PDA

View Full Version : KiTô học - Giáo Hội học và Truyền Giáo Học


admin
11-01-2006, 11:35 AM
KiTô học - Giáo Hội học... (http://dovyha.catruong.com/phpbb/viewtopic.php?t=61)
bài tham luận của Ðức Giám Mục Nguyễn Văn Hòa đã được trình bày trong Thượng Hội Ðồng Giám Mục Á Châu
Kitô Học, Giáo Hội Học và Truyền Giáo Học

Phần Nhập Ðề

Chúng tôi xin chào mừng Thượng Hội Ðồng Giám Mục Á Châu với tâm tình vui mừng và hy vọng. Chúng tôi nghĩ rằng thời gian họp Thượng Hội Ðồng Giám Mục nầy là một cao điểm để suy tư, không những về những công việc cụ thể của chúng ta để rao giảng Phúc Âm, nhưng còn là và nhất là về nhiều vấn đề thần học, giáo hội học và truyền giáo học mà công việc rao giảng tin mừng đặt ra cho chúng ta. Chúng tôi muốn dùng dịp may nầy để gợi lên nơi đây vài vấn đề mà chúng tôi cho là căn bản. Chúng tôi hy vọng là cùng với những suy tư của anh em, những vấn đề đó sẽ được soi sáng. Chúng ta sinh sống trong một Á Châu mà đa số dân chúng thuộc về những truyền thống văn hóa và tôn giáo không Kitô. Những truyền thống nầy có mặt ở Á Châu từ nhiều thế kỷ truớc Chúa Kitô. Sự kiện nầy thôi thúc chúng ta đặt ra nhiều vấn đề trong những lãnh vực khác nhau. http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://dovyha.catruong.com/phpbb/viewtopic.php?t=61)

Trần Duy Thực
19-02-2006, 03:26 AM
Kính thưa tất cả,
Khi đọc corpus của mấy ông thần học hạng nặng, thì Thực thường thấy như ri. Có đi mô thì cũng quy về Ba Ngôi. Văn phong của mấy ông càng lớn thì càng rắc rối khó hiểu: mấy ổng đón trước rào sau, cho nên mở ngoặc đóng ngoặc tùm lum. Nhưng cái cốt lõi của tư tưởng thì cũng quanh quẩn ở mầu nhiệm Ba Ngôi.

Mà nói tới Ba Ngôi thì bó buộc phải nói Ngôi Con, Lời nhập thể. Ta không thể nào biết được Chúa Cha và Chúa Thánh Linh nếu không có Đức Giêsu Kitô. Mặt khác, một Thiên Chúa trừu tượng chỉ ngự trên cõi Trời cao xa không phải là Thiên Chúa của Kitô giáo. Vai trò của Đức Kitô là duy nhất: đấng trung gian vừa là người, vừa là Chúa. Chúa của đạo mình không phải chỉ là Thượng Đế ở những nơi «thăm thẳm tầng trên». Chúa của mình, qua trung gian Đức Giêsu Kitô, là con người thực 100%, đã sống và đau khổ ở trần gian.

Để góp bột vào hồ cho cuộc bàn luận, Thực xin trích một đoạn trong sách của Raimon Pannikkar, Entre Dieu et le cosmos, Albin Michel, tr 27-36. Thực dịch rất lẹ, nên có thể còn sai trật. Những ai cần kiểm chứng thì xin xem lại référence vừa ghi. Đa tạ.

Panikkar là nhà thần học có 2 dòng máu: Tây Ban Nha nhờ mẹ, Ấn Độ nhờ cha. Tư tưởng có vẻ «táo bạo», không hiểu tại sao chưa thấy GH nói gì cả? Có lẽ -có lẽ thôi- bởi vì Thực đoán mò, triết học tây phương đang đi vào lối bí. Mà thần học lại thường dùng ngôn ngữ khái niệm của triết học tây phương. Có lẽ rằng GH đang trông chờ những lối nhìn mới tới từ đông phương chăng ? ? Nếu đúng như thế thì các nhà thần học Á Châu nói chung và thần học Việt Nam nói riêng đã đến lúc phải cật lực rồi đây?
______


La révélation, la partie et le tout
Mặc khải, thành phần và toàn thể.


