới 8 tuổi và hay sợ sệt. Dì bảo tôi: "Giả sử bây giờ có người từ bụi rậm chui ra và nói: 'Nếu mày đạp lên thánh giá, tao sẽ tha mày, bằng không tao sẽ giết mày'. Nếu vậy, cháu sẽ tính sao?" tôi nhớ hình như đã trả lời: "Cháu sẽ cầm thánh giá lên hôn cho nó giết". - "Thế thì tốt" dì tôi khen rồi tiếp: "Nếu chúng ta chết vì Chúa, chúng ta sẽ được về nơi vĩnh phúc". Có lẽ trong lớp học dì đã nghe kể về các thánh tử đạo bên Nhật. Sau này khi phải xa dì, tôi mất vui suốt một thời gian dài".
(Bà Wirth, Rehlingen/Saar)
Cô em của Kathchen viết: "Hồi còn là học sinh 7, tuổi tôi phải mang sổ điểm danh từ lớp này qua lớp khác. Cô giáo lớp trên tên là Genter bảo tôi: "Nếu em cũng được như dì của em, thì thầy cô nào cũng sẽ hài lòng'. Cho tới nay cô vẫn lấy Maria Merten làm gương cho các học trò. Hồi còn nhỏ tôi đã mừng trước cả tuần khi dì Maria sắp về nghỉ. Khi dì đi, tôi lại khóc cả ngày. Sau này tôi vẫn kính trọng dì mà không biết tại sao. Cách cư xử, lời khuyên răn, tất cả con người dì đã thu hút hồn tôi".
(Bà Bresser)
Một cô bạn đồng lớp và cùng rước lễ lần đầu vào ngày 12. 4. 1896 đã kể lại cho chúng tôi biết. Cô vẫn còn nhớ rõ ngày trọng đại ấy cho tới năm 1953. Vì xác tín vào vẻ đẹp nội tâm của Maria, ngày đó cô đã tự hỏi: "Không biết trong hồn mình có được đẹp như Maria không nhỉ?"
Cha sở Bernhard Porten, người đã giúp Maria xưng tội và rước lễ lần đầu, đã nói với một cô giáo rằng: "Maria đúng là một thiên thần".
Ngày 21. 4. 1896 Maria lãnh bí tích Thêm sức ở làng Reimsbach bên cạnh. Chị cả của Maria còn nhớ rõ. Trong giờ giáo lý sau khi Thêm sức Maria đã hăng hái trả lời đến nỗi chính Đức Cha phụ tá Shrod sau đó phải thốt lên rằng: "Chỉ có cô bé ở làng Dueppen-
weiler là đã giơ tay hết mọi câu hỏi và trả lời luôn luôn đúng". Cô bé ấy chính là Maria. Ngày hôm đó mẹ cô cùng đi với cô tới Reimsbach, bà hạnh phúc biết dường bao.
Một bạn cùng lớp, nữ tu Ambroise, Bà nhất tại Wallerfangen (Saar) đã viết: "Maria thuộc loại bạn bè mà hình ảnh họ ám ảnh suốt đời tôi. Lòng đạo đức của chị sâu xa và kín đáo. Gương mặt chị biểu lộ điều đó. Cái gì nơi chị cũng có vẻ thanh thoát, đơn sơ. Khi dự lễ, chị quỳ bất động. Không một ai dám chạm vào chị hoặc nói chuyện với chị. Chị thuộc lòng các lời kinh trong thánh lễ, vì thế đôi mắt luôn chăm chú ngước lên bàn thờ. Người ta còn thấy chị nghiêm trang đi đàng thánh giá. Chị không hề vắng mặt trong các thánh lễ ngày thường. Sau khi đã được rước lễ lần đầu, người ta còn thấy chị thường rước lễ vào các ngày Chúa nhật và lễ trọng, dù thuở đó chưa quen việc rước lễ thường xuyên như vậy.
Chị hăng say phân phối lịch và báo chí truyền giáo cho người đặt mua. Có lần chị phải đi bán ở một nông trại rất xa. Người nông dân ít tuổi vì thiếu hiểu biết nên đã lập tức từ chối thẳng thừng lời cô bé mời mua. Nước mắt tràn mi. Cô dằn lòng rồi nói: "Cháu sẵn lòng chịu đựng vì công cuộc truyền giáo và vì các 'sơ'". Trong lớp chị thường đứng hạng nhất. Nhưng trong giờ ra chơi dù những trò chơi con nít chị cũng chơi hết mình. Vì có tiếng hát hay và êm ái, nên chị thường phải đơn ca hoặc cất hát. Chị hát rất tự nhiên và không giả tạo. Có lần chị được cô giáo nhờ chút việc. Và để thưởng công đường dài, cô đã tặng chị cuốn sách nho nhỏ nhan đề "Theo chân Chúa Kitô". Từ đó chị thích nhất cuốn sách ấy, và sau này gần như thuộc lòng.
Ông thanh tra giáo dục Kell còn bổ túc bản phúc trình về quãng đời lúc còn đi học của chị ở làng Dueppenweiler như sau: "Maria cùng tuổi với em gái tôi là Anna Johanna, sau này là nữ tu Ambroise tại Wallerfangen cho tới khi qua đời. Cả hai cùng học một trường và trở nên thân thiết. Hai cô thường đến nhà nhau chơi. Tôi, một kẻ chỉ lớn hơn hai cô 3 tuổi, đã vô tình thấy hết những khuynh hướng, những trò chơi và những mẩu chuyện con nít, quanh đi quẩn lại cũng chỉ thấy nào là nhà thờ, nào là thánh lễ, nào là giờ chầu, nào là đời tu. Hai cô làm búp bê có mặc áo dòng, còn tôi lo chạm trổ hình nhà thờ. Năm 1890 cha Baptist Porten đến nhậm xứ làng tôi sau mấy năm thiếu vắng linh mục. Ngài có khả năng sư phạm và quen nghề giáo dục. Ngài thấu triệt và sống theo những vốn liếng đạo đức của ngài ngay trong cách dạy dỗ - vừa sáng sủa vừa không phải chỉ được rút ra từ đời sống nhưng còn được đưa vào đời sống - nên có ảnh hưởng nhiều tới trẻ em. Điều đó rất quan trọng đối với sự phát triển của Maria. Trong thời gian này còn có cô Barbara Genter, một người rất đạo đức và nhiệt thành cũng đang dạy học trong ngôi trường làng. Nhờ cô mà Maria, em tôi cũng như tất cả những em khác được hướng dẫn về lòng đạo đức và đường thiêng liêng. Vì Maria chơi với em gái tôi, nên tôi còn biết được: Hai cô rất thích làm vui lòng kẻ nghèo cũng như người bệnh tật. Hai cô bí mật tiết kiệm và gom góp kiếm quà tặng làm cho họ ngạc nhiên. Hai cô dọn phòng cho bệnh nhân, lau phòng, giúp đỡ người cô thân cô thế cả hàng giờ. Ngày nay sau nhiều năm trôi qua, với tư cách là nhà sư phạm, nếu nhớ lại hình ảnh của chị Blandine trong thời thơ ấu cũng như thời thanh xuân, tôi chỉ muốn nhắc đi nhắc một điều: 'Tôi vẫn tưởng chị là thiên thần, khi còn là học sinh cũng như ngày rước lễ lần đầu, ngày đó tôi nhớ rõ vì chính mình đã giúp lễ và là cậu con trai lớn hơn những ba tuổi, mà cả sau này khi còn dự khóa huấn luyện giáo viên cũng vậy. Tôi nhớ, khi nói về chị Maria, một người lúc nào cũng vui tươi, đơn sơ và đạo đức, chúng tôi đều kính phục chị hết mình. Ngay từ nhỏ chị đã điềm đạm, khôn ngoan, hiền hậu, tốt lành, thanh lịch trong cử chỉ cũng như lúc xử sự'".
Thời gian trung học cũng qua mau. Maria sẽ làm gì đây? Cha sở Porten khuyên cha mẹ cho chị lên đại học. Nhưng chị vẫn được kèm riêng cho tới ngày bước chân vào học viện.
admin
18-06-2006, 12:43 PM
3. Trong học viện
từ tháng 4.1899 tới tháng 9.1902
"Lề luật Chúa nằm trong trái tim con!"
TV 34,9
Tuy xa nhà, nhưng rồi cũng quen. Maria bắt đầu cuộc sống mới. Chị được nhận vào học viện Marienau, một học viện tư chuyên lo huấn luyện nữ giáo viên ở gần Valendar.
Viện trưởng hồi đó là cô Wolter, em họ của hai vị tổng viện phụ đầu tiên ở Beuron. Cô rất đạo đức, nên đã sớm nhận ra Chúa đã chọn người học trò của cô lên bậc cao hơn. Cô vẫn thường nói: "Maria như một bà thánh".
Một trong những cô giáo của Maria còn nhấn mạnh thêm: tất cả con người của chị lúc nào cũng hớn hở, vui tươi. Maria cũng được các bạn cùng lớp kính trọng. Những lời khai trích trong các lá thư sau đây chứng tỏ điều đó:
"Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh của Maria, một cô gái trẻ nghiêm trang, điềm đạm cùng chúng tôi dọn bài thi... Dù kỷ luật trong nhà buộc im lặng trong phòng ăn và phòng ngủ, nhưng những miệng lưỡi xinh xắn cũng không thể nào im được. Riêng Maria vẫn tôn trọng bầu không khí thinh lặng thánh thiện ấy. Tuy là người trẻ nhất trong lớp, nhưng chị lại là tấm gương sáng chói cho những người lớn hơn. Lúc nào chị cũng vui vẻ và dễ thương với mọi người."
"Tôi chú ý đến Maria. Cung cách và diện mạo của chị có nét thiên thần. Chị thành tâm và thích tặng bạn bè, nhưng không muốn ai tặng lại. Chị không bao giờ tỏ ra tự cao, tự đại."
"Maria nên gương sáng cho chúng tôi, ai cũng kính trọng, muốn noi gương và thầm cảm phục chị. Chị viếng nhà nguyện nhiều hơn chúng tôi. Không bao giờ thấy chị nói xúc phạm tới ai. Chị luôn luôn tử tế với mọi người."
"Không như chúng tôi, chị chỉ nói những điều biết chắc. Ai cũng lắng tai nghe chị. Lúc đó con người nội tâm của chị cũng lộ ra."
"Dù lớn hơn Maria, tôi vẫn bắt chước chị và biết ơn từng cái nhìn âu yếm cũng như từng lời nói của chị. Tam cá nguyệt đầu tiên tôi ngủ chung với chị trong một căn phòng nhỏ. Tôi thức giấc rất sớm và thường thấy Maria đã ngồi cầu nguyện trên giường."
"Vì bị bệnh nên chị phải kiêng ăn một thời gian dài, kiêng ngặt đến nỗi tất cả chúng tôi đều ngao ngán. Nhưng không bao giò thấy chị mở miệng than van. Khi lo âu khốn khó, người ta thường chạy đến chị, vì hy vọng Chúa sẽ nghe lời chị kêu xin."
"Maria không biết đùa. Những chuyện tầm phào chị đành nhẫn nại hy sinh chịu đựng rất khéo. Có lần tôi kỳ kèo, chị bảo: 'Thôi! Chúa cũng muốn trao những thánh giá nho nhỏ, để chúng mình đừng quá kiêu căng. Chúng mình vào nhà nguyện đọc kinh đi, chị sẽ thấy nhẹ nhõm ngay'. Tôi thường thấy chị ăn rất dè xẻn. Nhất là vào mùa Chay chị lại ăn càng ít. Có lần tôi khuyên chị nên nghĩ tới sự ốm yếu của chị, chị liền trả lời: 'Chúa sẽ lo cho em đủ sức để học hành'".
"Tôi ít chơi với chị vì tôi ở lớp trên. Tôi thuộc loại khá ồn ào. Những loại đó chẳng bao giờ thấy chị đến chơi. Nhưng ngay từ giây phút đầu, tôi đã thấy như có vị thiên thần ở giữa chúng tôi".
"Dù không tham dự các trò phá phách trong lớp, nhưng chị không bao giờ tố cáo chúng tôi. Tôi nhớ có lần bà viện trưởng thịnh nộ quát hỏi: 'Ai phá?' Chẳng ai trả lời. Thế là chúng tôi được "thưởng" 8 ngày làm luận văn liên tiếp. Maria chịu phạt mà không hề trách móc chúng tôi."
"Ngay cả những cô bạn khô khan, nguội lạnh cũng chẳng thấy nơi chị có điều chi đáng trách."
"Sau khi đã xong mọi thủ tục nhập học tại Marienau, cô Wolter bảo tôi: 'Bây giờ cô sẽ sai một thiên thần đi bên cạnh, để giúp em tập sống với kỷ luật nhà trường.' Thiên thần ấy chính là Maria. Tôi nhớ nhà quá đỗi. Maria biết khích lệ và an ủi rất chân thành. Chị vừa nhắm mắt lià đời, là chúng tôi - những bạn học của chị - đã bắt đầu cầu khấn với chị ngay."
Chúa đã thử thách và thanh luyện tâm hồn trong trắng, hy sinh và tươi trẻ ấy ngay trong thời gian còn đèn sách bằng những đau khổ và muộn phiền. Trước hết Ngài cất mất người cha của chị, ông từ trần ngày 1. 12. 1899.
Kỳ nghỉ Phục sinh năm 1902 cũng là lần Maria được gần người mẹ thân yêu lần cuối. Hình như chị đã mường tượng trước được sự mất mát sắp tới đó. Theo anh chị trong nhà kể lại: lần này chị hết muốn từ giã mẹ. Sau khi trở lại học viện ít lâu, vào ngày 26. 4. 1902 Maria nằm mơ thấy mẹ hấp hối. Chị thấy căn phòng mẹ nằm, thấy cả anh chị và bà con hàng xóm. Chị nghe thấy cả những gì người ta nói với nhau và cả lời mẹ mình nói. Sáng hôm sau, khi Maria vừa bước chân xuống cầu thang, cô Wolter đã cầm tờ điện tín báo tin đưa cho chị. Maria oà khóc và nói: "Thôi, biết rồi, mẹ em đã mất!" Về đến nhà Maria mới biết, mọi sự dù những chi tiết nhỏ nhặt nhất đều giống y như trong giấc mơ.
Sau đó Maria lên đường trở lại Vallendar. Lần này vì quá đau khổ về sự ra đi của người mẹ thân yêu, nên chị lâm bệnh nặng. Cô Wolter muốn tránh mọi rắc rối, nên đã khuyên bệnh nhân lo thu xếp những chuyện trần gian cho ổn thoả. Trái với mọi dự đoán, bệnh tình mỗi ngày một thuyên giảm. Sau đó chị lại về quê nghỉ cho tới khi bình phục.
Cơn bệnh đó đã làm gián đoạn việc học hành và làm chậm trễ việc luyện thi của Maria. Người ta tưởng phải cho chị thi vào những khoá sau. Nhưng khi thi cùng với các học viên khác, chị đã đậu với hạng "bình" (*) Từ tháng 9 tới cuối tháng 11 năm 1902 Maria trở về quê. Nhưng vì cha mẹ đã khuất, nên quê hương cũng trở nên xa lạ. Chị rất mừng khi được mời dạy học thế tại Oberthal gần St.Wendel (Saar). Chị chỉ ở đó một thời gian ngắn từ ngày 24.11. tới ngày 24.12.1902. Sau đó chị đi nhận nhiệm sở trên miền rừng núi. Trong lá thư đề ngày 1.1.1903 Maria đã viết cho chị và anh rể như sau: "Ngày 24. 12. Chúa Hài đồng đã ban cho em một nhiệm sở chắc chắn tại Morscheid (vùng Bernkastel). Chính em chưa đến đó bao giờ, nhưng ngày mai em sẽ đến đó thăm. Vì em muốn chuẩn bị nhà cửa cho xong càng sớm càng tốt, nên xin anh chị gởi cho em 1 ngàn Đức mã để sắm đồ."
-----
(*) giỏi - chú thích của người chuyển ngữ.
admin
18-06-2006, 12:45 PM
4. Cô giáo ở Hunsrueck
từ năm 1903 tới năm 1907
"Ta muốn đem nàng vào nơi thanh vắng, để nói với con tim nàng"
Osea 14,2
Giáo xứ Morscheid với khảng 300 dân nằm giữa một thung lũng nhỏ thuộc vùng cao nhất đồng thời cũng đẹp nhất Hunsrueck, cách ngọn Erbe khoảng 2 tiếng đồng hồ. Giáo xứ còn có vài họ lẻ. Hồi đó tất cả các trẻ em muốn đi học, đều phải về Morscheid.
Lúc Maria Merten về nhận nhiệm sở nơi ngôi làng bé nhỏ và đèo heo hút gió nằm giữa cánh rừng đó, cũng là lúc con đường xe lửa về Hunsrueck được khai trương. Nếu xuống xe ở Hoxel, ta đã thấy Morscheid chỉ cách đó 15 phút đồng hồ, chẳng có gì ngoài mái nhà thờ kiên cố và hai căn nhà đầu làng. Làng nằm sâu dưới chân núi Wolzburg. Chỉ đi vài trăm bước trên con đường lởm chởm là đã tới ngôi trường làng, quẹo gắt về phía phải, dẫn tới ngôi thánh đường làm toàn bằng phiến thạch (*).
Dân làng đa số là tiểu nông, chỉ biết bám vào vùng đất khô chồi mà sống, phần còn lại sống nhờ xẻ gỗ trên rừng hoặc phá đá trên núi. Ban đầu cô giáo Maria sống tạm trong các gia đình khá giả. Sau đó mới tìm được chỗ ngay trong trường. Cô dọn lên căn lầu ẩm thấp ở sát mái. Vậy mà vẫn còn hên hơn những cô, thày trước đó. Chị Elise lo việc nội trợ. Ngoài ra còn có cả cô cháu gái 8, 9 tuổi cũng đến ở một năm trong gia đình nhỏ bé đó tại Morscheid.
Cô giáo trẻ thường dẫn cháu gái nhỏ của mình và các con của gia đình người kiểm lâm băng qua những cánh rừng thông đẹp mắt. Họ đi một mạch cả tiếng đồng hồ từ Morscheid lên tới đỉnh Erbe. Cảnh đẹp của núi rừng linh thiêng tha thiết mời gọi con tim rộng mở của cô. Sự yên lặng của rừng già, sự biệt lập của làng mạc, ngôi giáo đường cô liêu, tất cả hợp lại, giúp tâm hồn cô kết hợp với Chúa.
Cô cháu gái của cô, nữ tu Edelburga, thuộc dòng Borromêo, đã viết như sau: "Tôi thấy dì tôi đi bên tôi lặng lẽ. Tôi hỏi: 'Dì ơi, dì nghĩ gì thế?' - 'Nghĩ tới Chúa' - Nhưng mình có ở nhà thờ đâu!' Thế là dì tôi lại có dịp dạy tôi về sự hiện diện của Chúa ở khắp mọi nơi, rồi còn dạy tôi thuộc lòng những lời kinh sau đây:
"Tất cả con làm vì Chúa thôi,
Tội lỗi làm con đau đớn rồi,
Phù trợ trong giờ con hấp hối!"
Dì còn dạy tôi thêm một kinh khác:
"Lạy Chúa! con yêu Chúa hết lòng,
Phần thưởng tình yêu con cầu mong,
Được yêu mãi mãi Chúa suốt đời,
Chỉ muốn một điều Giêsu ơi:
Là yêu tha thiết hơn mọi người."
Tôi ngủ chung phòng với dì. Nếu thức giấc vào ban đêm, tôi thường thấy dì quì dưới sàn nhà và chìm đắm trong kinh nguyện.
Cả đến những chi tiết nhỏ nhặt trong chương trình một ngày của cô giáo trẻ cũng được biết như sau: Mùa Hè cũng như mùa Đông đúng 5 giờ 30 khi đồng hồ vừa báo thức là cô đã đứng ngay đầu giường. Vào mùa Đông hàng xóm có thói quen thức giấc theo trời sáng bên ngoài thường thắc mắc: "Cô giáo làm gì mà sớm thế?". Chẳng có gì mà khó biết: Maria nguyện ngắm nửa giờ về ơn thiên triệu. Sau này trong tu viện cô có kể cho một nữ tu khác rằng, ở Morscheid có lần Chúa đã nói với cô trong khi rước lễ. Ngoài ra Ngài còn tiên báo một điều mà sau này đã đúng y như thế.
Khi có thể, chiều nào cô cũng quỳ khoảng nửa giờ trong nhà thờ làng, cô thường là người duy nhất, vì dân chúng lam lũ ngày thường ít khi đến đó. Tối đến đọc sách về ơn thiên triệu rồi cất tiếng trong trẻo hát bài Salve Regina hoặc một bài thánh ca nào khác.
Một đồng nghiệp khác còn tiết lộ thêm: "Tôi thấy cô Maria Merten làm mọi chuyện nhỏ nhặt thường ngày rất đúng giờ và có lương tâm, mà những chuyện như thế thường làm cho mình nản chí. Không bao giờ thấy cô vội vàng, hấp tấp, cả những khi cần thiết.
