PDA

View Full Version : Tội lỗi và Bí tích Hòa giải: những điều căn bản


admin
16-06-2008, 09:08 AM
TỘI LỖI và BÍ TÍCH HOÀ GIẢI: NHỮNG ĐIỀU CĂN BẢN (1/2)

Không phải chỉ ở Âu Mỹ với tình trạng thực hành đạo sa sút, mà con số tín hữu, nhất là giới trẻ, ngày một thưa thớt dần ở Toà Giải Tội, nhưng ngay ở trong Giáo Hội Việt-Nam, việc đi xưng tội nhiều khi chỉ như một việc làm theo mùa, như một món nợ phải thanh toán theo thói quen (hoặc được ngừơi thân nhắc làm) vào những dịp như là Mùa Chay. Việc năng chạy đến Bí Tích Hoà Giải không được giảng dạy đến nơi đến chốn, không được cho thấy ý nghĩa sâu xa của Bí Tích nầy, sự an bình với Chúa và con người - người thân, đồng loại – đã làm cho nhiều tín hữu không chỉ khô khan dần, mà đánh mất nguồn ơn thiêng vô giá, giúp họ sống gắn bó mật thiết với Chúa. BTGH giới thiệu một số bài viết, ý kiến tưởng chừng đơn giản, song kỳ thực rất sâu xa và giúp giải quyết căn cơ tình trạng lười, ngại hoặc bỏ bế việc xưng tội.

I. NGÀY NAY NÓI THẾ NÀO VỀ TỘI LỖI?

Ngày nay thật khó khăn khi nói về tội lỗi, bởi vì ngay tức khắc người ta sẽ trách cứ Giáo Hội là đã triển khai tâm tình phạm tội vốn thường bị loại bỏ như là một sự yếu đuối bệnh lý…Việc ngày càng ít người đi xưng tội và khái quát hoá việc rước lễ dường như chứng thực một sự suy yếu trong nhận thức tập thể về lầm lỗi. Xin lấy lại bài viết của Cha Michel Souchon, thuộc ban biên tập Croire Aujourdhui,về vấn đề tưởng chừng cơ bản nầy.

NHỮNG NÉT PHONG PHÚ CỦA NGHI THỨC MỚI
Quả là không sai! Thật khó khăn cho những người giảng dạy khi phải nói về tội lỗi. Và cũng rất đúng rằng việc thực hành Bí Tích Hoà Giải và tha tội trở nên hiếm hoi hơn…Tôi cho rằng hai hiện tượng nầy có liên hệ với nhau. Những nét phong phú của nghi thức mới Bí Tích nầy (1973) chưa được khai thác đủ. Có thể chúng ta đã đánh giá thấp một trong những đóng góp quan trọng của các cử hành tập thể : chú tâm hơn về “những tội thiếu sót”, chú tâm hơn về sự thụ động làm cho chúng ta nên đồng loã với “các cấu trúc của tội”. Và nhất là việc áp dụng nghi thức mới nầy đã cho thấy những chỉ thị trái ngược nhau : sự có thể rồi lại hạn chế những sự xá tội tập thể; kinh nghiệm về chất lượng những lần cử hành tập thể, sau đó lạ đến sự cần thiết được tái khẳng định một sự thú tội và xá tội cá nhân, vv…Về tất cả những điều ấy, tôi đã có viết một bài trong tạp chí Croire. Aujourd’hui nầy,số 151,01.03.2003).

KHỦNG HOẢNG Ý THỨC LÀ KẺ CÓ TỘI?
Nhưng có lẽ phải tìm kiếm xa hơn những lý do mà chúng ta gọi là “sự suy yếu trong nhận thức tập thể về lỗi tội”. Tôi muốn gợi cho các bạn một lý do. Rất nhiều Kitô-hữu chờ cho đến khi cảm thấy mình là kẻ có tội thì mới chạy đến với Bí Tích, trong khi chính là khi gặp gỡ với Thiên Chúa là Đấng ban ơn tha thứ của Người cho họ, thì họ mới khám phá thấy mình là kẻ có tội. Các bạn cũng đã biết câu nói của Pascal :”Bạn càng đền các tội lỗi mình, thì bạn càng biết chúng và bạn sẽ được nghe nói ; hãy xem các tội của bạn đã được tha thứ”. Những ai không còn đến gần Bí Tích nầy bởi vì họ không có ý thức là kẻ có tội, phải nhớ rằng người ta không đến nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa để phủi bỏ một gánh nặng mặc cảm tội lỗi, nhưng là để khám phá ra mình là kẻ có tội. Kẻ có tội được thứ tha.
Michel Souchon, Sj

admin
16-06-2008, 09:09 AM
II. CUỘC PHỎNG VẤN RÉGINA CHARLAT
Là nữ tu Dòng Đức Bà Phù Hộ, Régine Charlat giảng dạy tại Viện Công giáo Paris và điều hành Viện Nghệ Thuật Thánh. Vị nữ tu sẽ soi sáng vấn đề lỗi phạm và tội lỗi.

