PDA

View Full Version : Nền tảng nhân chủng học của gia đình


admin
19-06-2006, 01:05 PM
NỀN TẢNG NHÂN CHỦNG HỌC CỦA GIA ĐÌNH

Huấn từ Đức Bênêđíctô XVI ban ngày 9 tháng 6 năm 2005, tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Latêranô, nhân dịp khai mạc Hội Nghị Giáo Sĩ của Giáo Phận Rôma.

Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt


Phần I

Anh chị em thân mến,

Tôi rất vui mừng nhận lời mời để khai mạc hội nghị giáo phận với một ý nghĩ, trên hết bởi vì nó cho tôi cơ hội được gặp gỡ anh chị em, được giao tiếp trực tiếp, và cũng bởi vì nó làm cho tôi có thể giúp anh chị em phản ảnh sâu xa ý nghĩa và mục đích chương trình mục vụ đang được thực hiện bởi hội thánh Rôma.

Tôi hoan hỷ chào đón từng mỗi giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, và một cách đặc biệt, mỗi tín hữu và các gia đình, những người lãnh nhận một cách ý thức những trách nhiệm của sự ràng buộc Kitô giáo và chứng từ mà nó bén rễ trong bí tích thánh tẩy, và trong bí tích hôn phối đối với những người đã kết hôn. Tôi xin gửi tới hồng y đại diện và đôi hôn nhân Luca và Adriana Pasquale những lời cảm ơn chân tình, về những lời mà các vị đã nhân danh anh chị em gửi tới tôi.

Hội nghị này, và năm mục vụ từ đó cung cấp những hướng dẫn, thiết lập một giai đoạn mới trong nỗ lực của Giáo Hội đã khởi đầu, dựa trên công nghị giáo phận, với sứ vụ công dân quá đỗi dễ mến do Đức Gioan Phaolô II rất thân thương của chúng ta, trong khi chuẩn bị Đại Năm Thánh 2000. Trong sứ vụ ấy, tất cả mọi liên đới trong giáo phận của chúng ta - các giáo xứ, các cộng đoàn tu trì, các hiệp hội và phong trào - đã được canh tân không chỉ trong một sứ vụ nhất thời cho người dân Rôma, nhưng để họ trở thành “dân Thiên Chúa trong sứ vụ” tham gia vào việc thực hành lời diễn giải khôn ngoan của Đức Gioan Phaolo II: “Giáo xứ, hãy nhìn vào mình và tìm mình bên ngoài chính mình”; nghĩa là, trong những nơi mà người ta sống. Trong cách thức ấy, trong sứ vụ công dân, hằng ngàn Kitô hữu của Rôma, phần lớn là tín hữu, đã trở thành những nhà truyền giáo và mang đức tin, trước hết, vào các gia đình các láng giềng chung quanh của thành phố, và sau đó tới những nơi làm việc, bệnh viện, học đường, đại học, và các lãnh vực văn hóa và tự do.

Sau Năm Thánh, vị tiền nhiệm của tôi đã yêu cầu anh chị em đừng làm ngăn trở ân huệ này, và cũng đừng phân hóa những năng lực tông đồ đã được khởi động và hoa trái thánh thiện đã thu hoặch được. Bởi thế, từ năm 2001, hướng dẫn mục vụ căn bản của giáo phận đã được thiết lập sứ vụ một cách vĩnh viễn, đặc tính hóa một đường lối sứ vụ xác định rõ hơn đời sống và những hành động của các giáo xứ và của những thực tại khác của giáo hội. Trước hết, tôi muốn nói với mọi anh chị em rằng, tôi mong mỏi phê chuẩn toàn bộ quyết định này. Nó cần thiết hơn bao giờ hết và không có những thay thế, trong một xã hội và nền văn hóa hỗn tạp trong đó nhiều sức mạnh đang cố tách lìa chúng ta khỏi đức tin và đời sống Kitô giáo.

