PDA

View Full Version : Sưu tập những bản văn HĐGH Cổ Võ Công Lý Và Hoà Bình


admin
01-07-2006, 07:51 PM
SƯU TẬP NHỮNG BẢN VĂN
Của Hội Đồng Giáo Hoàng
Cổ Võ Công Lý Và Hoà Bình


LỜI TỰA

CHƯƠNG MỘT
BẢN CHẤT HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI
I. Giáo Hội là Mẹ và Thầy (1-6) (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2137#post2137)
II. Sứ vụ của Giáo Hội (7-14) (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2138#post2138)
III. Sứ điệp xã hội của Giáo Hội (15-24) (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2139#post2139)
IV. Phạm vi huấn giáo xã hội của Giáo Hội (25-32) (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2141#post2141)
V. Việc Phúc Âm hoá và Huấn Giáo xã hội của Giáo Hội (33-38) (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2142#post2142)

CHƯƠNG HAI
CON NGƯỜI
I. Phẩm Giá của Con Người (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2145#post2145) (39-47)
II. Tự do và Chân Lý (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2146#post2146) (48-59)
III. Bản Tính Xã Hội Của Con Người (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2148#post2148) (60-65)
IV. Nhân Quyền (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2149#post2149) (66-77)
V. Tự do Tôn giáo (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2151#post2151) (78-83)

CHƯƠNG BA
GIA ĐÌNH
I. Cơ Chế Gia Đình (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2152#post2152) (84-88)
II. Hôn Nhân (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2153#post2153) (89-92)
III. Con Cái và Cha Mẹ (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2154#post2154) (93-95)
IV. Gia Đình Giáo Dục và Con Cái (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2155#post2155) (96-101)
V. Đặc Tính Thánh Thiện của Sự Sống Nhân Linh (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2157#post2157) (102-106)
VI. Nạn Phá Thai (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2158#post2158) (107-110)
VII. Án Tử Hình (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2159#post2159) (111-113)
VIII. Phẩm Giá Người Nữ (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2160#post2160) (114-117)

CHƯƠNG BỐN
TRẬT TỰ XÃ HỘI
I. Chỗ Đứng Trung Tâm của Nhân Vị (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2249#post2249) (118-121)
II. Một Xã Hội Xây Dựng Trên Chân Lý (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2250#post2250) (122-125)
III. Tình Liên Đới (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2251#post2251) (126-133)
IV. Tương Trợ (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2252#post2252) (134-138)
V. Tham Gia (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2253#post2253) (139-145)
VI. Sự Tha Hoá Và Sự Gạt Ra Bên Lề (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2254#post2254) (146-151)
VII. Tự Do Xã Hội (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2255#post2255) (152-154)
VIII. Văn Hoá (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2256#post2256) (155-160)
IX. Sự Phát triển Nhân bản đích thực (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2257#post2257) (161-166)
X. Công Ích (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2258#post2258) (167-174)
XI. Tội Xã Hội (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=2259#post2259) (175-177)

... CHƯƠNG NĂM...
...

CHƯƠNG SÁU
KINH TẾ (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_06.htm)

I. Mục Ðích Phổ Quát của Của Cải Vật Chất
II. Quyền Tư Hữu.
III. Hệ Thống Kinh Tế
IV. Luân Lý, Công Bình và Trật Tự Kinh Tế
V. Một Nền Thần Học Thật Sự Giải Phóng.
VI. Sự Can Thiệp Của Nhà Nước Và Nền Kinh Tế
VII. Kinh Doanh.
VIII. Thuyết Kinh Tế và Thuyết Hưởng Thụ

CHƯƠNG BẢY
LAO ĐỘNG và TIỀN LƯƠNG (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_07.htm)

1. Bản Chất Lao Ðộng.
II. Lương Công Bình và Thù Lao Chính Ðáng.
III. Nơi Lao động.
IV. Thất Nghiệp.
V. Những Nghiệp Ðoàn.
VI. Ðình Công.

CHƯƠNG TÁM
SỰ NGHÈO ĐÓI và ĐỨC BÁC ÁI (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_08.htm)

I. Gương Mù Của Sự Nghèo Ðói
II. Công Bằng Xã Hội
III. Ðức Bác Ái và Sự Chọn Lựa Ưu Tiên Dành Cho Người Nghèo.
IV. Nhà Nước Chăm Sóc Bảo Vệ


CHƯƠNG CHÍN
MÔI TRƯỜNG (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_09.htm)

I. Phẩm Tính của Trật Tự Sáng Tạo (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_09.htm#S1).
II. Những Vấn Ðề Liên Hệ với Môi Trường (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_09.htm#S2).
III. Sự Giám Hộ Môi Trường (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_09.htm#S3).
IV. Ngành Kỹ Nghệ (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_09.htm#S4)

CHƯƠNG MƯỜI
CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ

I. Gia Ðình. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C1)
II. Trao Ðổi Tự Do. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C2)
III. Hoà Bình và Chiến Tranh. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C3)
IV. Vũ Trang. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C4)
V. Một Nền Công Ích Toàn Cầu. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C5)
VI. Những Tổ Chức Xuyên Quốc Gia Và Liên Quốc Gia. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C6)
VII. Di Dân. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C7)
VIII. Nợ Nước Ngoài (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C8)
IX. Chủ Nghĩa Quốc Gia Và Những Xung Ðột Sắc Tộc. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C9)
X. Kinh Tế Toàn Cầu. (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_10.htm#C10)

CHƯƠNG MƯỜI MỘT
KẾT (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_11.htm)


Nguồn: gpnt.net (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/htxahoi_00b.htm)

admin
01-07-2006, 08:03 PM
CHƯƠNG MỘT

I. Giáo Hội là Mẹ và Thầy

1. Là người Mẹ và là nhà giáo dục tất cả các dân tộc, Giáo Hội phổ quát được Chúa Giêsu Kitô thiết lập để tất cả mọi người, qua các thời đại, gặp được trong lòng và trong tình yêu của Giáo Hội, sự viên mãn của một đời sống cao hơn và sự bảo đảm cho phần rỗi mình. Đấng Sáng Tạo thánh đã trao cho Giáo Hội này, "cột trụ và nền tảng chân lý" (x. 1 Tm 3,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Tm 3:15&FontSize=Txt10)) một nhiệm vụ kép: sinh ra con cái, giáo dục và hướng dẫn chúng, bằng một sự quan phòng mẫu tử chăm lo sự sống của từng cá nhân và của các dân tộc, mà Giáo Hội đã luôn luôn tôn trọng và bảo vệ kỹ lưởng phẩm giá. (Mater et Magistra, n. 1)

2. Chắc chắn, một vấn đề nghiêm trọng như thế còn đòi hỏi những tác nhân khác góp phần hoạt động và cố gắng của mình. Chúng tôi muốn nói tới những vị Nguyên thủ Quốc gia, những ông chủ và những người giàu có, chính những thợ thuyền nữa, mà vận mạng của họ có liên quan ở đây. Nhưng điều Chúng tôi khẳng định không nghi ngại, đó là sự vô ích trong hành động của họ bên ngoài hành động của Giáo Hội. Thật vậy, chính Giáo Hội múc lấy trong Tin Mừng những học thuyết có khả năng, hoăïc chấm dứt xung đột, hoặc ít ra thoa dịu nó bằng cách cất đi tất cả những gì ác liệt và chua cay; Giáo Hội không bằng lòng với việc soi sáng lòng trí bằng những huấn giáo của mình, nhưng còn sau đó điều chỉnh sự sống và những phong tục của mỗi người ; Giáo Hội, nhờ một số đông các cơ chế hữu ích phi thường, có ý cải thiện số phận giai cấp nghèo; Giáo Hội muốn và ao ước rằng tất cả các giai cấp góp chung những ánh sáng và những sức lực của mình, ngõ hầu mang đến cho vấn đề thợ thuyền một giải pháp tốt nhất; sau hết Giáo Hội cho rằng những luật pháp và công quyền phải, với chừng mực và khôn ngoan là điều chắc, góp phần hợp tác của mình cho giải pháp này. (Rerum Novarum, n. 16)

3. Quả vậy, Kitô giáo, liên kết đất với trời, vì nhìn con người trong thực tại cụ thể của nó, tinh thần và vật chất, lý trí và ý chí, và kêu mời con người nâng cao tư tưởng mình từ những điều kiện hay thay đổi của cuộc sống địa cầu lên tới những đỉnh sự sống đời đời, trong một sự viên mãn hạnh phúc và bình an vô tận. (Mater et Magistra, n. 2)

4. Như vậy không lạ gì việc Giáo Hội Công Giáo, noi gương và theo lệnh Chúa Kitô, trong suốt hai ngàn năm, từ lúc thiết lập chức phó tế xưa cho tới ngày nay, đã luôn luôn nêu cao ngọn đuốc bác ái, qua những điều răn mà cũng qua những gương lành vô kể của mình; đức bác ái này, bằng cách điều hoà những giới luật yêu nhau với việc thực hành những giới lệnh đó, thực hiện cách kỳ diệu lệnh truyền của hồng ân kép này, tóm tắt học thuyết và hành động xã hội của Giáo Hội. (Mater et Magistra, n. 6)

5. Như vậy, dưới ánh sáng học thuyết Công đồng Vatican II, Giáo Hội xuất hiện trước mắt chúng ta như có trách nhiệm về phương diện xã hội đối với chân lý thần linh. Chúng ta phải cảm động sâu xa khi nghe chính Chúa Giêsu công bố: "Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy" (Ga 14,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 14:24&FontSize=Txt10))… Do đó điều cần là Giáo Hội, khi tuyên xưng và dạy đức tin, phải bám chắc vào chân lý thần linh (Dei Verbum, nn. 5 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/verbum01.htm), 10 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/verbum02.htm), 21 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/verbum05.htm)) và sự kiện này phải được diễn tả bằng một thái độ sống "phục tùng phù hợp với lý trí" (x. Dei Filius, chap. 3) (Redemptoris hominis (http://gpphucuong.net/vankien/dangcuuchuoc.htm). n. 19)