LÀM THẾ NÀO NGƯỜI TA CÓ THỂ NÓI SỰ KHÁC NHAU GIỮA LỖI LẦM VÀ TỘI LỖI?
Sự khác biệt không phải nằm ở giữa các từ ngữ nầy, nhưng đúng hơn giữa mặc cảm tội lỗi và tội. Khi người ta nói về tội, người ta nói về sự dữ và cùng lúc nói về một cái gì đó đưa ta vào đức tin và tương quan với Thiên Chúa Nhưng không hẳn buộc chúng ta phải ý thưc về điều đó. Tôi không chắc chính mình đã xác định được điều đó. Đừng quên rằng trong đức tin luôn có một phần trách nhiệm trong sự lành cũng như trong sự dữ. Lấy ví dụ lời nói dối. Tất nhiên không phải lời nói dối của một em bé. Nhưng hãy nói về thái độ dối trá có thể gây chết người. Như là sự độc ác. Một vài lời đã đủ để làm nên sự dữ, không cần phải rành rành khi thoạt nghe. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu tỏ ra nghiêm khắc với người Biệt Phái, nhưng không nghiêm khắc với người phụ nữ tội lỗi (Mt 9,10 – 13)

LÀM THẾ NÀO PHÂN BIỆT CỤ THỂ ĐƯỢC GIÂY PHÚT HOÀ GIẢI?
Trước hết, phải thoát khỏi sự áp lực bên ngoài. Con người nên cần không ở một mình với lỗi phạm của mình. Nó phải cảm nhận được điều ấy như một sự cần thiết nội tâm. Khi đứa con hoang đàng nói “tôi sẽ đi và tôi sẽ nói” (Lc 15,11 – 32), là nó cầu mong một cử chỉ hoặc lời nói kéo nó ra khỏi nơi đó. Điều ấy đem chúng ta đến với một quan hệ huynh đệ. Những cử chỉ nầy được nối kết với Bí Tích.

ĐÂU LÀ RANH GIỚI GIỮA SỰ THA THỨ KIỂU CHỮA BỆNH VA SỰ THA THỨ TỪ BÍ TÍCH?
Trong quá trình một cuộc chữa bệnh, người ta không thú tội, người ta chỉ nêu tên. Phép chữa bệnh chuẩn bị hành vi đảm đương cuộc sống mà người ta đã có, tất nhiên nếu người ta chấp nhận dấn thân. Nhưng nếu phải tha thứ hoặc cầu xin ơn tha thứ, thì không làm như thế mà theo cách khác. Tinh thần trách nhiệm, cử chỉ nầy không thuộc thành phần việc chữa bệnh, ngay cả khi sự can đảm làm sự thật nơi chinh mình đã là một hành vi tinh thần, với điều kiện là có mong muốn nó.

SOEUR NÓI “CHÚNG TA ĐƯỢC CỨU RỖI VÀ ĐƯỢC THA THỨ CẢ TRƯỚC KHI BIẾT MÌNH LÀ KẺ CÓ TỘI”. XIN SOEUR VUI LÒNG GIẢI THÍCH.
Đó là điều Thánh Phaolô đã nói :”Anh em đã chết và đã được Chúa Kitô cứu thoát” (Rm 6, 1 – 14). Với việc cử hành bí tích tha thứ, người ta đặt mình vào tư thế công nhận Sự Phục Sinh. Sự Phục Sinh biến đổi tất cả . Ơn tha thứ ngăn không cho tội lỗi được vui mừng. Trong ý nghĩa nầy, ơn tha thứ là một trong các tên của sự Phục Sinh : ”Anh em đang và sẽ được sống lại với Chúa Kitô”/ Thánh Phaolô nói với chúng ta như thế. Đó là một lời mời gọi hành trình về sự Phục Sinh.