J : Ông đã thấy toàn thể trong thành phần. Đối với tôi, điều này rất quan trọng khi thấy rằng nhiều người đã nhìn sai, bởi vì họ nghĩ rằng có thể định lượng được sự thực, bởi vì họ nghĩ rằng trên bình diện huyền nhiệm, con người chỉ có thể tiếp cận một phần nhỏ của chân lý. Tuy vậy, và thoạt nhìn, thì khi thấy ông quả quyết như thế, tôi có cảm tưởng là ông hơi liều lĩnh và đi quá xa? Bởi vì, nếu mình khiêm tốn thì mình sẽ chấp nhận một thành phần trong thành phần… Dù thế, trong những tác phẩm của ông, ông đã lập đi lập lại về sự sung mãn đang tác động trong mọi người.


P : Vâng, tôi vẫn luôn nghĩ và sống như thế. Tôi vừa viết xong cuốn sách bàn về Sự Sung Mãn của Con Người, mà đối với người Kitô hữu thì đó chính là Đức Kitô. Không! không phải chỉ tiếp cận một thành phần của toàn thể: chính chúng ta đã được trao tặng toàn thể. Con người luôn khao khát viên mãn.


J : Hegel đã triển khai rất rõ quan niệm đó trong triết lý của mình. Ông ta khẳng định rằng không thể nào nghĩ tưởng được thành phần nếu không có toàn thể, bởi vì thành phần tự nó đã ngụ ý toàn thể. Nhưng điều quan trọng là việc ông xác định rằng nhờ mở con mắt thứ ba mà ông đã gặp được toàn thể trong thành phần. Nếu nói như thế, thì thưa ông, văn bản để làm gì? bởi vì trong cái vòng mà ông gọi tên là reliogisité (tôn giáo tính), ta đã gặp những văn bản nền tảng –như Kinh Thánh chẳng hạn hoặc là những văn bản khác của Ấn Độ giáo cũng như Phật giáo- mà ông rất quen thuộc. Và như thế, các văn bản đã đóng vai trò gì với «điểm quy chiếu» mà mỗi đạo giáo đều quy về đó để tiếp cận với cái thực tại nền tảng và huyền nhiệm mà ông đã đề cập tới?

P : Xin bà nhớ lại lời của Thánh Phaolô rằng chữ nghĩa thì huỷ diệt (Rm 10,17) (dịch từ câu «la lettre tue», nhưng khi Thực lật KT đoạn này thì chỉ thấy viết như vầy: «có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Chúa»). Trong viễn ảnh đó, tôi cũng xin trích thánh Thomas d’Aquin: trong tập Somme théologique, người giải thích và biện hộ cho việc Đức Giêsu Kitô không hề viết. Và cốt lõi câu nói của Thomas d’Aquin là như vầy, nếu Đức Giêsu đã viết thì những độc giả của Người sẽ xem lầm những gì Người viết là Lời của Người. Nhưng Đức Giêsu không hề viết, do đó, ta có thể nói, theo nghĩa thật sát, thì mình không thể khẳng định được rằng thông điệp của Người lấy Văn Tự (Ecriture) làm nền tảng. Tóm lại, Kitô giáo không phải là một tôn giáo của Sách mà là một tôn giáo của Lời. Thánh Thomas cũng đã trích dẫn Socrate và Pythagore, hai ông này cũng không hề viết. Về phần tôi, tôi sẽ trích dẫn Phật Thích Ca, Mahavira, và nhiều người khác nữa. Tôi không ngại tương đối hoá văn tự và tôi cũng không nghĩ rằng người ta có thể nói các đạo giáo đều lấy nguồn gốc từ văn bản. Ta đã coi thường văn hóa truyền khẩu.

J : Và do đó mà tôi nghĩ rằng ông đã giữ một khoảng cách với những ai tiếp tục khuynh hướng tôn giáo Do Thái?