6. Cách riêng, như Công đồng khẳng định, "nhiệm vụ chú giải chính thức Lời Chúa, đã được viết ra hay lưu truyền, chỉ được uỷ thác cho Huấn Quyền sống động của Giáo Hội, và Giáo Hội thi hành quyền đó nhân danh Chúa Giêsu Kitô (Dei Verbum, n. 10 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/verbum02.htm)). Như vậy Giáo Hội, trong cuộc sống và trong giáo huấn của mình, được trình bày như cột trụ và điểm tựa của chân lý (1 Tm 3, 15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Tm 3:15&FontSize=Txt10)), và cũng của chân lý trong hành động luân lý. Thật vậy, "Giáo Hội có quyền loan báo luôn luôn và khắp nơi các nguyên tắc luân lý kể cả những nguyên tắc về trật tự xã hội, và quyền phán đoán về bất cứ thực tại nhân sinh nào, trong mức độ các quyền căn bản của con người hay việc cứu độ, các linh hồn đòi hỏi" (Giáo luật, 747, n. 2)

Chính trên những vấn đề mà ngày nay là đối tượng của cuộc bàn cãøi luân lý và chung quanh những vấn đề đó lại phát triển những xu hướng mới và những chủ thuyết mới, Huấn Quyền, trung thành với Chúa Giêsu Kitô và tiếp tục Truyền Thống của Giáo Hội, cho mình có bổn phận khẩn cấp phải đề xướng sự nhận thức và huấn giáo của mình, ngõ hầu giúp con người trên đướng đi tới chân lý và tự do. (Veritatis splendor, n. 27)

admin
01-07-2006, 08:19 PM
II. Sứ vụ của Giáo Hội

7. Phát sinh từ tình yêu của Chúa Cha muôn đời, do Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ thiết lập trong thời gian, được qui tụ trong Chúa Thánh Thần (x. Ep 1, 3; 5, 6-13-14, 23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep 1:3,5:6-13,14:23&FontSize=Txt10)), Giáo Hội theo đuổi một mục đích cứu rỗi và cánh chung. Mục đích này chỉ có thể thành tựu trọn vẹn trong thời kỳ sẽ đến. Nhưng, ngay bây giờ Giáo Hội đã hiện diện trên mặt đất này rồi, được qui tụ gồm những con người, là phần tử của xã hội trần gian; họ được kêu gọi để hợp thành gia đình các con cái Thiên Chúa ngay trong lịch sử nhân loại, ngõ hầu tăng trưởng luôn mãi cho tới khi Chúa đến. Hiệp nhất nhằm đạt những của cải thiêng liêng, trở nên giàu có vì những của cải ấy, gia đình này như một xã hội được thiết lập qui củ trên trần gian, do Chúa Kitô, được trang bị các phương thế thích hợp để kết hiệp thành một xã hội hữu hình" (GS. 40 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes04.htm)). Như thế, là "một đoàn thể hữu hình và là cộng đoàn thiêng liêng", Giáo Hội đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng nhau chia sẻ một số phận trần thế với thế giới; Giáo Hội như men và hồn của xã hội loài người, sẽ được đổi mới trong Chúa Kitô và biến thành gia đình của Thiên Chúa. (Gaudium et Spes. n. 40 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes04.htm))

8. Việc dạy và phổ biến học thuyết xã hội là thành phần của sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội. Và, vì đây là một học thuyết có mục đích hướng dẫn cách sống con người, nên nó đưa tới hệ quả là mỗi người tùy theo vai trò, ơn gọi và địa vị mình, mà "cam kết cổ võ công lý."

Việc hoàn thành thừa tác vụ rao giảng Tin Mừng trong lãnh vực xã hội, thừa tác vụ này là thành phần của nhiệm vụ ngôn sứ của Giáo Hội, cũng gồm sự tố giác những sự dữ và những bất công. Nhưng nên nhấn mạnh rằng việc rao giảng luôn quan trọng hơn việc tố giác, và việc tố giác không thể bỏ qua việc rao giảng, vì sự rao giảng là nền tảng thật sự và là sức lực của động cơ cao nhất. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 41)

9. Chúng ta tuyên xưng rằng Nước Chúa đã khởi sự ở dưới thế này trong Giáo Hội Chúa Kitô, không thuộc về thế gian này, mà bộ mặt đang qua đi, và sức phát triển riêng của nó, không thể lẫn lộn với sự tiến triển của văn minh, của khoa học hay của kỹ thuật loài người, nhưng hệ tại sự hiểu biết luôn cách sâu xa hơn những kho tàng không dò thấu của Chúa Kitô, hệ tại đáp ứng luôn nồng nhiệt hơn tình yêu của Chúa, hệ tại ban phát luôn rộng rãi hơn ân sủng và sự thánh thiện giữa những con người. Nhưng cũng chính tình yêu này thúc đẩy Giáo Hội luôn lo lắng đến lợi ích thật thế tục của con người. Tuy không ngừng nhắc nhở con cái mình rằng họ không có chỗ ở vĩnh viễn ở đời này, Giáo Hội cũng thúc ép họ góp phần, mỗi người tùy theo ơn gọi và phương tiện riêng, lo cho lợi ích thành quốc trần thế của mình, cổ võ công lý, hoà bình và tình huynh đệ giữa con người, quãng đại giúp đỡ anh em mình, nhất là những kẻ nghèo và những kẻ vô phúc nhất (Paul VI, Profession de foi du peuple de Dieu, n. 27). (Libertatis Nunctius, Conclusion)

10. Giáo Hội, về phần mình, được trao phó nhiệm vụ tỏ bày mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng làm cùng đích của con người, Giáo Hội cũng đồng thời tỏ cho con người biết ý nghĩa của cuộc đời con người, tức là sự thật thâm sâu về con người. Giáo Hội biết chắc rằng chỉ có Thiên Chúa mà Giáo Hội phụng sự mới đáp ứng được các ước vọng sâu xa nhất của lòng người. Lòng người không bao giờ thoả mãn với những của ăn trần thế. (Gaudium et Spes, n. 41 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes04.htm))

11. Vì thế, với ân huệ của Đấng Sáng Lập, và trong khi trung thành tuân giữ các giới răn bác ái, khiêm nhường và từ bỏ, Giáo Hội đã lãnh nhận sứ mạng rao truyền và thiết lập Nước Chúa Kitô và Nước Thiên Chúa trong mọi dân tộc; Giáo Hội là mầm mống và khai nguyên Nước ấy trên trần gian. Đang lúc từ từ phát triển, Giáo Hội vẫn khát mong Nước ấy hoàn tất và thiết tha hy vọng kết hợp với Vua mình trong vinh quang. (Lumen Gentium, n. 5 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/lumen01.htm)).

12. Giáo Hội, người ta biết, không tách riêng ra khỏi thế giới, Giáo Hội sống trong thế giới. Những phần tử Giáo Hội chịu ảnh hưởng thế giới; họ hô hấp nền văn hoá thế giới, bằng cách chấp nhận những luật pháp và dung nạp những phong tục thế giới. Việc tiếp xúc thân tình này với xã hội trần thế, tạo ra cho Giáo Hội một hoàn cảnh luôn luôn đầy dẫy vấn đề, ngày nay các vấn đề đó là gay gắt đặc biệt.

Một mặt đời sống Kitô giáo, mà Giáo Hội bảo toàn và phát triển, phải luôn luôn và can đảm tự giữ mình khỏi mọi sự chệch hướng, phàm tục hay chết nghẹt; đời sống đó phải tránh được sự lây lan của sự lầm lạc và sự dữ. Nhưng mặt khác đời sống Kitô giáo không nên đơn thuần bằng lòng với những cách thức suy nghĩ và hành động do môi trường thế tục trình bày và áp đặt, bao lâu những cách thức đó phù hợp với những mệnh lệnh cốt yếu của chương trình tôn giáo và luân lý của nó; hơn nữa, Giáo Hội phải ra sức tiếp nối chúng, thanh tẩy chúng, nâng cao chúng, phấn khởi chúng và thánh hoá chúng. (Ecclesiam suam, n. 42)

13. Giáo Hội cung hiến cho con người Tin Mừng, tài liệu ngôn sứ đáp ứng với những đòi hỏi và những ước vọng của con tim con người; Đó luôn luôn là "Tin Mừng". Giáo Hội không thể tự chước chuẩn việc rao giảng rằng Chúa Giêsu đã đến mặc khải gương mặt của Thiên Chúa và nhờ Thánh Giá và sự Phục Sinh, đem lại phần rỗi cho tất cả mọi người. (Redemptoris missio, n. 11 (http://gpnt.net/thuvien/truyengiao/TMCD-TDR-I.htm))

14. Tất cả những gì là nhân bản đều liên hệ đến chúng ta. Chúng ta có chung với tất cả nhân loại bản tính, nghĩa là sự sốùng, vói tất cả các ân huệ của nó, với tất cả mọi vấn đề của nó. Chúng ta chấp nhận chia sẻ tính phổ quát đầu tiên này; chúng ta hoàn toàn sẵn sàng tiếp nhận những thỉnh nguyện sâu xa thuộc các nhu cầu cơ bản của con người, tán thành những khẳng định mới mẻ và đôi khi cao thượng thuộc thiên tài con người. Và chúng ta có những chân lý luân lý, quan yếu, phải đưa ra ánh sáng và củng cố trong lương tâm con người, bởi vì chúng sinh ích cho mọi người. Nơi nào con người cho mình có bổn phận tự hiểu lấy mình và hiểu thế giới, thì chúng ta có thể truyền thông với con người. (Ecclesiam suam, n. 97)

admin
01-07-2006, 08:24 PM
III. Sứ điệp xã hội của Giáo Hội

15. Sự quan tâm tích cực Giáo Hội dành cho vấn đề xã hội, nghĩa là cho điều có mục đích phát triển đích thực con người và xã hội, do bẩm tính tôn trọng và thăng tiến con người trong tất cả những chiều kích của nó, sự quan tâm đó luôn được tỏ bày bằng nhiều cách rất khác biệt. Một trong những cách ưu tiên can thiệp trong những thời gian sau này là Huấn Quyền của các Đức Giáo Hoàng, các ngài thường bàn luận vấn đề bằng cách qui chiếu về Thông Điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII, thỉnh thoảng làm trùng hợp niên biểu phát hành những các tài liệu xã hội khác nhau với những ngày kỷ niệm của Thông Điệp đầu tiên này. Các Đức Giáo Hoàng, qua những lần can thiệp này, không bỏ qua việc cũng nêu cao các phương diện mới mẻ của học thuyết xã hội Giáo Hội. Như vậy, khởi từ phần đóng góp danh tiếng của Đức Lêô XIII, được phong phú hoá bởi những đóng góp liên tiếp của Huấn Quyền, được cấu tạo nên một phần chính yếu của học thuyết đã được hợp thời, nối tiếp nhau lần hồi khi Giáo Hội giải thích các biến cố trong diễn tiến của chúng, theo giòng lịch sử dưới ánh sáng của toàn bộ Lời được Chúa Giêsu Kitô mặc khải (Dei Verbum, n. 4 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/verbum01.htm)) và với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần (x. Ga 14, 16. 26 ; 16, 13- 15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 14:16,26,16:13-15&FontSize=Txt10)). Bằng cách này Giáo Hội muốn hướng dẫn con người biết đáp ứng, khi dựa vào sự suy luận lý trí và sự đóng góp của các khoa học nhân bản, với ơn gọi của họ làm những nhà xây dựng trách nhiệm về xã hội trần thế. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 1)