Hai năm qua, qui ước sứ vụ của Giáo Hội Rôma đã đặt trọng tâm trên gia đình, không chỉ vì thực tại nền tảng con người thời nay đã trở thành đối tượng của những khác nhau đa dạng và nhiều đe dọa, và vì thế trong một nhu cầu riêng biệt cần phải được phúc âm hoá và cổ võ đúng đắn, nhưng cũng bởi vì các gia đình Kitô giáo cấu tạo nguồn tài liệu phong phú cho việc giáo dục đức tin, xây dựng Giáo Hội để sự hiệp thông và khả năng truyền giáo hiện diện trong nhiều cảnh huống của đời sống, cũng như làm dậy men trong một ý thức Kitô giáo cho những cấu trúc văn hóa và xã hội.

Chúng ta cũng sẽ tiếp tục với những hướng dẫn này trong năm mục vụ đang tới và với lý do này đề tài của hội nghị chúng ta là “Gia đình và Cộng Đồng Kitô hữu: Căn bản của Con Người và Sự Truyền Đạt Đức Tin”. Cao điểm mà với nó, mỗi người phải bắt đầu tìm hiểu về sứ vụ của gia đình trong cộng đồng Kitô giáo và những thách đố nền tảng của cá nhân và sự truyền đạt đức tin, tiếp tục phải luôn luôn và là ý nghĩa mà hôn nhân và gia đình có trong dự án của Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc và Tạo Hóa. Đấy sẽ là căn bản của điều tôi phản ảnh chiều hôm nay, liên quan đến lời giảng dạy của tông huấn “Familiaris Consortio (http://gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_02.htm)” (Phần 2, ss. 12-16).

admin
19-06-2006, 01:10 PM
Nền tảng nhân chủng của gia đình

Hôn nhân và gia đình không phải là một cấu trúc xã hội hời hợt, hoa trái của những trạng huống lịch sử và kinh tế đặc thù. Trái lại, vấn nạn về quyền liên đới giữa một người nam và một người nữ có căn rễ trong ý nghĩa nền tảng căn bản nhất của nhân loại, và chỉ có thể tìm được câu trả lời sau đó. Nó không thể bị tách rời bởi câu hỏi luôn luôn mới mẻ cũng như luôn luôn cổ kính của con người về chính mình: Tôi là ai? Và với câu hỏi này, đối lại, cũng không thể tách rời khỏi câu hỏi về Thiên Chúa: Thiên Chúa có thực sự hiện hữu? Và Thiên Chúa là ai? Dung nhan ngài thực sự như thế nào? Câu trả lời của Thánh Kinh về hai câu hỏi này thống nhất và liên kết: Con người được tạo dựng trong hình ảnh của Thiên Chúa, và Thiên Chúa tự ngài là tình yêu. Vì lý do này, ơn gọi để yêu thương làm cho con người trở nên hình ảnh trung thực của Thiên Chúa: Con người trở thành giống Thiên Chúa trong mức độ nó trở thành người mà nó yêu.

Từ mối ràng buộc căn bản giữa Thiên Chúa và con người một hình thức nối kết khác được phát sinh: Liên kết không thay đổi giữa tinh thần và thể xác. Con người, thật ra, linh hồn tự nó sống động trong thân xác, và thân xác được sống động nhờ bởi linh hồn bất tử. Cũng vậy, thân xác của người đàn ông hay đàn bà, vì thế, có thể nói qua cái nhìn thần học, không chỉ là một thân xác đơn thuần và những gì là sinh vật học, nhưng là một sự tròn đầy và diễn tả nhân tính của chúng ta. Trong cách thức ấy, hành vi tính dục của con người không phải là cái gì đi liền với con người hiện hữu của chúng ta, nhưng tùy thuộc vào nó. Chỉ khi nào hành vi tính dục liên kết với con người, nó mới mang ý nghĩa đầy đủ của nó.