P : Đúng thế. Mặc dù ai cũng biết rằng văn bản của Kinh Thánh đều được tạo nên sau những biến cố được kể trong KT, và những văn bản đó đã được viết để biện hộ cho một praxis (hành động). Nhưng đó là khuynh hướng riêng của dân Do Thái – và đó là điều vĩ đại của dân tộc Do Thái - thường cho văn bản viết một tầm quan trọng rất lớn. Nhưng xin đừng quên rằng muốn theo sách Talmud thì mọi ý kiến đều có thể được. Bởi vì mình có thể giải thích một văn bản bằng vô vàn phương pháp, với vô vàn ý nghĩa, và nhiều khi những ý nghĩa đó chống lại nhau. Khó mà có một điểm quy chiếu chung, khó mà có một uy quyền chung, một khi mà ai cũng có thể giải thích để biện hộ điều này hơn là điều khác. Và như thế, đã có người dùng Kinh Thánh để biện hộ cho apartheid và chế độ nô lệ hoặc những cuộc chiến tranh. Sau cuộc chiến vùng Vịnh, các nhà thờ ở Mỹ đều giật chuông để chào mừng chiến thắng!

Và chính vì thế mà xin phân biệt đức tin và tín ngưỡng (foi et croyance). Văn bản thì có ích cho tín ngưỡng, nhưng lại dư thừa cho đức tin.

...

Trần Duy Thực
19-02-2006, 03:29 AM
J : Khi Thánh Gioan thánh giá nói về đức tin thì người nói rằng bóng đêm u tối (les ténèbres) là chính Thiên Chúa: đó là một trong những cách diễn đạt về cái chiều kích thâm sâu huyền nhiệm của thực tại mà ông đã bàn tới. Bởi vì ông bàn tới sự đối chọi đức tin / tín ngưỡng, thì thưa ông, ông nghĩ gì về mặc khải? hoặc nói khác đi, mặc khải là gì trong quan hệ đức tin và tín ngưỡng?

P : Tôi muốn chỉ trích (Thực : critique, hiểu theo nghĩa của Kant) một số quan điểm hiện nay về mặc khải, nhất là khi xem mặc khải dưới góc độ substantialiste (bản chất). Nếu xem mặc khải như là một cách biểu thị và như là ngôn ngữ của Thiên Chúa đang nói để tỏ bày cho chúng ta điều này điều nọ mà chúng ta không hề biết, thì điều đó không thuyết phục được tôi. Mặc khải phải hiểu như là một khai mở tấm màn u minh (dévoilement), điều này cũng có nghĩa là chúng ta có thể tiếp cận thực tại qua tấm màn. Tôi xin trích người bạn của bà, thầy Eckhart : chính hữu thể là một tấm màn, một tấm màn vừa diễn đạt thực tại vừa che giấu thực tại. Và điều đó cũng có nghĩa là tấm màn là trung gian của mặc khải. Và nếu triển khai thêm tư tưởng đó, tôi tự hỏi rằng có thể nào nói rằng mặc khải chung cuộc (révélation finale) phải là bóng tối, tịch lặng hoặc phi-hữu-thể (non-être) như thánh Gioan thánh giá, như Denys l’Aerophagite đã nói ? Bởi vì có nhiều đẳng cấp trong việc khai mở thực tại. Do đó, nếu có một vài trường phái triết học hoặc thần học cho rằng có một Thiên Chúa đang nói... thì tôi cho rằng điều này có thể giúp cho họ có một điểm quy chiếu an toàn, an thân. Nhưng tôi vẫn luôn ý thức rằng mặc khải của Chúa đòi hỏi giải thích của con người, dù chỉ vì muốn nói đúng rằng đó là mặc khải.

J : Ông không thấy việc đó là một «tất yếu» trong một thời buổi nào đó của nhân loại, như thể đó là một câu trả lời đặc thù cho một trình độ văn hóa nào đó?

P : Không hẳn như thế. Thứ nhất, bởi vì tôi không đồng ý với cách chia giai đoạn lịch sử như thế. Thứ đến, hậu nghiệm mà nói (a posteriori), một số tôn giáo không hề dùng tới khái niệm mặc khải. Ngay cả trong Vệ Đà cũng không có khái niệm mặc khải.

J : Vậy thì theo ông, nếu phải hiểu theo nghĩa thật sát và thực chứng thì mặc khải nghĩa là gì?

