admin
29-06-2006, 07:57 AM
TÓM TẮT TIỂU-SỬ ĐỨC CHA PAUL LÉO SEITZ CỐ GIÁM-MỤC GIÁO-PHẬN KONTUM
SEITZ Paul Léo, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1906, tại Le Havre (Seine – Vùng Biển), giáo xứ Notre Dame,trong giáo-phận Rouen (nay là giáo phận Le Havre). Cậu là con út trong một gia đình có 3 người con. Tổ tiên bên nội của cậu gốc người Alsace (vùng đất tranh chấp giữa Pháp và Đức trong nhiều thế kỷ và chỉ thuộc về Pháp vĩnh viễn sau đệ nhị thế chiến 1939 – 1945. TLL) đã đến lập nghiệp ở Pháp sau năm 1871. Cậu vào chủng viện tu muộn ở Fontgombault (Indre) năm 1925, đọan thi hành nghĩa vụ quân sự ở Maroc. Ngày 13 tháng 9 năm 1929, với tư cách một giáo dân,cháng thanh niên xin vào chủng-viện Hội Thừa sai Ngoại Quốc. Vốn sức khỏe yếu ớt,đã hai lần Ngài đã phải ngưng học để đi chữa bệnh tại khu điều trị. Được thụ phong linh mục ngày 4 tháng 7 năm 1937, Ngài nhận bài sai đến Hànội, lúc bấy giờ là Tông-tòa.
Ngài bắt đầu học tiếng Việt ở Kẻ Sở, rồi được phái đến một công đồng Kitô-hữu ở Cổ Liêu, chỉ cách tiểu chủng viện năm sáu trăm mét, vào tháng 8 năm 1938, để hòan tất việc đào tạo thành thừa sai. Tháng 2 năm 1939, Đức Giám Mục Chaize đặt Ngài làm cha phó một giáo xứ cả người Việt lẫn người Pháp ở Hànội. Năm 1941, Ngài được đặt làm tuyên úy Trường Trung Học (Lycée) Albert Sarraut. Cùng năm ấy, Ngài xây dựng và tổ chức một “trại cho tuổi trẻ” cho giới trẻ Pháp và Việt ở Hànội, trên sườn núi Ba Vì. Trại nầy đã thành công rất lớn và ngày 9 tháng 8 năm 1941, các chức sắc chính quyền dân sự cấp cao nhất đã đến thăm Trại. Thánh 12 năm 1943, Trại trở thành “Trung Tâm Tiếp Đón Trẻ Em bị bỏ rơi, Cô Nhi Viện Têrêxa” và đón nhận “một nhóm gồm 80 em nhỏ lang thang ăn xin” của Hànội. Năm 1945, tình hình bất an, những biến động chính trị và các khó khăn về tiếp tế lương thực, đã buộc Cha Seitz phải đem cô-nhi-viện của Ngài về Sơn Tây,rồi về Hànội vào cuối năm 1946. Được bố trí ở Nhà Thừa Sai và ở nhiều nơi khác nhau gặp chăng hay chớ, Cô-nhi-viện ở trong trường Puginier, rồi ở trong khu đổ nát của trường Đức Bà Mai Khôi,ngọai ô Hà Nội. Thánh 8 năm 1951, khi có được đất đai, Ngài mang cô-nhi-viện của Ngài đến đó và xây cất lên với sự trợ giúp của Cha Vacher (sau nầy phụ trách công việc xây dựng bảo trì chủng viện và Tòa Giám Mục Kontum.TLL), “Thành phố Kitô Vua”. Tháng 2 năm 1951, Cha Seitz giao phó trong tay Cha Pencolé nhiệm vụ trông coi giáo xứ người Pháp tại Hà Nội, vừa được cử làm phó xứ , để Ngài chỉ còn điều hành Cô-nhi-viện Thánh Têrêxa. Ngày 26 tháng 2 năm 1952, Ngài được đặt làm bề trên miền Vùng Bắc Đông Dương. Ngày 19 tháng 6 năm 1952, Đức Thánh Cha đặt Cha Paul Seitz làm Đại Diện Tông Tòa ở Kontum và giám mục hiệu tòa Catula (ngày 24 tháng 11 năm 1960,Giáo Hội Việt Nam mới chính thức có hàng Giáo Phẩm Việt Nam. TLL). Ngày 3 tháng 10 năm 1952, tại Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội, Ngài được tấn phong Giám Mục từ tay Đức Cha Dooley, Khâm Mạng Tòa Thánh. Phụ phong gồm có Đức Cha Trịnh-Như-Khuê, Giám Quản Tông Tòa Hà Nội và Đức Cha Piquet, giám quản tông tòa ở Qui-Nhơn (sau đó làm giám mục giáo phận Nhatrang. TLL). Đến Kontum ngày 