Cùng một cách thức, do hai ràng buộc của con người với Thiên Chúa, và - trong con người - giữa thân xác và tinh thần, làm nên một sự ràng buộc thứ ba: ràng buộc hiện hữu giữa con người và sự cấu thành của nó. Sự toàn diện con người bao gồm chiều kích của thời gian, và câu “có” của con người vượt qua khỏi thời gian hiện tại: Trong cái toàn thể của mình, tiếng “có” nghĩa là “luôn luôn”, nó tạo nên giá trị của trung tín. Chỉ trong tâm khảm mình, đức tin ấy có thể phát triển để mang lại tương lai và cho phép những người con, hoa trái của tình yêu, để tin vào con người và tương lai mình trong những thời điểm khác nhau.

Sự tự do của tiếng “có”, vì thế, xuất hiện như tự do có khả năng mang lại những gì là chung cuộc: Khả năng diễn tả cao nhất của tự do vì thế không phải tìm cầu khóa lạc, mà không dẫn đến một quyết định sáng suốt. Cũng thế, thái độ cởi mở rộng rãi xuất hiện như một nhận thức của tự do, nhưng không phải là thế: Cách diễn tả thật sự của tự do, trái lại, là khả năng để quyết định cho một tặng ân rõ ràng, trong đó tự do, tự mình giới hạn, tìm lại được chính nó một cách đầy đủ.

Một cách cụ thể, tiếng “có” của con người và hỗ tương giữa người đàn ông và người đàn bà khai mở một bầu trời tương lai, đối với nhân tính đích thực của mỗi người, và cùng một lúc để định phận cho một tặng ân của một sự sống mới. Vì lý do đó, tiếng “có” nhân linh phải là tiếng “có” cần thiết mà cũng có thể là một đáp ứng công khai, từ đó, đôi bạn mang lấy trách nhiệm công khai của lòng chung thủy, mà đó cũng là bảo đảm cho tương lai đối với cộng đồng. Không ai chúng ta có bổn phận ngoại trừ chính mình. Vì thế, mỗi người được kêu gọi để đảm trách trong chính tận cùng của mình trách nhiệm chung. Hôn nhân, như một lề luật, và do đó, không phải là mối tương quan giang dở của xã hội hoặc của các thẩm quyền, một gánh nặng từ bên ngoài trong thực tế riêng tư nhất của cuộc sống, ngược lại, là một nhu cầu cấp thiết tự bên trong của một hiệp ước của tình yêu vợ chồng và của sự sâu thẳm của cá nhân con người.

Những hình thức khác nhau hiện nay làm tan rẽ hôn nhân, cũng như những kết hợp tự do và “hôn nhân thử nghiệm”, bao gồm hôn nhân giả tạo giữa những người đồng phái tính, là một cách diễn giải trái ngược của thứ tự do vô trật tự xuất hiện một cách sai lầm như sự giải phóng khoáng chính thức của con người. Một cuộc hôn nhân giả tạo như thế được đặt trên sự coi nhẹ cơ thể, mà một cách chắc chắn bao gồm việc coi nhẹ con phẩm giá người.

Giả thiết rằng con người có thể trở thành những gì nó muốn: Do đó, thân xác của nó trở thành một cái gì thứ yếu, mà có thể bị lợi dụng theo quan điểm của con người, điều mà nó có thể xự dụng như con người thích thú. Chủ nghĩa tự do mà nó xuất hiện như một khám phá của thân thể và những giá trị của thân thể, thì trong thực tại một chủ thuyết lưỡng phân như thế làm cho thân xác đáng khinh, rời xa nó để có thể nói bên ngoài sự hiện hữu chính thức và nhân phẩm của con người.