Tình thương của cô đối với thân nhân rất đậm đà. Thường không mấy khi thấy cô chảy nước mắt, nhưng vào ngày lễ Các Thánh, sau khi chúng tôi đã đi rước ngoài nghĩa trang trở về là cô bắt đầu khóc lóc thảm thiết."
Ở Morscheid ban đầu cô Maria Merten chỉ dạy lớp nhỏ, lớp lớn cô chỉ tập hát mà thôi. Chị J. Kuester, một trong những học trò cũ của cô ngày xưa, kể lại rằng: "Bài hát đầu tiên mà cô Maria tập cho chúng tôi là một bài hát về Thánh tâm Chúa Giêsu 'Lạy Chúa! Chúng con là của Chúa'. Cô học trò cũ tiếp lời: "Tôi còn nhớ rõ ngay từ giờ học đầu tiên nhân cách của cô giáo đã ảnh hưởng mãnh liệt tới chúng tôi. Dù là những trẻ em tinh nghịch và sung sức trong làng cũng như ngoài làng, chúng tôi đều thấy ngay được biệt tài của cô và hơi buồn vì không được học với cô tất cả mọi giờ. Sau này tôi đến xin cô kèm riêng. Nhờ đó tôi càng thấy rõ vẻ đáng yêu và quan niệm sống thánh thiện của cô. Cô Maria Merten đã ảnh hưởng rất lớn đến sự tiến triển nội tâm cũng như lòng đạo đức của tôi.
Nếu ngày nay tôi chu toàn bổn phận nghề nghiệp là một cô giáo công giáo và kết hợp được với Chúa và Giáo hội một cách sâu xa là nhờ ảnh hưởng cũng như lời cầu bầu của cô giáo năm xưa trước toà Chúa."
admin
18-06-2006, 12:45 PM
Từ Phục Sinh 1906 tới 1. 7. 1907 cô dạy lớp lớn hơn. Nhờ cứng rắn cô điều khiển được tất cả các nữ sinh. Cháu của cô, nữ tu Edelburga, kể lại: "Gương mặt dì lúc nào cũng nở một nụ cười, nhưng khi cần vẫn nghiêm nghị và quyết liệt như thường. Dì rất ghét chậm trễ, tà tà và gian dối. Dì sẽ nổi sùng, nếu có ai nhờ người cầu cạnh đến dì. Dì yêu chính lộ. Có lần tôi và mấy em khác cùng trốn đi chầu vào tháng Năm, bị dì tóm được, lôi về nhà dì và làm giờ chầu bù lại, sau khi đã phạt bằng cách giảng cho một bài tràng giang đại hải. Tôi còn nhớ một lần khác, lần đó chứng tỏ dì coi trọng cả trẻ em nghèo. Hôm đó dì dẫn cả lớp đi dạo. Một đứa trẻ nhà nghèo đem cho tôi một trái táo trông đã hết ngon. Bực mình vì món quà xấu xí, tôi ném một vòng cao, trái táo rơi xuống rãnh bên đường. Tôi quên hẳn cô giáo đang đứng đó. Bình tĩnh dì nhất quyết bắt tôi xuống rãnh nhặt trái táo lên cho bằng được, bất kể mọi phản kháng. Trái táo được đem rửa, gọt vỏ rồi dì bắt tôi ăn, sau khi đã xin lỗi đứa trẻ nhà nghèo kia. Lời xin lỗi do thực tâm thống hối, vì dì biết tìm những lời chỉ đạo cho cả cuộc đời chúng tôi. Trong đám học trò dì yêu đặc biệt những đứa nghèo nhất. Chính tay dì đan lấy áo ấm cho chúng và tặng chúng những món quà vui nho nhỏ."
Một cô bạn đồng nghiệp thuở ấy viết như sau: "Đối với tôi cô Merten có nhiều chuyện đáng viết. Những học trò dở và nghèo rất mừng vì lòng tốt của cô. Cô thích nghe người ta phê bình cá nhân từng đứa học trò của cô. Nhưng vì hiểu rõ tình trạng gia đình của từng đứa nên cô luôn biết cách chữa lỗi thay cho chúng. Khi cô coi lớp lớn hơn, các nữ sinh không hề kêu trách gì trong lớp cũng như ngoài lớp. Tôi - một đồng nghiệp trẻ nhất - vẫn có hứng và thích đến dạy thế giờ cho cô, mà những giờ như thế thường không phải là dễ. Cô rất nghiêm, nhưng cũng chịu nổi bông đùa. Ngoài ra chính cô cũng hay pha trò. Cô là một vị thánh vui, không phải là một vị thánh buồn.
Trong một tuần có mấy ngày không có lễ ở Morscheid, nhưng ở vùng lân cận. Cô lại đến đó dự lễ, cả những khi phải hy sinh vì đường mùa Đông ngập tuyết. Lễ Mình Thánh Chúa chính là lễ của lòng cô. Mấy ngày trước lễ chúng tôi cùng với học sinh lớp trên vào rừng kiếm cành thông. Người ta cũng thấy được niềm vui thầm kín của cô. Khi chặt, cô thường khuyến khích học sinh đi kiếm những cành đẹp nhất đem về tặng Chúa. Mãi tối mới trở về. Nhưng cô vẫn chưa thèm nghỉ, cô còn cẩn thận chuẩn bị cho ngày hôm sau. Tới ngày thứ Tư trước lễ vẫn chưa mệt, cô còn giúp trước là kết vòng hoa mà các em nhỏ rước lễ lần đầu sẽ mang quanh kiệu Thánh Thể, sau là giúp trang hoàng khắp nơi. Còn vào đúng ngày lễ cô có mặt rất sớm để còn tiếp tay lần cuối."
Thời đó ở Morscheid có những gia đình rất nghèo, thí dụ như đám làm chổi, đám đan rổ rá, đám thợ hàn và đám thợ công nhật. Họ sống trong những chòi lá lụp xụp. Maria làm tất cả những gì có thể làm được để xoa dịu nỗi thống khổ của họ.
Một cựu nữ sinh kể lại: "Ba tôi nghèo, nên cô đã giúp gia đình tôi rất nhiều. Nhưng chẳng ai hay. Cô đưa đồ đến cho chúng tôi. Chính tôi cũng thường đến uống cà phê ăn bánh ở nhà cô. Có lẽ cô nghĩ, ở nhà tôi vốn thiếu ăn. Có lần cô tặng mẹ tôi một cái khăn quàng lớn. Màu đỏ sọc xám. Mẹ tôi cắt ngay chính giữa, thế là chúng tôi, chị tôi với tôi, mỗi người có được một chiếc khăn quàng rất ấm. Khi ra chơi lúc 10 giờ cô cho gọi tôi vào lớp rồi chia cho tôi miếng bánh mì của riêng cô. Nhưng trước đó cô đã cẩn thận đóng cửa lại, để đừng có ai trông thấy."
Có đứa vào cả bếp của cô để kiếm đồ ăn sáng. Chị Elise và cô rất hiểu nhau đến độ, không những cô có thể đem cho những đồ của cô mà cả những đồ của chị Elise nữa. Một ngày kia chị Elise bỗng thấy mất chiếc khăn đẹp màu đỏ. Sau một hồi tìm kiếm, chị Elise lên tiếng hỏi: "Maria, em có biết cái khăn của chị đâu không?" - "Dạ có, Chúa nhật tới, đến nhà thờ chị sẽ thấy". Chúa nhật tới chị Elise hơi tò mò khi thấy đứa con gái của ông đóng giày đang đội cái khăn đẹp của chị. Lòng chị Elise cùng sung sướng với cô em của mình. Khi về quê vài bữa chị Elise cũng có thể đoán được là khi trở lại chắc có nhiều thứ cũng sẽ biến theo luôn.
Một nữ sinh khác kể lại: "Hôm đó tôi ra ruộng với cậu mợ tôi. Trời bỗng nổi giông, sét đánh trúng cậu tôi, chết liền tại chỗ. Còn tôi sét cũng làm cháy sém cả tay. Trong lúc bàng hoàng, cô Merten đã đến cứu ngay. Cô đưa tôi ngay về nhà và đặt tôi lên giường cô. Cô cứ giữ tôi bên cạnh, cho tới ngày chôn cất xong cậu tôi."
Một thanh niên hàng xóm còn cho biết: "Hồi đó tôi đã 24 tuổi và hơi tự mãn. Vì biết cô hay nấu ăn cho trẻ em nghèo, nên tôi đã vất tất cả những gói đậu của cô qua cửa sổ."
Những việc lành đã làm ngoài làng xóm cũng như trong trường học, cô chẳng hề để ý. Với lòng khiêm nhường cô cho rằng chẳng bao giờ làm đủ việc lành,nhưng dân làng và đám học trò, tất cả đều mến cô. Cha quản hạt Lehnen, thời đó đang ở Morscheid, đã tóm tắt hoạt động của cô khi còn ở Hunsrueck như sau: "Cô là mẫu mực hoàn hảo của một cô giáo công giáo: nhiệt thành, đạo đức, nguồn mạch là Chúa Kitô Thánh Thể, mà cô rước mỗi ngày và năng thăm viếng; rất khiêm tốn vá tốt lành, luôn sẵn sàng tiếp tay bất cứ việc gì trong xứ, rất nhiệt thành và chăm sóc học trò theo gương Chúa Cứu Thế, luôn vui vẻ và yêu đời, không thay đổi và xuống tinh thần, được mọi người yêu mến và kính trọng. Một hôm tôi và ông thanh tra giáo dục nổi tiếng khó tính vào kiểm soát lớp cô. Cuối cùng ông ta nói với cô: 'Điều tôi sắp nói, tôi chưa hề nói với thày cô nào cả: tôi rất hài lòng về khả năng của cô'. Sau đó ông còn tiết lộ với tôi là ông muốn nâng cô lên một chức vụ quan trọng hơn."
Có lẽ theo sự gợi ý của ông thanh tra này mà Maria đã xin đổi đi một chỗ mới sau 5 năm hoạt động tại Morscheid. Thể theo đơn xin cô được thuyên chuyển về Grossrosseln (Saar) vào ngay 1. 7. 1907. Dân làng Morscheid dằn lòng để cô ra đi. Lúc lên đường, có đến cả nửa làng tụ tập tại sân ga để tiễn chân cô lần cuối. Maria Merten nghẹn ngào thốt lên: "Chà! nếu biết dân làng quấn quít như thế này, thì tôi đã không đi".
Maria ở Grossrosseln có 9 tháng vì cũng tại nơi đây cô đã quyết định dâng mình cho Chúa. Chúng ta không biết rõ ơn gọi của cô đã bắt đầu như thế nào, chỉ biết hồi còn ở Morscheid cô đã có ý định trở thành nữ tu truyền giáo. Theo lời khuyên của một bà giáo hồi còn ở Marienau cô đến Saarbruecken giữa lúc bề trên tổng quyền dòng thánh nữ Ursula ở Calvarienberg là mẹ Aloysia vừa dừng chân tại chi nhánh nhà dòng nơi đó. Sau khi được gặp mẹ, cô ao ước nhập dòng càng sớm càng tốt. Lời xin liền được chấp thuận ngay.
Một ngày kia lúc Maria tiết lộ cho chị mình biết về quyết định của cô, cả hai liền ôm chầm lấy nhau vì họ có cùng một mục đích: phụng sự Chúa trong đời sống tu dòng. Maria vui khôn tả. Chuẩn bị cho nhanh để nhập dòng.
Cô Merten đã để lại trong lòng những nữ sinh ở Grossrosseln và nhất là nơi gia đình mà cô đã tá túc một ấn tượng sâu xa, đẹp đẽ.
-----
(*) Loại đá đen, được tách ra từng phiến, dùng để lợp nhà, nhưng đôi khi cũng dùng để phủ cả căn nhà. Hiện nay phần nhiều được thay thế bằng loại đá giả - chú thích của người chuyển ngữ.
admin
18-06-2006, 12:47 PM
TRONG TU VIỆN
(từ năm 1908 tới năm 1918)
--------------------------------------------------------------------------------
1. Nữ tu Blandine trong nhà tập tại Calvarienberg Ahrweiler
từ tháng 4. 1908 tới tháng 11.1910
"Khi hạt lúa chưa rơi xuống đất và thối đi thì vẫn chưa sinh lợi"
Gioan 12, 24.
Calvarienberg nằm trên một quả đồi giữa thung lũng Ahr thơ mộng. Nổi bật từ đàng xa. Khoảng một trăm bậc thang dẫn dần lên tới đỉnh đồi. Từ cao nhìn xuống sẽ thấy thành phố Ahrweiler với những bức tường, tháp cao và cổng thành cổ kính. Từ xa đỉnh núi "Neuenahr" và "Triều thiên" chào vọng lại. Những ngọn núi dồn hẳn về phía Tây, chúng bao bọc thành phố Walporzheim nổi tiếng thế giới nằm trong thung lũng như một bức tường che chở. Về phía Đông, thung lũng trải dài xuống tận sông Rhein.
Calvarienberg là nơi có giá trị lịch sử. Truyền thuyết sau đây sẽ chứng minh điều đó:
Cho tới giữa thế kỷ 15 ngọn đồi này còn được gọi là "Kop" và dùng để làm pháp trường. Theo bản phúc trình nằm trong cuốn sử liệu của dòng Phanxicô ở Calvarienberg ngày xưa thì vào năm 1445 một hiệp sĩ nổi danh, sau khi hành hương thánh địa Israel trở về, đã cho rằng thành phố Ahrweiler trông rất giống Giêrusalem. Sông Ahr ông thấy giống suối Cedron. Ngôi làng nhỏ Gentzen (Gerhardshoven) ngày xưa phía ngoài đồi "Kop" gợi ông nhớ tới vườn Gethsemani, còn chính ngọn đồi thì trông giống như đồi Calvariô, nhất là từ đó tới nhà thờ giáo xứ Ahrweiler thì vừa bằng khoảng cách từ đồi Calvariô tới dinh Philatô ở Giêrusalem. Vì nhận xét này của nhà hiệp sĩ mà dân chúng cũng như hội đồng thành phố Ahrweiler đã quyết định dâng hiến ngọn đồi đó cho Chúa chịu nạn và Mẹ đau khổ của Ngài. Pháp trường được dời đi chỗ khác và một nguyện đường nho nhỏ liền mọc lên trên ngọn đồi mà nay được gọi là Cavarienberg (1); một thánh giá lớn cũng được dựng lên phiá trên bàn thờ.
Qua bao năm tháng ngọn đồi trở thành nơi hành hương danh tiếng. Khi dòng Phanxicô ở Bruehl tới đây lập nhà vào năm 1630 thì cũng là thời kỳ cực thịnh của nơi hành hương này. Các tu sĩ Phanxicô đã xây một giáo đường ngay trên chỗ nguyện đường ngày xưa, ngôi giáo đường này được dâng hiến Chúa chịu nạn vào năm 1678 mà nay vẫn còn đó.
Nhà dòng đã trở thành trung tâm đời sống tôn giáo cũng như tinh thần của thành phố Ahrweiler suốt gần hai thế kỷ, cho tới khi các cha bị trục xuất vào năm 1803 do hậu quả của thời kỳ tục hóa.
Khi các dẫy nhà bắt đầu hư hỏng thì Calvarienberg lại bắt đầu một thời cực thịnh khác. Vào ngày 28. 8. 1838, một ngày đáng nhớ, mẹ bề trên dòng thánh nữ Ursula ở Montjoie là Theresia Schaefer cùng với 11 chị em khác dọn vào cư ngụ trong các căn phòng còn thơm mùi mới sửa của một nhà dòng cổ kính. Đâu có ai ngờ rằng nửa thế kỷ sau nhà dòng lại lọt vào tay những cộng đoàn con cái đang hồi phát triển.
Calvarienberg vì thế vẫn còn là trung tâm hành hương. Trong thời chiến tranh 30 năm vẫn có những cuộc rước kiệu vừa đi vừa hát, cầu nguyện kính thánh giá. Tới nay tượng thánh giá từ xưa hay làm phép lạ vẫn luôn giang hai tay trên bàn thờ chính như mời gọi mọi người đến cùng Đấng cứu độ: "Khi Ta bị treo trên thánh giá, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta".
Calvarienberg chính là nơi nữ tu Maria Merten và người chị ruột của chị đã nhập dòng thánh nữ Ursula ngày 22. 4. 1908.
Vào ngày 25. 11. 1535 thánh nữ Angela Merici quê ở Brescia đã lập "tu hội thánh nữ Ursula". Từ đầu thế kỷ 17 tu hội này đã biến thành dòng chuyên lo về giáo dục và từ bên Pháp lan ra.
Tại sao Maria Merten lại chọn dòng thánh nữ Ursula? Tại sao tâm hồn ưa kết hợp âm thầm với Chúa lại không thúc đẩy chị chọn một dòng chiêm niệm khác.
Hồi đó cũng như sau này có lẽ người ta vẫn thường thắc mắc như thế. Nhưng câu trả lời vẫn chỉ là: "Chúa Giêsu muốn có những tâm hồn sống trong dòng thánh nữ Ursula biết phối hợp đời sống hoạt động và chiên niệm". Chị đã hiểu rất đúng nhiệm vụ chính yếu của một nữ tu dòng thánh Ursula.
Khi nhập dòng Maria được đặt tên là Blandine, tên của một thánh nữ tử đạo ở Lyon. "Tôi muốn là vị hôn thê anh hùng của Chúa". Ước muốn đó đã được chị thể hiện trong những đức tính mà tên chị đã nói lên: đáng yêu, đáng mến; mà những cái đáng yêu đáng mến đó thường tiềm ẩn những hy sinh âm thầm bên trong.
Theo thói quen của dòng thánh nữ Ursula các nữ tu còn có thêm một tên phụ. Tên phụ của chị là Blandine "Trái tim cực thánh Chúa Giêsu". Tên đó đã giúp chị lắng sâu tâm hồn mình trong sự giàu sang của Trái tim Chúa. Hồi đó chị vẫn chọn những câu trong kinh cầu Trái tim để suy niệm.
Chúng ta đọc thấy trong thủ bút của chị như sau: "Trái tim Chúa là tấm gương soi của những tâm hồn yêu mến Ngài, mỗi ngày soi vào trong gương đó họ có thể xác định được mình có giống Chúa hay không. Đó là cuốn sách suy niệm hay nhất của tâm hồn, là người cố vấn khôn ngoan và đáng mến nhất, là nguồn mạch an ủi cao siêu nhất, là chốn an nghỉ dịu dàng. Khi biết hỏi đúng cách và hiểu được Trái tim Chúa, chúng ta sẽ thấy mình chẳng còn thiếu gì nữa. "Trong khi chiêm ngưỡng Trái tim Chúa nữ tu Blandine đã thấu triệt và ngưỡng mộ tất cả những mầu nhiệm của Đấng cứu độ, sự nhập thể của Ngài, cuộc sống và đau khổ của Ngài, sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta qua bí tích Thánh Thể.
Có lẽ chúng ta sẽ nghĩ rằng cuộc sống trong nhà tập thì quá dễ dàng đối với một nữ tu còn trẻ, có gì mà phải chiến đấu, có gì mà phải đau khổ. Nhưng trường hợp của chị Blandine thì ngược lại, thời gian thử thách đối với chị còn khó hơn nhiều so với những tập sinh khác trong dòng. Tuy sống âm thầm và đạo đức Nữ tu Blandine vẫn phải "thắng vượt cõi đời", cũng phải từ bỏ để tìm cái cao siêu.
Ở nhà Maria được cha mẹ và anh chị nuông chiều. Trong trường cũng như sau này trong học viện chị luôn thành công và được người đời kính trọng. Rồi khi dạy học ở miền rừng núi chị đã trở thành trung tâm điểm của một nhóm người dù chỉ là một nhóm nhỏ. Khắp nơi chị đều đựơc kính trọng và yêu thương. Bây giờ chị phải nhường nhịn, phải tan biến, dù tình mẹ con và tình chị em trong dòng có bao bọc mọi người.
admin
18-06-2006, 12:49 PM
Sự tự lập khi xưa bây giờ đã được thay thế bằng sự liên đới trong nhà dòng mà việc dạy học lại được đặt lên hàng đầu.
Lối sống xa lạ này làm cho chị đau lòng là lẽ đương nhiên. Tình thương cũng như sự quấy rầy của người khác dành cho chị đã giao thoa nơi trái tim rất người của chị. Nếu hồi xưa khi còn chung sống với chị ruột là Elise - bây giờ là nữ tu Blanda - là niềm vui đối với chị, thì bây giờ đời sống chung đụng trong nhà dòng sẽ đòi hỏi nơi người tập sinh trẻ tuổi một đôi chút hy sinh. Trong những năm vừa qua chị Elise đã bao bọc Maria với tâm tình gần như mẫu tử. Khi đi học về là chị đã đứng chờ bên song cửa, rồi dọn cơm ăn ngay để Maria khỏi tốn công tốn sức. Bây giờ tình liên đới giữa hai người phải thích nghi với luật chung trong dòng. Chị Elise nhớ lại và kể như sau: "Hồi còn trong nhà tập tôi bỗng thấy em tôi hơi tiều tụy. Tôi liền hỏi: 'Sơ ốm à? Cần gì cứ bảo tôi'. Em tôi ôn tồn trả lời: 'Sơ Blanda! em không được phép nói chuyện với sơ'". Tiếng xưng hô "sơ" với nhau chắc chắn cũng là một hy sinh lớn lao cho cả hai chị em ruột thịt. Sự dè dặt bên ngoài đã không bóp chết hay làm giảm bớt tình thương của nữ tu Blandine dành cho chị mình, mà trái lại nhờ đó tình thương giữa hai người không những được bảo toàn tối đa mà còn được siêu thăng tới phạm vi siêu nhiên.