P : Cốt tuỷ của mặc khải là việc tiếp cận chân lý khi chân lý được khai mở. Và theo đó, thì tất cả những gì mời gọi con người tới sự sống đều là mặc khải. Một cuộc đối thoại, một trao đổi quan điểm đều có thể là mặc khải. Mặc khải không có gì khác hơn là sự biểu thị của thực tại, và nếu chân lý là Thiên Chúa, thì lúc đó, chính là lúc Thiên Chúa mặc khải. Dù gì đi nữa, tôi không đồng ý việc tuyệt đối hoá và bản chất hoá mặc khải.

Trong thần học Kitô giáo nói chung và công giáo nói riêng, mặc khải thực thụ không phải là Kinh Thánh, không phải là Phúc Âm mà là chính Đức Giêsu. Văn Tự (Ecritures) được linh hứng chứ không phải là mặc khải. Đó chính là điều mà rất nhiều người lầm lẫn. Đúng là lạc đạo thực sự khi khẳng định rằng Văn Tự được mặc khải. Ta không thể nào biểu đạt mặc khải bằng những kết luận thần học, hoặc sắp xếp theo một vài khái niệm. Trong một vài ấn bản Kinh Thánh, ta có thể đọc rằng vì thương hại, vì tội cho dân tình dốt nát, nên Đức Giêsu đã nói bằng dụ ngôn mà không dùng những khái niệm siêu hình. Như thể là ngôn ngữ dụ ngôn thì không hay và không hoàn toàn bằng ngôn ngữ khái niệm! Nhưng thực ra, ngôn ngữ dụ ngôn truyền đạt nhiều hơn, phong phú hơn rất nhiều bởi vì nó chứa đựng rất nhiều nghĩa, bởi vì nó đòi hỏi chúng ta phải cố gắng để đạt tới «bờ bên kia» (Thực: đáo bỉ ngạn), nếu phải dùng một từ ngữ Phật giáo. Đức Giêsu dùng dụ ngôn không phải vì dân chúng ngu muội, nhưng vì đó chính là hình thức toàn hảo nhất của Lời và của khải mở thực tại.

J : Việc ông đã đưa Đức Giêsu vào tâm điểm của vấn đề đã cho chữ «mặc khải» một ý nghĩa rất đặc biệt…

P : Điều tôi nói đó là chính thống và dựa trên truyền thống.

J : Thế thì mặc khải không khai diễn như một tập hợp những chân lý được trao tặng cho tôi để chống với những chân lý khác…

P : …( phải nói rằng ) một tập hợp những công thức, những câu nói.

J : Nhưng có phải người ta vẫn thường nghĩ mặc khải là như thế đấy?

P : Hỡi ôi! Đó là dấu hiệu quá hiển nhiên chứng tỏ rằng chúng ta đã lạc hậu về văn hoá cũng như về đạo giáo. Vậy mà chúng ta dám gọi những dân tộc khác là «chậm phát triển» hay là «đang phát triển». Và còn tệ hơn thế nữa, đúng là mù quáng và kiêu hãnh của một nền văn minh đang giãy chết!

J : Thì đúng là Đức Giêsu không hề viết một câu.

P : Trừ phi Người viết trên cát (Ga 8,6)… Châm biếm thay Thánh Linh! Nhưng cũng đúng là «quan phòng» việc mà chúng ta không còn giữ một chữ «nguyên bản» nào của Đức Giêsu! Tất cả, ngay cả những câu đơn giản nhất, đều do người khác kể lại. Do đó, chúng ta không phải theo sát chữ. Nếu người Kitô hữu không gặp được mầu nhiệm Đức Kitô thì Kinh Thánh không hề có.

J : Và vì thế mà từ nguyên thuỷ, Kitô giáo phải cần diễn giải không ngừng nghỉ lời của Đức Kitô. Người đã dạy một cách sống động. Người đã nói.

P : Vâng, Người nói. Cũng giống như mấy người Phi Châu vẫn thường nói: Giêsu hay đi thăm viếng! Từ nhà này sang nhà khác. Người nói. Rao giảng không phải là những lời tuyên bố long trọng chính thức: đó là lời sống động. Muốn đón nhận lời ta phải lễ hội, phải nhảy múa, phải hát, phải dấn thân. Không có rao giảng nào mà không có lễ hội. Không phải là ta vẫn thường nói rằng Tin Mừng, Tin Vui (eu-angelium) đó sao?