NGHI THỨC HOÀ GIẢI ĐANG MÂT DẦN. THEO SOEUR, Ý NGHĨA CỦA BÍ TÍCH NẦY TIẾN HOÁ RA SAO?
Ngày nay, Bí Tích Hòa Giải cạn về tính chất hành vi và ý nghĩa của nó. Chúng ta phải tìm lại và hồi sinh các nghi thức Mùa Chay mà không vì thế mà làm cho những nghi thức đó nên máy móc. Muốn như vậy, chẳng cần phải nhiều gì. Đó giống như một bửa cơm gia đình, vốn là một hành vi thường nhật. Điều duy nhất la chúng ta cứ giữ một thái độ rụt rè nhất định trong việc nhìn nhận sự tròn đầy của nó. Với tôi, việc hoà giải cũng theo trật tự ấy.

SOEUR THẤY TƯƠNG LAI NÀO?
Bí Tích Hoà Giải là “đá thử vàng của Kitô giáo”. Nó sẽ chỉ có tuơng lai nếu ý nghĩa của nó được sống như là một bước đi trong đó mỗi người tìm lại được sự toàn vẹn nội tâm của mình, trọng tâm của mình trong đức tin. Hãy cẩn thận: đó không phải là sự thánh thiện! Nếu mỗi người đi một con đường chân lý đối với chính mình và đối với Thiên Chúa, có thể chúng ta sẽ học được việc khôi phục lại hình thức nầy/
Orlane Dupont, ghi lại

