josluukien
01-08-2008, 04:14 PM
Các Thánh Tháng 8
Thánh Anphongsô đệ Ligôriô (1696-1787)
Anphonsô sinh tại Marianella gần Naples (Ý) ngày 27-12-1696. Thân phụ trông coi đạo chiến thuyền Capitanna của Hoàng gia. Anphongsô vào đại học Hoàng gia lúc lên 12, nhận thanh kiếm hiệp sĩ lúc lên 14, đổ hai tiến sĩ luật đạo và đời lúc lên 16, làm luật sư và chánh án lúc lên 20 tuổi.
Tại pháp đình Naples tháng 6 năm 1723, có xử một vụ kiện lớn giữa hai nhà quí tộc thuộc dòng họ Orsini. Một vụ kiện hứa hẹn nhiều sôi nổi và tiền bạc vì hơn 600 ngàn đồng vàng là giá cả tranh chấp. Khi tòa khai mạc phiên sử, dân chúng đều chú ý đến vị luật sư trẻ tuổi, 27, nhưng tài cao chưa bao giờ thua một vụ kiện. Ai cũng tin rằng ông sẽ đem lại phần thắng cho thân chủ. Nhưng ai ngờ có một bàn tay trong lèo lái vụ kiện, làm áp lực để tòa kết án thân chủ của vị luật sư tên tuổi. Anphongsô bước ra khỏi tòa án vừa đi vừa nói: Hỡi thế gian, ta đã biết ngươi! Đây là một khúc quanh của cuộc đời. Anphongsô đi vào quì trước bàn thờ Đức Mẹ ở cạnh đền thân phụ, rút thanh gươm nhà quí tộc đặt trước bàn thờ Đức Mẹ. Từ đây, người sẽ là hiệp sĩ của Đức Mẹ và linh mục của giới nghèo.
Anphongsô được thụ phong linh mục ngày 21-12-1726. Vị tân linh mục dấn thân vào việc tông đồ cho người nghèo. Người rất xúc động khi hay biết có 12 ngàn linh mục sống trong thủ đô hoa lệ để phục vụ cho người giàu thì cách thủ đô Naples mấy chục cây số không có linh mục nào “bẻ bánh lời Chúa” cho những người nghèo khổ tất bật.
Tháng 11 năm 1732, Anphonsô với 5 anh em đồng chí hướng rời Naples đi về làng Scala lập Dòng Chúa Cứu Thế “tiếp tục công việc Chúa Kitô là rao giảng tin mừng cho người nghèo khó.”
Dòng Chúa Cứu Thế gồm những tu sĩ sống theo một tinh thần do Anphongsô để lại là suy niệm, sống và rao giảng lời Chúa bằng những phương thức bình dân với một diệu cảm lớn lao là yêu mến, bắt chước và tận hiến cho Chúa Cứu Thế. Đặc điểm là các tuần Đại phúc, các cuộc cấm phòng và các việc tông đồ khác với nội dung siêu nhiên, lời văn giản dị và nhắm phần thực hành.
Anphongsô sống vào thế kỷ của thuyết duy lý và tự nhiên thần đạo mà Voltaire và nhóm Bách khoa chủ trương. Để chống lại, Anphonsô dùng ngòi bút để phản công. Người đã viết tất cả 111 cuốn sách. Đặc biệt hơn là bộ Thần học luân lý.
Dòng Chúa Cứu Thế được chính thức công nhận do Đức Bênêđitô XIV năm 1740. Song song với ngành nam, có ngành nữ do sáng kiến của chị Marie Celeste Crostarosa và sự trợ lực của Anphongsô.
Năm 1762, Tòa Giám mục Dainte-Agathe des Goths trống ngôi. Có 62 vị ứng cử viên vào chức vụ. Đức Clêmentê XII chọn Anphonsô ngoài danh sách làm Giám mục. Người từ chối hết sức nhưng cuối cùng phải chấp nhận “ý Đức Thánh Cha là ý Chúa”. Người cải tổ giáo phận. Lúc về già 80 tuổi, Ngài xin từ Chức trở về Dòng “dọn mình chết.” Người phải trải qua một cơn thử thách lớn nữa. Do một sự hiểu lầm và vô tình, người và các cha ngoài nước Tòa thánh bị khai trừ ra khỏi Dòng. Ngài tuân phục và tiên báo sau ngày Người qua đời, nhà Dòng sẽ hợp nhất lại và sẽ nên thịnh đạt.
