admin
30-06-2006, 07:21 PM
Thông điệp
Đức giáo hoàng Gioan XXIII
gửi hàng Giáo Phẩm Việt Nam
Giáo Hoàng Gioan XXIII
Kính gửi các Chư Huynh Tổng Giám Mục và
Giám Mục Việt Nam lời chào thân ái và Phép lành Tòa Thánh.
Ngay từ khi mới lên ngôi Giáo Hoàng, Ta đã có dịp may mắn để gửi tới Chư Huynh lời an ủi, cầu chúc trong dịp trọng đại hồi tháng 2 năm 1959 ở bên Quý Quốc đã tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu. Sở dĩ Đại Hội này đã tổ chức là vì hai lý do: trước là để kết liễu một cách thích đáng đệ nhất bách chu niên Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức, sau là để mừng đệ tam bách chu niên việc Tòa Thánh bổ nhiệm các vị Giám mục tiên khởi trên cõi đất này. Chính nơi đây, hai vị Giám mục Phanxicô Pallu và Phêrô Lambert de la Motte, cả hai thuộc Hội Truyền Giáo Ba lê, đã hy sinh tận tụy, để thành công xây dựng những khởi sinh điểm đầu tiên, để rồi đưa đến cả một hệ thống và tổ chức truyền giáo ngày nay.
Cũng năm ngoái, Ta rất hân hoan khi nhận thấy những cuộc nghênh tiếp tôn nghiêm long trọng đã dành cho Đức Hồng Y Gregorio Phêrô Agagianian, hiện là Tổng Trưởng Bộ Truyền giáo, hồi ấy tới Việt Nam với tư cách Đặc sứ của Ta, và khi nghe biết tất cả những cảnh sắc kỳ quan trong cuộc biểu dương tín ngưỡng và lòng đạo đức trong dịp đại lễ ấy. Cùng chung vui với Chư Huynh, nhưng tâm hồn Ta không khỏi xúc động sâu xa, khi cảm thông rằng: cả những vị Giám mục và các con cái thân yêu miền Bắc, mặc dầu bị ngăn trở không tham dự những cuộc đại lễ bách chu niên tại Saigon, nhưng cũng đã đoàn kết để hiện diện bằng tinh thần - "một lòng một linh hồn" - để hợp hoan với Chư Huynh chung quanh tòa Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Tư tưởng này làm cho Ta sực nhớ lại lời thánh Phaolô: "Tiên vàn cha cám ơn Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Khi-Tô, vì tất cả chúng con, vì lẽ rằng đức tin của chúng con đã được tán dương trên khắp hoàn cầu" (Rom. 1, 18).
Giờ đây còn một cơ hội khác không kém phần thuận tiện, để Ta đàm thoại với Chư Huynh, đang khi tâm hồn Ta vui sướng và lòng Ta đầy sự cám tạ ơn Chúa. Tức là sự kiện Ta mới lấy quyền Tòa Thánh thiết lập trong khắp các địa hạt tôn giáo ở bên Quý Quốc Phẩm trật Giáo Hội: "Cha muốn cho chúng con ý thức rõ rệt bao nhiêu ân cần cha dành cho chúng con" (Coloss. 2, 1).
Đây là một biến cố hết sức quan trọng, nặng đầy ý nghĩa, và đem theo nhiều hứa hẹn cho sự thống nhất thiêng liêng và cho đời sống công giáo của Chư Huynh. Ta muốn nhấn mạnh điểm này bằng cách nói lên bằng chính ngôn ngữ của Ta, và cởi mở cho Chư Huynh thấy rằng: lòng Ta chan chứa niềm tin tưởng và kỳ vọng cho Quý Quốc của Chư Huynh một tiền đồ vẻ vang sáng lạng: "Miệng cha đã nói cho chúng con, và lòng cha tự cảm như nở thêm một khúc ruột" (2 Cor. 6, 11).
Cái hệ thống tổ chức truyền giáo phân chia từ trước thành 17 địa phận, từ nay sẽ thêm được 3 địa phận mới, và tất cả được nâng lên địa vị hàng Giáo phẩm, bằng cách thiết lập 3 Giáo tỉnh mới: một ở Bắc, một ở Trung, một ở Nam, với 3 Tòa Tổng Giám Mục Hanoi, Huế, Saigon có nhiệm vụ bao hàm 17 địa phận thực danh mới. Sở dĩ quyết định trên đây đã được chấp thuận một cách chính đáng là vì Giáo Hội theo rõi những tiến bộ khả quan đã đạt được ở bên Quý Quốc. Thực ra, dân số Công giáo năm 1900 mới có 812.000; năm 1927 lên tới 1.237.249; ngày nay đã vượt quá số một triệu rưỡi.
