View Full Version : Linh đạo Linh mục
admin
11-01-2006, 07:58 PM
http://gpnt.net/images/saoquay.gif
LINH ĐẠO LINH MỤC
DƯỚI ÁNH SÁNG TÔNG HUẤN "PASTORES DABO VOBIS"
Cha Giuse Mai Đức Vinh
Thượng Hội Đồng Giám Mục VIII, tại Roma, kéo dài 4 tuần lễ, với sự tham dự của 230 Hồng y, giám mục, Linh mục Bề trên tổng quyền. Mục tiêu của THĐ là bàn về việc đào tạo các linh mục trong hoàn cảnh hiện tại: huấn luyện trước cũng như sau khi chịu chức linh mục. Để chuẩn bị THĐ, một tài liệu "Instrumentum laboris" được gửi đi xin các giám mục khắp thế giới góp ý kiến. Tuy chỉ có 61 trên 106 Hội Đồng Giám Mục trả lời, bản dự thảo phản ảnh đầy đủ dư luận của các giám mục về các vấn đề. Vì thế, THĐ dành hai tuần đầu để nghe các bài phát biểu của các Nghị Phụ về thực trạng và quan điểm của Giáo Hội địa phương trong vấn đề huấn luyện linh mục.
Tuần thứ ba dành để đào sâu vấn đề trong 13 nhóm nhỏ, theo ngôn ngữ, hầu đưa ra những đề nghị thực tế, và tuần sau cùng được dành để đúc kết cũng như biểu quyết 41 đề nghị liên quan đến việc đào tạo. Các đề nghị này được đệ lên Đức Thánh Cha để Ngài dựa theo đó mà soạn tông huấn "Pastores dabo vobis" gửi cho toàn thế giới năm 1992. Đại diện cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tham dự THĐ là hai đức cha Nguyễn Văn Hoà và Lê Phong Thuận. Tuy đến muộn, mỗi Đức Cha đều có bài phát biểu (x. Báo Trái Tim Đức Mẹ, số 145, 12.1990, tr. 9-10). Trước khi chia tay, các Nghị Phụ đã gửi cho toàn dân Chúa một sứ điệp (x. Báo TĐĐM, đd, tr.5-7). theo đức tổng giám mục Jan Schotte, người Bỉ, Tổng thư ký của THĐGM, thì phải đợi ít nhất 15, 20 năm mới có thể thấy rõ ảnh hưởng của Hội nghị này.
Thượng Hội Đồng (THĐ) và những đề tài thảo luận: 1967, "Những vấn đề Giáo lý, Hôn phối khác đạo, Phụng vụ"; 1971, "Chức linh mục, Công lý trên thế giới"; 1974, "Công vviệc Phúc âm hóa"; 1976, "Việc dạy giáo lý"; 1980, "Chức vụ của gia đình kitô giáo trong thế giới ngày nay"; 1982, "Hoà giải và thống hối trong sứ mệnh của Giáo Hội"; 1987, "Ơn gọi và sứ mệnh của Giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới sau Công Đồng Vatican II"; 1990, "Đào tạo linh mục trong những hoàn cảnh xã hội hiện nay"; 1994, "Đời sống tận hiến và và sứ mệnh trong Giáo Hội và trong thế giới". Ngoài ra còn có hai THĐ bất thường: 1980, "Chức giám mục, Tính cách tập đoàn, Đức giáo hoàng Roma và các Giáo hội địa phương"; 1985, "Hai mươi năm sau Công Đồng Vatican II".
Các Tông Huấn: Kể từ Đức Phaolô VI, sau mỗi THĐ, đều ban hành một Tông Huấn: 1979, TH "Việc dạy Giáo Lý" (Catechesi tradendae); 1981, "Cộng Đoàn Gia Đình" (Familiaris consortio); 1984, "Hòa Giải và Thống Hối" (Reconciliatio et Paenitentia); 1988, "Người Tín Hữu Giáo Dân" (Christifideles laici); 1992, "Ta sẽ cho các ngươi nhiều Mục Tử" (Pastores dabo vobis).
Về những văn kiện của các Đức Giáo Hoàng trước Công Đồng Vatican II nói đến việc huấn luyện chủng sinh, chức linh mục, đời sống linh mục, thừa tác vụ linh mục... nên tìm đọc hai cuốn "NOTRE SACERDOCE" của đức Hồng y Pierre VEUILLOT . Cuốn I gồm các văn kiện của Đức Piô X, Benêditô XV, Piô XI. Cuốn II gồm các văn kiện của Đức Piô XII và bản phân tích đề mục. Ed. Fleurus, Paris, 1954.
Những văn kiện gần đây về việc huấn luyện chủng sinh và đời sống linh mục: 1) Công Đồng Vatican II: Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội "Lumen Gentium" (1964), số 28; Sắc lệnh về việc Đào tạo Linh mục "Optatam Totius" (1965); Sắc lệnh về Nhiệm vụ Mục vụ của các Giám Mục trong Giáo Hội "Christus Dominus" (1965), số 16; Sắc lệnh về Thừa tác vụ và Đời sống của Linh Mục "Presbyterorum Ordinis" (1965); 2) Đức Phaolô VI: Thông điệp về Đời sống Độc thân của Linh Mục "Sacerdotis coelibatus" (24.6.1967), AAS 59 (1967), 657-697. 3) Bộ Giáo Sĩ: Thư Luân Lưu "Inter ea" (4.11.1969), AAS 62 (1970), 123-134. 4) Thượng Hội Đồng các Giám Mục: Văn kiện về Chức Linh Mục Thừa Tác "Ultimis Temporibus" (30.11.1971), AAS 63 (1971), 898-922. 5) Bộ Giáo Luật mới "Codex Juris Canonici" (25.1.1983) can 232-264, 273-289, 1008-1054. 5) Bộ Giáo Dục Công Giáo "Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis" (19.3.1985), 101. 6) Đức Gioan Phaolô II, Các Thư gởi cho Linh Mục ngày thứ Năm Tuần Thánh mỗi năm, Giáo lý về linh mục trong những buổi triều yết chung từ 31.3 - 22.9. 1993. 7) Cuốn Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, do Đức Gioan-Phaolô II ban hành 11. 10. 1992 các số: 1536-1552, 1562-1568, 1577-1580, 1581-1588...
Nhưng mới nhất là "Tập Chỉ Nam về Thừa Tác Vụ và về Đời Sống Linh Mục" (Directoire pour le Ministère et la Vie des Prêtres) của Bộ Giáo Sĩ, được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phê chuẩn và cho phép ban hành ngày 31.01.1994. LM PHẠM PHÚC KHÁNH, "Tìm hiểu ơn gọi làm linh mục" (Viết theo sắc lệnh của Công đồng Vatican II), Sacerdos, 10.1965, in lại trong cuốn "Giáo Hội Công Giáo giữa những thực tại trần thế", Nice, 1997, tr.77-94.
Bài trình bày hôm nay là "tóm lược" cuốn: JEAN-PAUL II, "Je vous donnerai des Pasteurs", Exhortation apostolique sur la formation des prêtres dans les circonstances actuelles, introduction par Raymond Deville p.s.s., Les Éditions du Cerf, Paris 1992, forma 13x20, 302 pages.