J : Không phải là đã có những cách chú giải đối nghịch nhau sao? Có phải nhờ vậy mà dần dà cái mà ta gọi là chân lý sẽ sáng tỏ? Đó cũng là một cách để hỏi rằng: điều đó có ý nghĩa gì?

P : Tôi thấy ở đấy có một bẫy rập và nguy hiểm. Cái bẫy là áp dụng chú giải theo phương pháp khoa học, dùng quy nạp và loại suy. Nguy hiểm là tuyệt đối hoá. Nếu dùng ngôn ngữ Abraham (Thực: truyền thống Do Thái), tôi sẽ nói rằng tuyệt đối hoá tương đương với việc thờ ngẫu tượng. Khi mà tôi tuyệt đối hoá bất cứ gì, tôi đã rơi vào việc thờ ngẫu tượng. Bà vừa nhắc tới quá trình kiếm tìm chân lý, thế thì xin đừng muốn chiếm đoạt chân lý và coi chân lý như một vật, và cũng xin đừng tìm kiếm chân lý bằng những phương pháp không thích hợp: đó là một cách bóp chết chân lý. Chân lý luôn có âm hưởng của tương giao. Khi nào người ta thiêu huỷ giao tế, người ta đã đánh chết chân lý. Nếu việc kiếm tìm chân lý không kèm theo việc tự đặt lại câu hỏi mình đây là gì, cái mình đang kiếm tìm đây là gì, thì khi đó kiếm tìm chỉ là tìm kiếm một hệ thống khái niệm, một lý thuyết, tóm lại, chỉ là một cuộc khảo cứu khoa học. Không, đó không phải là chân lý giúp ta sống. Khi chân lý không còn là chân lý của mỗi người, sống động, vừa chủ quan vừa khách quan thì chân lý đó không còn là chân lý nữa.

Không ai đặc quyền sở hữu chân lý, bởi vì chân lý thì đa dạng (pluraliste) chứ không phải số nhiều (pluriel). Nếu chân lý chỉ là một khách/vật thể thì chân lý đó không có thực. Bởi vì chân lý, khi nói tới, luôn luôn gắn liền với người đang đối thoại. Nếu không tìm về lại chính mình, tức là không có hào hứng thánh thiện (élan de sainteté), thì mọi «cuộc tìm kiếm chân lý» -nếu phải dùng ngôn ngữ của Descartes- đều sai trái. Đó không phải là một cuộc tìm kiếm chân lý thực thụ. Đó chỉ là việc tìm kiếm sự tương hợp cho một hệ thống khái niệm, điều mà một máy vi tính cũng có thể làm được.

...

Trần Duy Thực
19-02-2006, 03:30 AM
J : Thì đúng rằng đó không phải là chân lý.

P : Đúng thế thưa bà. Chân lý giải thoát, chân lý ban cho tự do không phải là một giáo thuyết. Như thánh Gioan đã kể lại lời của Đức Giêsu: «Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn» (Ga 16,13). Nếu chân lý toàn thể là một tổng hợp những chân lý nho nhỏ mà chúng ta đang tạo ra thì đúng là quá điên rồ.

J : Ông nói rằng mặc khải là chính Đức Kitô, thế thì thưa ông, mặc khải đó đã tụ hợp con người chung quanh những gì mà mặc khải đó muốn nói, trải qua nhiều thời đại, và vẫn luôn là mặc khải, cho tới cả ngày hôm nay?

P : Chắc chắn là như thế. Với điều kiện là khi dùng từ «trải qua» bà phải hàm trong đó luôn cả hiện tại và tất cả thời gian tính, như thánh Phaolô đã nói «Giêsu Kitô, hôm qua, hôm nay và mãi mãi». Bởi vì nếu Đức Kitô không là thực tại sống động ngày hôm nay thì Người chỉ là một biến cố đã qua và bị tràn ngập trong giòng lịch sử, thế thôi.

J : Đức Kitô thực tại sống động ngày hôm nay nghĩa là gì?

P : Tôi xin được giải thích theo 2 hướng. Thứ nhất là bí tích Thánh Thể. Thứ hai là cuộc gặp gỡ cá nhân với mầu nhiệm mà Kitô hữu gọi là Đức Kitô. Nếu có hai điều kiện đó, thì ta có thể nói được rằng, dù tất cả Kinh Thánh có biến mất, thì đức tin Kitô giáo cũng không hề gì. Nếu muốn Đức Kitô thực tại sống động thì phải tìm thấy Người. Một cuộc gặp gỡ cá nhân, huyền nhiệm.