admin
19-06-2006, 01:12 PM
Phần II


Hôn nhân và gia đình trong lịch sử Cứu Độ


Sự thật của hôn nhân và gia đình, mà nó nằm sâu trong căn rễ sự thật của con người, đã tìm được ứng dụng của nó trong lịch sử cứu độ, ở trọng tâm của nó là lời: “Thiên Chúa yêu thương dân ngài”. Thật ra, mạc khải Thánh Kinh trên hết là một biểu lộ lịch sử của tình yêu, lịch sử của giao ước Thiên Chúa với con người. Vì lý do này, Thiên Chúa đã có thể coi lịch sử của tình yêu và sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà trong giao ước hôn nhân, như biểu tượng của lịch sử cứu độ. Sự kiện không thể tả rõ, mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa đối với con người mang hình thức ngữ học đến từ từ ngữ hôn nhân và gia đình, vừa tích cực lại cũng vừa tiêu cực: Thiên Chúa tiếp cận với dân ngài được thể hiện bằng ngôn ngữ của tình yêu hôn nhân, trong khi sự bất trung của Israel, và sự sùng bái ngẫu tượng của nó được diễn tả như hành động dâm dật và ngoại tình.

Trong Tân Ước, Thiên Chúa từ từ biểu lộ tình yêu ngài cho đến khi ngài trở nên chính ngài, qua Con ngài, trở thành xương thịt của xương thịt chúng ta, một người thật. Từ đó, sự nối kết của Thiên Chúa với con người mang một hình thức cao cả, không thay đổi, và rõ ràng. Và trong cách thức ấy, một hình thức rõ ràng của tình yêu con người cũng được phác họa, mà tiếng “có” hỗ tương đó không thể bị phá hủy. Nó không làm băng hoại con người, nhưng giải phóng họ khỏi những cách ly của lịch sử để trả lại con người về với sự thật của sáng tạo. Vì thế, đặc tính bí tích mà hôn nhân có được trong Đức Kitô có nghĩa rằng, tặng ân sáng tạo đã được nâng lên thành ơn sủng của cứu độ. Ân sủng của Đức Kitô không đặt định từ bên ngoài cái tự nhiên của con người, nó không đi ngược với nó, nhưng giải thoát vài tái lập nó, bằng cách nâng lên khỏi mọi biên giới của nó. Và như cuộc nhập thể của Con Thiên Chúa mặc khải ý nghĩa sự thật trong cây thập giá, cũng thế, tình yêu đích thật của con người là hy sinh chính nó, nó không thể tồn tại nếu nó trốn tránh thập giá.

Anh chị em thân mến, mối ràng buộc bền chặt này giữa Thiên Chúa và con người, giữa tình yêu Thiên Chúa và tình yêu con người, nó cũng xác định bởi một số khuynh hướng và sự phát triển tiêu cực, mà sức nặng của nó tất cả chúng ta đều đã kinh nghiệm. Việc băng hoại tình yêu nhân loại, làm giảm giá khả năng đích thật để yêu xuất hiện trong thời đại của chúng ta như khí giới tối tân để con người chống lại Thiên Chúa, loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi tầm nhìn và trái tim con người. Tuy nhiên, ước muốn “giải phóng” Thiên Chúa làm cho con người mất đi tầm nhìn về sự rất thật của bản tính, bao gồm bản tính con người, làm giảm thiểu thành đồng nhất trong mọi tác dụng, mà nó có thể bị sắp đặt theo sự thoải mái của con người để xây dựng cái mà có thể nói là một thế giới tốt đẹp hơn và một nhân lọai hạnh phúc hơn. Nhưng trái ngược lại, dự án của Tạo Hóa lại bị phá hủy như một sự thật của bản chất chúng ta.

admin
19-06-2006, 01:39 PM
Con cái


Cũng thế, trong việc sinh sản con cái, hôn nhân phản ảnh mẫu mực thần linh, tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Trong người đàn ông và người đàn bà, tư cách làm cha, tư cách làm mẹ như xẩy ra với thân thể và với tình yêu, một trạng huống sinh vật học không bị hạn chế: sự sống luôn luôn được trao ban cách hoàn toàn với sự sinh nở, tình yêu và ý nghĩa được trao ban, mà nó làm cho có thể để nói tiếng có đối với sự sống ấy. Bởi vì thế, một cách rõ ràng là bất cứ quan điểm chấm dứt sự nối kết tự nó với tặng ân sự sống, và ngay cả hơn thế nữa, việc đè nén hoặc lạm dụng một sự sống chưa sinh, đều trái ngược lại với tình yêu con người, một ơn gọi cao cả của người đàn ông và đàn bà.