16. Trong những xáo trộn và những bất trắc thời giờ hiện tại, Giáo Hội có một sứ điệp đặc biệt phải loan báo, một nâng đỡ phải hiến cho con người trong những khi họ cố gắng nắm bắt và hướng dẫn tương lai của họ. Từ khi Rerum Novarum tố giác cách dữ dội và với giọng cấp bách, gương xấu do điều kiện lao động trong xã hội kỹ nghệ đang phát sinh, sự tiến hoá lịch sử, đã giúp nhận thức, như Quadragesimo Anno và Mater et Magistra chứng minh, có nhiều chiều kích khác và nhiều áp dụng khác thuộc công bình xã hội. Công Đồng mới đây, về phần mình, đã ra sức khai thông chúng, cách riêng trong Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes. Chính chúng tôi đã kéo dài những hướng dẫn này qua thông điệp chúng tôi Populorum progressio: chúng tôi đã nói "Ngày nay vấn đề mà mỗi người phải nhận thức là vấn đề xã hội đã trở nên quốc tế" (PP, n. 3). Một sự nhận thức mới về những đòi hỏi của sứ điệp Tin Mừng làm cho Giáo Hội thấy trách nhiệm phải phục vụ con người để giúp họ hiểu hết tất cả những chiều kích của vấn đề trầm trọng này, và để thuyết phục họ về sự cấp bách của một hành động liên đới trong khúc quanh này của lịch sử nhân loại". (Octogesima Adveniente, n. 5)

17. "Mặc khải Kitô giáo đưa đến sự hiểu biết sâu xa hơn về những luật lệ của đời sống xã hội" (GS, n. 23). Qua Tin Mừng, Hội Thánh nhận được mặc khải trọn vẹn chân lý về con người. Khi chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng, Hội Thánh nhân danh Đức Kitô, xác nhận cho con người biết phẩm giá riêng và ơn gọi hiệp thông của con người. Hội Thánh dạy cho con người biết các yêu sách của công lý và hoà bình, hợp với ý định khôn ngoan của Thiên Chúa. (C.E.C, n. 2419)

18. Học thuyết xã hội của Giáo Hội, đề nghị một tổng thể những nguyên lý để suy tư, những tiêu chuẩn để phán đoán và những chỉ thị để hành động, trước tiên nhắm tới những thành viên của Giáo Hội. Điều thiết yếu là người tín hữu dấn thân trong việc thăng tiến nhân loại, phải có một sự hiểu biết vững chắc toàn bộ (corps) quí báu này của huấn giáo và coi nó như là một phần nguyên vẹn của sứ mạng rao giảng Tin Mừng của mình … Những Kitô hữu có trách nhiệm trong Giáo Hội và trong xã hội, cách riêng những giáo dân nam và nữ đang nắm trách nhiệm trong đời sống công cộng, cần được huấn luyện vững chắc về huấn giáo này, để họ có thể tác động và ban sức sống cho xã hội dân sự và các cơ cấu của nó bằng chất men Tin Mừng. (Ecclesia in Asia, n. 32)

admin
01-07-2006, 08:24 PM
19. Việc đào tạo giáo lý cho các tín hữu, ngày càng biểu lộ khẩn cấp ngày nay, không những do động lực tự nhiên phải đào sâu đức tin, nhưng do nhu cầu biện giải về niềm hy vọng của họ trước mặt thế giới và trước những vấn đề nghiêm trọng và phức tạp. Do đó phát sinh sự cần thiết tuyệt đối về một hành động có hệ thống giáo lý, xứng hợp với tuổi tác và những hoàn cảnh khác biệt của đời sống, và về sự khuyến khích Kitô giáo nhất quyết hơn trong lãnh vực văn hoá, ngõ hầu đáp ứng với các vấn đề vĩnh cửu và các vấn đề mới mẻ làm rung chuyển con người và xã hội hôm nay.

Điều hoàn toàn cần thiết, cách riêng, là các giáo dân, nhất là những anh chị dấn thân nhiều cách trong lãnh vực xã hội hay chính trị, phải hiểu biết chính xác hơn học thuyết xã hội của Giáo Hội, như các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã xin nhiều phen trong những bài tham luận của các ngài. (Christifideles Laici, n. 60)

20. Trung thành với Huấn Giáo và gương sáng của Vị Sáng Lập thần linh của mình, Đấng đã loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo khó như là dấu ấn sứ vụ của Người (Lc 7, 22), Giáo Hội không bao giờ chểnh mãng việc khuyến khích nâng cao nhân bản các dân tộc mà Giáo Hội đem đến cho niềm tin vào Chúa Kitô. (Populorum Progressio, n. 12)

21. Giáo Hội chia sẻ với con người thời đại chúng ta, lòng ước muốn nồng nhiệt và sâu xa sống một đời sống đúng đắn về mọi phương diện, và Giáo Hội cũng không bỏ qua việc suy nghĩ tới các phương diện khác biệt của đức công bình, như đời sống con người và xã hội đòi hỏi phải có. Sự phát triển học thuyết xã hội công giáo trong thế kỷ qua khẳng định rõ điều này. Trong vết chân của giáo huấn này, cũng phải kể sự giáo dục và đào tạo lương tâm con người theo tinh thần công bình, cũng như những sáng kiến riêng nẩy nở trong tinh thần này, cách riêng trong khung cảnh truyền giáo của người giáo dân. (Dives in Misericordia, n. 12)

22. Nếu, như chúng ta đã nói, Giáo Hội thực hiện ý muốn của Chúa về phương diện này, Giáo Hội sẽ rút được cho mình một nghị lực to lớn và hơn nữa còn cảm thấy cần trút ra nghị lực này để phục vụ mọi người. Giáo Hội sẽ cảm ứng chính xác về một sứ mệnh nhận lãnh từ Thiên Chúa, về một sứ điệp phải loan truyền khắp nơi. Chính nơi đây là chỗ dựa của nguồn mạch nhiệm vụ Tin Mừng chúng ta, của uỷ nhiệm chúng ta phải dạy dỗ muôn dân và của cố gắng tông đồ chúng ta để theo đuổi sự cứu rỗi vĩnh viễn cho tất cả mọi người. (Ecclesiam suam, n. 64).

23. Chắc chắn, không có mẫu duy nhất để tổ chức quyền tự do nhân bản về mặt chính trị và kinh tế, bởi vì những nền văn hoá khác biệt và sự khác biệt những kinh nghiệm lịch sử là nguồn gốc những hình thức khác nhau của những cơ chế trong một xã hội tự do và trách nhiệm. (Diễn văn tại kỳ hợp khoáng đại Liên hiệp quốc, 1995, n. 3)

24. Vả lại, học thuyết xã hội có một chiều kích quan trọng liên kỷ luật. Muôn nhập thể tốt hơn chân lý duy nhất liên quan đến con người vào trong những bối cảnh xã hội, kinh tế và chính trị khác nhau và luôn thay đổi, thì chân lý này phải chấp nhận đối thoại với những kỷ luật khác biệt chăm nom con người, chân lý này đồng hoá những đóng góp của các kỷ luật đó và giúp chúng hướng về, trong một viễn tượng rộng lớn hơn, phục vụ con người, được biết và được yêu trong sự viên mãn ơn gọi của họ. Bên cạnh chiều kích liên kỷ luật, cũng phải lưu ý tới chiều kích thực hành và, nói được, kinh nghiệm của học thuyết này. Học thuyết này nằm tại chỗ gặp gỡ giữa sự sống và lương tâm Kitô hữu với những hoàn cảnh thế giới, và học thuyết đó biểu lộ trong những cố gắng mà những cá nhân, gia đình, những tác nhân văn hoá và xã hội, những nhà chính trị và những nhân viên Nhà nước hoàn thành, ngõ hầu cho nó hình thức và kiểu áp dụng trong lịch sử. (Centesimus Annus, n. 59)

admin
01-07-2006, 08:26 PM
IV. Phạm vi huấn giáo xã hội của Giáo Hội

25. Giáo Hội không có mẫu để đề xướng. Những mẫu chân xác và hiệu nghiệm thật sự, chỉ có thể nhận thức được trong khuôn khổ những hoàn cảnh lịch sử khác biệt, nhờ sự cố gắng của tất cả những kẻ trách nhiệm giáp mặt với những vấn đề cụ thể dưới tất cả những khía cạnh xã hội, kinh tế, chính trị và văn hoá chồng chất lên nhau (x. GS, n. 36 ; Octogesima Adveniens, nn. 2-5). Khi đối diện với những trọng trách này, Giáo Hội trình bày, như phương hướng lý trí và cần thiết, học thuyết xã hội của mình, học thuyết như đã nói công nhận đặc điểm tích cực của thị trường và doanh nghiệp, nhưng đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết hướng chúng về thiện ích chung. (Centesimus Annus, n. 43)