Ta tin chắc rằng hàng Giám Mục và giáo sỹ Việt Nam, trong khi tỏ lòng tri ân Tòa Thánh vì cử chỉ tín nhiệm cao đẹp này, sẽ biết nhận ở đấy lý do chính đáng để vui mừng an ủi, và đồng thời thúc đẩy mình càng thêm chịu khó, nhiệt thành, và đồng tâm nhất trí trong việc chu toàn bổn phận và trách nhiệm mục vụ của mình, như lời thánh Phaolô: "Phải ân cần chứ đừng biếng nhác, phải nhiệt tâm phụng sự Thiên Chúa. Hãy vui mừng trông cậy, hãy nhẫn nại khi gặp gian nan, bền chí trong khi cầu nguyện, tham gia tất cả các nhu cầu của giáo dân" (Rom. 12, 11-13).
Còn giáo dân Việt Nam phải nhìn nhận trong cái danh dự cao quý này không những một bằng chứng nâng cao giá trị cho những truyền thống công giáo cố hữu ở đây, truyền thống đã được đánh dấu bằng máu các thánh Tử đạo, và máu này đã phát sinh ra nhiều giáo dân. Hơn nữa, danh dự này còn là một tiếng gọi, nhắc cho họ phải ý thức rõ rệt những nghĩa vụ của người công giáo và công dân.
Từ nay hầu hết các địa phận ở Việt Nam sẽ do các Giám Mục bản quốc quản trị. Sự kiện đó minh chứng một cách hùng hồn sự trưởng thành và khả năng của hàng giáo sỹ bản xứ nay đã đông đúc và được huấn luyện đầy đủ. Sự kiện đó còn minh chứng rằng: những huấn dụ, những chỉ thị do các vị Giáo Hoàng La mã ban bố qua các Thông điệp truyền giáo đã có hiệu quả dồi dào, và đã được khắp nơi tuân theo một cách trung thành; nhất là trong những năm gần đây, qua các thông điệp "Maximum illud" của Đức Benedictô XV, "Rerum Ecclesiae" của Đức Piô XI, "Evangelii Praecones" và "Fidei donum" của Đức Piô XII, và sau cùng thông điệp mới nhất "Princeps Pastorum" của Ta. Hôm nay, trong cảnh hân hoan này, Ta muốn sao lại một đoạn như sau: "Lời khuyên nhủ của Đức Benedictô XV, mà sau đấy hai vị tiên Giáo Hoàng Piô XI và Piô XII đã luôn luôn nhắc lại, hiện nhờ ơn Chúa đã thu lượm được nhiều kết quả mỹ mãn, và chính là đề tài để hôm nay Ta tha thiết thỉnh cầu Chư Huynh cùng Ta hãy tạ ơn Thiên Chúa, vì đã xui nên trong các địa hạt truyền giáo được một số đông Giám Mục và linh mục tài ba lỗi lạc..." (Thông điệp Princeps Pastorum, AAS, LI, 1959, trang 837-838).
Nhưng để cho sự nghiệp hợp tác của Chư Huynh được thêm mãnh liệt và chuyên cần, để cho Chư Huynh "được đoàn kết chặt chẽ với nhau trong một tinh thần để bảo vệ tín ngưỡng Phúc âm" (Phil. 1, 27), Ta muốn nhắc lại nơi đây một đoạn khác của Thông điệp nói trên: "Các giáo đoàn địa phương - nơi mà các vị thừa sai còn đang cộng tác hoạt động -, cho dù có thành lập Phẩm trật Giáo Hội riêng đi nữa, nhưng vì địa thế còn mênh mông, số giáo dân ngày một gia tăng mãi, hơn nữa còn vô số người chưa được nghe dạy đạo lý Phúc âm, thành ra vẫn còn cần sự giúp đỡ của các vị truyền giáo ngoại quốc. Về những vị này, Ta có thể mượn lại lời Đức Tiên Giáo Hoàng đã ban bố: "Không thể gọi họ là ngoại quốc, bởi vì một linh mục công giáo mà trung tín thừa hành nghĩa vụ của mình, thì bất cứ ở đâu chỗ nước Chúa đang thịnh đạt, hay mới khởi sự, họ phải tự coi như là ở trong quê hương của mình" (Thư Đức Piô XII gửi Đức Hồng Y A. Piazza, AAS, XLVII, 1955, trang 542).