HENRI TINCQ trong cuốn "Défis au Pape du IIIe Millénaire", JC Lattès, Paris, 1997, tr. 101-102, ước tính: Giáo Hội Pháp (cũng như nhiều Giáo Hội khác) đang và sẽ trải qua một thảm hoạ vì thiếu các linh mục: Năm 1965, Giáo Hội Pháp có 40.000 linh mục triều, ngày nay chỉ còn 25.000 mà tuổi trung bình trên 60. Trong thập niên năm mươi, số tân linh mục mỗi năm 1.000, nhưng từ đầu năm 1980, mỗi năm chỉ còn trên dưới 100. Đang khi đó, mỗi năm có 100 linh mục trẻ, nhưng lại chết đi quãng 8OO. Nhiều giáo phận đồng quê đã từ lâu không có một tân linh mục nào, và người ta ước lượng vào năm 2010, mỗi giáo phận chỉ còn 50 linh mục hoạt động. Khi còn là Giám mục giáo phận Auxerre, đức cha Gérard Defois đã nói: "Cách đây hai năm, tôi về nhận giáo phận, tôi có 122 linh mục. Năm nay, tôi còn lại 113, Khi tôi về hưu, năm 2006, tôi chỉ còn lại 35 linh mục thôi". Nói tóm lại, Giáo Hội Pháp sẽ chỉ có 9.000 linh mục vào năm 2005, 6.000 linh mục vào năm 2015, và 4.000 linh mục vào năm 2025. Tại Balan, ơn kêu gọi thụt xuống thật đáng sợ kể từ khi "khôi phục tự do và dân chủ": năm 1987 có 9.038 chủng sinh, qua 1994 xuống chỉ còn 7.180. Còn linh mục, năm 1993 có 27.059, nhưng qua 1994 chỉ còn lại 25.274. Tại Hoakỳ, 1965 có 36.000, qua 2005, chỉ còn 20.000 linh mục thôi.
RENÉ LAURENTIN trong cuốn "Eglise qui vient au-delà des crises", Desclée, Paris, 1989, tr.37-46, kể "Trước khi chết, vào năm 1980, trong một Đại Hội của các giám Mục Pháp tại Lourdes, bàn về "Các chủng Sinh", để bẻ ngược tâm trạng bi quan của một số giám mục, Đức Hồng y Renard đã dõng dạc tuyên bố: "Tình trạng suy thoái không phải là mạt vận. Chúng ta chưa biết đón nhận các ơn gọi. Còn có ơn gọi và có nhiều ơn gọi, nhất là trong các cộng đoàn sinh động". Vị chủ tọa buổi hội đùa hỏi: "Ơn gọi có ở đâu vậy?" Không một chút bối rối, Đức Hồng y Renard kể ra một chuỗi những phong trào, những cộng đoàn mới nẩy sinh và đang đầy sức sống: Các Cộng đoàn Thánh Linh (Communautés Charismatiques, 1967), Emmanuel (1972), Con Đường Mới (Le Chemin Neuf, 1973), Bát Phúc (Les Béatitudes, 1974), Thánh Giá hay Théophnie (1984), Bánh Sự Sống (Pain de Vie, 1984)...
Tuy nhiên, cho tới nay vẫn còn có người rất bi quan. Chẳng hạn Henri Denis, một nhà thần học đã từng tham dự Công Đồng Vatican với tư cách cố vấn. Ông đã đặt câu hỏi: "Cứ tưởng tượng một xí nghiệp mà 3/4 công nhân đã trên 60 tuổi rồi, thế mà các chủ ông vẫn không quan tâm?". Rồi ông Henri Tincq, đã vin vào đó để đưa ra một nhận xét bi đát:
1) Tại hai lục địa Phi Châu và Á Châu, ơn gọi có phần tăng số nhưng không tài nào cung ứng đủ ngay cho nhu cầu mục vụ tại chỗ, về các cơ cấu huấn luyện lại còn "què quặt" (handicap) đối với các Giáo Hội non trẻ.
2) Những nỗ lực của Đức Gioan Phaolô II về việc cổ Động ơn gọi nơi giới trẻ hay nơi giáo dân, đặc biệt "Những tuần lễ tập trung giới trẻ thế giới" (St-Jacques de Compostelle (1989), Czestochowa (1991), Denver (1993), Manille (1995), Paris (1997)), cũng như việc nâng cao cộng đoàn Opus Dei và Thượng Hội Đồng về "Ơn gọi và vai trò Giáo Dân" 1987, mà đi theo là tông huấn Christifideles laici (1988), vẫn chưa là những giải pháp tốt cho vấn đề "tăng thêm ơn gọi linh mục".
3) Các cộng đoàn mới khai sinh, theo ông là "những cộng đoàn vàng úa" (communautés s'étiolent). ( Henri Tincq, sd, tr. 104-105).
admin
11-01-2006, 08:02 PM
CHƯƠNG I
Linh mục là người phàm, là người nam. Nếu có thể nói rằng "nam tính" cũng thuộc hằng tính của linh mục, thì khía cạnh hằng tính này mỗi ngày một được xác định rõ ràng hơn trong các văn kiện của Giáo Hội. Lấy lại lời của thánh Phaolô, Tông Huấn viết: "Linh mục được chọn giữa loài người" (x.Dt 5,1). Bản dịch Việt Nam mới của Nhóm Phiên Dịch các Giờ Kinh Phụng Vụ là "được chọn trong số người phàm".
Giáo Luật, Đ.1008 khẳng định: Do Bí Tích Truyền Chức đã được Chúa thiết lập, một số người giữa các tín hữu được đặt làm những thừa tác viên thánh với ấn tích không thể xóa nhòa...
Trong cuốn Giáo Lý cho Người Trưởng Thành (Catéchisme pour adultes) do Hội Đồng Giám mục Pháp soạn và xuất bản năm 1991, số 465 quả quyết :"Các linh mục được Thiên Chúa tuyển chọn ngay giữa dân Ngài. Chính giữa lòng dân tộc này mà các linh mục nghe tiếng Chúa gọi, và Giáo Hội kiểm điểm tính cách xác thực của tiếng gọi ấy...".
Có lẽ vì phong trào muốn truyền chức linh mục cho nữ giới mỗi ngày một lên cao, nên trong cuốn Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 1577, khẳng định rõ rệt: "Chỉ một người nam đã rửa tội mới có thể lãnh nhận cách hiệu lực việc truyền chức thánh. Chúa Kitô đã chọn mười hai người nam để lập nên Tông Đồ Đoàn Mười Hai ông.... Giáo Hội thấy mình bị trói buộc bởi sự lựa chọn này của chính Chúa Kitô, cho nên không thể có sự truyền chức cho phụ nữ (Bản dịch của Trần Thái Đỉnh, Nguyệt San TTĐM in, Hoa Kỳ 1996).
Khi được hỏi: Giới trẻ (VN) nghĩ gì về con người linh mục? 6%, LM là người xuất chúng, được Chúa chọn cách riêng; 20%, LM cũng chỉ là một người bình thường như mọi người; 74% LM là người bình thường, nhưng được gọi cho một sứ vụ thánh (x. Báo Dân Chúa Âu Châu, số 113, 3.1992, tr. 8).
Trong cuộc thăm dò với đề tài "Giới trẻ với Tôn giáo", 300 phiếu thăm dò đã gửi đi, hai phần ba đã trả lời. Kết quả về câu hỏi "Bạn nghĩ gì về chức linh mục?", thì 25,23%, chức LM là một ơn gọi thiêng liêng. 32,71%, LM là thừa sai của Thiên Chúa và đồng hành với anh em, rao giảng Tin Mừng. 20,56%, LM là đại diện Chúa ở trần gian, ban bí tích (Công Giáo và Dân Tộc, 7.12.1991, tr.12).