26. Học thuyết xã hội của Hội Thánh là tập hợp các lời dạy của Hội Thánh về các biến cố lịch sử, dưới ánh sáng của toàn bộ Lời Chúa Kitô Giêsu mạc khải với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. (x. SRS, n. 1). Những người thiện chí dễ dàng chấp nhận giáo thuyết này khi chúng được các Kitô hữu thể hiện trong đời sống. (CEC, n. 2422)

27. Tới giai đoạn áp dụng cụ thể các nguyên tắc, có thể nẩy ra những khác biệt quan điểm, dầu giữa những người công giáo ngay lành và chân thật. Khi nào sự đó xảy ra, mong sao đừng bao giờ thiếu sự quí mến nhau, sự kính trọng nhau và thiếu thiện chí, thiện chí tìm kiếm những điểm tiếp xúc vì một hành động thuận lợi và hiệu nghiệm; mong sao người ta không phí sức trong những cuộc bàn cải bất tận; và lấy cớ làm tốt hơn, mong sao người ta đừng coi thường thiện ích có thể và phải thực hiện. (Mater et magistra, n. 238)

28. Giáo Hội không đề nghị triết học riêng của mình cũng không thần thánh hoá một triết học nào đặc biệt mà gây thiệt hại cho những cái khác. Lý do sâu xa của việc giữ gìn ý tứ này là chính lúc triết học đi vào liên hệ với thần học, nó cũng phải theo những cách thức và những luật lệ của nó; bằng không sẽ không có bảo đảm nó sẽ hướng về sự thật và nhằm tới sự thật nhờ một phương pháp có thể thẩm tra hợp lý. Một nền triết học nào không diễn tiến dưới ánh sáng của lý trí theo những nguyên tắc riêng và những phương pháp riêng của nó, thì sẽ không giúp ích gì nhiều. Rốt cuộc, phải tìm kiếm nguồn gốc của sự tự trị triết học trong sự kiện này là lý trí, tự bản tính, hướng về sự thật và, hơn nữa lý trí tự kiếm ra những phương thế để đi tới đó. Một nền triết học ý thức "qui chế cấu tạo nên mình" không thể không tôn trọng những yêu sách và những điều hiển nhiên xứng hợp với chân lý mặc khải. (Fides et Ratio, n, 49)

29. Học thuyết xã hội của Hội Thánh được phát triển vào thế kỷ XIX khi Tin Mừng tiếp xúc với xã hội kỹ nghệ tân tiến, với các cơ cấu mới để sản xuất các sản phẩm tiêu thụ, với khái niệm mới về xã hội, về quốc gia và quyền bính, với các hình thức mới của lao động và quyền sở hữu. Sự phát triển học thuyết kinh tế và xã hội của Hội Thánh, xác nhận giá trị vững bền của quyền giáo huấn Hội Thánh, cũng như cho thấy ý nghĩa đích thực củûa Truyền Thống luôn luôn sống động và tích cực (x. CA, n. 3). (CEC, n. 2421)

30. Học thuyết xã hội của Giáo Hội không phải là một "con đường thứ ba" giữa tư bản tự do chủ nghĩa và cộng sản mác xít chủ nghĩa, cũng không phải là một khả năng giữa những giải pháp được đánh dấu ít triệt để hơn: nó là một loại tự nó. Nó cũng không phải là một ý thức hệ, nhưng là một sự trình bày chính xác những kết quả của một sự suy nghĩ chăm chú về các thực tại phức tạp của kiếp sống con người trong xã hội và trong bối cảnh quốc tế, dưới ánh sáng đức tin và truyền thống giáo hội. Mục đích chính của học thuyết này là giải thích những thực tại đó, bằng cách suy xét sự phù hợp hay những dị biệt của chúng với những hướng dẫn của huấn giáo Tin Mừng về con người và về ơn gọi của con người vừa trần thế vừa siêu việt; học thuyết đó có mục đích hướng dẫn cách sống Kitô giáo. Do đó, học thuyết đó không thuộc lãnh vực ý thức hệ, nhưng thuộc lãnh vực thần học và cách riêng thần học luân lý. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 41)

31. Chắc chắn, Giáo Hội đã nhận lãnh sứ vụ dẫn đưa nhân loại tới hạnh phúc muôn đời, chớ không phải chỉ tới một nền thịnh vượng tạm bợ; và thậm chí "Giáo Hội không cho mình có quyền vô cớ xen vào việc điều khiển những sự trần tục" (Ubi Arcano Dei Consilio, n. 65). Nhưng bằng bất cứ giá nào Giáo Hội không thể từ bỏ trách nhiệm Chúa đã phó thác cho và trách nhiệm đó là một luật buộc Giáo Hội can thiệp, chắc không phải trong lãnh vực kỹ thuật vì đối với lãnh vực này Giáo Hội thiếu những phương tiện xứng hợp và chuyên môn, nhưng trong tất cả những gì liên quan tới luật luân lý. Trong những vấn đề này, thật vậy, sự nắm giữ chân lý từ Trên Cao phó thác chúng ta và sự chúng ta có trách nhiệm rất nặng nề là loan báo, giải thích và rao giảng, bất chấp tất cả, luật luân lý, những sự kiện đó cũng đặt trật tự xã hội và trật tự kinh tế dưới quyền bính tối cao của Chúng ta. (Quadragesimo Anno, n. 41)

32. Học thuyết xã hội, ngày nay hơn hết, chăm lo cho con người với tư cách được sát nhập trong mạng lưới phức tạp của những tương quan giữa các xã hội tân thời. Những khoa học nhân bản và triết học giúp hiểu rõ rằng con người là trung tâm xã hộïi và giúp cho con người có điều kiện hiểu biết mình hơn với tư cách là một "sinh vật xã hội". Nhưng chỉ có đức tin mặc khải đầy đủ cho con người căn tính thật sự của mình, và đức tin chính xác là điểm khởi hành của học thuyết xã hội của Giáo Hội. (Centesimus Annus, n. 54)

admin
01-07-2006, 08:30 PM
V. Việc Phúc Âm hoá và Huấn Giáo xã hội của Giáo Hội

33. Việc tân Phúc Âm hoá, mà thế giới hiện đại cần khẩn cấp và đã nhiều lần tôi nhấn mạnh đến, phải kể vào số những yếu tố chủ yếu việc rao truyền học thuyết xã hội của Giáo Hội, một học thuyết có khả năng, hôm nay cũng như dưới thời Đức Lêô XIII, chỉ rõ con đường di đúng để dáp ứng những thách đố lớn của thời hiện nay, trong một bối cảnh mất uy tín ngày càng lớn của các ý thức hệ. Cũng như ở thời buổi đó, phải lặp lại rằng không có giải pháp thật sự cho vấn đề xã hội" bên ngoài Tin Mừng và, đàng khác, "những sự mới" có thể gặp được trong Tin Mừng khoảng không gian của chân lý và phẩm chất luân lý xứng hợp. (Centesimus Annus, n. 5)

34. Điều đáng nói ở đây -cũng như trong tất cả lãnh vực đời sống Kitô hữu- đó là sự tin tưởng đến từ đức tin, tức là từ sự biết chắc chính chúng ta không phải là những người chủ xướng sứ vụ, nhưng là chính Chúa Giêsu Kitô và Thần Khí Người. Chúng ta chỉ là những cộng tác viên và, khi đã làm tất cả những gì theo sức mình, thì hãy nói: "Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi" (Lc 17,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 17:10&FontSize=Txt10)). (Redemptoris missio n. 36 (http://gpnt.net/thuvien/truyengiao/TMCD-TDR-IV.htm))

35. Bây giờ tôi muốn đề nghị một "sự đọc lại" Thông Điệp của Đức Lêô XIII, và kêu mời đưa cái nhìn "lại phía sau" trên chính bản văn của người, ngõ hầu tái khám phá vẻ phong phú của những nguyên tắc cơ bản được phát biểu ở đó để giải quyết vấn đề lao động. Nhưng tôi cũng kêu mời đưa một cái nhìn "hiện tại" trên những sự mới "bao vây chúng ta và chúng ta bị ngụp lặn trong đó, nói được như vậy, những sự mới này rất khác biệt", đánh dấu thập niên cuối của thế kỷ qua. Sau hết tôi kêu mời hướng cái nhìn về "tương lai", đang khi chúng ta đã thấy ngàn năm thứ ba thời đại Kitô giáo, một tương lai nặng sự lạ mà cũng nặng những lời hứa. Sự lạ và những lời hứa kêu đến óc tưởng tượng chúng ta và óc sáng tạo chúng ta, óc tưởng tượng và sáng tạo này cũng thúc giục chúng ta, trong tư cách môn đệ Chúa Kitô, người "Thầy duy nhất" (x. Mt 23, 8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 23:8&FontSize=Txt10)), nhận lấy trách nhiệm chỉ đường, loan báo chân lý và thông truyền sự sống làø chính mình Người (x. Ga 14, 6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 14:6&FontSize=Txt10)). Làm được như vậy, không những người ta tái khẳng định giá trị trường tồn của huấn giáo này, mà người ta còn bày tỏ ý nghĩa thật sự của Truyền Thống Gíáo Hội, luôn luôn sống và hoạt đông, xây dựng trên những nền tảng cha ông chúng ta đặt trên đức tin và cách riêng xây dựng trên điều các "Tông đồ đã truyền thông cho Giáo Hội" (St Irénée, Adversus Haereses, I, 10) nhân danh Chúa Giêsu Kitô :Người là nền tảng và "không ai có thể đặt nền móng nào khác" (x. 1 Cr 3, 11). (Centesimus Annus, n. 3)

36. Việc trình bày sứ điệp Tin Mừng không phải là một sự đóng góp tùy ý: đó là bổn phận thuộc về Giáo Hội, do uỷ nhiệm của Chúa Giêsu, ngõ hầu nhân loại có thể tin và được cứu rỗi. Vâng, sứ điệp này là cần thiết. Nó là duy nhất. Nó không thể bị thay thế. (Evangelii Nuntiandi, n. 5)

37. Chúng ta được sai đi: phục vụ sự sống đối với chúng ta không phải là một lý do kiêu căng, nhưng là một bổn phận phát sinh từ việc ý thức mình là "dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người" (x. 1 Pr 2, 9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Pr 2:9&FontSize=Txt10)). Luật tình yêu hướng dẫn chúng ta và nâng đỡ chúng ta trên đường đi, tình yêu mà Con Thiên Chúa làm người là nguồn mạch và kiểu mẫu, Người là Đấng đã chết để ban cho thế gian được sống" (x. Sách lễ Roma kinh chủ tế đọc trước lúc rước lễ)