2 tháng 11 năm 1952, thì sau khi nhận địa phận ở Nhà Thờ Chính Tòa (Nhà Thờ Gỗ ngày nay. TLL), ngày 6 tháng 11 kế đó, Ngài giới thiệu chương trình làm việc của Ngài. Rồi, không phân thời giờ học tiếng Bahnar, Ngài bắt đầu đi thăm 24 quận huyện trong địa phận của Ngài. Thánh Giêng năm 1954, vì những vụ tấn công của Việt-Minh, Kontum phải di tản và trong nhiều tháng, Đức Cha Seitz viếng thăm nhiều cộng đòan khác nhau của địa phận Ngài, khi đó lui về Pleiku, Banmêthuột, Sàigòn và Đàlạt. Sau Hiệp Định Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954, và cuộc đình chiến, Ngài trở lại Kontum. Ngài đi xe đạp đến trong tỉnh Kontum ngày 31 tháng 8 năm 1955. Lúc ấy bắt đầu cuộc di cư của dân Miền Bắc, trong đó một số khá lớn lập nghiệp ở Tây Nguyên. Đức Cha Seitz lập những giáo xứ mới cho họ và kêu gọi các linh mục Việt-nam tình nguyện coi sóc họ. Đồng thời Ngài cũng bắt đầu một chương trình xây dựng rộng lớn: một ngôi thánh đường ở Pleiku, những tòa nhà mới cho Trường Cúenot để đào tạo giáo-lý-viên (giảng viên giáo lý, nhà in để xuất bản các sách học và sách đạo bằng tiếng Bahnar, một tổ ấm cho các thiếu nữ người dân tộc, những ngôi trường nhỏ vùng quê, v..v.. Đức Cha gọi đến Kontum một số linh mục thừa sai đã phải rời bỏ Miền Bắc, rồi gọi các Sư Huynh Lasan đến mở một trường trung học (sau nầy là trường trung-tiểu-học Lasan Kim Phước - ghép tên của hai Vị Giám Mục. TLL); các nữ tu thì phụ trách vườn trẻ, một trường huấn luyện nội trợ cho các cô gái. Ngài hướng các đại chủng sinh về Huế và Đàlạt. Năm 1966, Ngài gửi các tiểu chủng sinh (khi ấy gọi là đệ-nhị-cấp; sau nầy là cấp III, từ Troisìeme đến Terminale) lên Đàlạt, học ngọai trú ở trường Trung Học Adran (của các Sư Huynh Lasan thành lập và điều hành) và tổ chức cho các chủng sinh nầy một Foyer trong bệnh viện tư cũ của Bác sĩ Sohier mà Ngài mua lại với mục đích nầy. Vào khỏang năm 1970 (chính xác là sau Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, từ năm học 1972 – 1973 cho đến ngày 20 tháng 3 năm 1975. TLL), vì tình hình chung quanh Kontum ngày càng bất ổn, Ngài đã chuyển các lớp dưới (từ Septìeme đến Qautrième. TLL) lên Đàlạt, ở trong Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế (Đồi Tùng Lâm. TLL)*(xin coi ghi chú). Năm 1974, Ngài thành lập “Trung Tâm Đại Học” ở Sàigòn cho các sinh viên người dân tộc thiểu số , trong số đó Ngài gửi một số khá lớn, cả nam lẫn nữ , trong các “gia đình nhận nuôi”, để tiếp tục học các lớp cao hơn. Đức Cha làm rất nhiều, để cải thiện tình trạng sức khỏe cho dân chúng. Ngài xây hai bệnh viện nhỏ và một trạm y tế lớn. Khỏang năm 1957, Ngài xây Nhà Thương Minh-Quý ở Kontum do Nữ bác sĩ người Mỹ Patricia Smith điều hành (Minh Quý là tên của hai vị linh mục -một là thừa sai - Cha Bonnet Quý và một là người Việt, Cha Minh – đều bị hạ sát dã man đang khi đi làm việc truyền giáo. TLL). Đáp lại lời mời gọi của Ngài, một trăm linh một người cộng tác, gồm bác sĩ, y tá, các người thuộc nhiều tôn giáo, đã đến từ khắp các châu lục, chăm sóc bệnh nhân và người bị thương với lòng tận tụy và có khi rất anh hùng và đã huấn luyện được những đội ngũ y tá người dân tộc tuyệt vời.