Ngày lễ Hiện Xuống, 22.05.1994, Đức Gioan-Phaolô II đã ký tông thư khẳng định: "Việc truyền chức linh mục chỉ dành cho người nam" (l'ordination sacerdotale est exclusivement réservée aux hommes) (Figaro, 31.05.1994).
admin
11-01-2006, 08:04 PM
CHƯƠNG II
LM RENÉ LAURENTIN trong cuốn "Nouveaux ministères et fin du clergé" devant IIIe synode, 1971 (éd. du Seuil, Paris, 1971, 289 trang, khổ 13x20) đã cho chúng ta thấy cái thảm cảnh của Giáo Hội tại các nước kỹ nghệ, như Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Hoà Lan... trong những năm ngay sau Công Đồng Vatican II (1962-1965), tức là những năm 1965 đến 1970, trước THĐGM III, bàn về "Chức linh mục và Công lý trên thế giới". Tiêu biểu cho thảm cảnh này là "Mùa hè 1968 tại Paris". "Mùa hè nóng bỏng 1968 tại Paris" không chỉ tạo nên tình thế rối loạn về chính trị và xã hội giữa phe hữu và phe tả, mà còn đổ dầu vào bầu khí sôi sục giữa những nhóm công giáo cấp tiến và bảo thủ:
1) Tiêu biểu cho nhóm bảo thủ là "nhóm công giáo chống cải cách" (La contre-réforme catholique). Sau đây là một trong hằng trăm lời tuyên bố chống Công Đòng Vatican II, chống Đức Phaolô VI: "Kể từ thông điệp Ecclesiam Sanctam (6.8.1964) tôi tố cáo giáo hoàng Phaolô đã ném Giáo Hội vào nhiều sai lạc. Tôi không thể trưng hết những lời ông viết (...). Tôi đã đã tựa vào giáo huấn vững chắc, phổ cập và vô ngộ của quyền giáo huấn để chống lại những điều ông viết... Tôi đã vạch trần rằng giáo hoàng Phaolô là một nhà cải cách mà giáo huấn của ông đều có mầu sắc tà giáo, ông đã có những bài diễn văn bội giáo..." (sd. tr. 46).
2) Tiêu biểu cho nhóm cấp tiến là "nhóm trao đổi và đối thoại" (Echanges et Dialogue). Họ đã gay gắt trả đũa quyết định của hàng giám mục pháp: "Không một linh mục nào có thể chu toàn thừa tác vụ linh mục mà giám mục đã trao ban để phục vụ dân Chúa khi linh mục đó chống lại việc thi hành quyền bính trong Giáo Hội, cho dù trong nguyên tắc họ không phủ nhận. Không linh mục nào có thể dâng Thánh Lễ đúng thực nếu như họ bất đồng với Giám mục trong việc thi hành sứ mệnh và trong việc chọn lựa cách sống". 44 linh mục thuộc nhóm ấy đã ký giấy "tuyên bố ngưng mọi thừa tác vụ chính thức" vì lý do lương tâm đối với cơ cấu hiện nay của Giáo Hội và để liên đới với tất cả những anh em linh mục của họ. 44 linh mục ký tên chỉ là một số nhỏ trong nhóm linh mục liên quan đến quyết định trên của hàng giám mục. (sd tr. 43-44).
Người ta có thể tóm lại "tình thế sôi động của những thập niên 60 và 70 như sau: Các vụ chiếm nhà thờ, biểu tình, bày tỏ lập trường chống đối các cơ cấu quyền bính đạo và đời, chống mọi hinh thức đàn áp, gây chiến tranh, buôn bán khí giới... nhằm vào:
1) Vấn đề tôn giáo: Đòi có tự do nghiên cứu và suy tư; chống lại việc bổ nhiệm giám mục cách độc đoán, không hỏi ý dân; chống lại cường quyền của các khâm sứ toà thánh; chống lại những vụ truất phế và lạm dụng quyền bính; chống lại luật độc thân.
2) Vấn đề xã hội và chính trị: Chống mọi bất công xã hội; chống lại mọi đàn áp độc tài của cảnh sát; chống lại mọi thái độ và hành xử kỳ thị; chống lại chế độ thuộc địa; chống lại chiến tranh, đặc biệt chiến tranh Việt Nam và các vụ mua bán vũ khí (sd 49).
Hậu quả đau thương về nhân sự mà Giáo Hội phải gánh chịu, tóm lại như sau:
1) Số linh mục trên thế giới xin hồi tục: Năm 1963 chỉ có 167 trường hợp. Con số này mỗi năm một lên cao, riêng năm 1970 có 3.800 trường hợp. Và theo M. Kauffmann, tổng cộng từ 1963-1970 có 25.000 linh mục đệ đơn xin. Đó chưa kể phần lớn bỏ chức mà "không muốn xin" (sd 87).
2) Số nữ tu bỏ áo dòng: Tại Hoa Kỳ, từ năm 1964 đến 1970, số nữ tu 180.015 rơi xuống 160.931. Nguyên năm 1966 ra đi 1 827 nữ tu và năm 1968 ra đi 6.000 nữ tu. Tại Hòa Lan, có 30.000 nữ tu, mà trong các năm 1961-1966 ra đi 452 người. Tại Bỉ, có 40.000 nữ tu, mà chỉ năm 1966 đã ra đi 250 chị. Tại Pháp, năm 1963 có 120.000 nữ tu, nhưng 1971 không còn nổi 100.000 (sd tr.54).
3) Số người công giáo: tại Đức năm 1969 có 2285 người tuyên bố bỏ Giáo Hội Công Giáo, và 1970 có 3.845 người tuyên bố bỏ Giáo Hội (sd tr.54).
2. LM PHẠM PHÚC KHÁNH: "Chức vụ của linh mục trong Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới III", Báo Nhà Chúa, số 85, 2.1972, tr. 155-172. Bài này tác giả mới đổi lại tựa đề "Đời sống linh mục thời mới" và đăng trong cuốn "Giáo Hội Công Giáo giữa những thực tại trần thế", do tác giả xuất bản, Nice, 1997, tr. 107-126.
Hằng tính của linh mục (l'identité du prêtre):
1. BỘ GIÁO SĨ, ban hành "Tập chỉ nam về thừa tác vụ và đời sống của linh mục" năm 1994, đã dành cả chương I nói về "Hằng tính của linh mục", từ tr. 7-33, phân thành 5 điểm chính: Chiều kích Chúa BaNgôi; Chiều kích Kitô học; Chiều kích Thần Khí học; Chiều kích Giáo Hội học; Sự hiệp thông linh mục.
2. LM THIỆN CẨM O.P., trong bài "Linh mục của Tin Mừng", Nhà Chúa, số 18, 12.1970, tr. 7-28, khi nói về "Bản chất hay yếu tính của chức linh mục", đã tựa hoàn tòan trên những lời Tin Mừng của ThánhLuca 4,16-21, giống như Đức Gioan-Phaolô II trong tông huấn "Pastores dabo vobis".
3. LM RENÉ LAURENTIN s.j. trong cuốn "Nouveaux ministères... tr. 94-100), trình bày về "khủng hoảng về hằng tính linh mục" như sau:
1) Nhiều lần Đức Phaolô VI đã dùng kiểu nói "khủng hoảng hằng tính" (crise d'identité) hay "khủng hoảng tự bên trong" (criseintérieure) này.
2) Những nhân tố của sự căng thẳng:
a. Tại nhiều nước, như Hoa Kỳ, Gia nã đại và Tây Ban Nha, người ta dùng cách phân tách xã hội để đưa ra những nhân tố gây nêncuộc khủng hoảng: Đoạn tuyệt giữa các linh mục và quyền bính: Tại Tây ban Nha, trên 84,7% linh mục đã trả lời tiêu cực về câu hỏi: "Bạn có đồng ý với cách thế phản ứng của hàng giáo phẩm không? (34,8%, không chút nào; 22,7%, rất ít; 27,2%, một chút). Tại Hoa Kỳ, theo bản điều tra của linh mục Koval, thì 38% linh mục cho rằng hàng giáo phẩm thiếu tư cách lãnh đạo; 36% linh mục thất vọng về cách Giáo Hội giải quyết các vấn đề xã hội và luân lý; 32% linh mục cho rằng việc canh tân Công Đồng Vatican còn quá chậm trễ.
b. Cũng theo bản điều tra của cha Koval, còn ba nhân tố khác khiến linh mục hồi tục là những tương quan cá nhân và tình cảm: 31%, vì quá cô đơn; 27%, không được sự cộng tác của các linh mục đồng nghiệp; 21%, vì muốn kết hôn (trong số các linh mục muốn kết hôn, 20% dưới 30 tuổi, 15% dưới 40 tuổi).