Chúng ta được sai như một dân. Sự dấn thân phục vụ sự sống liên quan mỗi một người. Đó là một trách nhiệm thật "giáo hội", đòi hỏi hành động thống nhất và quảng đại của tất cả mọi thành phần và tất cả mọi cơ quan cộng đồng Kitô hữu. Nhưng, bổn phận chung không loại trừ và không giảm thiểu trách nhiệm riêng cá nhân, bởi vì với từng người Chúa gởi đến mệnh lệnh này là "làm người thân cận của mọi người: "Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy" (Lc 10, 37 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 10:37&FontSize=Txt10)). (Evangelium vitae, n. 79)

38. Tất cả cùng chung, chúng ta cảm thấy bổn phận loan báo Tin Mừng sự sống, cử hành Tin Mừng trong phụng vụ và trong tất cả cuộc sống, phục vụ Tin Mừng bằng những sáng kiến và những cơ chế khác biệt nhau với mục đích nâng đỡ và cổ võ Tin Mừng. (Evangelium vitae, n. 79)

admin
02-07-2006, 03:54 AM
CHƯƠNG HAI

CON NGƯỜI


I. Phẩm Giá của Con Người

39. Thật vậy, việc dạy và phổ biến học thuyết xã hội của Giáo Hội, tuỳ thưộc sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, đó là một phần chính yếu của sứ vụ Kitô giáo, bởi vì học thuyết này trình bày những hậu quả trực tiếp của sứ điệp ấy trong đời sống xã hội và đặt việc lao động hằng ngày và sự tranh đấu cho công bình vào trong khuôn khổ của sự làm chứng cho Chúa Kitô Cứu Thế. Học thuyết đó cũng là nguồn mạch sự hiệp nhất và hoà bình trước những xung đột phát xuất chắc chắn trong lãnh vực kinh tế và xã hội. Như vậy, có thể sống những hoàn cảnh mới mà không làm giảm giá trị siêu việt của con người, không ở trong chính con người, cũng không ở nơi kẻ thù, và có thể tìm ra con đường cho những giải pháp đúng. (Centesimus Annus, n. 5)
40. Đó mới là tại sao ngày nay Giáo Hội có một lời để nói, như cách đây 20 năm, và trong tương lai nữa, về bản tính, về những điều kiện, về những yêu cầu và những mục đích của sự phát triển chính hiệu, và cũng về những trở ngại ngăn cản sự phát triển đó. Làm được như vậy, Giáo Hội hoàn thành sứ vụ rao giảng Tin Mừng của mình, bởi vì Giáo Hội mang đến sự đóng góp đầu tiên của mình để giải quyết vấn đề cấp bách của sự phát triển, khi Giáo Hội công bố chân lý về Chúa Kitô, về chính mình và về con người, bằng cách áp dụng chân lý đó vào một hoàn cảnh cụ thể (x. Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Hội Đồng Chung lần thứ ba của các Giám Mục Châu Mỹ Latinh, 1979).
Khí cụ Giáo Hội sử dụng để đạt mục đích này là học thuyết xã hội của mình. Trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, muốn biệt đãi việc phát biểu phải phép các vấn đề cũng như giải pháp tốt nhất của chúng, thì điều rất hữu ích là có được một sự hiểu biết chính xác hơn và bảo đảm một sự phổ biến sâu rộng hơn về "toàn thể những nguyên tắc suy tư và những tiêu chuẩn phán đoán, và còn những chỉ dẫn hành động" được đề xướng trong huấn giáo của Giáo Hội (Libertatis conscientia, n. 72; Octogesima Adveniens, n. 4).
Như vậy người ta nhận thấy ngay rằng những vấn đề phải đương đầu, trước hết có tính luân lý, và sự phân tích vấn đề phát triển như thế đó, cũng như những phương thế vượt thắng những khó khăn hiện tại, không thể loại bỏ chiều kích chủ yếu này. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 41)
41. Trong sự sống con người, hình ảnh Thiên Chúa sáng chói lại và tự biểu lộ trong tất cả sự viên mãn của nó khi Con Chúa đến trong thân xác con người; "Người là hình ảnh Thiên Chúa vô hình" (Cl 1, 15), "Người là phản ảnh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa" (Dt 1, 3). Người là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha. (Evangelium vitae, n. 36)
42. Nếu ta nhìn về tận nguồn gốc và vận mệnh con người, mới thấy được nét cao cả của phẩm giá con người: được sáng tạo theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và được cứu chuộc bằng Máu châu báu của Đức Kitô, con người được kêu gọi làm "con trong Người Con", và là đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, và được dành cho sự sống đời đời trong sự kết hiệp hồng phúc với Thiên Chúa. Do đó, mọi xúc phạm đến phẩm giá của mỗi ngôi vị con người đều kêu gào được Thiên Chúa báo oán, và là sự xúc phạm đến Đấng sáng tạo con người. (Christifideles Laici, n. 37)
43. Nếu chúng ta xem xét phẩm giá con người dưới ánh sáng các chân lý do Chúa mặc khải, chúng ta chỉ có thể nâng nó lên cao hơn nữa. Con người được cứu chuộc bằng máu Chúa Kitô Giêsu, nhờ ân sủng được làm con và bạn hữu Thiên Chúa và được lập nên những kẻ thừa hưởng gia tài vinh quang muôn đời. (Pacem in Terris, n. 10)
44. Dựa trên đức tin ấy, Giáo Hội có thể cứu gỡ phẩm giá của bản tính con người khỏi mọi trào lưu tư tưởng di động không ngừng giữa sự khinh dễ và tôn sùng thái quá đối với thân xác con người. Không một luật lệ nhân bản nào có thể bảo đảm phẩm vị và tự do con người cách thích đáng bằng Tin Mừng Chúa Kitô, đã được trao phó cho Giáo Hội (x. Rm 8, 14). Tin Mừng này loan báo và công bố sự tự do của con cái Thiên Chúa, phủ nhận mọi hình thức nô lệ, vì mọi ách nô lệ rốt cuộc đều bởi tội mà ra. Tin Mừng tôn trọng triệt để phẩm giá và quyết định tự do của lương tâm, lại không ngừng nhắc nhở phát huy mọi tài năng để phụng sự Thiên Chúa và mưu ích cho mọi người. Sau hết, Tin Mừng còn dạy mọi người phải thương yêu nhau (x. Mt 22, 39). Những điều đó phù hợp với luật căn bản trong nhiệm cuộc cứu rỗi của Kitô giáo. Vì, tuy Thiên Chúa vừa là Đấng Cứu Độ, vừa là Đấng Tạo Dựng, vừa làm Chủ lịch sử nhân loại, vừa làm Chủ lịch sử cứu rỗi, nhưng trong chương trình của Thiên Chúa, sự tự trị đúng mức của tạo vật và nhất thiết là của con người không hề bị huỷ diệt, trái lại còn được phục hồi và củng cố trong phẩm giá riêng.
Vậy, Giáo Hội dựa vào Phúc Âm đã được uỷ thác cho mình mà công bố những quyền lợi của con người, nhìn nhận và tôn trọng năng động của thời hiện đại đang cô võ những quyền lợi ấy khắp nơi. Tuy nhiên những trào lưu ấy phải được thấm nhuần tinh thần Phúc Âm và phải được bảo vệ cho khỏi nhiễm mọi hình thức tự trị sai lầm. Thực vậy, chúng ta dễ bị cám dỗ nghĩ rằng các quyền lợI của chúng ta chỉ được duy trì trọn vẹn khi trút bỏ mọi Luật lệ của Thiên Chúa. Nhưng thực ra, đó là đường lối làm cho phẩm giá con người chẳng những không được duy trì mà còn bị tiêu tan đi. (Gaudium et Spes, n. 41)
45. Điều phải được kể đến, đó là phẩm giá ngôi vị con người, mà Đấng Sáng Tạo đã giao phó cho chúng ta phải bảo vệ và khuyến khích, và những người nam và nữ trong tất cả hoàn cảnh xã hội, có trách nhiệm và mang nợ cách tuyệt đốùi đối với phẩm giá đó. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 47)
46. Phẩm giá của ngôi vị con người là một giá trị siêu việt, luôn được công nhận như thế bởi những kẻ quyết tâm tìm kiếm chân lý. Tất cả lịch sử nhân loại trên thực tế phải được giải thích dưới ánh sáng của sự đích thực này. Tất cả mọi người, được dựng nên giống hỉnh ảnh và giống Chúa (x St 26-28) và như thế là hướng triệt để về Đấng Sáng Tạo mình, ở trong liên quan thường xuyên với những ai cùng chung một bản tính. Việc khuyến khích điều thiện của cá nhân như vậy chung phần vào việc phục vụ công ích, nơi nào những quyền lợi và những bổn phận tương ứng và tăng cường cho nhau. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1999, n. 2)
47. Thật vậy, như thánh Phaolô viết, "ở đâu có Thần Khí của Chúa, ở đó có tự do" (2 Cr 3, 17). Mặc khải về sự tự do, và như vậy là về phẩm giá đích thực của con người, đạt được sức thuyết phục lạ lùng cho các Kitô hữu và Giáo Hội đang bị bắt bớ, hoăïc trong các thời kỳ xa xưa hoặc hiện nay, bởi vì những chứng nhân của Chân Lý thần linh bấy giở trở thành một bằng chứng sống động qua hành động của Thần Khí Chân Lý, hiện diện trong lòng và lương tâm các tín hữu, và không phải là hoạ hiểm việc các ngài dùng sự tử đạo để chứng minh phẩm giá con người đáng suy tôn tuyệt đỉnh. (Dominum et Vivificantem, n. 60)

admin
02-07-2006, 06:06 AM
II. Tự do và Chân Lý

48. Vấn nạn luân lý đã nhận được lời giải đáp của Đức Kitô, không thể loại trừ vấn nạn về tự do, nhưng đặt vấn nạn về tự do vào ngay giữa trung tâm, bởi lẽ không có luân lý nếu không có tự do. "Con người quay về điều thiện luôn luôn trong tình trạng tự do" (GS, n. 11 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01.htm)) Thế nhưng tự do nào ? Những người đương thời với chúng ta "rất ư đề cao" tự do và "hăng say đeo đuổi" tự do, nhưng lại thường "cưng chiều tự do một cách thiếu ngay thẳng", coi tự do như là quyền được làm bất cứ điều gì, miễn sao tạo được thoả thích, kể cả điều xấu". Đối lại với họ, Công Đồng trình bày tự do thật như sau: "Tự do thật là dấu chỉ đãi ngộ nơi con người chứng tỏ con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để cho con người tự bàn hỏi với chính mình (x. Hc 15,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Hc 15:14&FontSize=Txt10)) ngõ hầu con người có thể tự mình tìm kiếm Đấng Tạo Hoá và nhờ gắn bó với Ngài một cách tự do mà đạt mức thành toàn trong một tình trạng viên mãn chân phúc" (GS, n. 17 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01.htm)). Nếu trong hành trình truy tầm chân lý, mình có quyền được tôn trọng, thì trước đó mọi người đều đã có bó buộc luân lý nghiêm trọng là phải tìm kiếm chân lý, và một khi đã nhận biết chân lý, phải gắn bó với chân lý. (Veritatis Splendor, n. 34)