Nguồn: Tóm Tắt Tiểu Sử ĐC Seitz (http://llcvk.250free.com/xmas2004/tomtactieusu.htm)
SEITZ Paul Léo, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1906, tại Le Havre (Seine – Vùng Biển), giáo xứ Notre Dame,trong giáo-phận Rouen (nay là giáo phận Le Havre). Cậu là con út trong một gia đình có 3 người con. Tổ tiên bên nội của cậu gốc người Alsace (vùng đất tranh chấp giữa Pháp và Đức trong nhiều thế kỷ và chỉ thuộc về Pháp vĩnh viễn sau đệ nhị thế chiến 1939 – 1945. TLL) đã đến lập nghiệp ở Pháp sau năm 1871. Cậu vào chủng viện tu muộn ở Fontgombault (Indre) năm 1925, đọan thi hành nghĩa vụ quân sự ở Maroc. Ngày 13 tháng 9 năm 1929, với tư cách một giáo dân,cháng thanh niên xin vào chủng-viện Hội Thừa sai Ngoại Quốc. Vốn sức khỏe yếu ớt,đã hai lần Ngài đã phải ngưng học để đi chữa bệnh tại khu điều trị. Được thụ phong linh mục ngày 4 tháng 7 năm 1937, Ngài nhận bài sai đến Hànội, lúc bấy giờ là Tông-tòa.
Ngài bắt đầu học tiếng Việt ở Kẻ Sở, rồi được phái đến một công đồng Kitô-hữu ở Cổ Liêu, chỉ cách tiểu chủng viện năm sáu trăm mét, vào tháng 8 năm 1938, để hòan tất việc đào tạo thành thừa sai. Tháng 2 năm 1939, Đức Giám Mục Chaize đặt Ngài làm cha phó một giáo xứ cả người Việt lẫn người Pháp ở Hànội. Năm 1941, Ngài được đặt làm tuyên úy Trường Trung Học (Lycée) Albert Sarraut. Cùng năm ấy, Ngài xây dựng và tổ chức một “trại cho tuổi trẻ” cho giới trẻ Pháp và Việt ở Hànội, trên sườn núi Ba Vì. Trại nầy đã thành công rất lớn và ngày 9 tháng 8 năm 1941, các chức sắc chính quyền dân sự cấp cao nhất đã đến thăm Trại. Thánh 12 năm 1943, Trại trở thành “Trung Tâm Tiếp Đón Trẻ Em bị bỏ rơi, Cô Nhi Viện Têrêxa” và đón nhận “một nhóm gồm 80 em nhỏ lang thang ăn xin” của Hànội. Năm 1945, tình hình bất an, những biến động chính trị và các khó khăn về tiếp tế lương thực, đã buộc Cha Seitz phải đem cô-nhi-viện của Ngài về Sơn Tây,rồi về Hànội vào cuối năm 1946. Được bố trí ở Nhà Thừa Sai và ở nhiều nơi khác nhau gặp chăng hay chớ, Cô-nhi-viện ở trong trường Puginier, rồi ở trong khu đổ nát của trường Đức Bà Mai Khôi,ngọai ô Hà Nội. Thánh 8 năm 1951, khi có được đất đai, Ngài mang cô-nhi-viện của Ngài đến đó và xây cất lên với sự trợ giúp của Cha Vacher (sau nầy phụ trách công việc xây dựng bảo trì chủng viện và Tòa Giám Mục Kontum.TLL), “Thành phố Kitô Vua”. Tháng 2 năm 1951, Cha Seitz giao phó trong tay Cha Pencolé nhiệm vụ trông coi giáo xứ người Pháp tại Hà Nội, vừa được cử làm phó xứ , để Ngài chỉ còn điều hành Cô-nhi-viện Thánh Têrêxa. Ngày 26 tháng 2 năm 1952, Ngài được đặt làm bề trên miền Vùng Bắc Đông Dương. Ngày 19 tháng 6 năm 1952, Đức Thánh Cha đặt Cha Paul Seitz làm Đại Diện Tông Tòa ở Kontum và giám mục hiệu tòa Catula (ngày 24 tháng 11 năm 1960,Giáo Hội Việt Nam mới chính thức có hàng Giáo Phẩm Việt Nam. TLL). Ngày 3 tháng 10 năm 1952, tại Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội, Ngài được tấn phong Giám Mục từ tay Đức Cha Dooley, Khâm Mạng Tòa Thánh. Phụ phong gồm có Đức Cha Trịnh-Như-Khuê, Giám Quản Tông Tòa Hà Nội và Đức Cha Piquet, giám quản tông tòa ở Qui-Nhơn (sau đó làm giám mục giáo phận Nhatrang. TLL). Đến Kontum ngày 2 tháng 11 năm 1952, thì sau khi nhận địa phận