Nữ tu Blandine đã thưa lời "Ecce ancilla Domini" (2). Chị muốn chiến đấu với cái tôi của chị để có thể nói được như thánh Phaolô: "Không còn là tôi sống, nhưng là chính Chúa sống trong tôi". Từ những ngày đầu tiên sống ở Calvarienberg chị đã khởi sự một việc, mà chị vào dòng là để hoàn thành việc đó: thánh hóa tâm hồn bằng cách chu toàn triệt để những bổn phận mới. Qua vẻ dịu dàng và yếu ớt của thân xác, chị đã chứng tỏ một sức mạnh luân lý phi thường. Không bao giờ chị chối mình là người vùng Saar chính hiệu, có ý chí sắt đá và luôn bảo trì tất cả những gì vốn được coi là tốt đẹp. Như xưa chị đã là người công giáo tới tận xương tủy, thì trong dòng chị vẫn một cố gắng là làm sao trở nên một nữ tu công giáo đích thực, một nữ tu dòng thánh nữ Ursula đúng mức.
Nửa năm sau, vào ngày 28. 10. 1908, khi được mặc áo dòng, chị đã coi đó như là dấu hiệu của sự từ bỏ, của một hy sinh lớn lao cho bậc sống đã chọn. Đời sống nội tâm của chị càng thêm thăng tiến và trưởng thành trong nhiệm vụ hằng ngày của một tập sinh.
Làm sao để càng ngày càng thấu triệt, càng thấm nhuần tinh thần dòng là một ước muốn mãnh liệt của nữ tu Blandine trong suốt thời gian nhà tập. Chị tôn trọng mọi giờ thực tập, mọi giờ huấn đức hay là các giờ học, dù có cái không hoàn toàn thích hợp với quan điểm hoặc lòng đạo đức riêng tư của chị.
Chị chu toàn những việc dành cho tập sinh một cách sốt sắng và đúng giờ. Dĩ nhiên đôi lúc chị cũng quên sót những việc nhỏ nhặt không đáng nói, nhưng như thế lại càng giúp chị sẵn sàng nhận lỗi với tấm lòng khiêm tốn và đơn sơ. Con mắt tinh đời của bề trên nhà tập cũng không thể nào bắt lỗi được người tập sinh chăm chỉ ấy, bà chỉ còn biết báo cáo những cái hay.
Bình thường người nữ tu âm thầm, không yêu sách đó ít được ai để ý. Nhưng chị cũng đã âm thầm gây được ảnh hưởng với thế giới chung quanh, vì mọi người đều thấy sự trung thành của chị trong những việc nhỏ nhặt nhất, sự sẵn sàng giúp đỡ người khác, sự đơn sơ của chị là đáng quý.
Một tập sinh cùng thời với chị đã viết như sau: "Chị Blandine đã chỉ bảo tôi, chị chỉ bảo tôi không phải chỉ bằng lời nói, mà còn bằng tất cả con người của chị. Tôi dám nói, tôi không hề thấy một lỗi lầm nào nơi chị. Ảnh hưởng của chị nơi tôi còn kéo dài quá thời gian nhà tập, dù sau đó tôi không hề được gặp lại chị hoặc trao đổi thư từ gì với chị. Đối với tôi chị là ánh sao vui, sáng láng và âm thầm trong suốt thời gian nhà tập đầy gian nan thử thách. Sau này chị cũng vẫn thế."
Một dự tu hồi xưa ở Calvarienberg còn cho biết, hình ảnh chị Blandine đứng rửa chén trong bếp đã để lại một ấn tượng sâu xa trong lòng cô, đến nỗi "chính sự khiêm tốn và duyên dáng đó của chị đã lôi cuốn tôi vào tu viện."
Một nữ tu khác kể lại: "Tôi nhớ nhà quá đỗi, sắp muốn bỏ tu viện. Nhưng khi thấy chị Blandine, tôi tự nghĩ: 'Một tập sinh bề ngoài dịu dàng, đoan trang như thế chắc phải có một con tim cũng dịu dàng, nhạy cảm. Có lẽ chị cũng nhớ nhà ghê lắm, nhưng sao vẫn ở lại. Nếu chị ở lại được thì tôi cũng ở lại được'. Tôi muốn bắt chuyện với chị nhưng không bao giờ thành công. Khi chị gặp tôi bất cứ chỗ nào, thì những khó khăn trong lòng tôi cũng dường như biến mất. Tôi bỗng cảm thấy một chút an bình từ dáng điệu vui tươi và nụ cười của chị toát ra."
admin
18-06-2006, 12:49 PM
Hồi còn ở nhà tập có một chị rất có cảm tình với chị Blandine. Chị kể lại: "Chị chăm chú nghe tôi và cười thoải mái, mỗi lần tôi kể lại những kỷ niệm của thời ấu thơ."
Một nữ tu... (3) còn cho biết: "Khi vào dòng tôi được chị Blandine làm "thiên thần bản mệnh". Hồi còn ở nhà tôi được nuông chiều theo nghĩa tốt của ngôn từ này, được tình thương cha mẹ, anh chị em bao bọc thật là thắm thiết. Thế mà tôi đang tâm từ bỏ, nhưng chị Blandine đã đến với tôi như một thiên thần trong vóc dáng loài người. Ngay từ giây phút đầu tiên chị đã đến với tôi với vẻ dịu dàng, trìu mến. Tôi để ý quan sát rất kỹ. Nơi chị mọi sự đều giản dị, đơn sơ, rất hợp với tính đơn sơ và chân thành của tôi. Chị đúng là mẫu mực một nữ tu hoàn hảo, mà tôi khi còn ngoài đời vẫn thường hay mơ tưởng. Khi trong phòng hội của nhà tập có tiếng vang lên: "Ưu tiên cho người tình nguyện", thì chị là người đầu tiên bận ngay đồ làm việc vào, mắt sáng rỡ chạy tới nơi, mà đôi chân chị sẽ đem chị tới."
Sau này khi đã viết xong những bản thảo đầu tiên về chị Blandine, chính tôi cũng có dịp nói chuyện với bề trên nhà tập là mẹ Alexis. Tôi gợi ý, xem mẹ có gì để phê bình về chị Blandine không. Mẹ Alexis cười to và nói: "Để làm nổi chuyện đó, phải để tôi nặn óc xem đã!". Như thế đủ hiểu, có lẽ ngày xưa các tập sinh lớp trên cũng thường tự nhủ: "Để xem! mẹ Alexis có tìm được lỗi gì nơi chị Blandine này không."
Khi chị Blandine chuẩn bị khấn dòng, tôi phải đến lớp dạy thay cho chị. Bà hiệu trưởng ca tụng chị hết lời. Bà còn nói với tôi: "Chưa bao giờ tôi được một tập sinh có nhiều uy tín như chị Blandine."
Chị tập sinh Blandine trẻ tuổi đã tha thiết với họ hàng thế nào, đã thông phần lo lắng với họ thế nào, điều đó sẽ được tiết lộ trong một lá thư chị viết hồi còn đang ở nhà tập, mà chúng tôi còn giữ được. Lá thư ấy viết ngày 25.12.1909, lúc đứa con trai nhỏ duy nhất của bà chị ruột mới qua đời, với lời lẽ như sau:
"Dù muộn chúng em vẫn gởi lời chúc mừng Giáng sinh anh chị. Xin Chúa Hài đồng Giêsu ban xuống cho gia đình anh chị nhiều ân phúc và nhất là chữa lành vết thương do sự mất mát một đứa cháu bằng sự an ủi thần linh của Ngài. Gia đình anh chị thế nào? Em hy vọng: vẫn khoẻ. Cả ba cô con gái nhỏ chắc sẽ sốt sắng tìm mọi cách để làm vui lòng và an ủi cha mẹ, như những trẻ em tốt vẫn thường làm. Mà dì biết, Kathchen và Maria thì vẫn làm thế rồi, còn út Agnes nhỏ thì luôn là ánh mặt trời trong gia đình.
Ở đây chúng em có lễ nửa đêm tại nguyện đường của nhà dòng. Cứ phó thác mọi chuyện cho Chúa Hài đồng là tốt nhất. Chúng em cũng đã dâng tất cả mọi người thân thuộc cùng với những lo âu và khốn khổ của họ cho Trái tim Chúa và đặt dưới chân Ngài."
Một cháu gái của chị Blandine cho biết: "Có lần mẹ tôi buồn lắm. Khi biết được, dì Blandine liền viết: Sao chị lại không viết tí gì cho em biết về nỗi buồn của chị? Em vẫn muốn cầu nguyện và chia sẻ với chị. Hay chị lại nghĩ rằng em quá vô tâm, đến độ không còn liên hệ gì với người thân yêu nữa ?
"Khi anh tôi báo tin cho dì Blandine biết một bà dì khác của chúng tôi đã qua đời, dì liền khóc lóc thảm thiết".
Ngày 3.11.1910, ngày mong chờ đã đến, ngày đó chị tập sinh trung tín được tuyên khấn tạm trong 3 năm. Từ đó chị chính thức trở thành hiền thê của Chúa Kitô.
-----
(1) Nghĩa là: đồi hay núi Calvariô - chú thích của người chuyển ngữ
(2) Nghĩa là: "Này tôi là tôi tá Chúa" - chú thích của người chuyển ngữ
(3) Ẩn danh - chú thích của người chuyển ngữ
admin
18-06-2006, 12:52 PM
2. Thợ vườn nho Chúa
"Hãy sống làm sao để con cái các con có thể soi gương trong các con và trong nhân đức của các con"
Thánh Angela, Lời khuyên thứ 6
Sau khi khấn xong, chị Blandine về dạy học tại một trường nữ trung học ở Saarbruecken, ngôi trường này vừa được các nữ tu dòng thánh nữ Ursula thuộc Calvarienberg thiết lập sau nhiều khó khăn.
Chỉ vài tuần sau, vào tháng Giêng năm 1911, chị đã bị cảm nặng. Mất hẳn tiếng tốt và trong trẻo đến nỗi từ đó tiếng chị bị khàn đi một chút. Và cũng vì lây đến phổi, nên bác sĩ khuyên nên thuyên chuyển về một thành phố có khí hậu tốt hơn. Cho nên, khoảng tháng 6 chị được thuyên chuyển về Trier, một thành phố cổ của người Roma, cũng gọi là Sancta Treviris.
Vào tháng 12 năm 1853 các nữ tu dòng thánh nữ Ursula thuộc Calvarienberg đã thiết lập chi nhánh thứ hai là nhà Bantus (-haus) nằm giữa nhà thờ chính toà và vương cung thánh đường.
Tu viện cùng nhà trường thuở đó mang danh một vị thánh ẩn tu tên là Bantus (vào thế kỷ thứ 6) mà theo nhóm của cha Bolland thuộc dòng Tên (1) , thì ngài được an táng trong "nguyện đường sau nhà thờ chính" ở thành phố Trier.
Thế là chị Blandine trở thành "thỉnh sinh trẻ" duy nhất trong nhà St. Bantus (các nữ tu khi chưa khấn trọn đời thì được gọi như thế).
Sau đó ít lâu, ngày 29. 12. 1911, chính tôi cũng được thuyên chuyển về đó. Tôi không quên nổi ngày này. Chị "Marie nhỏ canh cổng" - Ở Trier người ta gọi chị nữ tu canh cổng mà ai cũng biết ở nhà Bantus bằng cái tên như thế - ra đón tôi tận nhà ga. Chúng tôi chạy xe trên những con đường náo nhiệt, sáng trưng đèn, bỗng dưng chị Marie nhỏ quẹo vào một con đường lạnh tanh và nhỏ hẹp, đó là đường Bantus. Đi vài bước nữa là tôi đã đứng trước quê hương mới của tôi, ngôi nhà Bantus cổ kính, mà tim thì đập liên hồi. Cổng mở. Dưới ánh điện tôi thấy mẹ đáng kính Remigia, bề trên nhà, và sau mẹ - đầu sát đầu - là hầu hết cộng đoàn Bantus. Mọi người bao quanh tôi. Cuộc tiếp đón nồng hậu đã cho tôi cảm tưởng ngay từ giây phút đầu là mình đã thực sự tìm thấy quê hương mới ở đây. Mà đúng thế. Ngay buổi chiều hôm ấy mẹ Remigia đã chọn chị Blandine và nhờ chị làm "thiên thần bản mệnh" cho tôi, nghĩa là chị phải lo giới thiệu tôi với mọi người. Rồi sau buổi kinh chiều chị dẫn tôi đi qua những căn phòng dài tăm tối, theo cầu thang trôn ốc lên tới phòng ngủ. Tôi vẫn còn thấy như trước mắt tôi, cách chị thắp đèn và âm thầm dọn sẵn mọi sự trong thinh lặng. Chức vụ thiên thần bản mệnh, mà lần đầu tiên chị đã thi hành vào buổi tối hôm đó, chị vẫn còn thi hành mãi cho tới ngày hôm nay. Sau khi chị qua đời, cha Bares, giám đốc đại chủng viện, đã nói với tôi: "Có những người được Chúa tặng nhãn tiền một thiên thần bản mệnh. Chị cũng được Chúa tặng nhãn tiền một thiên thần bản mệnh như thế qua chị Blandine."
Ngay từ những ngày đầu tôi đã thắm thiết với chị, vì chúng tôi là những "thỉnh sinh" trẻ tuổi nhất. Dần dần tôi để ý tới sự quân bình của chị, sự bình tĩnh lạ thường trong những việc khẩn cấp. Chị Blandine là giáo sư phụ trách lớp đồng thời là mẹ cho cả phòng (chị nào thay thế người mẹ chăm sóc một đội các em nội trú thì được gọi như vậy). Chị còn lo giám sát nhiều chuyện trong nội trú và phụ trách nhiều việc lặt vặt khác. Thí dụ mỗi sáng sau thánh lễ chị phải lo lau chùi tất cả các cây dương cầm trong nhà. Vì không có nhà dành riêng để chơi nhạc, nên dương cầm được đặt ở nhiều khu nhà khác nhau. Đi tới nơi rất mất giờ, mà còn thiếu gì việc khác quan trọng hơn cần phải làm, hồi đó tôi thường nghĩ như vậy. Nhưng đối với chị Blandine đó cũng là việc phụng sự Chúa nhỏ nhặt nhất! Ngoài ra chị còn phải cung cấp mực cho cả nhà và cả ngôi trường rộng lớn; như thế có nghĩa là trước hết phải lo chế ra mực. Trong một căn phòng nhỏ có đặt sẵn một cái chảo lớn. Bột mực được đổ vào đó rồi quấy đều, sau đó mới đem dồn vào các lọ.
Trong nhiều năm, cho tới khi ngã bệnh, một mình chị lo phụ trách giật chuông báo giờ nguyện ngắm và như vậy chị luôn luôn phải lo giậy sớm hơn một chút. (Vì trước khi nguyện ngắm chung chị phải đi giật chuông ở hết mọi khu vực trong tu viện).
Khi cần có ai phụ giúp ngoài cổng - mà cứ cần hoài - thì ai nhào vào? - Lại chị Blandine.
Trong một thời gian dài tôi cứ phải đi bác sĩ. Dĩ nhiên chị là người đi kèm. Có lần tôi dừng chân ngang đường mà bảo: "Thỉnh thoảng em cũng muốn vội mà chị lại chẳng lẹ cho, lúc nào cũng cứ thế. Sốt ruột quá!" Tôi còn nhớ rõ câu trả lời của chị. Chị nói: "Chúng mình đã thành hiền thê của Chúa Cứu thế, vậy chúng mình chỉ có cơ hội nho nhỏ này để minh chứng tình yêu đối với Ngài".
Chắc có người sẽ bảo: Vậy thì có gì mà đáng nói so với những hy sinh lớn lao mà người đời phải chịu. Đúng thế, đó chỉ là những chuyện nhỏ nhặt nhưng chị Blandine đã lợi dụng tất cả để thánh hoá chính mình. Chị biết bí mật của nghề thợ bạc như chị đã viết: "Tình yêu sẽ mạ vàng mọi việc. Chúa đâu cần những chuyện cao siêu, phi thường. Ngài chỉ cần tình yêu. Trong Nhã ca có câu: 'Người đẹp ơi! em đã làm tim ta thương tích bằng một sợi tóc trên đầu'. Chúa muốn nói rằng: những việc nhỏ mọn nhất mà ta làm vì tình yêu thì trước mắt Ngài có giá trị và làm đẹp lòng Ngài biết bao! Ôi đúng thế! đối với Chúa thì không có gì là nhỏ mọn trong tâm hồn kẻ yêu Chúa. (Câu cuối cùng chị gạch dưới hai lần).
Trong thuở ban đầu ấy chị đã viết cho tôi một tờ giấy nhỏ mà tôi vẫn giữ cho tới ngày nay. Trong đó có viết: "Hôm qua em đã đọc cuốn 'điều tâm niệm' (2) của cha De Ravignan rồi tự nghĩ phải chi hai chúng mình đều thấy được một ngôi sao bắc đẩu, thì ngôi sao ấy sẽ nâng đỡ và thêm sức cho chúng mình giữa cơn lôi đình của bão tố và giúp chúng mình tránh khỏi sự yếu đuối và nặng nề! Này, chị hãy làm theo nhé! - Còn tí nữa. Nơi chị em không thấy có gì đi ngược với hình ảnh một nữ tu hoàn hảo thuộc dòng thánh nữ Ursula, vì em thương chị quá. Có lẽ nhiều lúc chị cũng chẳng còn biết em là người như thế nào nữa". Rồi một cách nhẹ nhàng chị nhắc nhở cho tôi một lỗi lầm công khai trong đó còn viết tiếp: "Sao lúc ở nhà tập mình vẫn thường phạt nhau? Nên em tha thiết xin chị vì thương em mà nhắc lỗi cho em."
Sau đó ít lâu chị cầm một cuốn sách đến với tôi và xin tôi đọc một đoạn nhất định trong đó. Đầu đề là: "Mọi sự đều là nước Trời dành cho tôi". Trong những giòng này chị đã đọc thấy "điều tâm niệm" hợp với chiều hướng của riêng chị.
Chị sống khó nghèo rất nhiệm nhặt. Trong phòng chỉ có những cái tối cần, chẳng có đến một cái bàn con hoặc cái kệ là những cái thường phải có! Nếu chị không đau yếu thì tôi không hề thấy chị xin ăn riêng.
Thỉnh thoảng chúng tôi phải ngồi chờ đồ ăn đem lên. Những giây phút ấy không phải là vô ích đối với chị Blandine. Tôi vẫn còn như thấy chị ngồi sừng sững trước mặt tôi. Tất cả con người chị cho ta cảm tưởng là chị đang siêu thoát tận trên trời.
admin
18-06-2006, 12:53 PM
Tính tình chị vui tươi, niềm nở. Chị luôn sẵn sàng làm vui lòng kẻ khác. Có lần chúng tôi được phép vui chơi suốt cả buổi chiều. Bà mẹ bảo chúng tôi làm thơ giúp vui cho cộng đoàn. Cả hai chúng tôi chẳng hiểu gì về thơ mà cũng chưa hề làm thơ bao giờ. Bây giờ phải ngồi trong lớp để nặn ra những vần thơ bốn câu viết về từng chị một. Đọc tức cười quá sức đến nỗi chúng tôi không làm dài thêm được nữa. Sau đó cũng đem ra đọc; buổi chiều hôm ấy cả hai đều thấy vui. Những năm sau còn nhiều nữ tu trẻ cũng được thuyên chuyển về Trier. Một chị trong nhóm mới về biết làm thơ và giỏi vẽ. Chị này có vẽ một bức hí họa, những chị trẻ được vẽ như là những con gà con, chị Blandine giang đôi cánh phóng nhanh về phía trước, còn chúng tôi kẻ nhanh người chậm lẽo đẽo theo sau, một chị còn duỗi cả cánh ra đàng sau.
Trong kỳ nghỉ chúng tôi thường phong thần phong thánh cho chị Blandine. Chúng tôi gọi chị là "tổ phụ!" là "anh tài!" của chúng tôi.
Có lần một chị trêu chọc quá lố. Tôi hơi giận. Chị Blandine ngồi đối diện với tôi. Nhìn sang vẫn thấy chị mỉm cười như không có chuyện gì liên quan tới mình. Khi chị bị bệnh tôi có đem chuyện đó nói lại với chị. Chị bảo, hôm đó thâm tâm chị cũng buồn quá sức.
Có lần mấy em thuộc phòng chị phụ trách phá phách lẫn nhau, trong trường hợp này bình thường sẽ bị vị phụ trách phạt cho phải phép. Thế mà các tội nhân lại rã đám tỉnh bơ. Tôi bảo: "Sao chị lại nín thinh thế được!" Chị trả lời: "Thà rằng cắn lưỡi chịu trận còn hơn là khiển trách". Nhưng tôi muốn biết thêm: "Chị không biết nổi nóng à?" Chị trả lời: "Có chứ! nhưng mà em vác thánh giá của em và dùng nó để nén lòng em xuống, cho tới khi thắng nổi bản tính tự nhiên. Em tự nói với chính mình: Vì yêu Chúa em không nên làm thế!"