3) Những nguyên cớ đưa tới khủng hoảng hằng tính linh mục:
a. Nhìn chung những thay đổi hiện nay: đảo lộn về phong hóa, làn sóng tục hóa, khủng khoảng đức tin và cơ chế, hiện tượng "conngười thứ ba" (thái độ không gắn bó, không từ bỏ, nhưng lãnh đạm).
b. Thay đổi vị trí xã hội của linh mục: Trước đây cha sở là người quan trọng trong làng, trong thành phố, nhiều người "hỏi ý kiến"về mọi vấn đề, và có địa vị quan trọng hơn ông xã trưởng... nay đảo ngược lại. Vì thế, linh mục cảm thấy "mất mát, bị ra rìa" (marginal), ít quyền hành và ít ảnh hưởng xã hội hơn ông xã trưởng...
c. Thăng tiến vai trò giáo dân trong Giáo Hội theo tinh thần Vatican II khiến nhiều linh mục dần dần cảm thấy "bị ra rìa", "mất chỗ đứng"... Do đó, theo công thức của nhóm "Echanges et Dialogue", linh mục muốn trở lại con người uyên nguyên (aux racines humaines), là đi làm việc kiếm sống, dấn thân vào nghiệp đoàn, chính trị, và lập gia đình.
d. Những quan niệm siêu hình về linh mục mất giá dần dần, trở thành lỗi thời: Sacerdos in aeternum, alter Christus (bài hát "Con linh mục"), cái mà linh mục nghĩ là riêng của mình thì lại không thuộc về mình (ce qu'il a en propre ne lui appartient pas)...
e. Sự mất giá, mất ý nghĩa về những "thánh sự" (sacrés), các nghi thức (rites), thái độ coi thường các "bí tích" (sacrements)... cũng làm cho linh mục mặc cảm là "lỗi thời" (Que de prêtres se sentent ainsi dépassés!).
g. Những nghiên cứu về xã hội học, tâm lý học, phân tâm học đều phân tích ơn gọi với nhiều yếu tố phức tạp của nó... khiến nhiều trường hợp phải hồ nghi về ơn gọi của một số linh mục... (ex:névrotiquement attaché à sa mère, il ne choisit le célibat consacré que pour éviter l'engagement sexuel et rester exclusivement à elle (..)
admin
11-01-2006, 08:05 PM
4. HENRI TINCQ, sd, tr. 109-114 nói về "crise de vocation ou crise d'identité", cũng nhắc lại gần như cha René Larentin, nhưng nhấn mạnh đến "tính cách loạn năng" (dysfonctionnements) vì giáo dân xâm lấn nhiều chức vụ vốn thuộc về linh mục... tạo nên một "viễn tượng dư thừa" về chức vụ của linh mục (la perspective résiduelle de la fonction du prêtre).
5. NHỮNG LẠM DỤNG VAI TRÒ GIÁO DÂN: Chuyện này đã xẩy ra ở đó đây... Vì thế thường có sự va chạm giữa linh mục với những giáo dân cộng sự. Hai sự kiện xác nhận điều đó:
1) Trong cuộc họp báo ngày 9.9.97 tại thủ đô Berne, Thụy Sĩ, sau khi viếng mộ hai thánh Tông Đồ Phêrô-Phaolô và thăm Toà Thánh trở về, Đức cha Kurt Koch, giám mục giáo phận Bâle, cho biết ngài đã thành công trong việc chặn đứng sáng kiến gọi là "Lễ Hiện Xuống 1999" do một số thần học gia giáo dân đảm trách các cộng đoàn giáo xứ trong giáo phận Bâle đề xướng. Nhóm này tuyên bố sẽ cử hành Thánh Lễ vì tình trạng thiếu linh mục trầm trọng trong giáo phận. Trong cuộc thảo luận hồi mùa hè 1997 với các thần học gia giáo dân đó, đức cha Koch đã cảnh giác rằng nếu họ cử hành thánh lễ mà không có chức thánh, thì có nghĩa là phạm tội ly khai khỏi Giáo Hội. Các giáo dân đó đã hiểu và không dám tiến hành toan tính đó nữa. Đức cha Koch cho biết vì tình trạng thiếu linh mục trong giáo phận Bâle, ngài đã tìm kiếm những giải pháp cấp thời bằng qua sự cộng tác của các thần học gia giáo dân. Nhưng giải pháp mục vụ khẩn cấp này chỉ tốt, bao l!au các thàn học gia giáo d!an tuân điều họ cam kết, vếa không vượt quá giới hạn trong lãnh vực cử hành bí tích (x. Mục Vụ, số 161. 10.1997, tr.87-88).
2) Huấn thị của Liên Bộ Tòa Thánh, ra ngày 8.11.97 mục đích chấm dứt "tình trạng giáo dân hóa giáo sĩ và giáo sĩ hóa giáo dân" : Cụ thể là văn kiện này tái khẳng định kỷ luật hiện hành của Giáo Hội, theo đó giáo dân không thể thi hành những công việc thuộc về những việc có chức thánh, ví dụ giảng trong thánh lễ, cử hành phép xức dầu bệnh nhân, hoặc đọc kinh nguyện Thánh Thể. Nhiều linh mục và giáo d!an tại các nước Âu Mỹ lên tiếng phản đối Huấn Thị này. Vì thế Đức hồng y Joseph Ratzinger, Tổng trưởng bộ Giáo Lý Đức Tin đã lên tiếng bênh vực Huấn Thị này, khi ngài ngỏ lời với nguyệt san "30 Ngày", xuất bản tại Roma, ngày 3.12.97. Ngài tuyên bố: "Đứng trước hiện nay, trong một số lãnh vực của Giáo Hội, Huấn thị Liên Bộ là một điều cần thiết và hợp thời. Huấn thị xác nhận "có những lạm dụng và sai lầm trong những lề lối thự hành hiện nay của Giáo Hội, vì thế Huấn thị muốn làm sáng tỏ vấn đề về phương diện đạo lý cũng như về mặt kỷ luật". Đức Hồng Y còn nói: "Tại một số nơi ở Tây Phương, chức linh mục bị tương đối hóa. Vì thế, người ta đi tớinguy cơ giáo sĩ hóa giáo dân. Một giáo dân đảm nhạn về lâu về dàicác công tác mục vụ thuộc về chức linh mục thì trong thực tế sẽ không còn là giáo dân nữa. Và họ mất căn cước giáo dân của mình. Vì thế, nảy sinh ra một loại thừa tác vụ mới lấn át thừa tác vụ của linh mục. Khi ban hành Huấn Thị Liên Bộ Toàn Thánh không hề có ý ngăn cản việc thăng tiến giáo dân trong Giáo Hội, nhưng chỉ ngăn chặn những xu hướng giáo sĩ hóa giáo dân mà thôi". (KNA 3.12.97; Báo GXVN số 141, 01.02.98,tr.34).
CHƯƠNG III
BỘ GIÁO SĨ, trong "Tập chỉ nam về thừa tác vụ và về đời sống của linh mục", đã dành chương II, tr. 34-72, nói về "tinh thần tu đức của linh mục" (Spiritualité sacerdotale) với những khía cạnh căn bản: Bối cảnh lịch sử hiện nay; Sống với Đức Kitô trong cầu nguyện; Đức bác ái mục vụ; Rao giảng Lời Chúa; Bí tích Thánh Thể; Bí tích Thống Hối; Hướng dẫn cộng đoàn; Độc thân của linh mục; Đức vâng lời; Tinh thần khó nghèo của linh mục; Tôn sùng Đức Maria.