Anphongsô qua đời ngày 1 tháng 8 năm 1787 thọ 91 tuổi. Anphongsô được tôn phong hiển thánh năm 1830 và Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1871.
Lễ kính: 1 tháng 8.
Thánh Phêrô Giulianô Eymard (1811-1868)
Sinh hạ ngày 4 tháng 2 tại La Mure gần Grenonble năm 1831 và chịu chức linh mục năm 1835. Người làm việc mục vụ trong 5 năm và sau đó, xin gia nhập dòng Mariste, làm linh hướng tiểu chủng viện Belley và năm 1845 được bầu làm Giám Tỉnh Lyon.
Nhưng Chúa kêu gọi người đi một con đường khác, nhờ Đức Mẹ dẫn đến chúa Giêsu Thánh Thể mà người rất yêu mến và sung kính. Năm 1856, người có ý định khởi đầu một dòng tu linh mục kính Thánh Thể chuyên chầu liên tiếp Mình Thánh. Ý kiến được Đức Tổng Giám Mục Sibour ở Ba-Lê chấp nhận, nhưng được chính thức công nhận vào năm 1895. Trước đó, năm 1858, thánh nhân lập dòng các nữ tử Thánh Thể chuyên chầu Mình Thánh liên lĩ. Thánh nhân cũng thành lập liên đoàn linh mục Thánh Thể (1887), tổ chức Hiệp Hội Thánh Thể. Người cũng viết nhiều sách về Thánh Thể. Người qua đời tại La Mure ngày 1 tháng 8, được Đức Gioan XXIII tôn phong hiển thánh năm 1962.
Lễ nhớ: 1 tháng 8.
Thánh Gioan Maria Vianney (1786-1858)
Thánh Gioan Maria Vianney được cả thế giới biết dưới danh hiệu “Cha sở họ Ars”. Sinh hạ tại Dardilly gần Lyon, năm 1786, trong một gia đình thôn quê rất đạo đức, trong thời cách mạng đã cho các linh mục không chịu tuyên thệ theo cách mạng trú ngụ. Cậu Gioan Marie đã dự nhiều thánh lễ trong rừng hoặc trong các nhà lẫm. Sau khi chịu lễ lần đầu lúc 13 tuổi, Gioan ước ao làm linh mục, nhưng thân phụ bắt phải chờ đến 17 tuổi mới được theo chí nguyện. Nhưng 17 tuổi mà chưa biết đọc. Cha sở Balley dạy qua loa, nhưng về môn Latinh thì Gioan mù tịt. Người thú: Tôi không thể bỏ gì được vào đầu tôi.” Tháng 10 năm 1809, Gioan bị động viên vào quân đoàn của Nã-phá-luân để đi Tây-ban-nha, nhưng người ngã bệnh, quân đoàn đã lên đường rồi, người cùng một số đào binh khác vào núi, lấy tên là Jerôme Vincent không muốn cầm sùng. Người ta coi người là quan thầy các kẻ “chống đối lương tâm” Objecteurs de conscience.”
Năm 1813, các giáo sư đại chủng viện Lyon muốn cho người bỏ học vì yếu kém quá. Nhưng Cha sở Balley cố nài nĩ xin cho Gioan được thi lại. Nhưng lại rớt. Tháng tư 1814, đế quốc Nã-phá-luân sụp đổ, cậu nhà vua, Hồng Y Fesch, tổng Giám Mục Lyon, chạy về Lamã. Cha chính đại phận nhận thấy số linh mục ít ỏi, đã nhận cho Gioan tiếp tục, “vì cậu tuy học dốt nhưng rất có lòng sùng kính Đức Mẹ.” Tháng tám 1815, Gioan được chịu chức linh mục tại Grenoble và làm phó cha sở Ecully hai năm. Người được bổ nhiệm về xứ Ars rất thời danh sau này.