Sau khi đã khấn lần đầu được ba năm chị Blandine được phép khấn trọn đời. Một chị hỏi: "Nếu lần này không được khấn thì chị tính sao?" Chị Blandine trả lời: "Ồ! thì em sẽ cố gắng hết mình để lần sau em được khấn!" - "Nhưng chị đâu có thể cố gắng hơn được như chị đã từng cố gắng. Chị nói dễ, vì lần này chị được khấn. Nếu chị bị "trụ" thì liệu chị có nói được như vậy không?" Chị Blandine trả lời: "Có thể!" rồi mỉm cười sung sướng rồi đi tiếp.
Cũng chị này còn nhớ rõ một chuyện khác. Một lần tôi thấy chị Blandine đứng cạnh mẹ bề trên. Vì tôi có chuyện muốn hỏi mẹ, nên cũng đứng gần đó. Khi thấy chị Blandine bị mẹ khiển trách, tôi thấy cũng buồn lây. Sau đó tôi tìm cách lách qua cánh cửa. Qua khe cửa tôi đứng chờ mẹ. Khi chị Blandine đi ra - chị không hề thấy tôi - nhưng tôi thấy chị nắm lấy cây thánh giá nơi tràng hạt của chị mà hôn tha thiết. Gương mặt chị vẫn thế. Tôi nghĩ: "Dù mới bị khiển trách, chị vẫn một lòng yêu Chúa".
Để khấn trọn đời chị Blandine phải về nhà mẹ của dòng. Ngày 4. 11. 1913, trong giờ vĩnh thệ, không biết có gì đã xẩy ra trong tâm hồn chị? Sau này chị cho tôi biết: "Trong ngày đó em đã dâng mình làm của lễ cho Chúa và em biết chắc Chúa đã nhận lời."
Theo lưu bút của chị ta được biết những năm hoạt động bên ngoài nói chung là những năm lăn lộn và chiến đấu. Vài chị em không hiểu điều đó, họ bảo: "Chị Blandine thì biết gì đến khó khăn. Chị chỉ gặp toàn chuyện dễ."
Một chị trong đám đó nói như sau: "Nơi chị thì chuyện gì cũng có vẻ tự nhiên, trong khi chính tôi thì phải luôn cố gắng để giữ mức quân bình. Chị luôn nhắc nhở tôi nhớ Chúa, còn tôi thì phải hết sức mới kết hợp được với Ngài."
Đúng thế, chị Blandine đâu phải loại "thập toàn"(3), nên cũng phải chiến đấu để tập nhân đức cho đến chết. Hằng tháng chị chọn một điều dốc lòng, để chiến thắng "cái tôi" luôn gây cản trở trong con người chị.
Có đoạn chị viết: "Tôi rất nhậy cảm với tất cả những gì liên quan tới danh dự của tôi và mới đây lại có nhiều khó khăn trong đời sống chung - Rất buồn là hãnh diện và tự ái vẫn còn sinh động trong tôi. Lạy Chúa, xin chấp nhận con. Mỗi ngày con cầu xin Trái tim Chúa ban cho con đủ khiêm nhường và phù trợ con đắc lực để bản tính tự nhiên của con không những không biết đau lòng mà ngược lại còn biết vui mừng, khi thấy mình bị tan biến, để Chúa được vinh danh." (ngày 4. 10. 1914)
"Lạy Chúa, trong vực thẳm con kêu lên cùng Chúa. Xin Chúa nghe tiếng con kêu cầu! Ôi tình yêu nhân hậu, đừng xua đuổi con vĩnh viễn! Con muốn ký lại giao kèo với thiên thần của con, để ngài giúp con và che chở cho con khỏi sa ngã." (ngày 8. 11. 1914)
Ngày 8. 12. 1914 chị xét mình và viết thành một bản tự kiểm khiêm tốn như sau: "Tôi đã nhận ra một việc nhỏ nhặt nhất của Chúa cũng tiềm tàng sự vĩ đại và biết bao nhân từ. Còn tôi thì sao? bên trong: vô trật tự, trống rỗng, khinh khỉnh, thiếu kiên nhẫn, ương ngạnh; bên ngoài: khiêu khích, thiếu vui vẻ, cẩu thả, ít cố gắng trong thực hành."
Trong lần cấm phòng mùa Giáng sinh năm 1914 chị đã anh dũng dốc lòng không bao giờ thỏa mãn tính tự nhiên. Con đường của chị càng ngày càng lên dốc. Tâm hồn chị càng ngày càng thêm trong sáng, để ngụp lặn trong thánh ý Chúa. Không phải chị chỉ cố gắng đạt đến mức độ hy sinh anh hùng, mà còn muốn đạt đến mức độ yêu thương, tha thiết dâng trọn cuộc đời cho sự hy sinh.
Những tháng kế tiếp chị viết: "Nếu tôi biết có một thớ thịt trong trái tim tôi không chịu yêu mến Chúa, thì tôi sẽ rứt nó ra ngay." (Thánh Phanxicô đệ Salê)
"Tôi muốn mỗi ngày đổi mới sự hy sinh và không bao giờ làm theo ý riêng tôi" (ngày 7. 3. 1915)
"Tôi phải nắm vững, tất cả con người tôi đã được dâng hiến, nên dù chỉ trong một khoảnh khắc từ chối không chịu hiến dâng, thì đã là ăn cắp lại rồi."
Các điều dốc lòng:
1. Chế ngự liên miên
2. Tôi tớ mọi người vì tình yêu Chúa
3. Tự đối xử với mình như là số không, vui mừng và tạ ơn Chúa, nếu người khác cũng đối xử với mình như vậy. (ngày 6. 6. 1915)
Một tháng sau chị lại viết những lời tương tự như là câu trả lời của Chúa: "Con không thấy là Ta đó à? Ta đặt con trong lòng bàn tay và bảo vệ con như con ngươi trong mắt Ta."
"Hôm nay tôi lại muốn bắt đầu sống và dâng cho Chúa tất cả những gì liên quan đến tôi hoặc tôi gặp phải như là trên thế gian này không còn ai ngoài Chúa và tôi. Mỗi ngày tôi muốn chìm sâu và lắng xuống tận đáy tình yêu và sự quan phòng của Chúa, cho tới khi "cái tôi" bé nhỏ bị tan biến và quên lãng chỉ còn duy nhất một kẻ sống trong Chúa" (ngày 5. 9. 1915)
"Tôi muốn thấy Chúa trong tôi và tất cả hành vi là do Ngài sai khiến, còn tôi chỉ là chiếc áo bao phủ lấy Ngài. Tôi muốn học được tình liên đới của Ngài với Cha Ngài trên trời và nghe được cảm nghĩ, cảm giác và cảm tưởng của Ngài để tôi cũng có được như vậy." (ngày 10. 10. 1915)
Câu sau đây cũng rất tiêu biểu: "Tôi muốn uống cạn sự hèn hạ của tôi, đừng vì chúng mà tôi bị cản trở."
admin
18-06-2006, 12:54 PM
Hồi đó chiến tranh đang khốc liệt, lương thực thiếu thốn. Chị Blandine cũng bị khổ lây. Các học sinh - xôn xao và mệt mỏi - nên buộc cô giáo cũng phải kiên nhẫn nhiều hơn. Lắm khi vừa vào học, còi báo động đã hú vang. Cô cũng như trò vội chui vào hầm trú ẩn. Mọi người ngồi sát bên nhau, chật chội, chen chúc. Mấy em nhỏ tuổi la khóc. Thế rồi cũng tai qua nạn khỏi, sau đó lại về lớp như thường. Hay giữa trưa, cổng trường vừa khép lại sau khi học sinh ra về, còi báo động lại hú vang. Thế là cả lũ lại kéo nhau trở vào, kiên nhẫn ngồi chờ hồi còi tan báo động.
Cũng có nhiều lời khai của các nữ sinh cũng như nội trú thời đó về chị Blandine.
Điển hình như sau: "Dì Blandine không bất bình bao giờ, dì luôn nhẫn nại với chúng tôi, dẫu vậy thỉnh thoảng chúng tôi cũng trêu chọc dì".
"Tôi còn nhớ một hình ảnh luôn quân bình, vui vẻ và dịu dàng, đôi mắt trong sáng và có hồn. Dù tôi thuộc loại dữ tợn và to tiếng, nhưng dì ảnh hưởng tới tôi làm tôi cũng dịu dàng và trầm lặng hẳn ra. Đứng gần dì là tôi cũng im lặng suy tư. Dì phán đoán rất tài đến nỗi dì khuyên gì là tôi nghe ngay. Chúng tôi thường bảo nhau: 'Thật là một bà "sơ" thánh, luôn vui vẻ và nhẫn nại'. Dì khuyến khích chúng tôi chế ngự mọi khuyết điểm vì yêu Chúa. Dì nói: 'Không có gì đẹp hơn là chịu đau khổ vì Chúa Kitô'".
"Tôi biết dì Blandine rất rõ. Dì rất có oai và được tất cả chúng tôi kính trọng. Bao năm rồi tôi vẫn để tấm hình dì trên cái bàn giặt giũ của tôi, để tôi luôn thấy dì mà dì cũng luôn thấy tôi. Mỗi khi trong gia đình tôi có chuyện gì lo lắng là chúng tôi lại bảo nhau: 'Mình hãy khấn với dì Blandine đi!'".
Một nữ tu thuộc dòng Phanxicô ở Nonnenwerth cũng viết cho chúng tôi như sau: "Mùa thu năm 1914 tôi được gởi vào học lớp đệ Lục với các nữ tu dòng thánh nữ Ursula ở Trier. Tôi là đứa học trò mới duy nhất, nên ban đầu còn lạ lẫm. Trong giờ uống cà phê, ăn bánh (4) dì Blandine làm giám thị. Tôi thường chơi banh có một mình. Dì Blandine luôn mở miệng nói lời yêu thương và khích lệ những học trò mới vào nội trú, rồi dì còn có vẻ hiểu được cả tính tình của tôi. Hết cả mắc cỡ, tôi kể một mạch tất cả những gì mà tôi đã gặp trong trường cũng như trong nội trú cho dì nghe. Dì biết cách phá tan mọi lo âu nho nhỏ và xoa dịu mọi sóng gió nơi con tim bé nhỏ của tôi. Không bao giờ tôi đến gặp dì mà không được dì thông cảm trước khi bỏ đi. Sự niềm nở của dì làm tôi cũng vui lây. Sự đạo đức và vẻ trìu mến của dì làm cho tâm hồn non dại của tôi thêm phấn khởi. Dì Blandine là mẫu người lý tưởng mà tôi muốn noi theo. Vì thế tôi đã thổ lộ cho dì bí mật tuổi thơ của tôi là muốn dâng mình trọn vẹn cho Chúa. Dì không gạt đi nhưng tôn trọng, rồi cầm chặt tay tôi âu yếm dẫn đi. Tôi sẵn sàng để dì uốn nắn; những gì dì nói với tôi và khuyên tôi, tôi vẫn coi là thánh thiện. Tình thương mà tôi dành cho dì, dì lại quy hướng về Chúa, là Đấng duy nhất đáng được yêu thương.
Dĩ nhiên tôi để ý dò xét rất kỹ, nhưng lúc nào cũng thấy nơi dì vẻ an bình, sự trung tín, tốt lành, quân bình và vui vẻ. Dì đóng cửa hoặc mở cửa rất nhẹ nhàng; lời chào cũng như cách đi đứng phát tiết sự an bình nội tâm. Tôi thường nghĩ, không phải dì đi mà là bay nhẹ nhàng trên các bậc thang và lối đi. Không bao giờ có gì kỳ lạ nơi dì. Hai năm trong nhà Bantus cũng trôi qua, phút giã từ đã đến. Vì các phi vụ oanh tạc ban đêm mỗi ngày một gia tăng, nên cha mẹ tôi đưa tôi về Koeln nhưng cũng vẫn ở với các nữ tu dòng thánh nữ Ursula tại đó. Dì Blandine tặng tôi mẫu ảnh Trái tim Chúa, mà tôi vẫn còn giữ cho đến ngày nay. Trên mẫu ảnh có in hàng chữ: 'Hãy trở nên đứa con thánh thiện của Trái tim Chúa Giêsu'. Kỳ nghỉ Phục sinh năm 1918 cũng là lần cuối cùng tôi trở lại thăm dì Blandine. Dì nói với tôi lời cuối: 'Em hãy trung thành với Chúa'. Rồi dì còn muốn một điều, điều gì thì hồi đó tôi chưa hiểu rõ: trong những lá thư viết cho dì tôi nên tránh những gì là quá thân mật. Dì đã đứng trước cổng đời đời mà vẫn còn muốn từ bỏ cả những cái sau cùng của người đời dành cho."
"Mùa Thu năm 1916 dì Blandine là mẹ coi sóc phòng tôi, rất tiếc chỉ có 3 tuần. Do lòng tốt và nụ cười âu yếm của dì mà tôi đã mến và kính trọng dì ngay từ đầu - sau này - lúc dì nằm trên ghế dài phơi nắng ngoài sân, tôi được phép lại hay là dì cho gọi tôi lại gần dì đôi phút. Dì vẫn vui. Chỉ một vị thánh mới có thể đau khổ mà vẫn vui như thế. Rất tiếc lúc dì còn sống thì tôi còn quá nhỏ để hiểu được rằng được quen dì là một diễm phúc. Nhưng ngày nay tôi còn liên lạc thường xuyên hơn với dì. Không một ngày nào trôi qua mà tôi không tâm sự với dì, khấn xin với dì và có cản tưởng chắc chắn là dì vẫn bên tôi, khuyên tôi và trả lời tôi. Nếu nhớ lại tất cả những khốn khó của tôi trong thập niên vừa qua, thì tôi thấy tất cả đều được lèo lái cách tốt đẹp, dù không như lòng mong muốn và lời cầu xin lúc ban đầu, nhưng sau này mới rõ như vậy mới thực là tốt đẹp hơn. Tôi biết, dì không bao giờ bỏ tôi và dì vẫn nắm giữ vận mệnh chúng ta trong tay dì."
Mẹ Lucretia còn viết: "Từ tháng 5 năm 1912 tới tháng 9 năm 1914 tôi chung sống với chị Blandine trong nhà Bantus. Giản dị, đơn sơ chị an tâm, miệt mài đi trên con đường riêng của chị mà chẳng ai thèm để ý. Ở phòng chung có kê mấy dẫy bàn đối diện nhau. Khi chị lấy hoặc bỏ cái gì vào hộc bàn của chị, tôi vẫn để ý vì thấy trong năm cuối đời dung nhan chị mỗi ngày một thêm tiều tụy. Đôi má nhợt hẳn đi và hóp vào. Có lần tôi bảo: 'Chị Blandine à, khai bệnh đi kẻo trễ!' Chị mỉm cười âu yếm và trả lời qua ánh mắt thâm quầng: 'Em khai rồi đấy chứ!' Vắn tắt chỉ có thế, vì nếu nói dài hơn chị sẽ bị coi là lỗi luật thinh lặng. Đại khái tôi có thể quả quyết là suốt hai năm đó tôi không hề thấy chị phạm một lỗi nào, dù rất nhỏ. Tôi cũng mong chị đừng đóng kịch, để còn biết rõ con người đích thực của chị ra sao. Nhưng chị chẳng bao giờ làm tôi mãn nguyện. Chị là bông hoa nho nhỏ không tỳ ố làm vui lòng Trời cao." (ngày 14.9.1949)
Ý kiến của một nữ tu, sau này đã hồi tục, cũng viết rất tiêu biểu về tầm ảnh hưởng của chị Blandine: "Khi còn là một nữ tu trẻ, chị Blandine đã là một vị thánh trong mắt tôi, chị thánh thiện trong cách không kiêu kỳ của chị. Tôi vẫn còn thấy chị như trước mắt tôi với nụ cười tươi vui và âu yếm, nụ cười ấy có chút vẻ khích lệ và anh hùng vì chị cứ cười hoài; chắc không có ai sống trong tu viện mà có thể phủ nhận được là đôi lúc cũng có những giờ khắc khó khăn mà việc tươi cười mãi như thế không phải là chuyện dễ.
Đối với tôi chị Blandine là một nữ tu khiêm tốn mẫu mực lý tưởng, nhưng lúc nào cũng tươi vui, hạnh phúc. Chị chẳng cần phải nói lời nào, cung cách của chị mà thôi cũng đủ nhắc nhở tôi rồi, cũng đủ cứu tôi khỏi những lúc nhẹ dạ. Tôi vẫn nhớ, chị thường tinh nghịch giơ ngón tay nhắc khéo cho tôi, đối với tôi, như thế còn hiệu quả hơn là một bài giảng hay.
Sau khi qua đời, chị vẫn tiếp tục giúp tôi cách lạ lùng. Chị đúng là ơn lành cho cả nhà dòng, vì chắc chắn nhiều người cũng được chị nâng đỡ như thế.
admin
18-06-2006, 12:55 PM
Một nữ tu khác còn viết: "Qua cung cách và con người, qua đời sống nên gương, chị Blandine đã ảnh hưởng tích cực tới tâm hồn trẻ em. Tôi tin rằng, nếu ai lầm đường, chỉ cần thấy chị Blandine là cũng đủ trở về chính lộ, ít nhất là trong trường hợp của tôi. Tôi vẫn mơ một điều: Phải chi mình được như chị Blandine!"
Hồi đầu thế chiến ngôi nhà Bantus được dùng làm nơi nương ẩn cho những con em có cha phải ra chiến trường còn mẹ phải lo đi làm để nuôi sống cả gia đình. Lúc đó chị Blandine lại có dịp hy sinh dài dài.
Trong kỳ nghỉ hè chị đến với lũ trẻ mỗi ngày hai tiếng đồng hồ. Sau có người hỏi: "Dì không thấy việc ấy nặng nhọc sao?" Chị trả lời ngon lành: "Đau lưng lắm chứ, tưởng đã gẫy đôi ra rồi!". Công việc đó buộc chị đôi khi phải cúi xuống hằng giờ. Nhưng đâu ai hiểu, khi làm việc như thế chị đau đớn đến mức nào.
Một nữ tu cùng làm chung ở đó đã nói: "Chị xả thân làm hết những chuyện lôi thôi mà tụi nhóc không làm được". Quan niệm quá siêu nhiên của chị được sáng tỏ qua câu nói: "Không có gì đẹp hơn là được phục vụ Chúa Giêsu hài đồng nơi trẻ nhỏ."
Chúng ta có thể đoán được vô số những hy sinh to nhỏ mà chị đã chịu trong những năm đó do sự trường kỳ chiến đấu với bản tính tự nhiên. Không bao giờ thấy chị than vắn thở dài. Lúc nào cũng an nhiên, vui vẻ và sẵn sàng thi hành việc bác ái.
Có lẽ trong thời gian này chị bỗng cản thấy mình khô khan khi cầu nguyện. Chúng ta không có bằng chứng rõ rệt về giai đoạn đó, chỉ có những bằng chứng của giai đoạn sau này: "Khi Chúa muốn biết, chúng ta đi tìm sự an ủi của Ngài hay là đi tìm chính Ngài, thì cứ việc an tâm.- Ghét mình và từ bỏ mình mà không hề cảm thấy một chút nâng đỡ, che chở, ủi an từ phía Thiên chúa cũng như từ phiá loài người là chuyện khó, quá khó. Chỉ ơn Chúa mới có thể giúp được ta; ơn Chúa sẽ giúp ta khi ta đã cố gắng hết mình. Chỉ như thế linh hồn mới lọt vào được tình yêu tinh tuyền. Linh hồn mới nhận ra được sự hư không của chính mình, nhờ đó tự cao, tự ái, những cái nhìn vô ích hướng vào chính mình, sự nhạy cảm cũng tiêu tan..."
Chắc chắn Đấng cứu độ cũng đã ban ân sủng dồi dào cho vị hôn thê trung tín của Ngài. Vào những ngày Chúa nhật, rảnh rỗi hơn, chị thường quỳ bất động trong nhà nguyện. Nơi đây chị đã được an ủi rất nhiều, như những bài suy niệm của chị sau này cho ta biết.
Với tất cả sự dè dặt cố hữu, thỉnh thoảng chị cũng đến trình bày chuyện tâm hồn với một linh mục sáng suốt. Đó là chuyện cần làm, không có gì đáng ngạc nhiên. Mùa Hè năm 1916 cha Augustin Merk, thuộc dòng Tên, đến giảng phòng cho cả cộng đoàn. Chị viết cho người chị ruột là nữ tu Blanda vào ngày 21. 8. 1916 như sau:
"Thật là hạnh phúc biết bao, khi ta thỉnh thoảng có dịp trình bày với một người của Chúa như thế." Rồi chị còn nói với một chị khác: "Trong những ngày ấy Chúa đã xử quá tốt với em."