ĐC BATÔLÔMÊÔ NGUYỄN SƠN LÂM trong tập "10 bài giảng cho tuần tĩnh tâm của các linh mục Đàlạt" (in roneo, 49 trang A4, ), đã nêu bật 10 lý do đòi linh mục phải nên thánh, hay phải có đời sống nội tâm: 1, Linh mục là tông đồ của Đức kitô. 2, LM làthành phàn của hàng tư tế. 3, LM là người xây dựng nhiệm thể. 4, LM là người dâng lễ. 5, LM là ngôn sứ. 6, LM là thừa tác viên của các mầu nhiệm thánh. 7, LM là chủ chăn. 8, LM là người của mọi người. 9, LM là con người được hiến thánh. 10, LM là người đi theo Đức Kitô.
admin
11-01-2006, 08:06 PM
CHƯƠNG IV
LM HỒNG PHÚC, C. Ss. R. trong bài "TÂM SỰ MỘT LINH MỤC", Báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 32, 11.1988, tr. 29-32, đã viết: "...Tôi đã cân nhắc, đã suy tư, để lựa chọn giữa hai con đường (đi tu hay ra đời). Nhưng có "một cái gì đó" trong tôi đã giúp tôi vượt thẳng. "Cái gì đó" là gì? Thật là khó nói và khó tả, nhưng nó vẫn có và nằm gọn trong tôi. "Cái gì đó" dần dần tôi mới hiểu biết. Đó là tiếng gọi của Chúa Kitô. "Không phải chúng con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn chúng con".
CHƯƠNG V.
Những văn kiện quan trọng mới đây về việc đào tạo ứng sinh linh mục:
1). Công đồng Vatican II: sắc lệnh Optatam (28.10.1965), sắc lệnh Presbyterorum Ordinis (7.12.1965).
2) Bộ Giáo Dục Công Giáo: Những quy luật cơ bản (normes fondamentales, Ratio fundamentalis, 1970); Những nguyên tắc căn bản về việc giáo dục linh mục (Principes fondamentaux de l'éducation sacerdotale, 1971), Những nguyên tắc căn bản về việc huấn luyện linh mục (Principes fondamentaux de la formation sacerdotale, 1985), Những hướng dẫn đặc biệt về đời sống độc thân (1974), về huấn luyện mục vụ (1979), về tu đức (1980), về triết học (1972), về thần học (1976).
3) Giáo Luật 1983: can 232-264.
4) Tại Pháp, các văn kiện trên được áp dụng nghiêm chỉnh kể từ 1983.
Giáo Hội Pháp với việc đào tạo ơn gọi, xem: Eglise Catholique en France 1997, tr. 370-379.
1. Văn phòng Ơn Gọi cấp quốc gia, cấp giáo phận.
2. Có những khủng hoảng ơn gọi tận hiến. Cha Jean Marie Launay, Đặc trách "Văn phòng quốc gia về Ơn gọi" nhận định: "Giáo Hội đang chịu một cơn khủng hoảng về ơn gọi chưa từng có trong lịch sử. Thực tế cũng đơn giản thôi. Đường cong về ơn gọi (la courbe des vocations) trong Giáo Hội Công Giáo hoàn toàn đối xứng với đường cong về đời sống đạo của kitô hữu. Càng ít giáo dân dấn thân vào đời sống đức tin, càng ít người trẻ muốn đáp lại những tiếng gọi của Thiên Chúa". Vậy, cơn khủng hoảng của ơn gọi, phải là cơn khủng hoảng thường tình của cuộc khủng hoảng đức tin mà Giáo Hội Tây Phương rơi vào từ đầu thế kỷ này không? Điều đó có lẽ hợp lý. Càng ít cha mẹ kitô giáo, tất nhiên càng ít tu sĩ và linh mục.
3. Nhưng đừng sợ, một phải dấn thân. Ngay một số giáo dân sống đạo cũng có khủng hoảng về ý niệm ơn kêu gọi. Vào thời điểm mà một số giáo dân thấy mình có trách nhiệm trong ít nhiều phạm vi của đời sống Giáo Hội mà trước đây giao phó cho linh mục, thì không phải là hiếm có trường hợp nghi vấn: "vậy ơn gọi còn cần thiết nữa hay không?". Từ đó người ta muốn một số giáo dân được "nâng lên" thành giáo sĩ. Một số phụ huynh quá lo lắng về tương lai của con cái, nên sinh ngờ vực về ơn gọi: Đi tu có thể làm nhỡ chương trình về nghề nghiệp mà họ đã vạch sẵn ra cho con cái của họ. Thế rồi họ nghĩ: "Việc phục vụ Giáo Hội là việc tự nguyện và ngắn hạn chứ đâu phải là một sứ mệnh được ủy nhiệm cho cả đời, hay việc hiến thân của một người".
Cha Jean Launay nhấn mạnh: "Sợ hãi là bệnh cúm của xã hội. Giáo Hội cũng mang bệnh cúm hay lây này. Nếu chúng ta, chúng ta sợ hãi, thì Phúc Âm không có tương lai. Để dân kitô giáo có sức sống, thì tất cả mọi ơn gọi đều cần thiết, từ giám mục là trung điểm, đến các linh mục và phó tế là cộng tác viên của ngài. Như Chúa Kitô, họ đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ". Điều này xác thực: Thiếu linh mục và tu sĩ là những người làm việc nồng cốt, thì kitô hữu phải học hỏi thêm để cộng tác làm việc, nhưng không coi Giáo Hội như một cơ chế "phải làm cho thay đổi" theo kiểu một xí nghiệp. Quả thật, sự khác biệt phong phú và sự bổ sung về ơn gọi làm cho Giáo Hội công giáo, trong cách sống của mình, không thể bị so sánh với một thể chế nào khác, cho dù là thể chế kinh tế, xã hội hay tôn giáo. Đó là sự tinh tế mà các Văn Phòng về Ơn Gọi, cấp quốc gia hay giáo phận, phải nêu bật lên mãi.
4. Mỗi năm một cố gắng, một sáng kiến mới: Không ai có thể chối cãi những nỗ lực của Hội Đồng Giám Mục Pháp và các Văn Phòng Ơn Gọi, từ 1984 đến nay. Bằng nhiều hình thức, mỗi năm đều có một sáng kiến cổ võ ơn gọi linh mục và tu sĩ trong mục vụ giới trẻ (Chaque année: un effort particulier p. 371-372).
5. Chu kỳ:
Chu kỳ I: 1 năm tìm hiểu (année de discernement), 2 năm triết.
Chu kỳ II: 4 năm thần học và thực tập mỗi cuối tuần.
6. Huấn luyện: Nhân bản, trí thức, thiêng liêng và mục vụ.
7. Chủng viện: Hiện nay tại Pháp có 24 Chủng viện: 6 Chủng viện chu kỳ I, 5 đại chủng viện chu kỳ 2, 13 chủng viện chu kỳ 1 và 2, 4 chủng viện đại học mà 1 ở Roma. Ngoài ra còn 2 nhóm huấn luyện khác:
1) Nhóm huấn luyện Đại học (GFU) quy tụ các sinh viên sinh hoạt theo nhóm hoặc theo miền trong niên khóa. Thường các sinh viên này theo nhiều khóa học huấn luyện trong năm. Sau thời gian đại học, họ được kể như đã hết chu kỳ I, và có thể vào chủng viện chu kỳ II.
2) Nhóm huấn luyện thợ thuyền (GFO) quy tụ những người trẻ trong giới thợ thuyền, họ sinh hoạt theo từng nhóm nhỏ, và khi đầy đủ điều kiện, họ được nhập chủng viện.