J : Thế thì gặp gỡ cá nhân, huyền nhiệm nghĩa là gì?

P : Cuộc gặp gỡ với mầu nhiệm và thực thụ đó có thể thực hiện được nhờ và qua Đức Giêsu Nazareth không phải là một cuộc gặp gỡ dưới hình thức «nhân cách hoá». Tôi không thể nào gặp được Giêsu như tôi gặp chồng hoặc gặp bạn thân của tôi. Nói là gặp như thế thì cũng không sai, nhưng đó chỉ là một ngôn ngữ ẩn dụ. Nhưng có lẽ rồi chẳng có ngôn ngữ nào khác, dù trong quan hệ mầu nhiệm hoặc khi phải diễn đạt tình yêu. Nhưng cũng không phải thế đâu… Một ngôn ngữ như thế phải được phân tích về phương diện tâm lý, hoặc tâm phân học, trong khi cuộc gặp gỡ chân thật mà tôi đề cập thì ta không thể nào đặt vấn đề như thế này.

J : Giáo Hội có lý hay không khi khẳng định hoặc có ý nói rằng: nếu không có thực tại mà tôi đang đại diện, nếu không biết gì về cái mà tôi đang được trao giữ, thì anh không thể nào gặp được Đức Kitô?

P : Đó là một ngôn ngữ mà tôi hiểu và tôi chấp nhận. Nhưng tôi cũng xin đưa ra vài nhận định, và đây là nhận định quan trọng nhất: Giáo Hội không đồng hoá với hàng giáo phẩm. Giáo Hội là cộng đồng những người tin nơi Đức Kitô. Tôi liên hệ tới Giáo Hội chỉ khi nào tôi chú trọng tới truyền thống Kitô hữu nói rằng Giáo Hội đã có từ thời tạo dựng nên thế giới. Ecclesia ab Abel (Giáo Hội từ thời Abel). Truyền thống đó đã đưa Đức Kitô tới cho chúng ta. Nếu không có truyền thống đó thì ta không thể nào nhận biết Đức Kitô. Nhưng xin đừng lầm lẫn Đức Kitô và Giêsu.

J : Nghĩa là sao?

P : Đây là một điểm thiết yếu. Ở đây, chúng ta đụng đến phép ngoại suy (extrapolation) của tư tưởng khoa học. Tư tưởng khoa học đã dẫm chân tới một vùng đất không phải của mình, không phải dưới ảnh hưởng của mình trong tri thức con người. Tôi viết trên bảng đen: A là B và như thế B là A. Nhưng ta không thể nào thay thế A bằng Giêsu và B bằng Kitô. Những người đang ở trong và qua Đức Giêsu đã khám phá ra mầu nhiệm Kitô chính là những Kitô hữu đã thức tỉnh niềm tin. Nhưng Đức Kitô không phải tức khắc đồng dạng (identique) với Giêsu…

Đức Giêsu đã khẳng định trước khi có Abraham thì Người đã có. Nhưng không phải là con của bà Maria đã có trước Abraham. Trong bí tíchThánh Thể, ta có sự hiện diện thực thụ của Đức Kitô. Nhưng người nhận lãnh bí tích Thánh Thể không hề tiêu thụ chất protein của con bà Maria. Đức Kitô, như truyền thống Kitô giáo vẫn nói, là Alpha và Oméga. Người là unigenitus và primogenitus, đấng duy nhất được sinh ra và là người con trưởng, đấng mà từ thuở ban đầu đã tạo nên mọi sự. Một lần nữa, đấng Kitô đó, không tức khắc đồng dạng với Giêsu: ý muốn rằng phải phân biệt nhưng không tách biệt (Giêsu và Kitô). Người Kitô hữu tìm thấy nơi Đức Kitô trong và qua Đức Giêsu, nhưng Đức Kitô vượt quá khuôn mặt của Đức Giêsu. Đức Giêsu là Đức Kitô: đó là điều mà Kitô hữu tuyên xưng, đó là đường mà Kitô hữu phải noi theo. Đức Kitô là tên mà người Kitô hữu gọi mầu nhiệm mà họ gặp trong và qua Đức Giêsu.