Đức cha Korum đã cho phép cộng đoàn St. Bantus được chầu lượt trước Mình thánh Chúa mỗi tháng một ngày trong suốt thời gian chiến tranh. Ngày 27. 8. 1916 chị đã viết cho chị Blanda như sau:
"Ngày mai chầu lượt, em mừng lắm. Ngày này Chúa có toàn quyền đến với chúng ta. Ở Trier chúng em được nuông chiều quá mức: mỗi tháng một ngày triều yết Chúa trong bí tích Thánh thể. Phải chi ta có được con tim của một vị thánh, để đền tội và để xin ơn tha thứ một phần nào. Thật là một yên ủi lớn lao, khi Ngài không cần đến lời cầu nguyện của chúng ta, chỉ do lòng nhân hậu của Ngài, chỉ cần đến con tim là đủ, tất cả giá trị đền tội và hoà giải đã được chính Ngài thể hiện bằng phương thế thần diệu và vô biên; phần chúng ta làm sao sử dụng và sinh lợi được kho tàng này một cách hữu hiệu và đúng mức là cả một nghệ thuật. Xin chị thứ lỗi cho những suy tư dài giòng từ con tim hôm nay trào ra; lúc đầu em chỉ muốn nói, chúng ta nên cám ơn đặc biệt mẹ bề trên là người đã xin Đức cha cho chúng ta được đặc ân này. Dĩ nhiên ngày mai em cũng sẽ nhớ tới chị."
Trước đó một năm chị Blandine đã linh cảm được rằng chắc mình chỉ còn sống khoảng vài năm. Ngày 28. 11. 1915 trong một lúc bình tâm chị viết: "Đã đến lúc tôi vươn lên cõi đời đời và khởi sự nơi trần thế những việc mà trên đó tôi sẽ làm mãi mãi."
Vào một buổi trưa giữa kỳ nghỉ hè năm 1916, khi các nữ tu khác còn đang nghỉ ngơi và đi dạo quanh quẩn trong sân trường, thì chị Blandine cùng một bầy trẻ em vào đây sống nương nhờ cũng vừa tắt ngang qua. Trông chị xanh xao quá, đến nỗi mẹ Constantia phải bảo chị hãy lo về nằm nghỉ. Ít lâu sau mùa học lại bắt đầu nhưng sức chị đã kiệt. Hai lá phổi bị nhiễm, bắt đầu sốt nặng, chị mắc bệnh trầm kha.
-----
(1) Nhóm xuất bản chuyện các thánh - chú thích của người chuyển ngữ
(2) Ta sẽ mạnh biết bao, nếu biết dồn nỗ lực vào một việc mà thôi! Chỉ nghĩ tới một chuyện, chỉ muốn một điều, tóm lại, chỉ làm một việc. Đó là bí mật của sức mạnh! Một phía là Thiên Chúa, đấng sáng tạo và là Chúa tể, là nguyên thủy và là cứu cánh duy nhất; một phía là con người, được tạo dựng để phụng sự Ngài trên trái đất và mai sau chiếm hữu Ngài trên trời; chung quy trong mọi sự: như việc làm, sức khoẻ, giàu sang, danh vọng, ngay cả sự sống, cũng như lúc bệnh tật, lúc nghèo đói, lúc tủi nhục và ngay cả khi chết ta hãy coi đó như là phương tiện, chúng chỉ có giá trị đích thực, khi có liên hệ tới đời sau, và cũng vì thế mà chúng trở thành vô nghĩa đối với ta. Đây là câu châm ngôn nổi tiếng đã trở thành "điều tâm niệm" của cha De Ravignan thuộc dòng Tên.
(3) Do câu:"nhân vô thập toàn" - chú thích của người chuyển ngữ
(4) Giữa giờ cơm trưa và giờ cơm chiều - chú thích của người chuyển ngữ
admin
18-06-2006, 12:57 PM
3. Cơn bệnh cuối cùng và qua đời
(từ tháng 9. 1916 tới tháng 5. 1918)
"Người yêu tôi là của tôi, và tôi là của người"
Nhã ca 6,2
Vào năm 1912 ngôi nhà cổ kính kế nguyện đường được tu sửa hoàn toàn và được nới rộng ra để làm dưỡng viện cho những nữ tu đau yếu, gọi là nhà Marien (-haus). Trong giờ giải lao chúng tôi thường leo qua khu nhà mới để xem đã sửa được tới đâu. Hồi đó đâu có ai ngờ, chị Blandine đã phải vội bỏ đó mà vào phòng bệnh đồng thời cũng là phòng sau này chị sẽ qua đời.
Ở nhà Marien (-haus) chị Blandine được ở một phòng, mà đối với thâm tâm chị lại là phòng sang trọng nhất, vì nằm kế gian cung thánh của nguyện đường, chỉ cách nơi thánh có một bức tường.
Lần đầu tiên, khi bước chân vào phòng, chị đã vui mừng reo lên: "Có Chúa và tôi!" Nơi đây chị đã sống một năm rưỡi sau cùng của đời chị với Đức lang quân của lòng mình với một mối tình tha thiết! Nơi đây chị đã có dịp tập thêm những nhân đức thầm kín, đích thực và anh hùng.
Khi những chị em khác đến thăm và hỏi xem chị thấy thế nào, thì chị luôn sáng mắt trả lời: "Tốt! theo ý Chúa!" Trên môi không một lời ca thán. Hồi mới bệnh chị chỉ được rước lễ một tuần có ba lần, chị cũng không hề kêu ca. Thân xác rất đau đớn. Vì bộ phổi bị hư nên buộc chị ngày đêm phải nằm ngửa, thêm vào đó còn biết bao nhiêu đau đớn khác luôn luôn hành hạ chị.
Chị phụ tránh phòng bệnh còn cho biết thêm: "Sự từ bỏ và vâng lời của chị Blandine làm tôi khâm phục. Chị y tá không bao giờ đến quá sớm hoặc quá trễ, luôn luôn đúng giờ. Hồi đó còn rất nhiều bệnh nhân khác cần phải được chăm sóc. Thế mà đôi khi máy bay lại đến bỏ bom thành phố trước 8 giờ sáng. Những ngày đó chị Blandine thường nói: 'Chị cứ lo cho các chị khác đi, em chờ đến cuối được mà'. Đến khi chị y tá bước vào phòng, chị còn hỏi lại: 'Đã xong hết chưa? Em không muốn có người vì em mà phải chờ!' Biết bao nhân đức tiềm tàng trong một sự hài lòng triền miên như thế!
Thực sự tôi không hề biết gì về đời sống nội tâm của chị Blandine, cho tới ngày chị bệnh. Chị rất dè dặt. Mùa Thu năm 1916 khi chị đã vào phòng bệnh, có một buổi chiều đáng nhớ đối với tôi. Hôm đó mẹ bề trên đi xa. Tôi gặp đủ thứ chuyện nên đem nói toang ra với chị. Buổi chiều hôm ấy là lần đầu tiên tôi được phép nhìn thấu linh hồn xinh tươi của chị. Tôi bỏ ra mà lòng xúc động. Sau đó tôi vẫn muốn biết thêm, nên lại tìm đến chị, nhưng chị từ chối.
Ít lâu sau chị tiết lộ cho tôi biết là giáo sư tiến sĩ Bares - cha giải tội của chúng tôi hồi đó - đã cho phép chị trả lời những câu hỏi của tôi, và từ đó cũng chính là thời kỳ ân sủng dồi dào đối với tôi. Ít khi khi tôi dám mở cửa phòng chị. Có thể nói, tôi có cảm tưởng như lọt vào một thế giới khác. Câu chuyện giữa chúng tôi có thể gọi là: Linh hồn đối thoại với nhau!, nhưng nhiều khi cũng dỡn như những trẻ em yêu đời. Có khi tôi kể cho chị nghe cả những chuyện vui thí dụ như là chuyện đánh nhau hồi còn nhỏ, để được nghe tiếng chị cười vang. Tôi chẳng nhớ là chị có lo lắng và bất ổn gì về tương lai hay không.
Thời gian đầu có lần chúng tôi nói chuyện về đề tài "sống vì yêu". Tôi xin chị viết cho tôi vài giòng. Tôi cũng nhận được một tờ giấy có ghi rất nhiều điểm. Có lẽ đề tài kinh nguyện và yêu đối với chị còn dễ dàng hơn nhiều. Nhưng chị vẫn ghi mấy điểm cho tôi trên tờ giấy ấy là vì chị chỉ muốn làm vui lòng tôi thôi. Một vài tư tưởng được ghi trong đó như sau:
"Sống vì yêu"
Làm vui con tim Ngài. Chỉ tình yêu mới kết hợp được với Ngài. Scheeben viết trong cuốn "Vinh quang của ân sủng Chúa" như sau: "Như sự chiêm ngưỡng Chúa là việc cao quý nhất của các linh hồn trên thiên đàng thì yêu mến Chúa cũng là việc quan trọng nhất và cao quý nhất của những tâm hồn được chúc phúc trên trần thế." và hơn nữa: "Sống vì yêu thì dễ hơn là nói được yêu là gì."
Sống vì yêu là gì?
Luôn yêu Chúa, tạ ơn Ngài lúc an vui cũng như khi đau khổ, lúc được an ủi cũng như khi gặp tăm tối... đặt nền tảng nơi Chúa.
Chỉ muốn cái Ngài muốn và ao ước thánh ý Ngài được thể hiện nơi ta cũng như quanh ta.
Lấy tất cả sự hèn hạ của mình làm cái thang tình yêu bắc lên Trái tim Chúa:
Không kể: a) khi hy sinh cũng như khi biểu lộ tình yêu. b) tội riêng cũng không kể: tình yêu không bao giờ phạm tội, kể cả khi vấp ngã vì quá hấp tấp mà không biết, vì như thế là đã được tha thứ rồi; vì tình yêu là ngọn lửa thiêu rụi, sẽ chẳng dung tha một thứ bợn nhơ nào. Tình yêu biết được lời thống hối có thành tâm và sâu đậm hay không. Tình yêu cũng biết Đấng cứu độ sẽ nhanh chân đến trước với bình an của Ngài, để tình yêu chỉ còn biết mau mau yên mến và làm vui lòng Ngài.
Phải là lời 'xin vâng' trường kỳ đối với những việc do Ngài quan phòng..."
Có lần đến thăm, không phải tôi chỉ gặp có chị Blandine mà cả mẹ Rosa cũng đang ngồi bên giường và đọc cho chị nghe một đoạn sách vui vui. Mẹ Rosa đưa sách cho tôi và bảo: "Chị đọc tiếp đi!" Mẹ chưa ra khỏi phòng tôi đã dẹp cuốn sách ấy đi, rồi cả hai cùng cười phì. Tôi chẳng bao giò nghĩ tới chuyện đọc sách chọ chị nghe, vì thấy còn nhiều chuyện hay hơn cần phải làm. Sau khi chị Blandine đã chết mẹ Rosa mới nói với tôi: "Ôi, tôi ngu quá! Tôi cứ tưởng phải đọc cái gì vui vui cho chị ấy nghe, nào ngờ còn phải học nơi chị biết bao nhiêu điều nữa."
Cả tháng trời tôi vẫn đến thăm, nhưng sau đó lại tự kiềm chế suốt một thời gian dài. Rồi tôi nghĩ ra cách làm một cuốn sổ, kẹp bút chì vào đó, gởi cho chị và xin chị viết vào đó cho tôi một ít. Nhờ thế mà thành hình những bức thư nho nhỏ, phản ảnh tình trạng tâm hồn chị lúc đó như sau:
"Ôi, linh hồn được ưu đãi, nhà chầu của Đấng chí tôn và là nơi tin cậy dành cho cuộc sống riêng tư của tình yêu vĩnh cửu! Bạn có thể làm gì hơn là yêu và làm cho cái nhỏ bé hư vô của bạn tan biến trong cõi vô biên của Ngài..."
admin
18-06-2006, 12:58 PM
Nữ tu Blanda, lúc đó đang làm y tá ở Saarbruecken, cũng lo lắng cho đứa em mà chị vẫn săn sóc như một người mẹ. Chị cứ xin được báo cáo rõ ràng về tình trạng sức khoẻ và cầu mong với tư cách y tá được góp ý và chăm sóc cho em mình. Để chị an lòng, nữ tu Blandine đã kể đầy đủ về bệnh trạng của mình trong một lá thư hồi âm, điều mà chị thường không bao giờ làm. Chúng tôi xin đăng lại những bức thư đó vì chúng nói lên cách chế ngự đơn sơ của tâm hồn chị, đồng thời cũng cho biết tiến trình của cơn bệnh:
Tháng 10. 1916: "Vội cầm bút chì hồi âm lá thư hôm qua đầy ắp những lo âu của chị. Tới nay vẫn chưa có gì là đáng sợ. Em liệt giường 5 tuần nay, nhưng ít khi bị sốt, chỉ đau thôi. Chị cũng quá biết em muốn ra ngoài đến cỡ nào, nếu mà ông bác sĩ khó tính chịu nương tay một chút. Nếu sau 8 ngày không bị sốt, em sẽ được phép chỗi dậy, hiện thời thì chưa hy vọng gì lắm. Khi có gì đáng lo, em sẽ xin mẹ bề trên báo cho chị hay. Thôi, chị đừng sợ gì nữa, cả khi có người nói với chị hàng trăm lần là em đang sốt trên giường. Một tuần em được rước Chúa 3 lần, Mẹ bề trên đã cho chuyển phòng của tụi em xuống sát nhà nguyện. Chị cũng thừa hiểu, có "ông" hàng xóm như thế thì em còn thiếu gì nữa. Khi em có thánh giá là lập tức người ta đã lo cho em quá nhiều và làm nhẹ đi quá sức."
29. 11. 1916: Hôm Chúa nhật mẹ Angelika nhân lành đã tha thiết khuyên em viết thư cho chị, nên em phải làm ngay. Em biết thừa là hôm nay chị muốn biết mọi sự để được an tâm chứ gì. Dần dần thấy khá hơn. Hai lá phổi bị yếu, lá bên phải tái phát như cũ, lá bên trái trước đây vẫn tốt, nay lại bị lây tới xương lồng ngực. Bác sĩ bảo như thế thì không còn là giai đoạn một nữa. Bây giờ thì chị đã hiểu tại sao mà em phải nằm lâu như thế: hôm nay bắt đầu tuần thứ mười (1) . Tới nay cứ một tuần bị sốt, một tuần bị nóng, rồi lại bị sốt, cứ thế... Thỉnh thoảng cũng được mấy ngày không sốt. Tám ngày không sốt mà bác sĩ đòi hỏi em chưa đạt được, nhưng có lẽ bây giờ thì được; vì hiện nay thấy khá, dù đe doạ bị bỏ bom. Em nằm dưới hầm, các chị y tá chăm sóc chu đáo, nên chẳng còn gì phải lo. Đôi lúc em cứ tưởng mình đã lên tới trời; nhưng sự nhàn rỗi bây giờ cho em thấy rõ những cái không thuộc về trời, đó là một môi trường làm việc mới và bao la vừa ló dạng. Sau thời kỳ đơn côi như thế này chắc chắn một cuộc đời mới sẽ theo sau.
Mẹ bề trên yêu quý chăm sóc bên giường với bao an ủi tinh thần làm em cứ nghĩ: 'Nếu mình hoàn toàn trở nên dụng cụ trong tay Chúa để giúp người khác và làm vui lòng họ, thì đúng là vĩ đại!' Điều em phải cám ơn mẹ bề trên, chỉ có Chúa và em biết, vì chỉ có mình Ngài biết được mà thôi. Nhờ những chăm sóc của mẹ mà em có đủ nghị lực và can đảm tinh thần. Em có hai chị y tá rất dễ thương và tận tụy.
21. 12. 1916: Tạ ơn Chúa, hôm nay em báo cho chị một tin vui. Vào ngày Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng em đã chỗi dậy được một giờ đầu tiên, rồi cứ thế tăng lên, cả tuần nay từ 9g30 tới 13g và từ 15g tới 17g. Em tập đi lại trong nhà Marien (-haus), dĩ nhiên là còn phải nằm trên ghế. Hôm qua em đã xin chị coi phòng bệnh cho em vào dịp Giáng sinh được đi lễ một lần trong nguyện đường chính. Hãy nghĩ tới niềm vui của em đi! Hãy vui với em đi và hãy tạ ơn vị Vua của cõi lòng đã giúp em nhãn tiền như thế. Chị thân mến, em thành tâm kính chúc chị một đại lễ dồi dào ân sủng và cũng nguyện xin cho chị dư đầy ơn an bình từ hang đá của Vua hoà bình, thứ an bình mà theo lời thánh Tông đồ "vượt trên mọi hiểu biết" của con người. Xin thứ an bình này cũng theo chị trong năm mới và bảo đảm cho chị sự an vui, phúc đức nhờ quyền năng Thiên Chúa, dù mọi đổi thay, đau buồn có thể tới. Hôm nay em ra với cộng đoàn khoảng 15 phút trong giờ giải lao ban trưa; lần đầu ra ngoài trời; khi thời tiết cho phép, em sẽ làm thế mỗi ngày..."
3. 1. 1917: (viết cho người chị có gia đình)
Suýt nữa là em về trời; nhưng cỏ dại thì ai cũng biết là khó chết, vì thế Chúa lại ban cho em một thời khá hơn. Chị yêu mến! Mẹ bề trên nhân lành xin chị viết rõ ràng và mời chị đến đây, vì hiện nay tiến triển đã khá hơn. Dẫu vậy chúng em vẫn muốn phòng xa và xin chị vui lòng cho biết rõ hơn về vấn đề này (2) trong lần thăm tới. Em cầu nguyện cho mọi người, vì lúc này em có rất nhiều giờ. Em chưa được rời phòng bệnh, nhưng mỗi ngày em cố gắng chỗi dậy vài tiếng đồng hồ..."
28. 3. 1917: (lại viết cho chị Blanda)
Chị có thích tấm hình cũ kỹ ấy không? Em vẫn giữ nó từ thời mới khấn còn tươi đẹp ở Saarbruecken (3) . Lá thư âu yếm của chị làm em rất vui. Thành thật cám ơn chị. Trước khi nhận được những giòng yêu thương của chị, mẹ bề trên đã nhắc em đến lúc phải báo tin cho chị. Mẹ bề trên có bao nhiêu lo âu, khốn khó trong thời buổi khó khăn này mà vẫn nhớ và nhắc nhở như thế, không phải là quá tận tình hay sao!
Chị - bà mẹ coi phòng bệnh chuyên nghiệp - yêu dấu! Chị muốn biết rõ bệnh trạng của en phải không! Từ đầu tháng Giêng tới nay dần dần khá ra. Chỉ ho rất nhiều. Bác sĩ đoán là sưng cuống phổi. Vì mấy tuần qua nhiệt độ tăng thêm, nên lúc thở hoặc ho thì cạnh sườn lại đau, đã khám lại chỗ đau rất kỹ, bây giờ mới biết cả phần dưới lá phổi đình công. Bác sĩ hy vọng tình trạng này sẽ dứt, nhưng ông lại tăng cường biện pháp: phải nằm yên trong giường, cho tới khi nào 3 tuần liền không thấy sốt nữa, nên em chưa dám nghĩ tới chuyện ra tắm nắng.
Bây giờ lại phải bắt đầu từ đầu và thầm nghĩ: " Cứ như Chúa xếp đặt là hay nhất!"
Lúc này em đã hiểu một chút về công việc của chị, vì 6 tháng nay em là khách thường trực của nhà thương.
Em chúc chị dịp Phục sinh sắp tới được dồi dào ân sủng trong tương quan sâu xa, mật thiết với Đấng cứu độ, là Đấng được Phúc âm kể lại qua những cử chỉ đáng yêu đồng thời cũng là Đấng sẽ ban cho nhiều hoa trái thơm ngon.
Luôn hiệp nhất với chị trong Trái tim Chúa.
Em của chị, Blandine"
admin
18-06-2006, 01:00 PM
4. 7. 1917: Em mới biết ngày mai có người đi Saarbruecken. Xin thứ lỗi cho những giòng chữ ngoằn ngoèo của em. Không tài nào ngủ được, cho tới khi ít nhất phải viết cho xong lá thư nho nhỏ cỡ coi cho được này. Chân thành cám ơn lá thư trìu mến của chị. Có lẽ chẳng ai là người hiểu hơn em, thế nào là nằm nhà thương, trong khi bom cứ nổ ầm ầm và tàn phá chung quanh. Nên em cũng cảm thông chân thành với chị và với những bệnh nhân của chị.
Hy vọng lần này là lần cuối. Từ những ngày đầu tháng 6 tới nay thấy êm êm. Không biết còn kéo dài được bao lâu!
Chị muốn hỏi tới sự tiến triển của em! Có, em vẫn tiến triển, nhưng chậm -liệu có tiến triển mãi không, em hồ nghi - Em lại bắt đầu ho dữ dội như hồi trước Giáng sinh. Hôm Chúa nhật là lần đầu tiên em đi lễ ở nhà nguyện lớn, còn bình thường thì tuần hai lần đi lễ ở nhà nguyện nhỏ Bantus rồi rước lễ, cũng thấy dễ chịu. Em có ý định táo bạo là dự cả cấm phòng. Chị Severina thắc mắc là không biết rồi đây có chán em không, và gởi lời thăm chị. Trong 14 ngày vừa qua em lên được 1 cân (4). Bây giờ em nặng 103 cân. Trước đây hai năm em cũng nặng bằng đó. Hài lòng chưa?