admin
16-06-2008, 09:09 AM
III. LÀM SAO TIN VÀO CÂU CHUYỆN TỘI NGUYÊN TỔ NẦY?Rất nhiều người tranh luận về Tội Nguyên Tổ. Cha Michel Souchon, Dòng Tên, sẽ trả lời những câu hỏi quen thuộc.
Chính bởi vì Chúa Giêsu đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người mà Thánh Phaolô trình bày Adam như là người đem tội đến cho toàn nhân loại. Tín lý về tội nguyên tổ không phải là đầu tiên và căn bản, nhưng là sự xác tín rằng hết thảy chúng ta được đặt dưới lòng xót thương của Thiên Chúa.
Vừa mới đây thôi, một người bạn giải thích với tôi, một cách quả quyết :”Trong tất cả các tôn giáo, có một chìa khoá để nhốt lại. Với các Kitô-hữu, đó là tội nguyên tổ”. Ai trong chúng ta chưa nghe những câu hỏi nầy : một tội mà chúng ta không chịu trách nhiệm, đang đè nặng trên chúng ta, làm thay đổi dòng lịch sử nhân loại, gợi lên mặc cảm tội lỗi và sợ hãi Thiên Chúa…Tất cả những điều ấy không thể chấp nhận được. Phải tin điều ấy thế nào đây?
Giáo Lý về tội nguyên tổ không nên được tìm kiếm trong sách Sáng Thế, trong trình thuật Adam và Evà phạm tội, nhưng đúng hơn là phải tìm trong Thư gửi Tín Hữu Roma và trong việc Thánh Phaolô đọc sách Sáng Thế. Yếu tố chính yếu trong lý luận của Ngài chỉ gói gọn trong mấy từ. Không ai có thể nói : Tôi không cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Mọi người chúng ta đều cần đến. Chính vì tất cả chúng ta thuộc về một nhân loại tội lỗi, mà chúng ta tham dự vào một cuộc tạo dựng đã không sử dụng đúng đắn tự do của mình, ngay khi có ý thức về sự tự do ấy (Rm 3,9). Vậy phải thất vọng về điều gì? Không – Thánh Phaolô nói - bởi vì “được công chính hoá nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta”(Rm 5,1). Chính khi quy chiếu về Chúa Giêsu Kitô và về tính chất phổ quát của ơn cứu độ trong Chúa Giêsu Kitô, mà Thánh Phaolô trình bày Adam, khuôn mặt của tính chất phổ quát của tội nhân loại.
Không nên coi Adam như một cá thể lịch sử,nhưng là như một hữu thể mang tính tập thể. Cách đọc nầy thích hợp với cách thức tiếp nhận đúng đắn các trình thuật về các cội nguồn. Chúng [ các trình thuật] đáp ứng được những câu hỏi lớn về con người. Đó là những trình thuật “thuộc bản thể học”,chứ không phải là về lịch sử. Chúng không nói : Một ngày nọ đã xảy ra điều ấy như thế, nhưng là : Điều ấy luôn xảy ra như tthế. Ví dụ. Các bạn hỏi tại sao con người nói nhiều thứ tiếng khác nhau và không hiểu nhau? Hãy nghe câu chuyện Tháp Babel. Tại sao có cái chết, có đau đớn khi sinh con, sự cần thiết phải lao động? Hãy nghe câu chuyện của Adam và Evà.
Nhưng câu chuyện nầy vượt xa mọi giải thích mà chúng ta ghi nhận được. Nó giúp chúng ta trước tiên hiểu được rằng sự tốt lành của trái đất vốn có nguồn cội trước sự dữ. Đồng thời nó nói với chúng ta rằng tội lỗi luôn có sẵn ở đó, rằng tội lỗi là từ nguyên thủy; rằng Adam - mọi con người – ngay từ khởi thủy đã bị cám dỗ nổi loạn chống lại Thiên Chúa, từ chối Tình Yêu vốn là nguồn cội của ông để đứng vào tư thế đối nghịch với Thiên Chúa, tự cho là có thể tự ban cho mình sự sống và ý nghĩa cuộc đời của mình ở bên ngoài mối tương quan nguyên thủy đã dựng nên ông và cho ông được sống. Trình thuật sách Sáng Thế hé lộ cho chúng ta bản chất “tội của các nguồn cội” nầy: nó phát sinh từ nghi ngờ Thiên Chúa. Con rắn nói với Adam : Thiên Chúa không muốn cho người hưởng hạnh phúc…
Thánh Phaolô ngạc nhiên vì sự hiện diện của sự dữ trong Ngài, rất sâu thẳm, của việc các thế lực sự dữ lấn lướt và ngự trị trên ý chí và tự do của Ngài :”Tôi không hiểu gì về những việc mình làm : điều tôi muốn, thì tôi không làm; nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại làm. (…).Điều tốt lành tôi ước muốn, tôi không làm và điều xấu tôi không muốn, thì tôi lại làm” (Rm 7, 16 – 19). Người ta có thể nói rằng, đối với Thánh Phaolô, tội nguyên tổ không phải là một điều mục đức tin, mà là một dữ liệu kinh nghiệm!
Thừa hưởng tội nguồn cội nầy, chúng ta cũng phải chịu trách nhiệm về tội lỗi nầy. Người hát Thánh Vịnh nói cùng lúc : ” Chống lại Người và chỉ với Người con đã phạm tội, dám làm điều ác trước mắt Người” và “Con sinh ra trong tội lỗi; con đã là tội nhân ngay từ trong bụng mẹ” (Tv 50, 5.7). Tôi đi vào trong một tế giớ đã bị in dấu bởi sự dữ và điều đó làm cho tự do của tôi bị tổn thương.
Hãy nói lại điều đó cách khác. Phải “nhớ lại rằng có một trật tự và một hệ thống thứ tự các chân lý của Giáo Lý Công giáo, từ tương quan khác biệt của chúng với nền tảng đức tin Kitô-giáo” (Công Đồng Vatican II, Unitatis Redinregratio, 11). Tội nguyên tổ là một giáo lý thứ yếu so với một chân lý đầu tiên và căn bản : tất cả chúng ta đều được Chúa Giêsu Kitô cứu độ; tất cả chúng ta đều được đặt dưới lòng thương xót của Thiên Chúa. Giáo lý về tội nguyên tổ không phải là một “chìa khoá nhốt lại”, mà là loan báo một sự giải thoát, một Tin Mừng.
Michel Souchon, sj, Croire Aujourd'hui
(còn tiếp đề tài BÍ TÍCH HOÀ GIẢI trong số tới)
BTGH chuyển ngữ

NHỮNG ĐOẠN KINH THÁNH NÓI VỀ TỘI LỖI
VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT NHÂN HẬU CỦA THIÊN CHÚA
1. Người phụ nữ ngoại tình (Ga 8, 1 – 11)
2. Đứa con hoang đàng (Lc 15, 11 – 32)
3. Macta và Maria (Lc 15, 38 – 42)
4. Tương quan giữa con người (Kn 8, 10 – 12)
5. Lòng khiêm nhường (Kn 10, 26 – 31)
6. Lời mời (Kn 17, 25 – 32)
7. Những người tội lỗi (Mt 9, 10 – 13)
8. Tám Mối Phúc Thật (Mt 5, 1 – 12)
9. Da-kêu (Lc 19, 2 – 10)
10. Thư thứ hai của Thánh Phêrô (II Pet 1, 3 – 10)
11. Cọng rơm và Cái Xà (Lc 6, 39 – 42)
12. Điều tôi làm,tôi không hiểu” (Rm 7, 14 – 25)
13. TV 50
14. Tạ ơn (Tv 102)
15. Tạ ơn, vui mừng và tha thứ (Tv 31)
16. II Cor 6, 1 – 2