Số ứng sinh linh mục năm 1995: thuộc giáo phận: 247 ở chu kỳ I, 155 ở chu kỳ II; thuộc dòng tu: 201 tập sinh tại Pháp (150 không phải người Pháp), 3.596 tập sinh ở ngoại quốc và không phải là người Pháp.
admin
11-01-2006, 08:08 PM
Giáo Hội Việt Nam với việc đào tạo ơn gọi:
1. Một vấn đề "trăm ngàn khó" dưới chế độ cộng sản; một lo âu mục vụ lớn của hàng giám mục, phản ảnh qua thư chung gửi cho giáo dân hay thư gửi cho Nhà Nước sau mỗi kỳ Đại Hội thường niên; một nỗ lực kiên trì của những người trẻ và các bậc phụ huynh trong hoàn cảnh tu chui, chờ đợi nhiều năm để được vào chủng viện hay chịu chức, đôi khi còn mất tiền cho cán bộ...
2. Hiện có 6 Đại Chủng Viện: Hà Nội, Vinh-Thanh, Huế, Nha Trang, Sàigòn, Cần Thơ.
3. Công trình đào tạo: Đọc hai tập "nội dung cuộc họp đại diện các Đại Chủng Viện" (10-15.07.95 tại Nha Trang và từ 09-13.07.96 tại Huế), chúng ta thấy các Đại Chủng Viện cố gắng áp dụng những chỉ thị của Giáo Hội qua các sắc lệnh của Công Đồng Vatican II, các sắc chỉ của các Bộ Giáo Sĩ và Giáo Dục, đặc biệt theo Tông Huấn "Pastores Dabo Vobis" của Đức Gioan-Phaolô II vào việc huấn luyện chủng sinh trong hoàn cảnh cụ thể: Như "đào tạo nhân bản" (x.Đại Hội 1995, Nha Trang), "đào tạo mục vụ" (x.Đại Hội 1996, Huế), "Đào tạo linh mục theo gương mẫu Chúa Giêsu Kitô, hướng tới thế kỷ 21" (dự kiến cho Đại Hội 07.1997, Huế).
4. Những khó khăn:
1) chung: vấn đề chiêu sinh, vấn đề giáo sư, vấn đề sách vở tài liệu, vấn đề tài chánh.
2) riêng: cơ sở, Hà Nội và Sài gòn; cắt đặt các chủng sinh đi thực tập mùa hè (khi một Giáo phận có nhiều tỉnh hành chánh); về giáo sư (Hà Nội, Vinh Thanh)....
5. Số chủng sinh niên khóa 1996: ĐCV Hà Nội, 122 chủng sinh của 8 giáo phận Hà nội, Phát Diệm, Hưng Hóa, Thái Bình, Hải Phòng, Bùi Chu, Lạng Sơn; ĐCV Vinh Thanh, 83 chủng sinh của 2 giáo phận Vinh và Thanh Hóa; ĐCV Huế, 39 chủng sinh của hai giáo phận Huế và Kontum; DCV Nha Trang, 97 chủng sinh của 3 giáo phận Nha Trang, Quy Nhơn, Ban Mê Thuột; DCV Sài gòn, 193 chủng sinh của 6 giáo phận Sài gòn, Mỹ Tho, Xuân Lộc, Phú Cường, Phan Thiết và Đà Lạt; DCV Cần Thơ, 94 chủng sinh của 3 giáo phận Cần thơ, Vĩnh Long và Long Xuyên.
6. Bốn ước nguyện chung đệ lên Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (Hội Nghị Thường niên 1996, Huế, tr.76):
1) Sáu Đại chủng viện đều nhất trí có năm thực tập Mục vụ trong quá trình đào tạo chủng sinh, nhưng vào thời điểm nào thì tùy mỗi Đại chủng viện và các đức Giám mục giáo phận liên hệ.
2) Xin các Đấng Bản Quyền gây ý thức cho Cộng đồng Dân Chúa (nhất là các linh mục trong giáo phận) về trách nhiệm đào tạo linh mục tương lai là trách nhiệm chung của mọi người, đặc biệt trong việc tạo điều kiện cho chủng sinh thực tập mục vụ.
3) Một lần nữa, Hội nghị thấy có nhu cầu khẩn thiết mở thêm Đại chủng viện Xuân Lộc và Thái Bình để việc đào tạo chủng sinh có hiệu quả hơn.
4) Xin Hội Đồng Giám Mục đạo đạt lên Chính phủ cho các Đại chủng viện được dễ dàng nhập sách báo để bồi dưỡng kiến thức cho giáo viên và học viên.
Đời sống độc thân của linh mục: (x. R. Laurentin, Nouveaux Ministères... sd. tr.124-141; Henri Tincq, sd, tr.116-124).
1. Vài dòng lịch sử về việc buộc sống độc thân: Thật rõ ràng ngay tự đầu: Đức Kitô đã sống độc thân. Ngài đã đề nghị lý tưởng độc thân vì nước trời. Tuy nhiên Ngài không đề nghị như một sự đòi buộc, nhưng như một sự tự hiến: "Ai có thể hiểu được thì hiểu" (Mt 19, 12).
Trung thành với lý tưởng Đức Kitô đề nghị, thánh Phaolô đã sống độc thân và đã khuyên nhủ mọi kitô hữu sống độc thân vì Nước trời (1Cr 7,8, 25-38), mà không riêng biệt cho các thừa tác viên. Khi đề cập đến việc chọn các linh mục và giám mục, Ngài tán thưởng những người đã lập gia đình mà biết quản trị tốt gia đình (1Tm3,2-5).
Luật buộc sống độc thân hay đúng hơn giữ tiết dục (continence) đã được cổ súy (motivée) bởi công đồng Elvire (305) và bởi giáo hoàng Sirice (385). Việc giữ tiết dục này, mỗi ngày một được hâm mộ và phổ biến trong Giáo Hội, nhất là với đời sống tu dòng mỗi ngày một thăng tiến tại Tây Phương: người ta đã có những quan niệm về "thánh sự" (sacré), "nơi thánh" (lieux saints), "người thánh" (personnages sacrés) xa lạ với Phúc Âm. Theo những quan niệm này, linh mục không được quyền gần gũi hay ăn ở với vợ đêm trước khi cử hành lễ thánh.... Các Giáo Hội Đông Phương không đồng ý với những quan niệm đó. Cho nên năm 692, tại công đồng Trullo, đã có quy khoản sau đây: "Nếu ai dám cấm linh mục ăn ở với người vợ hợp pháp của ông thì bị tố ra toà. Cũng vậy nếu một linh mục hay một phó tế sống ly thân với vợ cũng bị tố ra toà" (Mansi XI, 947-948 BD). Công đồng Nixê I (325) đã từ chối không buộc các thừa tác viên phải sống độc thân, chỉ cấm lập gia đình sau khi đã chịu chức.
Giáo lý của Giáo Hội chỉ được ấn định vững vàng tại công đồng Latran (1123-1139). Chính Công Đồng này đã tuyên bố vô hiệu những hôn phối kết ước với một người đã chịu chức năm, chức sáu hay chức linh mục. Một khi đã kết hôn, ứng sinh không thể chịu các chức thánh. Độc thân không phải là đòi hỏi của bản chất chức linh mục, mà chỉ như "phương tiện" để giúp linh mục thực hiện "sự tận hiến hoàn toàn" (don total) cho Giáo Hội... theo gương Chúa Kitô, Đấng yêu cầu các môn đệ "bỏ hết mọi sự đi theo Ngài" (Lc 5,11) và "trở thành hoạn quan vì Nước Trời" (Mt 19,12).
2. Những động lực phúc âm mời gọi linh mục sống độc thân:
1) Noi gương Chúa Kitô và thánh Phaolô, đặc biệt với những ai thi hành thừa tác vụ.