Dịp lễ Hiện xuống em chúc chị tràn đầy Chúa Thánh Thần và 7 ơn của Ngài, để Ngài giúp chị như lời thánh Tông đồ 'cùng với tất cả thần thánh mà hiểu thấu đâu là chiều dài, chiều rộng, chiều cao, chiều sâu của tình yêu và để chị ăn rễ sâu và đặt nền tảng trong tình yêu'. Cũng hãy nhớ khẩn khoản xin ơn đó cho em! Có đúng thế không, chị Blanda yêu dấu? Chị thấy đó, em chỉ còn biết có Kinh thánh, nhưng chị cũng nên biết, 'cuốn Kinh thánh nhỏ' là cuốn sách duy nhất hiện nay em còn đọc".
Trong những tháng Hè chị Blandine cũng chỗi dậy được. Khi đẹp trời, chị nằm dài trên ghế ngoài sân. Bấy giờ tôi lại được phép đến thăm chị. Có lần tôi đề cập tới đời sống của thánh Têrêxa thành Avila. Tôi hỏi: Chị có được đặc ân cầu nguyện như cuộc đời vị thánh này không? Chị trả lời có. Chị còn đọc cả cuộc đời thánh Catarina thành Siena. Về vị thánh này chị nói rất hăng say.
Đôi lúc tôi cũng dắt chị đi dạo một chút. Trước phòng ủi đồ có một cái sân phơi nho nhỏ, vào những ngày đẹp trời chúng tôi thường đi dạo loanh quanh ở đó. Chúng tôi bàn về Chúa Thánh Thần. Cuối cùng tôi thật thà hỏi chị: "Thế chị chỉ thi hành theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần thôi sao?" Tới bây giờ tôi vẫn còn thấy vị trí trước một bức tường, nơi chị đã trả lời đơn giản bằng một chữ "vâng!" Chữ "vâng" ngắn ngủi ấy đã tóm tắt tất cả và hàm chứa biết bao nhiêu anh hùng!
Cuối một bài nguyện ngắm có đoạn như sau: "Sẽ khó hơn, nếu không từ chối một chút ân sủng nào, thứ ân sủng luôn đòi hỏi những gì quý giá nhất. Sự đơn côi nội tâm là điều kiện tốt nhất để luôn đạt được lẽ phải. Vì một con tim cầm trí thì luôn ở bên Chúa, sẽ hiểu được cả những tiếng thỏ thẻ của tình yêu Ngài".
Chị Blandine biết khích lệ và an ủi người khác. Quên mình hoàn toàn và chỉ sống cho người khác. Chẳng bao giờ chị nói về đau khổ của chính mình. Lúc nào cũng vui tươi, an phận, ngoài ra không thấy gì khác hơn.
Có lần chị thấy cần phải nghiêm nghị với tôi. Tôi vừa cãi nhau với một chị khác. Chị này lại càng khiêu khích, khi thấy tôi giữ vững lập trường. Tôi đem kể lại với chị Blandine rồi kết luận bằng câu: "Lần sau em sẽ làm thế này, thế nọ". Chị bỗng nghiêm nghị và gằn tiếng: "Nếu thế, thì chị chỉ cư xử theo tính tự nhiên. Phải sẵn sàng như một miếng dẻ, để người ta quăng từ góc phòng này sang góc phòng khác".
Một ngày nọ có tin "mẹ Aloysia sẽ về kinh lý". Chị Blandine rất mừng, chị nói với tôi: "Đây là lần chót đối với em!"
Mẹ Aloysia đến nơi, chào tất cả rồi bắt đầu kinh lý. Được vài ngày là bị ngã bệnh, mẹ phải ở luôn trong phòng. Dù thế, hầu hết các chị em đều được đến gặp mẹ. Sau đó ít ngày mẹ về mất, chẳng kinh lý cho xong.
Sau ngày ấy, khi vào thăm chị Blandine, tôi hăng hái kể lại cho chị nghe về chuyện mẹ Aloysia. Rồi hỏi: "Chị thì sao? Cũng hài lòng chứ?" Sau một hồi lưỡng lự, chị trả lời: "Mẹ đâu có vào thăm em!"
Đức cha Bares cứ nhớ hoài sự hy sinh cao cả đó của chị Blandine. Ngày 11. 4. 1933 ngài có viết cho tôi như sau: "Như là sự xếp đặt nhiệm mầu của Chúa để thử thách nhân đức của chị Blandine và để nâng cao công phúc của chị lên. Ngoài ra, khó có thể hiểu khác được".
Ai quen mẹ Aloysia thì biết mẹ quả thực là mẹ của bệnh nhân. Chắc chắn sự kiện đó đối với mẹ cũng là một sự hy sinh. Hơn nữa mẹ vốn coi trọng chị Blandine. Sau này tôi có gởi cho mẹ một ít bản sao những tập lưu bút của chị Blandine. Mẹ đã trả lời như sau: "Tôi rất mừng, vì chị đã gởi cho tôi!" Rồi thêm: "Đúng là món khai vị của nước trời".
Bác sĩ của chúng tôi thời đó, Dr. Reis, đã cố gắng hết sức để chữa trị cho chị Blandine. Ông nói nếu đến Lippspringe dưỡng bệnh, chị sẽ khỏi. Mẹ Aloysia liền chấp thuận ngay.
Nhưng chị Blandine nói với tôi: "Em không tin là cần phải dưỡng bệnh. Em đã viết thư cho mẹ Aloysia để trình bày lý do". - "Sao lại không?" tôi hỏi lại. -"Hôm vĩnh thệ - ngày 4. 11. 1913 - em đã hiến thân cho Chúa, em biết chắc Ngài đã nhận lời em".
Chị còn nói với một chị bệnh khác, chị này lại ao ước được đi dưỡng bệnh ở Lippspringe, như sau: "Xài tiền vô ích là lỗi đức khó nghèo, em biết thừa có đi, cũng chẳng ăn thua gì đâu".
admin
18-06-2006, 01:00 PM
Trong cuộc họp giữa các mẹ bề trên mẹ Aloysia đẽ đem đọc một lá thư của chị Blandine rồi chú thích: "Đó là bức thư của một nữ tu hoàn hảo".
Bắt đầu kỳ nghỉ mùa Thu năm 1917 chị Blandine đến xin mẹ bề trên để được phép nói chuyện với tôi mỗi tuần hai lần. Tôi không hề biết gì về chuyện đó, nhưng khi biết được thì vừa mừng vừa ngạc nhiên.
Tôi nói: "Nếu mỗi lần đến thăm mà được chị viết cho một bài nguyện ngắm ngăn ngắn thì hay biết mấy". Chị bằng lòng ngay nhưng hỏi lại: "Viết gì mới được chứ? - "Trước hết xin chị viết về đề tài 'không còn là tôi sống, nhưng là Chúa sống trong tôi!'" Khi đọc bài nguyện ngắm ấy, tôi không khỏi kinh ngạc. Lúc bấy giờ tôi mới mường tượng được một chút về sự kết hợp thâm sâu của chị với Đấng cứu độ. Những cái hay chị chẳng bao giờ viết ra. Không thể nói là chị đã viết dựa theo một cuốn sách nào, vì cả thư viện của chị lúc bấy giờ chỉ còn có cuốn Tân ước như chị đã viết trong thư gởi cho chị Blanda. Chị suy niệm Phúc âm thánh Gioan và đọc say mê các thư của thánh Phaolô, nhưng vào những tháng cuối đời chị lại đọc cuốn Khải huyền.
Rất tiếc khi đọc xong bài nguyện ngắm đó tôi đã e dè thốt lên: "Cao quá đối với em!" Chị lại cắt hết những bài nguyện ngắm khác trong cuốn sổ rồi đưa cho tôi. Bài thừ hai nhan đề: "Trái tim rộng lớn".
Đúng thế, trong ngôi trường của Đấng cứu độ trái tim chị đã rộng thêm ra. Bao trùm cả thế giới. Hồi còn dạy học trên miền rừng núi chị mơ ước thành nhà truyền giáo, bây giờ chị đã trở thành nhà truyền giáo đích thực bằng cầu nguyện và hy sinh.
Bài nguyện ngắm thứ hai này chỉ còn sót lại có một đoạn ngắn như sau: "Qua hoạt động của Ngài, Ngài ban ánh sáng cho tâm hồn. Được phục sức để can đảm mới và hy sinh mới tâm hồn sẽ hiến dâng trọn vẹn hơn, sẽ tìm kiếm quyết liệt hơn và hoàn hảo hơn những điều ích lợi cho Chúa mình. Những báu vật của con tim Thiên chúa là các linh hồn đã xúc phạm tới tâm hồn. Tâm hồn hết chịu nổi và không nghĩ được là có quá nhiều linh hồn phải hư đi. Vì thế tất cả hy sinh, tất cả đau khổ và tất cả kinh nguyện của tâm hồn sẽ mang lại lợi ích cho các linh hồn. Hoàn toàn có lý, khi tâm hồn dùng lời một vị thánh của thời đại chúng ta mà làm lời của chính mình: 'Con cháy đêm ngày, khao khát tình yêu. Lạy Chúa Giêsu, nhớ cho nhé!'"
Bây giờ tôi cẩn thận hơn và biết cách để chị Blandine khỏi huỷ mất những gì chị viết ra.
Một bài nguyện ngắm khác như sau: "Làm sao để xâm nhập cho nhanh vào thâm cung của Trái tim Chúa và vĩnh cư trong đó?" Cuối bài chị viết: "Bây giờ chúng ta cũng ao ước có nơi cư ngụ và chắp mối giây liên lạc hỗ tương giữa chúng ta trong Ngài, để có được nơi đó mỗi ngày một cuộc hẹn hò của chúng ta. Vạn tuế Chúa Giêsu, vạn tuế Trái tim huyền nhiệm Chúa Giêsu!"
Mãi sau này tôi vẫn còn nhớ mồn một những lời trên đây. Ngày chị qua đời - ngày 18. 5. - luôn là ngày lễ trọng đối với tôi. Năm 1928 tôi khấn với chị như sau: chị mất vừa tròn 10 năm, vì thế năm nay em mong được một ơn gì đặc biệt một chút. Quả thật chị Blandine đã nhận lời tôi bằng một cách thế mà tôi chẳng bao giờ nghĩ tới.
Mùa Thu năm ấy chị Blandine rất ao ước được cấm phòng lần cuối với cộng đoàn chúng tôi. Được phép. Ngồi trong ghế bành, chị tham dự tất cả các giờ giảng phòng. Chị chỉ ghi lại có một câu duy nhất như sau: "Chúng ta hãy yêu mến Chúa bằng tình yêu hoàn hảo, vì trên thế gian này Ngài được rất ít người yêu mến bằng thứ tình yêu hoàn hảo đó".(Cha Rhabanus OSB)
Như kết quả của lần cấm phòng này chị đã viết cho tôi bài nguyện ngắm: "Tất cả đều là nước Trời dành cho tôi!"
Nổi bật nhất là những đoạn sau đây: "Rõ ràng là chúng không nói được thứ ngôn ngữ này, khi bản tính và giác quan chưa tùng phục tâm linh. Vì thế phải huỷ mình cả trong những việc nhỏ nhặt nhất. Hủy mình liên miên!"
Nhìn lại những năm phấn đấu và giao tranh trường kỳ để chống lại ý riêng, ngày nay trên giường bệnh chị Blandine đã gặt hái được biết bao hoa quả của những cam go ngày xưa. Tập nhân đức đã trở thành quá dễ đến độ chị thốt lên: "Mọi sự đều là nước Trời dành cho tôi!" và tất cả những gì chị viết đều toát ra: tình yêu, vui tươi và an bình!
Bài nguyện ngắm sâu xa ấy chị đã chép thành 3 bản: một bản tặng chị Erika, một đồng bạn thời nhà tập ngày xưa, hiện nay đang nắm giữ chức vụ quản lý nặng nề mà lại hay đau yếu. Rồi nếu tôi không lầm, một bản tặng chị Blanda.
Ta có thể đặt đầu đề cho bài nguyện ngắm đó như sau: Tinh thần của chị Blandine. Đặc tính nào có thể tiêu biểu cho đời sống thánh thiện của chị?
Ban đầu tôi thấy tinh thần khiêm tốn của chị là tiêu biểu hơn cả, nhưng Đức cha Bares lại nhấn mạnh đến lòng yêu mến thánh giá. Bây giờ mới rõ, phải là sự thăng hoa toàn diện trong thánh ý Chúa mới là đúng.
Một cha dòng nói với tôi: "Trước khi vào dòng chị Blandine đã là người hoàn hảo". Mức độ hoàn hảo ấy không phải là do sự hiến thân trọn vẹn cho thánh ý Chúa hay sao?
Trong cuốn sách cuộc đời thánh Johanna Franziska von Chantal thành Bougaud có đoạn như sau: "Đây là cao điểm của hoàn hảo: linh hồn không lên cao hơn được nữa. 'Cái tôi' biến mất, ý riêng bị huỷ diệt, hay nói đúng hơn là thăng hoa hoàn toàn trong ý Chúa. Linh hồn nhìn đi đâu cũng chỉ thấy Chúa, không thấy khôn ngoan, quyền năng và đức độ của chính mình. Linh hồn chỉ nhằm ý Chúa. Linh hồn muốn tất cả những gì Sư phụ mình muốn, dù là trời hay đất, dù là sống hay chết, dù là sốt sắng hay khô khan, dù là đơn côi hay xuất thần, dù là nghỉ ngơi hay làm việc. Nếu linh hồn có thể nghĩ ra một tư tưởng bình an, ngọt ngào thì tư tưởng đó sẽ là: 'Fiat voluntas tua!' (5) Cha ơi! Chúa ơi! Thày ơi! Bạn ơi! Tân lang ơi (6)! Chỉ xin cho một mình thánh ý Ngài được thể hiện lúc này và mãi mãi!"
-----
(1) Từ 20. 9. chị bắt đầu liệt giường
(2) Ám chỉ cái chết của chị
(3) Trên có vẽ hình tu viện tại Saarbruecken
(4) Dịch từ chữ Pfund; 1 Pfund = 500 gram - chú thích của người chuyển ngữ
(5) Nghĩa là: xin cho thánh ý Chúa được vẹn tròn - chú thích của người chuyển ngữ
(6) Ngày trước, các nữ tu thường được coi là hiền thê của Đức Kitô - chú thích của người chuyển ngữ
admin
18-06-2006, 01:03 PM
Chị Blandine có rất nhiều lúc đơn côi ban ngày và nhiều giờ mất ngủ ban đêm, nên chị đã vào học trong trường của Đấng cứu độ qua bí tích Thánh thể, vì nằm sát nhà chầu chỉ cách có một bức tường mà thôi.
Trong một bài nguyện ngắm chị viết: "Nếu chúng ta biết cách thức hỏi và hiểu được Trái tim Chúa thì chúng ta sẽ thấy chẳng còn thiếu gì nữa, vì nơi đó đã có mọi sự. Tâm hồn đã được hiến dâng cho Chúa sẽ suy niệm về những đức tính trong bí tích Thánh thể và tìn cách noi theo: sự im lặng lạ lùng, sự nghèo nàn quá mức, đức vâng lời, lòng yên thương và cả vinh phúc của Trái tim Chúa trong nhà chầu.
Trong đó linh hồn cũng muốn được như Trái tim Chúa. Vinh phúc của Chúa Giêsu Thánh thể là được kết hợp với Thiên Chúa, Cha Ngài. Không gì có thể phá rối hay làm giảm sút được sự kết hợp đó, ngay cả những xúc phạm thô bỉ nhất, phiền hà nhất. Người nữ tỳ của Trái tim Chúa Giêsu tìm thấy vinh phúc cao cả nhất của mình trong việc hợp nhất với Ngài. Ngày ngày Ngài muốn đồng bàn với nàng, để tình hợp nhất thêm đậm đà. Ai tìm được lời thích hợp hơn để diễn tả hay là chỉ để suy tư thôi về hạnh phúc của tâm hồn: 'Ngài ở trong nàng', nàng biết và cũng cảm thấy thế. Ngài xâm nhập và phục hồi cả con người nàng còn hơn cả chính nàng. Còn vinh phúc nào hơn cho trái tim loài người nữa không! Và tâm hồn, bị tan biến trong sự chiêm ngưỡng tôn nhan Chúa, đức lang quân của lòng mình, sẽ quên tất cả, nàng chỉ còn biết có Ngài. Đau khổ của Ngài làm cho nàng đau khổ. Niềm vui và thành công của Ngài làm cho nàng hạnh phúc, ước mơ của Ngài sẽ đong đầy nàng, vì vinh danh Ngài mà nàng tận tụy, phần rỗi các linh hồn là điều nàng khao khát. Như thế nàng đã thăng hoa toàn diện trong Trái tim Chúa như lời Ngài nói với thánh nữ Catarina thành Siena: 'Hãy vác gánh nặng cho ta, rồi ta sẽ vác cho con!'
Ôi Trái tim Chúa trong bí tích Thánh thể, hãy giúp tất cả chúng con sống được như thế và làm vui lòng Chúa, điều mà Chúa có toàn quyền đòi hỏi chúng con."
Qua cha giải tội, giáo sư tiến sĩ Bares, Chúa đã ban cho chị Blandine một cha linh hướng thánh thiện. Vì chính ngài cũng là linh mục thánh thiện nên đã hiểu thấu tâm hồn trong sạch, luôn hướng về Đấng tối cao, để dẫn dắt chị tới đích. Ngoài ra ngài còn có năng khiếu thiêng liêng là biết an ủi và khích lệ người khác. Ngài còn cho biết, thăm viếng bệnh nhân cũng là nguồn an ủi và thêm sức mạnh cho chính ngài.
Câu chuyện sau đây cho ta thấy một cử chỉ đẹp, nhất là sự đơn sơ và lòng tốt đặc biệt của ngài. Có lần chị Blandine đã kể lại cho chị Blanda như sau: "Sau khi xưng tội xong cha giáo sư ái ngại nhìn sang chiếc ghế dựa của chúng em. Ngài nói, cái ghế này nằm không đã. Em giải thích, đã lâu mẹ Cyrilla tốt lành vẫn để ý tìm một cái ghế nằm. Đầy thương hại ngài xen vào, tôi cũng chẳng có ghế nằm, nếu có tôi cũng đưa chị xài: tôi chỉ có cái ghế bành, mà nằm ghế bành thì lại càng chết! Có độc đáo không! Ở Trier chúng em có những người tốt như thế."
Một ngày kia, lúc chị Blandine quá mệt, chị y tá Odilia mang vào một cái khay trên có bình cà phê nho nhỏ rồi để lên chăn giường trước mặt chị Blandine. Sau đó còn vực chị ngồi dậy. Nhưng chỉ một lát sau, khi trở lại, đã thấy vỡ tan tất cả và nằm gọn dưới sàn, còn cà phê thì chảy tràn ra chăn. Nguyên do là vì sau khi chị Odilia bước ra, bệnh nhân thiếp ngủ và khi giẫy dụa đã làm rớt tất cả xuống đất. Chị Blandine rất buồn vì đã làm bể ly tách và làm dơ chăn giường nên nghĩ, phải chi là ngày xưng tội thì tốt quá, chị có thể xưng ngay tội này, tội lỗi đức khó nghèo. Sau khi cha giáo vào thăm rồi trở về, ngài đã gởi cho chị Blandine một bọc nho nhỏ có ghi hàng chữ: "thuốc ngừa buồn ngủ". Bên trong toàn là cà phê thứ thiệt còn nguyên hột giữa một thời buổi mà ai ai cũng chỉ có cà phê giả làm bằng lúa mì, lúa mạch để uống cho đỡ ghiền. Chính ngài cũng được ai đem tặng mà thôi. Một lần khác ngài còn làm cho chị vui hơn, khi tặng chị một miếng khá to cắt từ vuông vải lụa có thời đã được dùng để bọc chiếc áo choàng của Chúa Giêsu thuở xa xưa. Cũng chính nhờ chiếc áo choàng đó mà người mẹ rất yêu dấu của chị đã được chữa lành bệnh cách kỳ diệu hồi còn nhỏ... Chị thốt lên với lòng biết ơn: "Chúa Giêsu và vị đại diện của Ngài đã để ý từng li từng tí!"
Một nữ tu... (1) có kể lại: "Em ngồi trực ở cổng. Khoảng chiều chiều cha giám đốc đại chủng viện vừa vào thăm chị Blandine rồi ra về. Ngài bảo em: 'Tôi vừa gặp một vị thánh'. Em vẫn còn thấy rõ vẻ xúc động trên gương mặt của ngài.
Cuốn sổ nhỏ ghi những bài nguyện ngắm mà chị Blandine viết cho tôi, chị cũng đưa cho mẹ bề trên xem. Chị nói với tôi: "Để mọi sự tốt đẹp theo đức vâng lời".
Chị cũng linh cảm được là mình sẽ chẳng còn sống bao lâu, nên xin tôi tới rương của chị để lục ra tất cả những cuốn sổ mà chị đã ghi chú về đời sống thiêng liêng của mình. Tôi đưa cho chị cả một bọc nhỏ đầy. Chị cầm lấy từng cuốn trên tay, lật ra đọc. Đứng bên giường tôi cũng lấy một cuốn, đọc ngay phải chỗ: "Tâm hồn tôi phải sáng như pha lê".