Tuy nhiên, không người đàn ông và đàn bà nào, bằng cách thức và sức mạnh của riêng mình có thể ban tình yêu và ý nghĩa của đời sống một cách đầy đủ cho con cái họ. Để có thể nói với một người: “Đời sống của con thật quí hóa, mà dù cha mẹ không biết tương lại của con”, cần một thẩm quyền tối cao và sự sáng tạo mà cá nhân con người không thể trao ban chính mình do ý muốn của mình. Người Kitô hữu biết rằng thẩm quyền ấy được trao ban cho một gia đình rộng lớn hơn mà Thiên Chúa, qua Con của ngài, Chúa Giêsu Kitô, và ân sủng của Thánh Linh, đã tạo dựng trong lịch sử con người, được gọi là Giáo Hội. Nó nhìn nhận tác động của tình yêu muôn thuở và bền vững để bảo đảm với đời sống của mọi người chúng ta một ý nghĩa bền bỉ, mặc dù chúng ta không biết về tương lai.

Vì lý do ấy, việc xây dựng mỗi gia đình Kitô giáo được khuôn mẫu trong việc nối kết với đại gia đình của Giáo Hội, để nó nâng đỡ và đồng hành, và bảo đảm có một ý nghĩa và rằng trong tương lai sẽ có tiếng “có” của Tạo Hóa. Và, một cách hỗ tương, Giáo Hội được xây dựng bởi các gia đình, “một giáo hội nhỏ tại gia”, như Công Đồng Vatican II đã đề cập ( “Lumen Gentium,” 11 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/lumen02.htm); “Apostolicam Actuositatem,” 11 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/apost03.htm)), tái khám phá tư tưởng của một giáo phụ (St. Gioan Chrysostom,” “In Genesim serm,” VI,2; VI,1). Trong cái nối tiếp này, “Familiars Consortio” khẳng định rằng “Hôn nhân Kitô giáo....nối tiếp vị trí căn bản trong đó con người được tháp nhập vào đại gia đình của Giáo Hội” (số 15 (http://gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_02.htm#fc15)).

admin
19-06-2006, 01:43 PM
Gia đình và Giáo hội


Kết quả rõ ràng được tìm thấy từ những điều này là: gia đình và Giáo Hội, đặc biệt là các giáo xứ và những hình thức khác của cộng đồng giáo hội, được kêu gọi tới sự hợp nhất vững bền trong đó hành động căn bản được thiết lập, một cách không phân ly, bởi sự hình thành con người và chuyển tiếp đức tin. Chúng ta biết rằng đối với một nỗ lực giáo dục vững chắc được thực hiện, nói về một lý thuyết hoặc giáo lý đứng đắn chưa đủ. Một cái gì đó còn lớn lao và vượt xa con người cần thiết phải có - sự gần gũi này, đời sống thường ngày, là điều chính đáng để yêu và khám phá ra chân trời rất thuận lợi trên tất cả trong cộng đoàn gia đình, và sau đó trong một giáo xứ, hoặc phong trào hay tổ chức giáo hội, nơi mà người ta tìm thấy sự chú ý của anh em mình, một cách đặc biệt, của con cái mình và tuổi trẻ, cũng như những người lớn tuổi và cao niên, bệnh nhân, và những gia đình, bởi vì, trong Chúa Kitô họ thương yêu những người này. Một vị thánh quan thầy gương mẫu của những nhà giáo dục, Thánh Gioan Boscô, nhắc nhở những người con tinh thần của mình rằng “Giáo dục là cái gì đến từ con tim và rằng chỉ duy mình Thiên Chúa là sở hữu chủ” (“Epistolario,” 4,209).