Tháng hai 1818, người cuốc bộ ba mươi cây số âm thầm đến nhận xứ, một xứ đã bao nhiêu năm không còn hành đạo. Người thức khuya dậy sớm, hãm mình đền tội đánh đổ trạng thái lãnh đạm của giáo dân. Người chống lại thói nghiện rượu, hà tiện, chống lại cả ma quỉ mà người gọi là “le Grappin.” Đêm đến quấy phá, đồ đạc xê dịch, chiếc nệm đong đưa, người cố nắm chặc cho khỏi ngã và như vậy trong 35 năm cho đến một năm trước khi chết. Người làm nhiều phép lạ nhất là làm cho nhiều tội nhân trong vùng trở lại, lôi kéo nhiều người từ xa đến toà cáo giải bắt đầu từ một giờ sang mỗi ngày, chỉ dành mười lăm phút để ăn uống và hai, ba giờ đêm để ngủ. Người ta đến bằng thuyền xuôi sông Saône, bằng se đò nối liền Lyon và Ars, từ khắp nước Pháp và Âu Châu. Qua chiếc màn tòa giải tội, người đọc trong tâm hồn người hối nhân về hiện tại quá khứ và tương lai.
Tuy nhiên, người ước ao sống đời chiêm nghiệm, ba lần bỏ xứ trốn đi tu bị giáo dân bắt lại. Vào gần cuối đời, người bị ám ảnh về ý-tưởng phải xa đời để dọn mình chết trong khi bị dân chúng bao vây, xé cả áo nguời làm kỷ niệm. Nhưng bổn phận bắt buộc phải có mặt đêm ngày tại toà cáo giải, ngài đã chết vì thánh vụ lúc lên 63 tuổi ngày 4 tháng 8 năm 1859.
Người được coi là thánh nhân khi còn sống và được đức Piô XI tôn phong hiển thánh năm 1925, được đặt làm quan thầy các Cha xứ nước Pháp.
Lễ nhớ: 9 tháng 8
Thánh Anphongsô đệ Ligôriô (1696-1787)
Anphonsô sinh tại Marianella gần Naples (Ý) ngày 27-12-1696. Thân phụ trông coi đạo chiến thuyền Capitanna của Hoàng gia. Anphongsô vào đại học Hoàng gia lúc lên 12, nhận thanh kiếm hiệp sĩ lúc lên 14, đổ hai tiến sĩ luật đạo và đời lúc lên 16, làm luật sư và chánh án lúc lên 20 tuổi.
Tại pháp đình Naples tháng 6 năm 1723, có xử một vụ kiện lớn giữa hai nhà quí tộc thuộc dòng họ Orsini. Một vụ kiện hứa hẹn nhiều sôi nổi và tiền bạc vì hơn 600 ngàn đồng vàng là giá cả tranh chấp. Khi tòa khai mạc phiên sử, dân chúng đều chú ý đến vị luật sư trẻ tuổi, 27, nhưng tài cao chưa bao giờ thua một vụ kiện. Ai cũng tin rằng ông sẽ đem lại phần thắng cho thân chủ. Nhưng ai ngờ có một bàn tay trong lèo lái vụ kiện, làm áp lực để tòa kết án thân chủ của vị luật sư tên tuổi. Anphongsô bước ra khỏi tòa án vừa đi vừa nói: Hỡi thế gian, ta đã biết ngươi! Đây là một khúc quanh của cuộc đời. Anphongsô đi vào quì trước bàn thờ Đức Mẹ ở cạnh đền thân phụ, rút thanh gươm nhà quí tộc đặt trước bàn thờ Đức Mẹ. Từ đây, người sẽ là hiệp sĩ của Đức Mẹ và linh mục của giới nghèo.
Anphongsô được thụ phong linh mục ngày 21-12-1726. Vị tân linh mục dấn thân vào việc tông đồ cho người nghèo. Người rất xúc động khi hay biết có 12 ngàn linh mục sống trong thủ đô hoa lệ để phục vụ cho người giàu thì cách thủ đô Naples mấy chục cây số không có linh mục nào “bẻ bánh lời Chúa” cho những người nghèo khổ tất bật.