"Này, chị cho em một cuốn đi!" tôi xin, nhưng chị không bằng lòng. Cuốn sổ ghi những lưu bút cuối cùng của chị - từ tháng 10. 1914 tới tháng 2. 1916 - chị giữ lại, còn tất cả chị nhờ tôi đem đi đốt. Giả sử tôi từ chối, thì cũng sẽ có chị khác đốt giùm chị thôi. Bây giờ tôi mới hối hận, vì đã lỡ quăng tất cả vào lửa.
Vậy mà chị vẫn chưa hài lòng, sau đó còn bảo tôi: "Phần chị, chị cũng phải lo đốt tất cả những gì em đã viết cho chị đi!". Tôi phản kháng kịch liệt mà chị cũng muốn đòi cho bằng được, nên cuối cùng tôi bảo: "Sau khi chị qua đời, em sẽ dùng nó để làm lợi cho nhiều người khác, chị không có quyền ngăn cản!" Thế là chị nín thinh; còn tôi cũng thấy sao lần này chị nhường nhịn khó thế
admin
18-06-2006, 01:04 PM
Lần thăm kế tiếp, tôi vừa mở cửa phòng, chị đã hớn hở reo lên: "Chị ơi! em có tin vui. Em năn nỉ nên bác sĩ cho em biết, em chỉ còn sống tới tháng Tư này nữa thôi. Bây giờ em chẳng viết gì cho chị nữa đâu; em phải lo chuẩn bị cho cuộc hạnh ngộ đầu tiên với Đức lang quân". Tôi thấy chị vui hết sức, còn tôi thì ngược lại, quá xúc động vì lời mới nghe. Chẳng nói chẳng rằng, tôi ngồi phịch xuống giường chị, rồi khóc. Chị thấy thế, không chịu nổi, nên cũng buồn theo. Sau đó chị lại hứa với tôi, sẽ tiếp tục viết tất cả những gì tôi muốn. Chiều hôm đó tôi không nói được nhiều. Lúc từ giã tôi chỉ hỏi: "Chị thấy còn nhân đức nào cần khuyên em nữa không?" Chị trả lời: "Đức khiêm nhường!"
Ngay ngày hôm sau - ngày thứ Sáu đầu tháng, ngày kính Trái tim Chúa - chị đã ghi lại cho tôi bài nguyện ngắm mà chị mới suy niện hồi sáng như sau: "Hãy học với Ta vì Ta hiền từ và khiêm nhường trong lòng, rồi các con sẽ tìm được sự an bình cho các con. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng" (Math 11, 29)
Sau đó ít lâu - lúc chị đang đối diện với tử thần - tôi lại xin chị viết cho tôi biết, chị nghĩ gì về cuộc đời mình. Chị đã viết như sau: "Lúc đời sắp tàn, người ta đâm suy nghĩ nhiều ra. Thành tâm tạ ơn Chúa về tất cả những khổ đau, mà Ngài đã gieo rắc khắp các nẻo đường đời tôi! Khổ đau giải thoát tất cả những gì là trần tục. Khổ đau nâng cao và thêm sức cho tâm hồn, là trường học khá nhất của tình yêu. Khổ đau thanh lọc và kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu. Cái chết sẽ rất nhẹ nhàng, nếu trên đời này chúng ta chỉ yêu có một Đấng duy nhất sẽ là thẩm phán của chúng ta!
Hạnh phúc thay cho những tâm hồn biết quên mình tới độ chỉ còn thấy có Chúa và thánh ý Ngài và cố gắng hết sức để làm theo thánh ý đó. Tâm hồn ấy sẽ an nhiên, bình thản đón chờ cuộc hạnh ngộ đầu tiên với Đức lang quân của lòng mình!
Biết sự hèn hạ và hư không của chính mình là con đường dẫn tới tình yêu sâu thẳm của Trái tim Chúa.
Ta phải tin vào tình yêu vô biên, luôn thoi thóp trong Trái tim Chúa vì chúng ta; chỉ tình yêu đó mới quyết định những đau khổ và hy sinh mà chúng ta sẽ gặp.
Đức tin của chúng ta quý giá là dường nào, vì chỉ đức tin mới chiếu soi bóng tối, mới phá tan lo âu mờ ám muốn cản trở linh hồn chúng ta trước cổng đời đời. Mọi sự sẽ qua đi. Cuộc đời về chiều chỉ còn lại có tình yêu. Chính tình yêu sẽ nói thay chúng ta, sẽ mở cho chúng ta cửa lều Đức vua, nơi chúng ta sẽ muôn đời ca ngợi lòng từ bi của Ngài. Một cuộc đời yêu, nghiã là mối tương giao mật thiết với Chúa Giêsu trong đáy con tim, chính là những gì chỉ làm vinh danh Ngài. - Một nước Trời tiền định dành cho chúng ta".
Câu: "Cái chết sẽ rất nhẹ nhàng..." chị còn viết lại một lần nữa 2 ngày trước khi lià đời cho chị... (2) Năm 1916 chị này thuyên chuyển về Trier để dạy học thay thế cho chị Blandine. Mẹ Constantia cũng nhờ chị Blandine làm thiên thần bản mệnh cho chị này. Đó là lần cuối cùng chị Blandine thi hành chức vụ này, nhưng không phải chỉ tới khi chết, mà là cả sau khi chết.
Ở Trier chị... phải chiến đấu với nhiều khó khăn cả bên trong cũng như bên ngoài: khó khăn nghề nghiệp càng ngày càng nhiều, hoặc đôi khi còn ngờ vực phải chi mình hồi tục trước khi vĩnh thệ thì có phải hay hơn không. Một hôm chị đem thổ lộ tất cả nỗi lòng mình với chị Blandine và tha thiết xin chị cầu nguyện cho. Chị Blandine im lặng nghe xong, rồi bảo: "Chị đừng lo! Để em thay chị đem chuyện này thưa với Chúa. Ngài sẽ hoàn tất tất cả những gì Ngài đã làm nơi chị".
Sau đó bệnh tình chị Blandine mỗi ngày một thêm trầm trọng, và chị... cũng hết có dịp được nói chuyện với chị. Ngay lúc chị Blandine qua đời thì dường như chị này cũng không có mặt, vì lúc đó trùng vào kỳ nghỉ lễ Hiện xuống nên chị được mẹ bề trên sai về Calvarienberg. Tuy nhiên trước khi ra đi, chị đã đến từ giã chị Blandine rồi.
Khi chị... lại muốn đến trình bày với chị Blandine một lần nữa về những khó khăn nghề nghiệp, thì chị Odilia từ chối không cho gặp. Khi thấy bị từ chối, chị Blandine liền phản đối, vì nếu không phản đối thì chị đâu còn là chị Blandine tốt lành. Sáng hôm sau, chị... thấy trong nhà nguyện chỗ mình ngồi có miếng giấy ghi mấy lời chào vĩnh biệt đầy yêu thương của chị Blandine như sau:
Chị... yêu dấu!
Mơ ước cuối cùng của em là:
Xin chị đừng cư xử với Chúa như thế mà thành đào ngũ! Cái chết sẽ rất nhẹ nhàng, nếu ta chỉ yêu có mình Ngài và được chết trong vòng tay Ngài. Ở trên trời, em sẽ theo chị sát gót và dùng những mũi tên lửa để thiêu rụi cái thú của chị cứ thích nghĩ tới chuyện đâu đâu hơn là một mình 'Chúa Giêsu'.
Cầu cho em!
Cựu thiên thần bản mệnh của chị
Blandine".
Chị... đã nói: "Những lời đó đối với tôi là một câu trả lời quá rõ ràng và chính xác từ Trời cao. Nghi ngờ nào cũng hết, ngay trong giờ phút ấy, tôi đã dâng mình trọn vẹn cho Chúa mà không đòi lại nữa.
Trong một thời gian rất ngắn chị đã thực hiện điều chị nói. Đối với tôi, đó là dấu hiệu chắc chắn chị đã lên thiên đàng. Qua những phương thức đau lòng đó chị Blandine vẫn tiếp tục làm thiên thần bản mệnh cho tôi mãi tới ngày hôm nay".
Chị Blandine đã viết cho chị Blanda như sau:
25.11.1917: "Cơn ho gắt lạ thường. Em đoán, chắc bây giờ trán chị sẽ nhăn lên, vì không nhận được đầy đủ tin tức về bệnh trạng của em. Hiện nay dù thiện chí đến mấy, em cũng không nói được nhiều. Chị biết đó, bệnh tình em cứ biến đổi hoài. Ba tuần nay không còn sốt nữa. Em cũng thích được lặp lại lời của con tim vĩ đại thánh Phaolô: 'Chúng ta vun xới lòng cậy trông tuyệt đối và mong chờ tha thiết, bằng tình yêu, giờ xuất hành về quê hương của Chúa'. Lời nguyện tắt mới nhất của em hiện nay như sau: 'Thánh ý Chúa con ơi! con yêu Chúa hơn cả mọi sự'. Chị yêu dấu của em, xin chị cũng cầu nguyện cho em như thế và đừng vì em mà lo lắng. Hãy tạ ơn Chúa giùm em vì biết bao ơn nhưng không (3) của Ngài, hãy cầu xin cho em có đủ sức mạnh, vững tâm tới cùng trong ân sủng của Chúa".
1.12.1917: " Chị Blanda yêu dấu! Mẹ bề trên đáng kính chưa kịp giúp em phương tiện để có thể trả lời sớm hơn những giòng thương mến của chị mới viết cho em. Em rất mừng, vì ông đã tiết lộ cho em biết với tất cả tình thương yêu như một bà mẹ thứ hai nho nhỏ và tốt lành của em. Em vẫn khỏe... Nhưng mới đây lại sinh lở lói. Nếu em dán băng sơ qua, thì nó lại rơi ra, vì thế lại đau dữ dội hơn lúc trước. Chị thấy chưa, em thuộc loại cứng cổ như thế đó. Ngày mai là bắt đầu mùa Vọng, em đã kiếm một số bài suy niệm, để không đến nỗi mừng Chúa với hai bàn tay trắng. Xin chị cầu nguyện cho em, để khi Chúa đến, Ngài còn thấy em tỉnh thức".
Một sáng sớm tôi lên lầu hát, chỗ được dành riêng cho bệnh nhân. Lúc đó, vị linh mục vừa cho chị Blandine rước lễ. Cửa phòng chị mở lớn. Khi ngang qua, tôi nhìn trộm vào trong. Bỗng nhiên tôi khựng lại như trời trồng trong khoảnh khắc. Chị vẫn nằn đó, đôi mắt nhắm nghiền, nhưng gương mặt lại sáng láng lạ thường.
admin
18-06-2006, 01:04 PM
Vào một dịp nào đó chị đã kể cho tôi, khi còn dạy học ở Morscheid, Chúa đã tiên báo cho chị một điều gì đó, cũng vào lúc rước lễ. Chị đã quên ngay, cho tới khi điều ấy đã xẩy ra đúng như lời tiên báo, chị mới sực nhớ lại.
Và lúc này - trong cơn bệnh - Chúa lại nói chị điều gì đây trong khi rước lễ. Một mảnh giấy nho nhỏ nhưng quý giá do chị ghi lại cũng cho ta biết rõ điều đó.
Lễ Giáng sinh cuối cùng của chị gần kề. Trong chính ngày đại lễ tôi đến với chị rất sớm. Tôi thấy chị vui ra mặt. Tôi thấy dường như chị được ơn gì đó. Chị bảo: "Đêm qua Chúa tốt với em quá". Và để tôi vui, chị đưa cho tôi miếng giấy trong đó có ghi lại cuộc đối thoại với Chúa trong đêm qua. Phần kết luận chị viết như sau: "Ôi! Mặt trời thần linh, chẳng bao lâu nữa Chúa sẽ đón nhận trọn vẹn tia lửa li ti này về với Chúa, để tia lửa ấy không còn sức sống cho chính mình nhưng là tan biến trong biển lửa bừng cháy của Chúa - rồi tiêu hao, sống vĩnh cửu và được vinh phúc trong Ngài".
Vì đoạn này mà một nữ tu dòng thánh nữ Ursula ở Canada đã viết cho tôi như sau:
"Có lẽ tia lửa li ti đó của tình yêu Thiên chúa cũng muốn lan tràn ra cả mặt đất". Thật là một tư tưởng hay!
Chị Blandine cũng muốn chuẩn bị cho chị ruột mình trước để sẵn sàng chấp nhận hy sinh vào giờ vĩnh biệt. Ngày 22.12.1917 chị viết cho chị mình chư sau: "Chị Blanda yêu dấu của em! Mùa Giáng sinh năm nay em chúc chị sự bình an sâu xa của Chúa Hài đồng, sự bình an mà theo lời thánh Phaolô sẽ vượt trên sự hiểu biết của loài người, để bình an đó an ủi và thêm sức mạnh cho chị trước những hy sinh sắp đến trong năm tới. Em biết, mùa này chắc chị nhiều việc lắm. Ở đây cũng vậy, tội nghiệp mấy chị y tá không còn giờ mà thở. Sức khoẻ chị thế nào? Em chúc chị và hy vọng là chị vẫn khỏe. Phần em, chẳng có chi nhiều mà nói - chỉ có một điều là Chúa nhân từ sẽ xin chị một hy sinh trong năm tới, có lẽ cũng đúng vào thời gian mà cách đây 16 năm chị đã dâng cho Ngài một hy sinh còn lớn lao hơn nhiều (4). Cách đây khoảng hai tuần em có xin bás sĩ cho em biết, liệu em còn sống được bao lâu. Sau hồi lưỡng lự, ông đã mềm lòng mà nói, ông đoán là tới tháng Tư. Xin chị hãy dâng hy sinh này không một chút do dự lên hang đá Chúa Hài đồng và chân thành tạ ơn Chúa với em vì Ngài đã che chở và săn sóc con giun đất hèn hạ này bấy lâu nay và giúp nó vững lòng cậy trông chờ đợi Ngài sẽ đến thăm. Em không thích chị khóc. Chị hãy nhớ rằng, em chỉ là đất cát hèn mọn sẽ đổi lấy những miền bao la vang dội tiếng ngợi ca Thiên chúa. Chị nên mừng cho em mới phải. Ngoài ra, còn một điều muốn xin chị mà chắc chị sẽ cho, đó là xin chị hãy giúp em leo hết ngọn núi Calvariô của em bằng lời cầu nguyện, để Chúa xót thương em. Hiện nay em thấy tương đối dễ chịu, nhưng không chỗi dậy được nữa. Nếu sức khỏe cho phép, vài tuần nữa em sẽ viết thêm, bằng không, em sẽ xin mẹ bề trên cho chị nào viết thay em cũng được.
Trong những ngày này em cũng muốn viết thư về nhà để nói cho người nhà biết về những ước nguyện của em, mà chị đã biết rồi đó. Em sẽ nhớ tới cuốn thánh ca điạ phận Trier và cuốn Tân ước. Chị còn ước muốn gì nữa không?
Hiệp nhất muôn đời trong Trái tim Chúa.
Em Blandine của chị".
Sau đó chị còn viết thêm lá thư vĩnh biệt này:
"Giờ đã điểm. Chị có thể sánh người em của chị trong cuộc sống và đau khổ của cô ta giống như một cây hạc cầm (5), mà những giây của nó tạm gọi là sự bất lực, hèn hạ, yếu ớt và đau đớn của cô ta.
Ý chí của Blandine giống như những ngón tay luôn gẩy đều trên những sợi giây để ca tụng tình yêu vĩnh cửu. Chị hãy đặt cây đàn dưới chân thánh giá, là nơi cây hạc cầm lạ lùng của vua David đã nhỏ máu và đau đớn lên giây, tấu lên bài ca vĩnh biệt, tuyệt vời và hào hùng đến độ đất trời cũng phải rung chuyển. Chị hãy xin Đấng nhân từ nhận lấy bài ca ngắn ngủi và yếu ớt của em mà hòa chung với bài ca của Ngài, làm thành một bài ca duy nhất, vinh danh Chúa Cha và mưu ích cho Trái tim Ngài.
Mỗi ngày khi dự lễ, chị hãy đặt em dưới chân thánh giá cho tới khi nghe thấy cây hạc cầm kia đã dứt tiếng, đã ngủ yên trong cuộc sống mới nơi Trái tim Đức lang quân của cô ta. Amen".
Lá thư này chị lại đem tặng tôi. Chị bảo: "Em không gởi đi nổi. Xin chị hãy làm tròn những ước nguyện trong thư". Đến khi chị qua đời, tôi mới đem trao thư này cho chị Blanda.
-----
(1) Ẩn danh
(2) Ẩn danh - chú thích của người chuyển ngữ
(3) Ơn nhưng không: ơn Chúa ban cho ta vì Ngài yêu ta, chứ không phải vì công nghiệp của ta - chú thích của người chuyển ngữ
(4) Mẹ chị qua đời cách đây 16 năm
(5) Phiên âm từ chữ Harfe; có người dịch là thụ cầm: cây đàn của vua David
admin
18-06-2006, 01:05 PM
Tôi cũng muốn chị có mấy lời cho riêng tôi. Lúc chị viết xong, tôi cám ơn nhưng lại nói, chị viết gì mà chẳng hợp với em. Chị trả lời: "Lúc này chị chưa hiểu, nhưng em bảo đảm với chị sau này chị sẽ hiểu".
Tôi nhớ mãi lời: "Em bảo đảm với chị!" Lúc nào chị cũng nói thế, có vẻ xác quyết, với uy quyền mới đúng, thứ uy quyền cắt đứt mọi chống chế. Tôi có thể nói rất nhiều về tấm giấy nhỏ đặc biệt ấy.
Vào khoảng tháng Giêng hai người chị ruột của chị Blandine cũng đến thăm chị. Lúc về họ chúc chị sớm bình phục, nhưng chị bảo: "Chúc về trời cho xuôi, có hơn không". - "Chưa! em chưa chết đâu!" - "Sao lại chưa? Rất có thể em sẽ chết vào giữa tháng Năm này. Đứa con không mừng khi về với cha mình sao?" Chị còn lặp lại câu cuối cùng thêm một lần nữa.
Vì đường xá xa xôi nên chị ngỏ ý xin các anh chị đừng mất công đến tham dự lễ an táng làm gì. Một mình anh Franz vì có nhà gần đường xe lửa nên có thể đến Trier là được.
Đối với chị Blandine sợ chết là một điều xa lạ. Một chị đã từng có mặt trong những giờ phút chiến đấu cam go, nặng nề bên cạnh những người hấp hối, chị này có lần nói với chị Blandine rằng chị ta sợ chết. Thế là chị Blandine liền cầm lấy cuốn Thánh Kinh, mở ngay sách Khải huyền phần nói về nước Trời, đọc đoạn này rất chậm và chăm chú rồi nói với niềm trông cậy: "Nếu không đúng như thế, thì nhờ đâu mà Thánh Gioan, một ông thuyền chài thiếu học, có thể biết được - nếu không phải là nhờ Chúa Thánh linh". Rồi chị đặt tay lên ngực và nói qua ánh mắt trong sáng: "Thiên chúa rất nhân từ, tôi sẽ không để người ta đánh cắp mặt trời của tôi, nước Trời của tôi".
Một chị y tá thời đó viết như sau: "Có những chị y tá vì không hiểu căn bệnh của chị Blandine, nên đã làm chị đau lòng bằng những lời cằn nhằn thiếu suy nghĩ. Chị Blandine làm bộ không nghe gì. Chị vẫn không nói lại, nhưng giữ nguyên thái độ vui vẻ với những chị này. Có dịp tôi hỏi cho rõ: "Bộ chị không hiểu hay là không muốn hiểu những lời cằn nhằn đó?" Chị chỉ trả lời bâng quơ: 'Em cũng chẳng biết là có hiểu không nữa!'"
Có lẽ vào cuối tháng Giêng năm 1918 mẹ bề trên đã cho gọi tôi lên và bảo: "Từ nay chị không được phép vào thăm chị Blandine nữa".
Vì tôi xin, nên mẹ còn cho phép tôi được vào thăm thêm một lần nữa để báo cho chị biết về quyết định mới của bề trên. Chiều hôm đó chị không nằm giường. Chị bình tĩnh nghe tôi nói rồi bảo: "Nếu Chúa muốn thế thì cũng tốt thôi. Mình hãy vào nhà nguyện đọc kinh chung một lần cuối với nhau đi". Sau đó tôi buồn rầu từ giã chị.
Từ đó trở đi tôi chỉ còn có dịp thấy chị trong hầm trú ẩn ban đêm. Chúng tôi thường ngồi cạnh nhau, nhưng không nói gì với nhau được. Đó là lúc phải im lặng tuyệt đối. Giờ phút ấy quá căng thẳng đối với chị Blandine! Nhiều khi còi báo động một đêm 2, 3 lần. Thế thì còn nghỉ ngơi gì được nữa. Nhưng chị vẫn trung thành với câu tâm niệm: "Mọi sự đều là nước Trời dành cho tôi!". Tôi để ý trong những đêm dài như thế vẫn không hề có tiếng thở dài, than van, vẫn không hề thấy chị sốt ruột hay nao núng. Vẫn một vẻ vui tươi cố hữu.