Hình ảnh của chứng nhân là trung tâm của thành quả giáo dục, và đặc biệt, giáo dục trong đức tin, mà cũng là chóp đỉnh của việc tạo thành của con người và một chân trời xứng hợp nhất: chứng nhân trở thành một dấu chỉ tham khảo một cách chắc chắn trong cách thức đo lường trong đó người này có thể tự bảo vệ niềm hy vọng mà nó là căn bản của đời sống (x. 1 Pr 3,15 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=1 Pet 3:15)), và trong cách đo lường mà người nhân chứng đã tự chính mình liên quan với sự thật người đó làm kiểu mẫu. Người chứng nhân, hơn thế, không tự chỉ về mình, nhưng chỉ một cái gì, hoặc hơn nữa một người nào đó cao cả hơn, đấng mà người đó đã gặp gỡ và kinh nghiệm như sự thiện xứng hợp. Do đó, tất cả những nhà giáo dục và nhân chứng tìm một mẫu gương siêu việt trong Chúa Giêsu Kitô, một nhân chứng cao cả của Chúa Cha, đấng không nói gì tự mình, nhưng đã nói chính xác như Chúa Cha đã bảo người nói (x. Ga 8,28 (http://www.donghanh.org/cgi-bin/suyniem/tuol?font=unicode&banner=n&query=Jn 8:28)).

Đó là lý do tại sao trong căn bản việc hình thành con người Kitô hữu và của việc chuyển nhận đức tin cần thiết phải có lời cầu nguyện, thân mật với Chúa Kitô và việc nhìn ngắm dung nhan Chúa Cha trong ngài. Và trong một cách tương tự, có thể nói tất cả những giao kết sứ vụ của chúng ta, một cách đặc biệt, chương trình mục vụ gia đình của chúng ta: chớ gì Thánh Gia Nagiareth, trở nên mẫu nực cho các gia đình chúng ta và cộng đồng chúng ta, đối tượng rõ ràng và lời cầu nguyện thành tín, cũng như mẫu gương của đời sống.

Anh chị em thân mến, đặc biệt, quí linh mục thân yêu, tôi nhận thấy tấm lòng rộng rãi và quên mình qua đó, anh em đã phục vụ Chúa và Hội Thánh Ngài. Công việc thường ngày để thiết lập đức tin của những thế hệ mới, trong sự kết hợp mật thiết với các bí tích của khai tâm Kitô giáo, cũng như bằng việc chuẩn bị cho đời sống hôn nhân và nâng đỡ các gia đình trong hành trình của họ, thường xuyên không phải là dễ dàng, trong một cách đặc biệt, việc đòi hỏi lớn lao của giáo dục trẻ em, là một con đường căn bản để luôn luôn làm cho tái sinh Giáo Hội và cũng làm tươi mát cơ cấu xã hội của thành Rôma thân yêu của chúng ta.

admin
19-06-2006, 01:44 PM
Đe dọa liên đới chủ nghĩa


Vì thế, để tiếp nối mà không làm anh chị em mất can đảm bởi những khó khăn gặp phải. Mối liên kết giáo dục là, bởi chính đặc tính của nó, là một cái gì tinh tế: nó ám chỉ tự do người khác, ngay cả với sự dịu dàng, bị thôi thúc phải quyết tâm. Không phải là cha mẹ, các linh mục, các giáo lý viên, hoặc bất cứ một nhà giáo dục nào có thể thay thế sự tự do của một đứa trẻ, một em bé, một bạn trẻ người mà họ hướng dẫn. Và một dự án Kitô giáo xen vào sự tự do một cách rất mãnh liệt, được gọi là đức tin và sự chuyển đổi. Một ngăn trở tinh vi trong nỗ lực giáo dục ngày nay là băng hoại được giới thiệu trong xã hội chúng ta và trong nền văn minh của chủ thuyết liên đới, mà nó không nhận thức bất cứ một cái gì như tuyệt đối, chỉ duy sự đo lường cuối cùng của nó là “tôi”, với thị hiếu ấy, và từ đó với sự có mặt của tự do, trở thành ngục tù cho mỗi người, khi nó chia rẽ nhau, làm cho mỗi người lo tìm kiếm chính mình khép kín trong cái “tôi” của chính mình. Trong chân trời ấy, vì thế, một nền giáo dục vững chắc là một điều không có thể. Nếu không có ánh sáng sự thật, sớm hay muội mỗi người đều bị kết án để nghi ngờ sự thiện của chính đời mình và những mối tương quan tạo nên nó, cái giá trị của mối ràng buộc của nó để xây dựng với những người khác trong một số vấn đề chung.