Trần Duy Thực
19-02-2006, 05:52 AM
Xin nói thêm tí, để những anh em không chuyên như tôi có thể hiểu rõ hơn về Kitô học. Nhưng cũng xin khẩn nài các thức giả sửa sai và góp thêm ý kiến. Đây là bản tóm lược về các khuynh hướng Kitô học, được rút ra từ cuốn sách của Đức Hồng Y Walter Kasper, Jésus le Christ, Cerf 2004, tr. 16-29:
________

Có 3 làn sóng chính. Mỗi làn sóng như thế lại chia ra thành nhiều khuynh hướng.

I. Làn sóng thứ nhất :

a) Qua lăng kính vũ trụ luận : đã có từ đầu Công Nguyên. Tức là một lối nhìn Kitô học qua lăng kính vũ trụ luận của Hy Lạp. Và như thế, ở đây vai trò của Ngôi Lời (Logos) là chủ chốt. Mãi sau này, cha Teilhard de Chardin cũng dùng hình ảnh vũ trụ luận để giải thích Kitô học (alpha et oméga)

b) Qua lăng kính nhân loại học : Chừng một trăm năm nay thôi. Lại nhìn Kitô học qua góc độ nhân loại học. Nôm na là đi từ con người, qua trung gian đức Giêsu, mà đi lên tới Chúa Ba Ngôi. Karl Rahner được ĐHY Kasper xếp vào loại này. Braun cũng thế.

c) Qua góc độ lịch sử : Con người sống trong lịch sử, cho nên câu hỏi về ý nghĩa của sự cứu chuộc con người cũng là câu hỏi về ý nghĩa của sự cứu chuộc của lịch sử. Bởi vì nói về lịch sử nên chịu ảnh hưởng ít nhiều của Hegel. Loại này gồm có những nhà thần học như: Pannenberg, Moltmann

Nhưng Balthasar đã cảnh cáo chúng ta rằng phải coi chừng. Ta không thể ghép Đức Giêsu Kitô vào trong một khuôn khổ luận lý nào cả. Không thể nào thu gọn niềm tin dù là dưới hình thức vũ trụ luận, nhân loại học hoặc dưới góc độ lịch sử. Niềm tin không phải là triết thuyết hoặc ý thức hệ.


II. Làn sóng thứ hai :

(còn tiếp)

Trần Duy Thực
19-02-2006, 08:42 PM
Làn sóng thứ hai:

Làn sóng này đặt trọng tâm trên vai trò của Đức Giêsu lịch sử. Các nhà thần học nổi tiếng đại diện cho làn sóng này là Bultmann và học trò. Vấn đề đặt ra là: nếu niềm tin vào Đức Giêsu không liên kết với Đức Giêsu lịch sử thì niềm tin đó có lẽ chỉ là một ý thức hệ?

Làn sóng thứ ba:

Như thế, ta đã thấy rằng làn sóng thứ nhất đặt trọng tâm trên tín lý và rao giảng. Làn sóng thứ hai đặt trọng tâm trên vai trò lịch sử (và bởi vì lịch sử nên khách quan khoa học) của Đức Giêsu. Làn sóng thứ ba dung hợp cả hai tầm kích trên và hỏi rằng làm thế nào mà Đức Giêsu sống rõ ràng ở làng Nazarét lại có thể là đối tượng rao giảng của niềm tin vào một đấng cứu thế hoàn vũ? Nhà thần học đại diện cho làn sóng này là Geiselmann, Pannenberg, Moltmann và Jungel.

Nhưng những câu hỏi về Kitô học, về vai trò của Đức Giêsu vẫn tiếp diễn. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI cũng có viết về đề tài này trong cuốn «Les principes de la théologie catholique»(Pierre Téqui, Paris 1982). Trong chương «Đức tin và lịch sử» (Foi et l’histoire, tr. 168-184), Người cũng đã đặt câu hỏi về vai trò của lịch sử và công cuộc cứu chuộc. Nhưng có lẽ đó là chủ đề tìm hiểu cho lần tới, trong khi chờ đợi ý kiến của quý bạn.

Kính