49. Sự tự do tự bản tính nó là nội tại đối với con người, đồng bản tính với con người, là dấu riêng biệt của bản tính con người. Thật vậy sự tự do con người tìm thấy nền tảng mình trong phẩm giá siêu việt con người: một phẩm giá được Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo ban cho, và hướng con người về Chúa. Con người, vì được dựng nên giống hình ảnh Chúa (x. St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10)), không chia cắt khỏi sự tự do, sự tự do mà không một quyền lực nào hay một sự cưỡng bức nào bên ngoài có thể tước đoạt, sự tự do đó làm thành một quyền cơ bản của con người, với tư cách cá nhân như thành phần xã hội. Con người có tự do bởi vì nó có khả năng tự quyết định về sự lành và sự dữ. (Sứ điệp cho ngày thế giới hoà bình, 1981, n. 5)

50. Chúa Giêsu Kitô đi gặp con người của mọi thời đại, kể cả của thời đại chúng ta, cũng với những lời nói này: "Các ông sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng các ông" (Ga 8,32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 8:32&FontSize=Txt10)). Những lới nói đó chứa đựng một yêu sách cơ bản và đồng thời một cảnh cáo: yêu sách sống lương thiện đối với chân lý như điều kiện của một tự do đích thực; và còn là sự cảnh cáo tránh tất cả những tự do giả trá, tất cả những tự do hời hợt và một chiều, tất cả những tự do không đi tới cùng sự thật về con người và về thế giới. (Redemptor Hominis, n. 12)

51. Nhưng sự tự do không những là một quyền người ta đòi hỏi cho mình, đó là một bổn phận người ta phải gánh vác đối với mọi người khác. Muốn thực sự phục vụ hoà bình, sự tự do của mỗi người và của mỗi cộng đồng nhân bản phải tôn trọng những tự do và những quyền lợi những kẻ khác, cá nhân hay tập thể. Trong phương diện này sự tự do bị hạn chế, nhưng nó cũng gặp được sự hợp lý (logique) của nó và giá trị của nó, bởi vì con người tự bản tính là một hữu thể xã hội. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1981, n. 7)

52. Tự do không phải là muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Quan niệm "con người là một chủ thể tự do, tự túc tự mãn, chỉ cần lo cho lợi ích riêng mình bằng cách lo hưởng thụ các lạc thú trần thế là điều sai lầm "(Libertatis Conscientia, n. 13). Mặt khác, Những điều kiện về kinh tế và xã hội, chính trị và văn hoá cần thiết để thực thi tự do cách chính đáng, lắm khi bị phủ nhận và vi phạm. Những sự mù quáng và bất công này làm băng hoại đời sống luân lý và tạo dịp cho kẻ mạnh cũng như người yếu phạm tội nghịch đức ái. Khi xa lìa luật luân lý, con người làm thương tổn tự do của chính mình, làm nô lệ cho tính ích kỷ, cắt đứt tình huynh đệ với đồng loại và nổi loạn chống lại ý Chúa. (CEC, n. 1740)

53. Dầu vậy, Đấng Sáng Tạo thế giới đã ghi khắc trật tự trong đáy lòng con người: trật tự mà lương tâm mặc khải cho con người và dạy con ngưởi biết kính trọng: "Họ cho thấy là điều gì luật đòi hỏi, thì đã được ghi khắc trong lòng họ, lương tâm họ cũng chứng thực điều đó" (Rm 2,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm 2:15&FontSize=Txt10)). Làm sao mà không phải như vậy được, bởi vì tất cả những công trình của Chúa phản ảnh sự khôn ngoan vô cùng của Người, và các công trình đó càng cao trong thang các sự vật, thì phản ảnh càng rõ ràng sự khôn ngoan ấy (x. Tv 18,8-11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv 18:8-11&FontSize=Txt10)). (Pacem in Terris, n. 5)

54. Theo ý định của Thiên Chúa, mỗi người được kêu gọi tự phát triển bởi vì tất cả sự sống là ơn gọi. Từ mới sinh, tất cả đều được ban cho, còn manh nha, một tổng hợp những bẩm tính và những năng lực phải làm cho nẩy nở: sự nẩy nở những thứ đó, hoa quả của giáo dục nhận lãnh từ môi trường và cố gắng cá thể, sẽ cho phép mỗi người hướng về vận mạng mà Đấng Sáng Tạo định cho họ. Được ban cho trí tuệ và quyền tự do, con người chịu trách nhiệm về sự lớn lên của mình, cũng như về phần rỗi của mình. Được trợ giúp, thỉnh thoảng bị trở ngại bởi những kẻ giáo dục mình và bao vây mình, mỗi một người vẫõn là tác giả chính tạo thành công hay thất bại của mình, mặc cho những ảnh hưởng gì tác động trên nó: duy chỉ nhờ cố gắng của lý trí và ý chí mình, mà mỗi người có thể lớn lên trong nhân đạo, có giá trị hơn, làm người hơn. (Populorum progressio, n. 15)

55. Sau cùng, khi đã hoàn tất trên thánh giá công trình cứu chuộc, nhờ đó mà con người được ơn cứu rỗi và sự tự do thật, Người đã hoàn thành mặc khải của Người. Người đã làm chứng cho chân lý, nhưng Người không muốn dùng quyền áp đặt chân lý trên những kẻ chống đối Người. Nước Người, thật vậy, không được bảo vệ bằng gươm giáo, nhưng Nước đó được thiết lập bằng cách nghe chân lý và làm chứng cho chân lý, Nước đó lan rộng nhờ tình yêu qua đó Chúa Kitô, bị treo lên thánh giá, lôi kéo tất cả mọi người đến với Người (x. Ga 12,32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 12:32&FontSize=Txt10)). (Dignitatis Humanae, n. 11)

admin
02-07-2006, 06:06 AM
56. Sau cùng, sự tự do thật không được xúc tiến gì hơn trong một xã hội rộng phép (société permissive), một xã hội lầm lẫn sự tự do với quyền được làm bất cứ sự chọn lựa nào và lấy danh nghĩa tự do mà tuyên bố một chủ thuyết vô luân nói chung. Đây là đề ra một sự tự do bù nhìn, khi cho rằng con người có tự do tổ chức đời sống mình mà không cần qui chiếu tới những giá trị luân lý, và xã hội không có trách nhiệm bảo vệ và khuyến khích những giá trị đạo đức. Một thái độ như thế là phá hoại tự do và hoà bình. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1981, n. 7).

57. Và Giáo Hội không không biết sự nguy hiểm của chủ thuyết cuồng tín, hay trào lưu chính thống (fondamentalisme) về phía những người nhân danh một ý thức hệ cho mình là có tính khoa học và tôn giáo, cho mình có quyền áp đặt trên kẻ khác quan niệm của mình về tự do và sự thiện. Chân lý Kitô giáo không thuộc loại này. Vì không phải là một ý thức hệ, đức tin Kitô giáo không chút nào muốn nhốt thực tại xã hội hoặc chính trị hay thay đổi trong khuôn khổ một kiểu mẫu cứng nhắc, và đức tin Kitô giáo nhìn nhận rằng sự sống con người thực hiện trong lịch sử bằng những cách thức khác biệt và bất toàn. Tuy nhiên Giáo Hội, vì luôn tái khẳng định giá trị siêu việt của con người, lấy sự tôn trọng quyền tự do làm chương trình hành động của mình. (Centesimus Annus, n. 46)

58. Nền dân chủ không thể có được mà không có một sự dấn thân chia sẻ đối với một số chân lý luân lý về con người và về cộng đồng nhân loại. Vấn đề cơ bản một xã hội dân chủ phải tự đặt cho mình là: "Chúng ta phải sống với nhau cách nào ? Khi tìm câu trả lời cho câu hỏi này, xã hội có thể loại trừ chân lý luân lý và sự lý luận luân lý chăng ?…

Mỗi một thế hệ…. phải biết rằng tự do không phải là muốn làm theo ý mình, nhưng có quyền làm cái gì thuộc bổn phận mình.