Tháng 11 năm 1732, Anphonsô với 5 anh em đồng chí hướng rời Naples đi về làng Scala lập Dòng Chúa Cứu Thế “tiếp tục công việc Chúa Kitô là rao giảng tin mừng cho người nghèo khó.”
Dòng Chúa Cứu Thế gồm những tu sĩ sống theo một tinh thần do Anphongsô để lại là suy niệm, sống và rao giảng lời Chúa bằng những phương thức bình dân với một diệu cảm lớn lao là yêu mến, bắt chước và tận hiến cho Chúa Cứu Thế. Đặc điểm là các tuần Đại phúc, các cuộc cấm phòng và các việc tông đồ khác với nội dung siêu nhiên, lời văn giản dị và nhắm phần thực hành.
Anphongsô sống vào thế kỷ của thuyết duy lý và tự nhiên thần đạo mà Voltaire và nhóm Bách khoa chủ trương. Để chống lại, Anphonsô dùng ngòi bút để phản công. Người đã viết tất cả 111 cuốn sách. Đặc biệt hơn là bộ Thần học luân lý.
Dòng Chúa Cứu Thế được chính thức công nhận do Đức Bênêđitô XIV năm 1740. Song song với ngành nam, có ngành nữ do sáng kiến của chị Marie Celeste Crostarosa và sự trợ lực của Anphongsô.
Năm 1762, Tòa Giám mục Dainte-Agathe des Goths trống ngôi. Có 62 vị ứng cử viên vào chức vụ. Đức Clêmentê XII chọn Anphonsô ngoài danh sách làm Giám mục. Người từ chối hết sức nhưng cuối cùng phải chấp nhận “ý Đức Thánh Cha là ý Chúa”. Người cải tổ giáo phận. Lúc về già 80 tuổi, Ngài xin từ Chức trở về Dòng “dọn mình chết.” Người phải trải qua một cơn thử thách lớn nữa. Do một sự hiểu lầm và vô tình, người và các cha ngoài nước Tòa thánh bị khai trừ ra khỏi Dòng. Ngài tuân phục và tiên báo sau ngày Người qua đời, nhà Dòng sẽ hợp nhất lại và sẽ nên thịnh đạt.
Anphongsô qua đời ngày 1 tháng 8 năm 1787 thọ 91 tuổi. Anphongsô được tôn phong hiển thánh năm 1830 và Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1871.
Lễ kính: 1 tháng 8.
Thánh Phêrô Giulianô Eymard (1811-1868)
Sinh hạ ngày 4 tháng 2 tại La Mure gần Grenonble năm 1831 và chịu chức linh mục năm 1835. Người làm việc mục vụ trong 5 năm và sau đó, xin gia nhập dòng Mariste, làm linh hướng tiểu chủng viện Belley và năm 1845 được bầu làm Giám Tỉnh Lyon.
Nhưng Chúa kêu gọi người đi một con đường khác, nhờ Đức Mẹ dẫn đến chúa Giêsu Thánh Thể mà người rất yêu mến và sung kính. Năm 1856, người có ý định khởi đầu một dòng tu linh mục kính Thánh Thể chuyên chầu liên tiếp Mình Thánh. Ý kiến được Đức Tổng Giám Mục Sibour ở Ba-Lê chấp nhận, nhưng được chính thức công nhận vào năm 1895. Trước đó, năm 1858, thánh nhân lập dòng các nữ tử Thánh Thể chuyên chầu Mình Thánh liên lĩ. Thánh nhân cũng thành lập liên đoàn linh mục Thánh Thể (1887), tổ chức Hiệp Hội Thánh Thể. Người cũng viết nhiều sách về Thánh Thể. Người qua đời tại La Mure ngày 1 tháng 8, được Đức Gioan XXIII tôn phong hiển thánh năm 1962.
Lễ nhớ: 1 tháng 8.