Bấy giờ chị thường nằm một mình trong phòng. Chỉ có những chị cao niên mới được phép đến thăm. Chị Cunigunde, đã 75 tuổi, tuần nào cũng tới thăm. Khi ra về vẫn không quên nhắc lại một câu rút ra từ một cuộc cấm phòng đã lâu: "Non sum sola, magister adest!" (Có Thầy bên tôi, tôi đâu đơn côi).
Chị Blandine vẫn tiếp tục viết lưu bút. Hồi trước chị nói với tôi: "Em khó có thể nói được việc cầu nguyện đã trở thành dễ dàng đối với em tới mức nào". Vì lời yêu cầu của một chị y tá nên lúc này chị lại viết thêm một bài nguyện ngắm với nhan đề: "Đức tin và đức mến phải thế nào, để chúng ta đạt được ích lợi tối đa do việc lãnh nhận các bí tích mà ra?" Bài nguyện ngắm nhỏ này sẽ giúp ta nhìn sâu hơn vào đời sống kinh nguyện của chị. Sau khi chị qua đời, chị Odilia mới đem phổ biến bài nguyện ngắm này với lời chú thích: "Để quý vị có hết những gì là của chị".
Tuy mỗi ngày một yếu, nhưng trong lúc dễ chịu bệnh nhân vẫn tiếp tục viết những bút ký cuối cùng: "Tôi là con chiên hy tế của Thày chí thánh, mà lúc này Ngài đang chuẩn bị để hiến dâng. Tôi xin hiến dâng cho Ngài, tôi hài lòng với tất cả mọi sự và vui theo thánh ý Ngài.
Lạy Chúa! Chưa bao giờ con tìm được cách thức ngọt ngào để ca tụng tình yêu vĩnh cửu như hiện nay, vì tình yêu ấy ban cho con đau đớn và làm con tàn hơi sức. Ước chi mọi tài năng, mọi chi thể của con đều ca tụng và làm vinh danh Chúa. Ước chi mọi đớn đau, mọi bất tài, bất lực của xác thân con hư nát đều ca tụng Chúa. Ước chi mọi ân sủng và lòng nhân hậu mà Chúa đã thương ban cho sự thấp hèn của con trong suốt cuộc đời cũng đều ca tụng Chúa! Khi mắt con nổ tung, tay con tê bại, thì ước chi hơi thở cuối cùng vẫn còn là một bài ngợi ca mừng Chúa, bài ngợi ca sẽ hòa con vào khúc ngợi ca vĩnh cửu mà chính Chúa sẽ hợp với tất cả thần thánh dâng lên Ba Ngôi đến muôn ngàn đời. Amen. Con muốn là hiền thê anh hùng của Đấng cứu độ con!"
"Lạy Chúa, trong sự điên cuồng của trái tim con, con sẽ vui dâng hiến cho Chúa tất cả".
"Con đến với Chúa, đấng con đã yêu, đã tìm kiếm và đã khát khao". (Thánh Agnes)
Trong những tuần cuối đời chị còn viết cho bà cố vấn của dòng một lá thư vĩnh biệt với lời lẽ như sau: "Bệnh của con lúc khá lúc không theo nhịp độ biến đổi của loại bệnh này. Lúc này con đang lo chuẩn bị cho cuộc hạnh ngộ đầu tiên với Đấng cứu độ. Giây phút ấy chắc chắn phải trang trọng lắm! Con vui mừng và mong chờ giờ phút ấy. Ý nghĩ, ánh sáng Ngài sẽ chiếu soi bóng tối tử thần và đôi tay Ngài sẽ đỡ nâng con khỏi vấp ngã, đủ giúp con can đảm và yên vui. Xin mẹ cầu nguyện sốt sắng cho con, để con kiên vững trong những ngày khốn khó sắp tới. Con vẫn muốn kiên gan và anh hùng leo hết ngọn núi Calvariô của con, để xứng đáng một nữ tu dòng thánh nữ Ursula là hiền thê của Đấng bị treo trên thập giá".
Tháng Năm đã về. Năm ngoái chị có nói: "Em sẽ vui biết mấy, khi tháng Năm trở về!" Một ngày nào đó trong tháng Năm sẽ làm cho chị toại nguyện. Ngày 8.5., đúng mười ngày trước khi lìa đời chị còn đọc cho người ta viết lá thư cuối cùng gởi cho ch Blanda như sau: "Chị Blanda yêu dấu! Thành tâm chúc mừng ngày bổn mạng của chị và khấn xin Thiên Chúa ban cho chị tràn đầy ân phúc, để chị luôn mãn nguyện đời này và đời sau. Chân thành cám ơn gói quà lớn em đã nhận được tuần trước. Em không viết được vì còn phải nằm trên giường. Tuần này sốt lên tới 39 độ, nên chị cũng biết em mệt là dường nào. Trước mặt Chúa em là con vật thồ khốn khổ, không còn biết gì hơn là mong chờ vào lượng từ bi của Chúa. Hôm qua em ăn được một phần cái bánh ngọt mà chị đã cho. À! suýt nữa thì quên cả cám ơn tấm bánh ngọt sản xuất từ lò nhà chị. Xin chị vui lòng thứ lỗi, vì hôm nay em phải ngừng bút sớm hơn thường lệ. Nhân dịp lễ Hiện xuống em cũng xin chúc chị tràn đầy Chúa Thánh Thần để Ngài, như lời thánh Tông đồ, 'thêm sức cho con người nội tâm của chị, nhờ đó Chúa Kitô được cư ngụ trong lòng chúng ta bằng đức tin, còn chúng ta cũng được ăn rễ sâu và đặt nền tảng trong tình yêu Ngài'.
Người em trung tín của chị,
Blandine".
admin
18-06-2006, 01:05 PM
Ngày 10. 5. chúng tôi mừng bổn mạng mẹ bề trên. Tôi mong dịp đó lắm. Chờ mọi người đứng quanh đã chúc mừng mẹ xong, tôi mới thưa với mẹ: "Hôm nay mẹ không được từ chối lời con xin. Xin mẹ cho phép con đến thăm chị Blandine một chút!" Mẹ trả lời: "Hôm nay thì không được, nhưng vào kỳ nghỉ lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống thì cho phép".
Ngày 15. 5. là ngày bắt đầu nghỉ lễ. Khoảng 11 giờ trưa nhà trường đóng cửa. Lập tức, ôm cả sách vở, tôi vội đến với chị Blandine.
Khi mở cửa phòng, tôi thấy chị không thay đổi lắm. Vẫn đôi mắt long lanh, vẫn nụ cười âu yếm. Chỉ có đôi môi là thâm lại.
Chào xong, tôi vội kể chị nghe đã mưu tính thế nào để được vào thăm. Chị cười chân thành. Nhưng niềm vui quá ngắn. Chị Odilia xuất hiện, chị cấm chị Blandine không được nói chuyện, thế là hai phút sau tôi phải ra ngay.
Tôi chỉ kịp hỏi: "Sao, còn chịu nổi nữa không?" (vì trong thời gian qua chị bị đau đớn kinh khủng) Chị nhìn tôi kinh ngạc rồi quả quyết: "Nổi chứ! nổi chứ!" Chị cầm tay tôi mấy lần mà hứa, trên trời sẽ nhớ tới tất cả. Một cái nhìn cuối, một lời vĩnh biệt rồi tôi phải ra ngay.
Có lẽ câu hỏi của tôi là cớ cho chị lại cầm cuốn sổ lên tay, cuốn sổ mà chị đã đưa tôi xem hồi trước lễ Giáng sinh. Sau khi chị qua đời, tôi được phép nhận lại cuốn sổ đó. Trước đó có lần tôi đã xin: "À, chị cho em cuốn sổ này đi, mai sau em chẳng lấy được đâu". Chị cam đoan, thế nào tôi cũng được. Sau khi chị đã qua đời, tôi xin lại cuốn sổ đó, nhưng mẹ bề trên không cho. Tất cả đều phải đốt. Đó là luật. Tôi chỉ còn biết nhắc cho chị Blandine nhớ lại lời đã hứa với tôi trước kia. Thế là sau đó ít lâu, tôi được phép nhận lại cuốn sổ đó. Những giòng cuối cùng chị đã viết như sau:
Tháng 5. 1918: "Thánh ý Chúa con ơi, con yêu Chúa trên hết mọi sự!"
Buổi chiều cùng ngày chị còn ghi thêm: "Không còn chị nào được phép đến thăm chị Blandine!"
Cha Stockhausen, nhạc trưởng nhà thờ chính tòa, vào xức dầu cho chị. Lúc ngài hỏi: "Chị có sẵn lòng vâng theo thánh ý Chúa hay không?", chị đã quên trả lời, vì quá ngạc nhiên, tại sao lại có thể hỏi như thế được. Đúng ra, chị cười, cười một cách, mà cả vị linh mục cũng như mọi người đứng quanh đều phải cười theo.
Chị được phép xưng tội lần cuối với cha giám đốc đại chủng viện Bares, là cha giải tội của chị ngày trước. Ngài vào giải tội hôm thứ Năm 16. 5. 1918. Sau khi xưng tội xong, bệnh nhân vui mừng thốt lên: "Bây giờ thì chẳng còn gì nữa!"
Lúc ra về cha giám đốc nói với mẹ bề trên: "Lần nào tôi cũng coi là một đặc ân, khi được phép tiếp xúc với linh hồn này".
Vào buổi chiều cùng ngày ngài còn xúc động tiết lộ với một ông bạn khác: "Tôi đã thấy một vị thánh và bây giờ trên cõi đời này tôi chẳng còn ao ước gì hơn là cũng được chết như thế!".
Trong đêm thứ Sáu 17.5. rạng ngày thứ Bẩy trước tiên là phiên trực của chị Severina; sau đó chị Odilia đến thay ca vào lúc 12 giờ. Chị này cho biết: "Trong đêm đó chị Blandine chỉ nói những gì tối cần. Khi máy bay tới, chị bảo tôi: 'Chị cứ việc hạ mành xuống rồi chui xuống hầm đi; em chẳng sợ'. Nhưng tôi vẫn lì lại với chị. Gần 6 giờ sáng tôi hỏi chị: 'Chị còn rước lễ được không?' - 'Dạ được!' Nhưng tôi vẫn lấy cho chị chút nước, để xem chị còn nuốt được không. Rồi tôi dọn bàn thờ, lấy hoa trước cửa vào chưng. Khi trở lại, chị bảo: 'Em mệt quá, chị vui lòng đỡ em lên một chút!' Tôi luồn tay dưới gối và cứ giữ như thế độ vài phút. Bỗng đầu chị hơi nghiêng về phía trước, tôi biết cái chết đã gần kề, nên từ từ đặt chị xuống rồi xin một chị ở gần đó đi báo ngay cho vị hữu trách. Các vị đến ngay.
Chị Blandine không nói nữa nhưng cầm chặt thánh giá hôn đi hôn lại. Một chị trong đám đang quây quần ở đó để ý thấy chị Blandine nằm đấy mà vẫn bình tĩnh lạ thường. Gần 7 giờ sáng - sau lễ nhất - cha nhạc trưởng nhà thờ chính tòa còn đến ban phép lành Tòa thánh cho chị.
Chị Blandine cám ơn vị linh mục qua nụ cười khả ái. Chị không rước lễ được nữa. Chị Cunigunde cúi trên người hấp hối và nói một lời cuối đầy yêu thương: "Non sum sola, magister adest!" (1) Chị Blandine gật đầu, mỉm cười nên một chị đang đứng gần đó yêu cầu thêm: "Chị nói lại câu đó đi, để em được thấy nụ cười ấy thêm một lần nữa!"
Sáng hôm đó tôi đi lễ thứ nhì vào lúc 7g30. Dù không biết chị Blandine hấp hối, nhưng tôi vẫn cảm thấy phải cầu nguyện cho chị thật nhiều. Trong lúc truyền phép - lúc đó là 8 giờ thiếu 15 - Tôi dâng hiến chị Blandine cùng với Chúa Kitô cho Đức Chúa Cha trên trời. Trước kia tôi chưa bao giờ dâng hiến thành tâm đến như vậy. Cũng cùng lúc truyền phép đó mọi người đang quây quần bên chị Blandine. Chị thở nhẹ hai cái, thế là linh hồn chị đã có mặt trước Đức lang quân, Đấng duy nhất chị đã yêu và đã mong chờ từ lâu.
Những lời sau đây rất hợp với vái chết của những người yêu Chúa:
"Tận số của họ đẹp thay và cũng vinh phúc thay:
Họ ra đi với khói hương trong tay,
cái chết của họ là một bài ca ngợi hay" (2).
admin
18-06-2006, 01:06 PM
Chị Blandine qua đời ngày 18.5. vào ngày thứ Bảy trước lễ Hiện xuống, hưởng dương 35 tuổi, sống đời tận hiến 11 năm. Chị đã hiến thân trọn vẹn cho tình yêu vĩnh cửu. Nhờ đó vị nghệ sĩ thần linh là Chúa Thánh Thần được rảnh tay hoàn thành tác phẩm của Ngài nơi chị và biến đổi linh hồn chị "sáng láng dần dần giống hình ảnh Đấng luôn làm hài lòng Đức Chúa Cha".
Khi mới đến bên giường người chết, mẹ Constantia đã nói ngay: "Một vị thánh vừa qua đời" (S.L.)
Ngày chị qua đời và mấy ngày tiếp đó ở Trier nóng dữ dội, vì thế quan tài phải đậy nắp lại, nhưng vẫn được quàn tại nhà Bantus-(haus). Khoảng giữa trưa cha Bares, giám đốc đại chủng viện, đến nơi. Lúc ngài rẩy nước phép cho người quá cố, mẹ bề trên có đề nghị với ngài: "Xin cha cho yên lặng giây lát để cầu nguyện cho chị!", nhưng ngài quả quyết: "Tôi nghĩ là không cần".
Câu nói đó cũng được chị em trong nhà đồng thanh xác nhận. Vì khi mẹ bề trên hỏi, có ai biết được lỗi lần nào của kẻ quá cố không, thì không ai trả lời được.
Cả ngày Chúa nhật và thứ Hai sau lễ Hiện xuống, người người tấp nập quanh xác chị. Sang ngày thứ Hai, có mấy chị nghi ngờ là chị Blandine chưa chết hẳn, nên đã xin mẹ bề trên mời bác sĩ vô lần nữa.
Bác sĩ nhà đi vắng, nên bác sĩ Dr. Redenbach đã vào làm giấy khai tử. Ông không tin là chị Blandine đã chết vì ho lao. Ông bảo: "Chẳng thấy chị gầy đi tí nào, tôi chưa hề thấy có trường hợp nào như thế". Sáng thứ Ba khi mở nắp quan tài một lần chót để cho thân nhân vĩnh biệt, người ta thấy xác chị vẫn còn tốt tươi.
Chị Blandine được an táng ngay ngày hôm đó. Thành phố Trier cổ kính ít khi có dịp chứng kiến đám ma một vị nữ tu nghèo khó nào đẹp hơn. Mấy vị linh mục theo sau chiếc quan tài đơn sơ. Các nữ sinh St. Bantus, áo trắng, tay cầm cành hoa tháng Năm còn tươi tốt, hợp thành một đám rước. Kẻ qua đường ngạc nhiên dừng chân đứng lại. Họ có ngờ đâu, một người yêu của Đấng tối cao đang được tiễn đưa vào lòng đất.
Ở nghĩa trang St. Paulin người ta hạ xác thân hư nát của chị xuống vùng thánh địa, nơi đã thấm nhuần giòng máu của các tín hữu đã bị thủ tiêu dưới thời Rictiovarus bạo tàn cách đây mấy thế kỷ.
Tìm đâu ra một nơi an nghỉ nào đẹp hơn cho người hiền thê của Chúa, mà cuộc sống của chị tuy đơn sơ nhưng cũng anh hùng luôn là tiếng xin vâng trọn hảo theo thánh ý Chúa này đây?
(3) Lời xin vâng theo thánh ý Chúa này là nguồn mạch và sức mạnh của tình yêu, thứ tình yêu trường tồn luôn đẹp lòng Thiên Chúa và nhân loại.
Tình yêu của chị Blandine vẫn tiếp tục làm vinh danh Chúa, như Giáo hội đã xác nhận qua việc phong chân phước cho chị. Tình yêu của chị đối với nhân loại đã ăn rễ sâu vào tình yêu Thiên Chúa, và kéo dài dường như vô tận. Vì sau khi chị qua đời ít lâu, người ta đã kéo về hành hương bên mộ chị và khấn với chị như là khấn với đấng cầu bầu trước mặt Chúa. Ngày nay có hàng ngàn người tôn kính chân phước nữ tu Blandine và xin ơn che chở. Bao nhiêu người đã tạ ơn chị, vì chị đã nghe lời họ kêu xin, vì họ đã được sức mạnh để chấp nhận khổ đau và bệnh tật, hay vì họ lại tin vào Chúa hoặc biết cầu nguyện trở lại. Chị giúp cha mẹ, con cái, vợ chồng, hàng xóm, kẻ cạnh tranh, người bất hòa biết giao hòa với nhau. Nhiều người tìm được nguồn nương tựa khi cầu xin với chị, để giải thoát mình khỏi những đam mê, tội lỗi. Đối với người trẻ cũng như người già, người giàu cũng như kẻ nghèo, người khoẻ mạnh cũng như kẻ bệnh tật, giáo dân cũng như giáo sĩ chị đã trở nên dấu hiệu, qua đó lòng nhân lành cũng như sự gần gũi của Chúa được cảm nghiệm giữa những khốn khó trần gian.
Trong số rất nhiều lần được nhận lời khấn xin do lời bầu cử của chân phước Blandine có một trường hợp đặc biệt đã được Thánh bộ phong thánh điều tra và công nhận là sự khỏi bệnh lạ lùng và được Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II xác nhận qua sắc lệnh ký ngày 8.5.1987. Đó là trường hợp nữ tu Irimberta Puntigam được lành bệnh hoàn toàn và lâu dài mà theo cách tự nhiên không thể nào cắt nghiã được.
Nữ tu Irimberta Puntigam sinh năm 1900 tại Gnas/Steiermark, phục vụ trong ngành y tá tại Indonesia. Tháng 10. 1969 chị có dịp về quê hương nghỉ hè. Chân phải bị thối rữa, nên chị đã tìm đến một bác sĩ chuyên khoa ở Wien. Bệnh án là Melanom (ung thư da). Ông đòi giải phẫu ngay và báo liền cho thân nhân biết vì nguy hiểm tới tính mạng. Sau cuộc giải phẫu ngày 13. 10. 1969 chị không được chữa chạy thêm gì nữa. Chị em trong dòng cũng như chính chị đã khấn với chân phước Blandine. Mới tuần đầu trong tháng 11 tự nhiên thấy thuyên giảm và đến ngày 10.11. thì chị được xuất viện. Sau kỳ nghỉ hè đó chị trở lại Indonesia để tiếp tục phục vụ như cũ. Mãi tới tháng 12. 1985 chị mới qua đời vì già yếu.
Chân phước Blandine không phải chỉ cứu giúp trong những cơn khốn khó đủ loại, nhưng còn là gương sáng cho nhiều người. Sự thẳng thắn và vui vẻ của chị, sự dịu dàng và kiên nhẫn của chị, sự khiêm tốn và sẵn sàng giúp đỡ hết mình của chị sẽ khích lệ chúng ta noi theo gương chị. Vì bổn phận trên đời của chúng ta cũng giống như bổn phận của chị mà thôi. Chị chẳng làm gì đặc biệt, nhưng những gì được trao phó hằng ngày chị đã chu toàn cách đặc biệt vì tình yêu Chúa và tha nhân. Cuộc đời chị sẽ giúp ta tin tưởng.
Chúng ta cần gương sáng của chị, mà chị đã nêu gương khi còn dạy học và phụ trách việc giáo dục. Nhờ chị chúng ta học được, việc quan trọng là ở chỗ cống hiến cho giới trẻ một nền giáo dục và huấn luyện toàn vẹn quy hướng về con người và thế giới theo nhãn quan Kitô giáo. Thực hành trong đời sống phải lấy mẫu mực trong Phúc âm Chúa Giêsu Kitô và trong truyền thống Giáo hội.
Nữ tu Blandine Merten giúp ta thấy được hai khía cạnh của đời sống chiêm niệm và hoạt động, cầu nguyện và việc làm, hiện hữu và hành động chỉ là một. Chị đi trước chúng ta như một người đã khám phá ra rằng bệnh tật và đau khổ, xin ơn và đền tội là con đường hy vọng và tình thương, là con đường qua sự chết để dẫn đến sự sống.
Trong bí quyết này của cuộc đời chị cũng đã mang sứ mạng truyền giáo cho thời đại hôm nay.
-----
(1) Nghĩa là:"Có Thầy bên tôi, tôi đâu đơn côi" - chú thích của người chuyển ngữ
(2) G. v. Le Fort, Hymnen an die Kirche. Muenchen 1924, trang 26
(3) Từ đây trở đi là phần được mẹ Scholastika Roenneper OSU thêm vào, sau cái chết của tác giả cuốn sách này.
Lm. Giuse Vũ Xuân Huyên chuyển ngữ
Nguồn: Chiase.com (http://www.chiase.com/cs_2000/D5_VanHoa/D5_PagesHTML/TinhYeu/TrangBia.html)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.