Chúa Kitô xin chúng ta giữ gìn chân lý bởi vì, như Chúa đã hứa với chúng ta: "Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông" (Ga 8,32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 8:32&FontSize=Txt10)). Hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh ! (Depositum custodi !) Chúng ta phải giữ chân lý, vì chân lý là điều kiện của sự tự do chân chính, chân lý cho phép thực hành sự tự do trong lòng nhân từ. Chúng ta phải giữ chân lý Chúa đã giao phó cho chúng ta trong Giáo Hội, cách riêng trước những thách đố mà một nền văn hoá vật chất và một não trạng hơi rộng phép nêu lên bắt sự tự do phục tùng sự cho phép. (Gioan Phaolo II, Bài giảng tại Baltimore, nn. 7-8)

59. Nhưng nguơời ta không thể không biết những qui định nhiều vô số, bắt buộc sự tự do của từng cá nhân phải hành động y như vậy; chắc là những qui định đó ảnh hưởng tới sự tự do, nhưng không quyết định sự tự do; những qui định đó biến việc thực thi sự tự do thành nhiều hay ít dễ dàng, nhưng không thể tiêu huỷ. Không những người ta không có quyền phủ nhận, trên phương diện đạo đức, bản tính con người được sinh ra vì tự do, nhưng trên thực tế, điều đó cũng không thể xảy ra được. Nơi nào xã hội tự tổ chức mà tùy tiện giảm thiểu hay thậm chí huỷ bỏ môâi trường trong đó quyền tự do thực thi cách hợp pháp, thì hậu quả là sự sống xã hội tan rã từ từ và tàn tạ. (Centesimus Annus, n. 25)

admin
02-07-2006, 06:12 AM
III. Bản Tính Xã Hội Của Con Người

60. Lấy tình Cha săn sóc mọi người, Thiên Chúa đã muốn rằng tất cả mọi người phải làm thành một gia đình và đối xử với nhau bằng tình huynh đệ. Bởi vì mọi người được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa là Đấng đã "cho tất cả nhân loại do một nguyên tổ cư ngụ trên khắp mặt đất" (Cv 17,26 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv 17:26&FontSize=Txt10)), nên họ đều được gọi tới cùng một cứu cánh duy nhất là chính Thiên Chúa. Do đó yêu mến Thiên Chúa và anh em là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Thánh Kinh dạy ta rằng tình yêu mến Thiên Chúa không thể tách rời với tình yêu anh em: "… nếu có điều răn nào khác đi nữa cũng gồm tóm trong lời này: hãy yêu thương anh em như chính mình… Thương yêu là chu toàn luật pháp vậy" Rm 13,9-10; x. 1 Ga 4,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm 13:9-10 ; 1 Ga 4:10&FontSize=Txt10)). Điều nói trên cũng được nhận là quan trọng nhất đối với con người mỗi ngày một lệ thuộc nhau hơn cũng như đối với thế giới ngày càng hiệp nhất lại. Hơn nữa, khi cầu nguyện với Chúa Cha: "Xin cho mọi người nên một …, như chúng ta là một" (Ga 17,21-23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 17:21-23&FontSize=Txt10)), Chúa Giêsu mở ra những viễn tượng mà lý trí con người không thể tự đạt tới được. Như vậy Chúa Giêsu đã nói lên một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của các con cái Chúa trong chân lý và đức ái. Sự tương tự này cho thấy con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến thân (x. Lc 17,33 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 17:33&FontSize=Txt10)) Đặc tính xã hội của con người cho thấy rõ sự thăng tiến của con người và sự phát triển xã hội lệ thuộc nhau. Thực vậy, nhân vị chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội. Cho nên vì đời sống xã hội đối với con người không phải là một cái gì phụ thuộc, do đó nhờ trao đổi với người khác, nhờ phục vụ lẫn nhau và nhờ đối thoại với anh em, con người được tăng triển mọi khả năng của mình và có thể đáp ứng được thiên chức của mình. (Gaudium et Spes, nn 24-25 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes02.htm))

61. Theo nguyên tắc cơ bản của quan niệm này- cũng như suy ra từ tất cả những gì chúng ta đã nói tới đây- những hữu thể nhân bản là và phải là nền tảng, mục đích và chủ thể của tất cả mọi định chế biểu lộ sự sống xã hội. Mỗi một người, đã là điều gì mình là, phải được quí trọng theo bản tính xã hội nội tại của nó và trên chương trình Chúa quan phòng đưa họ lên trật tự siêu nhiên. (Mater et Magistra, n. 219)

62. Có những mối liên hệ xã hội đáp ứng trực tiếp được bản tính sâu xa của con người, đó là gia đình và nhà nước. Chúng cần thiết cho con người. Để đa số có thể tham gia đời sống xã hội, nên khuyến khích thành lập các hiệp hội và những tổ chức nhằm các mục đích kinh tế, văn hoá, xã hội, thể thao, giải trí, nghề nghiệp, chính trị trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế. (MM, n. 60). Công cuộc "xã hội hoá" này đặt nền tảng trên xu hướng tự nhiên thúc đẩy con người hợp tác với nhau, để đạt tới những mục tiêu vượt quá khả năng của từng người. Công cuộc này giúp phát triển các đức tính của con người, nhất là óc sáng kiến và tinh thần trách nhiệm, cũng như giúp bảo đảm các quyền của con người (GS, n. 25 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes02.htm); CA, n. 12). (CEC, n. 1882)

63. Nhưng mỗi người là thành phần xã hội: nên tùy thuộc vào toàn thể nhân loại. Không những là người này hay người kia mà thôi, nhưng tất cả mọi người đềøu được kêu gọi phát triển đầy đủ như thế đó. Những nền văn minh sinh ra, lớn lên và chết. Nhưng, cũng như những đợt sóng thuỷ triều dâng lên, chảy vào xa hơn một chút trên bãi cát, cũng vậy nhân loại tiến tới trên con đường lịch sử. Là những kẻ thừa kế của những thế hệ đã qua và thừa hưởng công trình của những kẻ đồng thời, chúng ta có những bổn phận đối với mọi người và chúng ta không thể làm ngơ những kẻ sẽ đến sau chúng ta và mở rộng phạm vi gia đình nhân loại. Tình liên đới phổ quát là một thực tại, và là một lợi ích cho chúng ta, nó cũng là một bổn phận. (Populorum progressio, n. 17)

64. Trừ gia đình ra, những nhóm xã hội trung gian khác hoàn thành những vai trò sơ đẳng và thực hiện những mạng lưới liên đới riêng biệt. Những nhóm này đạt tới sự thành thục của những cộng đồng nhân vị thật sự và phân bố thần kinh tới mô xã hội (tissu social), bằng cách ngăn cản nó rơi vào trong tính phi nhân cách và tính vô danh của quần chúng, vô phúc thay những sự kiện này thường xảy ra trong xã hội hiện nay. Chính trong sự chồng chéo của những quan hệ đa dạng là nơi sống của con người và là nơi phát triển "nhân cách" của xã hội. Cá nhân con người ngày nay thường bị nghiền nát giữa hai cực Nhà Nước và thị trường. Thật vậy, thỉnh thoảng cá nhân xem ra chỉ hiện hữu như kẻ sản xuất va tiêu thụ những hàng hoá, hay là như kẻ bị trị của Nhà Nước, mà người ta quên rằng sự hoà đồng (convivialité) không có cùng đích là Nhà Nước và thị trường, bởi vì tự nó nó có một giá trị duy nhất mà Nhà Nước và thị trường phải phục vụ. Con người trước tiên là một hữu thể tìm kiếm chân lý và ra sức sống theo chân lý này, và nghiên cứu sâu xa chân lý đó trong một cuộc đối thoại liên tục bao gồm các thế hệ đã qua và sẽ đến. (Centesimus Annus, n. 49)

65. Ngược lại, từ quan niệm Kitô giáo về con người, mà phát sinh cách khẩn thiết một quan điểm đúng về xã hội. Theo Rerum Novarum và toàn bộ học thuyết xã hội của Giáo Hội, đặc tính xã hội của con người không tiêu hao trong Nhà Nước, nhưng nó tự thực hiện trong những nhóm trung gian khác biệt, từ gia đình cho chí những nhóm kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá, vì xuất phát từ cùng một bản tính con người, nên có - luôn trong khuôn khổ công ích - nền tự trị riêng của mình. Đó là điều tôi đã gọi là "nhân cách" xã hội, điều mà với cá tính cá nhân, đã bị "chủ thuyết xã hội thứ thiệt" loại trừ hẵn. (Centesimus Annus, n. 13)

admin
02-07-2006, 06:20 AM
IV. Nhân Quyền

66. Tất cả mọi người có quyền sống, toàn vẹn thể lý, có những phương tiện cần thiết và đủ để sống xứng đáng, nhất là trong những gì liên quan tới thức ăn, đồ mặc, nơi ở, nghỉ ngơi, những chăm sóc thuốc men, những dịch vụ xã hội. Do đó, con người có quyền được an toàn trong lúc bệnh hoạn, khuyết tật, goá bụa, già cả, thất nghiệp và mỗi khi thiếu những phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh ngoài ý muốn của nó. (Pacem tin Terris, n. 11)

67. Sau cuộc sụp đổ chủ nghĩa cực quyền cộng sản và nhiều chế độ cực quyền khác và chế độ "an ninh quốc gia", hiện nay người ta chứùng kiến, không phải là không có đấu tranh, sự thành công lý tưởng dân chủ trong thế giới, đi đôi với sự lưu tâm nhiều và lo lắng nhiệt tình cho những quyền lợi con người. Nhưng chính vì muốn đi trong chiều hướng này, điều cần thiết là các dân đang cải tổ những cơ chế của mình, phải làm cho nền dân chủ có một nền tảng đích thực và vững chắc nhờ sự hiểu biết rõ ràng những quyền này (x. Redemptoris Hominis, n. 17). (Centesimuc Annus, n. 47)

68. Nền tảng của mọi xã hội có qui củ và phong phú, đó là nguyên lý tất cả mọi con người đều là nhân vị, nghĩa là một bản tính có lý trí và ý chí. Do đó, con người có những quyền và những nhiệm vụ, cả hai phát xuất, một lượt và tức khắc, từ bản tính con người: cho nên những quyền và trách nhiệm đó có tính phổ quát, bất khả xâm phạm, không thể đổi chác. (Pacem in Terris, n. 9)

69. Nếu những quyền con người bị xúc phạm trong thời bình, thì điều đó trở nên thật đáng buồn; về phương diện phát triển, điều đó nói lên một hiện tượng không thể hiểu tranh đấu chống lại con người, và sự kiện này không thể nào phù hợp với một chương trình nào tự xưng là "nhân đạo" (humaniste). (Redemptoris Hominis, n. 17)