Vì thế, rõ ràng là chúng ta không chỉ phải cố gắng để khắc phục quan niệm sống này trong cách thức cấu tạo con người, nhưng chúng ta còn được kêu gọi để đối đầu với sự phá sản thống trị xã hội và nền văn hóa. Vì lý do ấy, thật là quan trọng để thêm vào lời của Giáo Hội, chứng từ và ràng buộc công khai của các gia đình Kitô giáo đã được trao ban, đặc biệt, để tái xác nhận sự bất khả xâm phạm của đời sống con người từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên, cái giá trị đặc thù và không thể thay thế của gia đình trên nền tảng hôn nhân và nhu cầu cho sự do lường của luật pháp và điều hành mà nó nâng đỡ các gia đình trong trách nhiệm sinh sản và giáo dục trẻ em, một trách nhiệm căn bản của tương lai chung chúng ta. Đối với quyết tâm ấy của anh chị em, tôi cũng giử lời cảm ơn chân thành từ trái tim tôi.

admin
19-06-2006, 01:46 PM
Linh mục và đời thánh hiến


Sứ điệp sau cùng mà tôi muốn gửi tới anh chị em liên quan đến sự chú tâm về những ơn gọi linh mục và đời tận hiến. Chúng ta tất cả đều biết nhu cầu của Giáo Hội! Đối với những ơn gọi này để được sinh ra và trưởng thành, con người được mời gọi giữ mình để luôn xứng đáng với ơn gọi của họ, trên tất cả, lời cầu nguyện và ước muốn phải là những gì không thể thiếu trong mỗi gia đình và trong cộng đồng Kitô hữu. Nhưng căn bản hơn là chứng từ của đời sống các linh mục, nam nữ tu sĩ, niềm vui được Thiên Chúa kêu gọi. Và, một niềm vui căn bản như thế là một gương sáng mà trẻ em lãnh nhận từ gia đình của các em và sự chấp nhận của gia đình rằng, những ơn gọi của trẻ em cũng trở thành hồng ân lớn lao của Thiên Chúa cho gia đình. Sự ràng buộc của đức trinh khiết vì Thiên Chúa và vì anh em, là những gì đòi hỏi cho đời sống linh mục và tận hiến, thì cũng được đồng hành bởi sự đón nhận ơn gọi Kitô giáo: cách này hay cách khác, với hai hình thức khác nhau và riêng biệt đã làm cho trở thành sống động trong cái ý nghĩa mầu nhiệm của giao ước giữa Thiên Chúa và dân ngài.

Anh chị em thân mến, tôi trao gửi những suy tư này tới anh chị em như một đóng góp vào việc làm của anh chị em trong những buổi chiều của đại hội và sau này trong năm mục vụ kế tiếp. Tôi cầu xin Thiên Chúa ban cho anh chị em lòng can đảm và nghị lực để Giáo Phận Rôma của chúng ta, mỗi giáo xứ, cộng đồng tu trì, hiệp hội và phong trào sẽ tham dự mật thiết trong niềm vui và nỗ lực của sứ vụ và trong cách thức ấy, mọi gia đình và toàn thể cộng đồng Kitô hữu sẽ tái khám phá trong tình yêu Thiên Chúa chìa khóa để mở cửa các tâm hồn và làm nên một nền giáo dục lành mạnh trong đức tin và trong sự hình thành của con người. Tình yêu của tôi và phép lành của tôi sẽ luôn ở với anh chị em hôm nay và mãi mãi.

Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt

Nguồn: Tiếng nói giáo dân (http://www.tiengnoigiaodan.net/dacbiet/db_ntnch.html)