Đức giáo hoàng Gioan XXIII
gửi hàng Giáo Phẩm Việt Nam
Giáo Hoàng Gioan XXIII
Kính gửi các Chư Huynh Tổng Giám Mục và
Giám Mục Việt Nam lời chào thân ái và Phép lành Tòa Thánh.
Ngay từ khi mới lên ngôi Giáo Hoàng, Ta đã có dịp may mắn để gửi tới Chư Huynh lời an ủi, cầu chúc trong dịp trọng đại hồi tháng 2 năm 1959 ở bên Quý Quốc đã tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu. Sở dĩ Đại Hội này đã tổ chức là vì hai lý do: trước là để kết liễu một cách thích đáng đệ nhất bách chu niên Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức, sau là để mừng đệ tam bách chu niên việc Tòa Thánh bổ nhiệm các vị Giám mục tiên khởi trên cõi đất này. Chính nơi đây, hai vị Giám mục Phanxicô Pallu và Phêrô Lambert de la Motte, cả hai thuộc Hội Truyền Giáo Ba lê, đã hy sinh tận tụy, để thành công xây dựng những khởi sinh điểm đầu tiên, để rồi đưa đến cả một hệ thống và tổ chức truyền giáo ngày nay.
Cũng năm ngoái, Ta rất hân hoan khi nhận thấy những cuộc nghênh tiếp tôn nghiêm long trọng đã dành cho Đức Hồng Y Gregorio Phêrô Agagianian, hiện là Tổng Trưởng Bộ Truyền giáo, hồi ấy tới Việt Nam với tư cách Đặc sứ của Ta, và khi nghe biết tất cả những cảnh sắc kỳ quan trong cuộc biểu dương tín ngưỡng và lòng đạo đức trong dịp đại lễ ấy. Cùng chung vui với Chư Huynh, nhưng tâm hồn Ta không khỏi xúc động sâu xa, khi cảm thông rằng: cả những vị Giám mục và các con cái thân yêu miền Bắc, mặc dầu bị ngăn trở không tham dự những cuộc đại lễ bách chu niên tại Saigon, nhưng cũng đã đoàn kết để hiện diện bằng tinh thần - "một lòng một linh hồn" - để hợp hoan với Chư Huynh chung quanh tòa Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Tư tưởng này làm cho Ta sực nhớ lại lời thánh Phaolô: "Tiên vàn cha cám ơn Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Khi-Tô, vì tất cả chúng con, vì lẽ rằng đức tin của chúng con đã được tán dương trên khắp hoàn cầu" (Rom. 1, 18).
Giờ đây còn một cơ hội khác không kém phần thuận tiện, để Ta đàm thoại với Chư Huynh, đang khi tâm hồn Ta vui sướng và lòng Ta đầy sự cám tạ ơn Chúa. Tức là sự kiện Ta mới lấy quyền Tòa Thánh thiết lập trong khắp các địa hạt tôn giáo ở bên Quý Quốc Phẩm trật Giáo Hội: "Cha muốn cho chúng con ý thức rõ rệt bao nhiêu ân cần cha dành cho chúng con" (Coloss. 2, 1).
Đây là một biến cố hết sức quan trọng, nặng đầy ý nghĩa, và đem theo nhiều hứa hẹn cho sự thống nhất thiêng liêng và cho đời sống công giáo của Chư Huynh. Ta muốn nhấn mạnh điểm này bằng cách nói lên bằng chính ngôn ngữ của Ta, và cởi mở cho Chư Huynh thấy rằng: lòng Ta chan chứa niềm tin tưởng và kỳ vọng cho Quý Quốc của Chư Huynh một tiền đồ vẻ vang sáng lạng: "Miệng cha đã nói cho chúng con, và lòng cha tự cảm như nở thêm một khúc ruột" (2 Cor. 6, 11).
Cái hệ thống tổ chức truyền giáo phân chia từ trước thành 17 địa phận, từ nay sẽ thêm được 3 địa phận mới, và tất cả được nâng lên địa vị hàng Giáo phẩm, bằng cách thiết lập 3 Giáo tỉnh mới: một ở Bắc, một ở Trung, một ở Nam, với 3 Tòa Tổng Giám Mục Hanoi, Huế, Saigon có nhiệm vụ bao hàm 17 địa phận thực danh mới. Sở dĩ quyết định trên đây đã được chấp thuận một cách chính đáng là vì Giáo Hội theo rõi những tiến bộ khả quan đã đạt được ở bên Quý Quốc. Thực ra, dân số Công giáo năm 1900 mới có 812.000; năm 1927 lên tới 1.237.249; ngày nay đã vượt quá số một triệu rưỡi.