2) Độc thân là chứng tá về thế mạt, đặc biệt trong việc cử hành lễ Thánh Thể, là "loan báo sự chết của Chúa Giêsu cho tới ngày Ngài tái giáng" (1Cr 11,26).
3) Là chứng tá sáng ngời trong xã hội văn minh sạm tối vì khiêu dâm (érotique).
4) Đức Kitô mời tất cả những ai muốn "theo Ngài" hãy "từ bỏ tất
cả" và hoàn toàn tận hiến, hầu đổi đáng "phần thưởng gấp trăm"
Chúa đã hứa (x. Mt 19,29; Lc 22,29; Mc 10, 30).
5) Độc thân tạo điều kiện cho người tận hiến "sẵn sàng" (disponibilité) về thời giờ về tự do... để phục vụ các linh hồn. Độc thân không bao giờ có nghĩa là "ghét đời" hay "yếm thế" hoặc "nhu nhược, hèn nhát". (Ngay ở một nước xáo động như ở Hoà Lan, thế mà 64% đồng ý về "động lực sẵn sàng" và 62% tán đồng về "động lực noi gương Đức Kitô. R. Laurentin sd. tr. 138).
6) Ngoài ra còn những lý do thực tế:
1) Tài chánh (thừa tác viên độc thân bao giờ cũng "ít chi phí" hơn thừa tác viên có gia đình. Vấn đề đặt ra cho nhiều trường hợp bên Giáo Hội Đông Phương, và cho nhiều trường hợp Thày Phó Tế Vĩnh viễn hiện nay).
2) Nhiều phức tạp khác trong vấn đề gia đình (thuyên chuyển, thời giờ, gia cảnh) (x. Mt 10,5...)
3. Phong trào "đòi xét lại" đời sống độc thân của linh mục: Có lẽ sôi nổi và đồng loạt nhất ngay trong hàng ngũ linh mục là sau mùa hè 1968, dưới đây chỉ xin ghi lại đặc biệt những hoạt động "đòi xét lại" của các nhóm linh mục vào năm 1970, trước Thượng Hội Đồng các Giám Mục III, bàn về "Đời sống độc thân của linh mục".
1) Tại Anh: Cuộc hội của các linh mục tại Wood-Hall, 1-5.06.1970 đề cao giá trị vô lường (inestimable) của đời sống độc thân, nhưng yêu cầu truyền chức linh mục cho những người đã lập gia đình (ICI, 7.1970, s.3359, tr. 12). Một thư thỉnh nguyện do 18 linh mục Liverpool yêu cầu cho linh mục tự do chọn đời sống độc thân (célibat facultatif) và phục hồi chức vị (réintégration) cho những linh mục đã lập gia đình (ICI, 5.1970, s.359,tr. 19)
2) Tại Tây Đức: 1.500 linh mục "liên đới" trên số (20.000 lm) ký giấy phản đối hàng giám mục đã tỏ lập trường "duy trì đời sống độc thân của linh mục" (ICI, 15.3.1970, s.356, tr.15).
3) Tại Hoà Lan, biến cố đáng chú ý là các linh mục đã lập gia đình còn cử hành thánh lễ (DC, 11.1970,s. 1573, tr. 986)
4) Tại Pháp: Thành lập "hội các linh mục đã kết hôn" (association des prêtres mariés); ra đời nhóm Echanges et Dialogue gồm các linh mục đã bỏ chức..(ICI 11.1970, s.372,tr.15).
5) Tại Ý, các linh mục đã kết hôn được được cộng đoàn giáo dân ủng hộ, đã cử hành thánh lễ tại Turin. Họ bị các giám mục ra vạ "tuyệt thông" (DC 10.1970,s.1572,tr.941).
6) Tại thụy sĩ: Nhiều trường hợp linh mục đã lập gia đình "dâng lễ tại tư gia" được chiếu trên màn ảnh.
7) Tại Hoa Kỳ: Đức cha McGucken, Tổng giám mục San Francisco, ra vạ tuyệt thông một linh mục đã kết hôn dám dâng thánh lễ. Cộng đoàn giáo dân phản đối đức tổng giám mục với 604 phiếu ủng hộ linh mục và 38 phiếu ủng hộ tổng giám mục (National Catholic Reporter, 23.4.1971,s.25,tr.1 và 11).
8) Tại Gia Nã Đại: Nhiều nhóm linh mục đòi cho linh mục tự do chọn sống độc thân hay không (National Catholic Reporter, 26.2.1971, tr.7).
admin
11-01-2006, 08:10 PM
4. "Độc thân" vẫn còn là vấn đề nóng bỏng, một ưu tư lớn.
Ngay trước Thượng Hội Đồng các Giám Mục VIII, 1990, tại Roma đã thành lập một "Liên hiệp các linh mục đã kết hôn" (Fédération des prêtres mariés), liên kết 26 hội (associations) thuộc 19 quốc gia, và chủ tịch liên hội là Pierre Lautrey. Ông đã tới Paris cùng với vợ là Micheline, và cho biết "Mặc dầu chính Giáo Hội không cho biết con số đúng, nhưng hiện nay trong số 401.000 linh mục trên thế giới, đã có 90.000 bỏ chức" (La Croix,4.10.1990,p.15).
Tháng 11. 1991, khi trả lời cho nhà báo Berliner Morgenpost, đức hồng y Georg Sterzinky, giám mục Berlin, nhìn nhận rằng càng ngày càng nhiều người trẻ kitô giáo không thể chấp nhận đời sống độc thân. Một trong những mục tiêu đòi hỏi của nhóm giáo dân "Chúng tôi là Giáo Hội" (Nous sommes l'Eglise) hoạt động mạnh tại Đức và Áo hiện nay là "thay đổi luật độc thân linh mục".
Đức hồng y Martini, tổng giám mục Milan khẳng định: " Đối với Giáo Hội, không có một khó khăn thần học nào trong việc sửa đổi về luật độc thân của linh mục. Nhưng không thể sửa đổi thành nguyên tắc chung. Vì như thế sẽ có một sự chia rẽ kinh khủng ngay trong lòng Giáo Hội, còn khủng khiếp hơn vụ ly giáo của giám mục Lefèvre" (Le Monde, 4.1.1994).
Sau Thượng Hội Đồng Giám Mục VIII, phong trào "đòi xét lại đời sống độc thân của linh mục" lại bùng lên mỗi khi có một "gương xấu lớn" xẩy ra trong Giáo Hội: như vụ giám mục Eamon Casey (Galway, Ái Nhĩ Lan, 1922), vụ giám mục Hans Joachim Vogel (Bâle, Thụy Sĩ, 1995), vụ giám mục Rocderick Wright (Argyll, Ecosse, 1996), vụ linh mục Eugen Drewermann (Đức, 1995), vụ "các linh mục Hoa Kỳ lạm dụng tính dục đối với trẻ em" (The Times, 18.09.1996).
Dầu mọi sóng gió... đa số linh mục vẫn còn trung thành với "đời sống độc thân" và Thượng Hội Đồng các Giám Mục, nhờ Chúa Thánh Thần hướng dẫn, vẫn duy trì kiên vững đời sống độc thân cho các linh mục thừa tác. Dĩ nhiên cho đến nay "vấn đề độc thân vẫn là mối ưu tư lớn" như đọc thấy trong bản "Schema synodal sur le Prêtre": "Phần lớn cuộc khủng hoảng mà thừa tác vụ linh mục phải gánh chịu đều phát sinh từ những tranh luận về vấn đề độc thân" (La grande partie de la crise, dont souffre le ministère des prêtres, provient des discussions qui concernent le célibat, éd. francaise, p.6).