ở Nhà Thờ Chính Tòa (Nhà Thờ Gỗ ngày nay. TLL), ngày 6 tháng 11 kế đó, Ngài giới thiệu chương trình làm việc của Ngài. Rồi, không phân thời giờ học tiếng Bahnar, Ngài bắt đầu đi thăm 24 quận huyện trong địa phận của Ngài. Thánh Giêng năm 1954, vì những vụ tấn công của Việt-Minh, Kontum phải di tản và trong nhiều tháng, Đức Cha Seitz viếng thăm nhiều cộng đòan khác nhau của địa phận Ngài, khi đó lui về Pleiku, Banmêthuột, Sàigòn và Đàlạt. Sau Hiệp Định Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954, và cuộc đình chiến, Ngài trở lại Kontum. Ngài đi xe đạp đến trong tỉnh Kontum ngày 31 tháng 8 năm 1955. Lúc ấy bắt đầu cuộc di cư của dân Miền Bắc, trong đó một số khá lớn lập nghiệp ở Tây Nguyên. Đức Cha Seitz lập những giáo xứ mới cho họ và kêu gọi các linh mục Việt-nam tình nguyện coi sóc họ. Đồng thời Ngài cũng bắt đầu một chương trình xây dựng rộng lớn: một ngôi thánh đường ở Pleiku, những tòa nhà mới cho Trường Cúenot để đào tạo giáo-lý-viên (giảng viên giáo lý, nhà in để xuất bản các sách học và sách đạo bằng tiếng Bahnar, một tổ ấm cho các thiếu nữ người dân tộc, những ngôi trường nhỏ vùng quê, v..v.. Đức Cha gọi đến Kontum một số linh mục thừa sai đã phải rời bỏ Miền Bắc, rồi gọi các Sư Huynh Lasan đến mở một trường trung học (sau nầy là trường trung-tiểu-học Lasan Kim Phước - ghép tên của hai Vị Giám Mục. TLL); các nữ tu thì phụ trách vườn trẻ, một trường huấn luyện nội trợ cho các cô gái. Ngài hướng các đại chủng sinh về Huế và Đàlạt. Năm 1966, Ngài gửi các tiểu chủng sinh (khi ấy gọi là đệ-nhị-cấp; sau nầy là cấp III, từ Troisìeme đến Terminale) lên Đàlạt, học ngọai trú ở trường Trung Học Adran (của các Sư Huynh Lasan thành lập và điều hành) và tổ chức cho các chủng sinh nầy một Foyer trong bệnh viện tư cũ của Bác sĩ Sohier mà Ngài mua lại với mục đích nầy. Vào khỏang năm 1970 (chính xác là sau Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, từ năm học 1972 – 1973 cho đến ngày 20 tháng 3 năm 1975. TLL), vì tình hình chung quanh Kontum ngày càng bất ổn, Ngài đã chuyển các lớp dưới (từ Septìeme đến Qautrième. TLL) lên Đàlạt, ở trong Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế (Đồi Tùng Lâm. TLL)*(xin coi ghi chú). Năm 1974, Ngài thành lập “Trung Tâm Đại Học” ở Sàigòn cho các sinh viên người dân tộc thiểu số , trong số đó Ngài gửi một số khá lớn, cả nam lẫn nữ , trong các “gia đình nhận nuôi”, để tiếp tục học các lớp cao hơn. Đức Cha làm rất nhiều, để cải thiện tình trạng sức khỏe cho dân chúng. Ngài xây hai bệnh viện nhỏ và một trạm y tế lớn. Khỏang năm 1957, Ngài xây Nhà Thương Minh-Quý ở Kontum do Nữ bác sĩ người Mỹ Patricia Smith điều hành (Minh Quý là tên của hai vị linh mục -một là thừa sai - Cha Bonnet Quý và một là người Việt, Cha Minh – đều bị hạ sát dã man đang khi đi làm việc truyền giáo. TLL). Đáp lại lời mời gọi của Ngài, một trăm linh một người cộng tác, gồm bác sĩ, y tá, các người thuộc nhiều tôn giáo, đã đến từ khắp các châu lục, chăm sóc bệnh nhân và người bị thương với lòng tận tụy và có khi rất anh hùng và đã huấn luyện được những đội ngũ y tá người dân tộc tuyệt vời.
Nguồn: Tóm Tắt Tiểu Sử ĐC Seitz (http://llcvk.250free.com/xmas2004/tomtactieusu.htm)