Ta tin chắc rằng hàng Giám Mục và giáo sỹ Việt Nam, trong khi tỏ lòng tri ân Tòa Thánh vì cử chỉ tín nhiệm cao đẹp này, sẽ biết nhận ở đấy lý do chính đáng để vui mừng an ủi, và đồng thời thúc đẩy mình càng thêm chịu khó, nhiệt thành, và đồng tâm nhất trí trong việc chu toàn bổn phận và trách nhiệm mục vụ của mình, như lời thánh Phaolô: "Phải ân cần chứ đừng biếng nhác, phải nhiệt tâm phụng sự Thiên Chúa. Hãy vui mừng trông cậy, hãy nhẫn nại khi gặp gian nan, bền chí trong khi cầu nguyện, tham gia tất cả các nhu cầu của giáo dân" (Rom. 12, 11-13).
Còn giáo dân Việt Nam phải nhìn nhận trong cái danh dự cao quý này không những một bằng chứng nâng cao giá trị cho những truyền thống công giáo cố hữu ở đây, truyền thống đã được đánh dấu bằng máu các thánh Tử đạo, và máu này đã phát sinh ra nhiều giáo dân. Hơn nữa, danh dự này còn là một tiếng gọi, nhắc cho họ phải ý thức rõ rệt những nghĩa vụ của người công giáo và công dân.
Từ nay hầu hết các địa phận ở Việt Nam sẽ do các Giám Mục bản quốc quản trị. Sự kiện đó minh chứng một cách hùng hồn sự trưởng thành và khả năng của hàng giáo sỹ bản xứ nay đã đông đúc và được huấn luyện đầy đủ. Sự kiện đó còn minh chứng rằng: những huấn dụ, những chỉ thị do các vị Giáo Hoàng La mã ban bố qua các Thông điệp truyền giáo đã có hiệu quả dồi dào, và đã được khắp nơi tuân theo một cách trung thành; nhất là trong những năm gần đây, qua các thông điệp "Maximum illud" của Đức Benedictô XV, "Rerum Ecclesiae" của Đức Piô XI, "Evangelii Praecones" và "Fidei donum" của Đức Piô XII, và sau cùng thông điệp mới nhất "Princeps Pastorum" của Ta. Hôm nay, trong cảnh hân hoan này, Ta muốn sao lại một đoạn như sau: "Lời khuyên nhủ của Đức Benedictô XV, mà sau đấy hai vị tiên Giáo Hoàng Piô XI và Piô XII đã luôn luôn nhắc lại, hiện nhờ ơn Chúa đã thu lượm được nhiều kết quả mỹ mãn, và chính là đề tài để hôm nay Ta tha thiết thỉnh cầu Chư Huynh cùng Ta hãy tạ ơn Thiên Chúa, vì đã xui nên trong các địa hạt truyền giáo được một số đông Giám Mục và linh mục tài ba lỗi lạc..." (Thông điệp Princeps Pastorum, AAS, LI, 1959, trang 837-838).
Nhưng để cho sự nghiệp hợp tác của Chư Huynh được thêm mãnh liệt và chuyên cần, để cho Chư Huynh "được đoàn kết chặt chẽ với nhau trong một tinh thần để bảo vệ tín ngưỡng Phúc âm" (Phil. 1, 27), Ta muốn nhắc lại nơi đây một đoạn khác của Thông điệp nói trên: "Các giáo đoàn địa phương - nơi mà các vị thừa sai còn đang cộng tác hoạt động -, cho dù có thành lập Phẩm trật Giáo Hội riêng đi nữa, nhưng vì địa thế còn mênh mông, số giáo dân ngày một gia tăng mãi, hơn nữa còn vô số người chưa được nghe dạy đạo lý Phúc âm, thành ra vẫn còn cần sự giúp đỡ của các vị truyền giáo ngoại quốc. Về những vị này, Ta có thể mượn lại lời Đức Tiên Giáo Hoàng đã ban bố: "Không thể gọi họ là ngoại quốc, bởi vì một linh mục công giáo mà trung tín thừa hành nghĩa vụ của mình, thì bất cứ ở đâu chỗ nước Chúa đang thịnh đạt, hay mới khởi sự, họ phải tự coi như là ở trong quê hương của mình" (Thư Đức Piô XII gửi Đức Hồng Y A. Piazza, AAS, XLVII, 1955, trang 542).