Độc thân của linh mục là mối ưu tư triền miên của các vị Giáo Hoàng. Như lời tâm sự sau đây của Đức Gioan XXIII đã thổ lộ với triết gia Etienne Gilson: "Ông muốn tôi cho ông biết đâu là nỗi khổ tâm nhất của tôi hiện nay? Nỗi khổ tâm thường ngày của tôi là nghĩ đến các linh mục trẻ đang can đảm mang gánh nặng về luật sống độc thân của giáo hội. Đối với một số người, đó là tử đạo, phải, một hình thức tử đạo. Tôi cũng thường nghe lời ta thán, dường như những tiếng kêu xin Giáo Hội giải thóat cho họ khỏi gánh nặng này. Tôi có thể giải thóat họ được không? Xét cho cùng, đó là chuyện tôi thể làm được. Vì độc thân theo luật Giáo Hội không phải là một tín điều. Thánh Kinh không áp đặt sống độc thân. Nên đó là việc dễ làm thôi. Hôm nay, tôi có thể cầm bút ký một văn kiện để ngày mai các linh mục nào muốn, có thể kết hôn. Nhưng tôi không thể làm được như vậy. Vì độc thân là một hy sinh mà Giáo Hội tự buộc mình một cách tự do, quảng đại và anh hùng" (Etienne Gilson, dans La France Catholique, 7.6.1963).
Việc đào tạo đặc biệt các ứng sinh linh mục bắt đầu nghiêm chỉnh kể từ công đồng Trente. Vào cuối Thời trung Cổ, hàng giáo sĩ không được đào tạo. Nhiều giám mục đi kinh lược các họ đạo còn ghi những lời than phiền thật buồn thảm: "Linh mục không biết gì cả! hoàn toàn vô học (illettré). Chỉ có mỗi sự hiểu biết hời hợt. Không hiểu biết gì đáng kể...".Vào cuối thế kỷ XV, người ta còn đọc thấy một lời chứng như sau: "Các linh mục không hiểu gì về lời họ nói và ý nghĩa lời giảng, may ra họ chỉ biết đọc thong thả, đánh vần từng chữ".
Những nhận định trên thúc đẩy việc canh tân vào suốt thế kỷ XVI. Khi tố cáo "việc trễ nải giảng dạy và giải nghĩa đúng đắn Lời của Chân Lý", ông Luther đã đi trước việc canh tân của công giáo. Nhấn mạnh đến việc giảng và dạỵ giáo lý, ông đã dọn cuốn "Giáo Lý vỡ lòng" (Petit Catéchisme, 1529) mà trước tiên là dùng cho mục sư và các giảng viên ít học vấn. Ông Calvin cũng làm như vậy (1541) và nhiều người khác.
Về phía người công giáo, thì công đồng Trente, năm 1563, ban hành cuốn giáo lý, giống như cuốn giáo lý của ông Luther, dựa trên bốn điểm trụ: Kinh Tin Kính của các Tông Đồ, các Bí Tích, mười Điều Răn, và Kinh Nguyện ngày chủ nhật. Mối bận tâm khác của Công Đồng là việc đào tạo hàng giáo sĩ: Mỗi giáo sĩ phải được qua một thời gian huấn luyện chuyên biệt. Bổn phận của mỗi giám mục là phải thiết lập chủng viện và lo việc huấn luyện linh mục giáo phận.
Người áp dụng chương trình canh tân đầu tiên tại Pháp là hồng y Pierre de Bérulle. Ngài muốn đem toàn lực "đổi mới hàng giáo sĩ, giúp họ thành những linh mục thánh thiện". Năm 1611, ngài lập hội "Oratoire de France" và khai nguyên "Trường phái tu đức Pháp" (Ecole francaise de spiritualité). Hấp thụ tinh thần của Hồng y Bérulle, linh mục Jean jacques Olier đã lập chủng viện đầu tiên năm 1641, và lập Hội Linh Mục Saint Sulpice năm 1645. Mục đích của Hội này là đào tạo những người chuyên làm việc trong chủng viện. Năm 1642, thánh Vincent de Paul cũng lập chủng viện đón các linh mục tới thụ giáo từ 6 tháng đến hai năm.
Sau cách mạng, chủng viện được tái thiết và rất thành công: năm 1830, trên toàn đất Pháp có 2.300 linh mục chịu chức. Mấy giáo phận dư linh mục! Nhưng chiếc áo thâm chùng đã làm cho linh mục thành lớp người riêng biệt, xa cách quần chúng, và từ năm 1905 đặt thành vấn đề khó khăn... Dần dần linh mục thụt lùi, chỉ khép kín trong "gia sản" của công đồng Trente, không cập nhật hóa với những biến chuyển ngoài xã hội. Linh mục sống như "homo Dei" mà quên rằng mình cũng là "homo hominis" nữa. Tình hình bất ổn ấy kéo dài cho tới công đồng Vatican II. (La Croix, 1.10.1990).
CHƯƠNG VI
CÔNG ĐỒNG VATICAN II: Sắc lệnh ĐT, 22 "Bổ túc việc huấn luyện sau khi mãn chủng viện"; Sắc lệnh LM,, 19 "Linh mục phải học hỏi thêm". Tập "Chỉ nam về Thừa tác vụ và Đời sống của Linh mục" của Bộ Giáo Sĩ, dành chương III bàn về "Huấn luyện liên tục" (tr. 74-99) với bốn điểm:
1) Những nguyên tắc (những lý do và nội dung việc huấn luyện, tr.74-82);
2) Việc tổ chức và các phương tiện (hình thức, thời gian tổ chức, tr. 82-88);
3) Những người trách nhiệm (giám mục, linh mục, sự cộng tác giữa các học viện, tr. 88-933);
4) Lứa tuổi và các hoàn cảnhriêng biệt (tr.94-97).
LM DƯƠNG LIÊN MỸ o.f.m. "Linh Mục và vấn đề học hỏi", Nhà Chúa, số 18, 10.1970, tr.789-799.
ĐTGM NGUYỄN VĂN THUẬN, "Nguồn gốc và ý nghĩa việc tu nghiệp Linh mục", in ở "Trong Cộng Đồng Dân Chúa", tài liệu khóa tu nghiệp linh mục tại Nha Trang từ 07-21.01.1971, tr. 13-25.
Tại Pháp, hầu hết các giáo phận đã lưu tâm đến việc "huấn luyện liên tục" cho các linh mục. Giám mục mỗi giáo phận đều bổ nhiệm một linh mục đặc trách với nhiều linh mục "chuyên môn". Tuy nhiên vẫn còn là "tìm kiếm" chứ chưa có "chương trình thống nhất chung cho các giáo phận". Cũng như hầu hết các Nước Âu Mỹ, không kể những hình thức thông thường như cấm phòng, khóa hội thảo, ngày gặp gỡ, buổi trao đổi... còn có hai thời gian dài, thường là một năm, đó là "năm tu nghiệp" (année de recyclage), "năm bồi dưỡng" (année sabbatique).
Tại Việt Nam, Đọc "cuốn chỉ nam" của nhiều giáo phận (Directoire du Vicariat Apostolique), chúng ta thấy các linh mục sau khi chịu chức còn phải thi khảo hằng năm, thường là 5 năm liền. Đó cũng là một hình thức huấn luyện liên tục. Có lẽ khóa "huấn luyện liên tục" đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam vào 1971, tại Nha Trang, do sáng kiến của ĐTGM Nguyễn Văn Thuận, bấy giờ là giám mục Nha Trang và người chủ chốt là ĐC Nguyễn Sơn Lâm, bấy giờ là Giám Đốc ĐCV Huế. 85 linh mục chịu chức trong khỏang 1964-1970 của 5 giáo phận Miền Trung đã tham dự tích cực. Mọi đề tài thuyết trình và trao đổi được ghi lại trong cuốn "Trong Cộng Đồng Dân Chúa", Nha Trang, 1971.
Trích từ tài liệu của CIAM
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.