Thánh Gioan Maria Vianney (1786-1858)
Thánh Gioan Maria Vianney được cả thế giới biết dưới danh hiệu “Cha sở họ Ars”. Sinh hạ tại Dardilly gần Lyon, năm 1786, trong một gia đình thôn quê rất đạo đức, trong thời cách mạng đã cho các linh mục không chịu tuyên thệ theo cách mạng trú ngụ. Cậu Gioan Marie đã dự nhiều thánh lễ trong rừng hoặc trong các nhà lẫm. Sau khi chịu lễ lần đầu lúc 13 tuổi, Gioan ước ao làm linh mục, nhưng thân phụ bắt phải chờ đến 17 tuổi mới được theo chí nguyện. Nhưng 17 tuổi mà chưa biết đọc. Cha sở Balley dạy qua loa, nhưng về môn Latinh thì Gioan mù tịt. Người thú: Tôi không thể bỏ gì được vào đầu tôi.” Tháng 10 năm 1809, Gioan bị động viên vào quân đoàn của Nã-phá-luân để đi Tây-ban-nha, nhưng người ngã bệnh, quân đoàn đã lên đường rồi, người cùng một số đào binh khác vào núi, lấy tên là Jerôme Vincent không muốn cầm sùng. Người ta coi người là quan thầy các kẻ “chống đối lương tâm” Objecteurs de conscience.”
Năm 1813, các giáo sư đại chủng viện Lyon muốn cho người bỏ học vì yếu kém quá. Nhưng Cha sở Balley cố nài nĩ xin cho Gioan được thi lại. Nhưng lại rớt. Tháng tư 1814, đế quốc Nã-phá-luân sụp đổ, cậu nhà vua, Hồng Y Fesch, tổng Giám Mục Lyon, chạy về Lamã. Cha chính đại phận nhận thấy số linh mục ít ỏi, đã nhận cho Gioan tiếp tục, “vì cậu tuy học dốt nhưng rất có lòng sùng kính Đức Mẹ.” Tháng tám 1815, Gioan được chịu chức linh mục tại Grenoble và làm phó cha sở Ecully hai năm. Người được bổ nhiệm về xứ Ars rất thời danh sau này.
Tháng hai 1818, người cuốc bộ ba mươi cây số âm thầm đến nhận xứ, một xứ đã bao nhiêu năm không còn hành đạo. Người thức khuya dậy sớm, hãm mình đền tội đánh đổ trạng thái lãnh đạm của giáo dân. Người chống lại thói nghiện rượu, hà tiện, chống lại cả ma quỉ mà người gọi là “le Grappin.” Đêm đến quấy phá, đồ đạc xê dịch, chiếc nệm đong đưa, người cố nắm chặc cho khỏi ngã và như vậy trong 35 năm cho đến một năm trước khi chết. Người làm nhiều phép lạ nhất là làm cho nhiều tội nhân trong vùng trở lại, lôi kéo nhiều người từ xa đến toà cáo giải bắt đầu từ một giờ sang mỗi ngày, chỉ dành mười lăm phút để ăn uống và hai, ba giờ đêm để ngủ. Người ta đến bằng thuyền xuôi sông Saône, bằng se đò nối liền Lyon và Ars, từ khắp nước Pháp và Âu Châu. Qua chiếc màn tòa giải tội, người đọc trong tâm hồn người hối nhân về hiện tại quá khứ và tương lai.
Tuy nhiên, người ước ao sống đời chiêm nghiệm, ba lần bỏ xứ trốn đi tu bị giáo dân bắt lại. Vào gần cuối đời, người bị ám ảnh về ý-tưởng phải xa đời để dọn mình chết trong khi bị dân chúng bao vây, xé cả áo nguời làm kỷ niệm. Nhưng bổn phận bắt buộc phải có mặt đêm ngày tại toà cáo giải, ngài đã chết vì thánh vụ lúc lên 63 tuổi ngày 4 tháng 8 năm 1859.
Người được coi là thánh nhân khi còn sống và được đức Piô XI tôn phong hiển thánh năm 1925, được đặt làm quan thầy các Cha xứ nước Pháp.
Lễ nhớ: 9 tháng 8