70. Quyền cơ bản khác của con người, là sự bảo vệ pháp lý những quyền lợi riêng của con ngườiù, sự bảo vệï hiệu nghiệm, bình đẳng cho mọi người và xứng hợp với những quy luật khách quan phép công bình: "Từ trật tự pháp lý, như Chúa muốn, phát sinh cho con người, quyền không thể nhượng này, thứ quyền bảo đảm cho mỗi người sự an toàn pháp lý và một phạm vi cụ thể những quyền, được bảo vệ khỏi tất cả xâm lấn tùy tiện" (Piô XII, Sứ điệp Giáng Sinh, 1942). (Pacem in Terris, n. 27)

71. Tôn trọng nhân vị gồm cả việc tôn trọng các quyền phát sinh từ phẩm giá của thụ tạo là con người. Các quyền này không do xã hội ban cho và xã hội phải công nhận chúng. Các quyền ấy là cơ sở để mọi quyền bính có được hợp pháp về mặt luân lý. Khi chà đạp hay phủ nhận các quyền ấy trong luật pháp hiện hành của mình thì xã hội tự phá hoại tính hợp pháp về mặt luân lý của chính mình (Pt. n. 65). Không có sự tôn trọng nhân vị, quyền bính chỉ có thể dựa trên sức mạnh hay bạo lực, để bắt buộc các thành viên phải phải tùng phục. Hội Thánh phải nhắc nhở những người thiện chí về những quyền này và phân biệt chúng với những đòi hỏi quá đáng hay sai lầm. (CEC, n. 1930)

72. Và một khi các quy luật đời sống tập thể được viết bằng những từ ngữ chỉ những quyền và những trách nhiệm, con người tự mở ra đối với những giá trị thiêng liêng và hiểu được chân lý, công lý, tình yêu, tự do, là gì ; họ mới thấy mình thuộc về một xã hội có trật tự này. Vả lại, họ hướng về việc hiểu biết hơn Thiên Chúa chân thật, siêu việt và ngôi vị. Bấy giờ những tương quan của họ với Chúa được họ xem như là chính nền tảng của sự sống, sự sống thân tình sống nơi bí ẩn linh hồn và của sự sống mà họ sống trong đoàn thể với kẻ khác. (Pacem in Terris, n. 45)

73. Những hiệp hội tư chỉ hiện hữu trong lòng xã hội dân sự mà chúng là như các thành phần vậy. Tuy nhiên không vì đó mà Nhà Nước có quyền phủ nhận sự hiện hữu của chúng, đó là chỉ nói cách chung và chỉ xem xét bản tính của chúng. Quyền hiện hữu chính thiên nhiên đã ban cho chúng, và xã hội dân sự đã được thiết lập để bảo vệ quyền thiên nhiên, chớ không phải để huỷ bỏ. Do đó, một xã hội dân sự nào ngăn cấm những hiệp hội tư thì tự tấn công mình, bởi vì tất cả mọi xã hội, công hay tư, phát sinh từ một nguyên lý: tính xã giao tự nhiên của con người. (Rerum Novarum, n. 51 (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/tdnovumrerum.htm))

74. Trong sự sống xã hội, tất cả mọi quyền được ban cho một nhân vị do thiên nhiên, thì tạo nên một bổn phận nơi những kẻ khác, bổn phận nhìn nhận và tôn trọng quyền này. Tất cả mọi quyền cốt yếu của con người thật sự vay mượn quyền lực sai khiến của nó từ luật thiên nhiên, luật thiên nhiên này ban cho quyền đó và ra luật buộc tương ứng. Những kẻ muốn đòi hỏi quyền của mình, mà lại quên đi bổn phận mình hay chỉ chu toàn bổn phận cách bất toàn, thì liều mình phá đổ bằng một tay điều gì mình xây dựng bằng tay kia. (Pacem in Terris, n. 30)

admin
02-07-2006, 06:20 AM
75. Thật vậy, ngày nay phổ biến rộng rãi ý niệm bình đẳng tự nhiên của mọi người. Cho nên, ít ra trên lý thuyết, người ta không còn nghe sự thanh minh cho những kỳ thị chủng tộc. Đó là phản chiếu một giai đoạn quan trọng trên con đường đưa tới một cộng đồng nhân loại, được thiết lập trên nền tảng những nguyên lý chúng tôi đã nhắc tới. Bây giờ, vừa khi con người ý thức được các quyền của mình, thì tất nhiên nẩy ra trong con người ý thức những trách nhiệm tương ứng: con người phải phát huy các quyền riêng của mình, vì, trước hết, đó là bao nhiêu phát biểu về phẩm giá của mình, và tất cả những kẻ khác có trách nhiệm công nhận và tôn trọng những quyền này. (Pacem in Terris, n. 44)

76. Tất cả mọi người, đều có một tâm linh và được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nên có một bản tính và cùng một nguồn gốc ; hơn nữa vì được Chúa Kitô cứu chuộc nên họ đều được mời gọi như nhau và cùng hưởng chung một cùng đích nơi Thiên Chúa: càng ngày càng phải nhận thức sự bình đẳng căn bản giữa mọi người hơn. Dĩ nhiên mọi người không bằng nhau vì không có khả năng thể chất như nhau và những năng lực trí tuệ và tinh thần như nhau. Tuy nhiên phải vượt lên trên và loại bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, hoặc trong phạm vi xã hội hoặc trong phạm vi văn hoá, kỳ thị vì phái tính, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa. Do đó thực đáng buồn khi những quyền lợi căn bản của nhân vị cho đến nay vẫn chưa được bảo đảm toàn vẹn ở mọi nơi. Thí dụ, người ta không nhìn nhận phụ nữ có quyền tự do chọn lựa người chồng hay quyền tự do chọn lựa bậc sống, hoặc quyền được giáo dục và có văn hoá như nam giới. Hơn nữa, dù có những khác biệt chính đáng giữa con người với nhau, tuy nhiên nhân phẩm như nhau của mọi người cũng đòi hỏi người ta phải tiến tới mức sống nhân đạo hơn và xứng hợp với con người hơn. Thực vậy, những chênh lệch quá đáng về kinh tế và xã hội giữa những thành phần hay giữa những dân tộc trong cùng một gia đình nhân loại thực là những gương xấu và đi ngược với công bằng xã hội, lẽ phải, nhân phẩm và nền hoà bình xã hội cũng như quốc tế. Còn các tổ chức của con người hoặc tư hoặc công hãy nỗ lực phục vụ phẩm giá cũng như cứu cánh của con người, đồng thời hãy mạnh mẽ chống lại bất cứ hình thức nô lệ nào trên phương diện xã hội hay chính trị và bảo vệ những quyền lợi căn bản của con người trong bất cứ một chính thể nào. Hơn nữa, các tổ chức ấy còn phải dần dần phù hợp với những việc thiêng liêng là những việc cao cả hơn hết, dù đôi khi phải trải qua một thời gian khá lâu để đạt tới mục đích hằng mong mỏi đó. (Gaudium et Spes, n. 29 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes02.htm))

77. Cùng với sự giải phóng chính đáng nối liền với việc rao giảng tin mừng, chỉ muốn thực hiện những cấu trúc bảo tồn quyền tự do con người, người ta cần thiết phải bảo đảm tất cả những quyền cơ bản của con người, trong những quyền đó quyền tự do tôn giáo chiếm chỗ quan trọng hàng đầu. (Evangelii Nuntiandi, n. 39 (http://www.gpnt.net/thuvien/truyengiao/TMCD-THE-III.htm))

admin
02-07-2006, 06:25 AM
V. Tự do Tôn giáo

78. Thánh Công Đồng Vaticanô này tuyên bố con người có quyền tự do tôn giáo. Quyền tự do này hệ tại con người không bị lệ thuộc vào áp lực của cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào khác. Với ý nghĩa đó, trong lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, dù cho đó là hành động riêng tư hay công khai, một mình hay cùng với người khác, trong những giới hạn chính đáng. (Dignitatis Humanae, n. 2)

79. Chắc chắn sự hạn chế quyền tự do tôn giáo của những nhân vị và những cộng đồng, không những là một kinh nghiệm đau buồn cho họ, nhưng nó xúc phạm trước hết chính phẩm giá con người, chưa nói tới tôn giáo mà những nhân vị và những cộng đồng này tuyên xưng hay khái niệm của họ về thế giới. Sự hạn chế quyền tự do tôn giáo và sự xúc phạm tôn giáo là trái nghịch với phẩm giá con người và những quyền khách quan của con người… không chút nghi ngờ, trong trường hợp này chúng ta đang đứng trước một bất công hoàn toàn tác động đến những gì thật sâu xa trong con người, những gì là đích thực nhân bản. (Redemptoris Hominis, n. 17)

80. Không một uy quyền nhân loại nào có quyền can thiệp trong lương tâm của bất cứ ai. Lương tâm là chứng nhân cho sự siêu việt của nhân vị, ngay cả trước mặt xã hội, và trong tư cách đó, lương tâm không thể bị xúc phạm. Tuy nhiên, lương tâm không phải là một tuyệt đối phải đặt trên chân lý và sai lạc ; và cũng vậy, bản tính nội tại của nó giả thiết một tương quan với chân lý khách quan, phổ quát và bình đẳng cho mọi người, mà mọi người có thể và phải tìm kiếm. Trong tương quan này với chân lý khách quan, quyền tự do lương tâm gặp được sự biện minh của nó, tức là một điều kiện cần thiết để tìm chân lý xứng đáng với con người và là sự gắn bó với chân lý một khi người ta biết chân lý cách thích hợp. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1991, n. 1)

81. Cũng vậy nếu sứ vụ của chúng ta là loan báo những chân lý chắc chắn và một sự cứu rỗi cần thiết, thì sứ vụ ấy không thi hành bằng sự cưỡng ép bên ngoài, nhưng chỉ bằng những con đường hợp pháp của việc giáo dục nhân bản, của việc thuyết phục bên trong, của việc đàm thoại thông thường, sứ vụ ấy cung hiến ân huệ cứu rỗi của mình, luôn biết tôn trọng tự do nhân vị của những con người văn minh. (Ecclesiam suam, n. 75)

82. Trước hết, sự tự do tôn giáo là một đòi hỏi bất khả nhượng của mọi người, là một viên đá góc trong toà nhà các quyền nhân bản; cho nên, sự tự do tôn giáo là một nhân tố thiết yếu vì lợi ích của các nhân vị và của toàn thể xã hội, cũng như vì sự phát triển cá thể của mỗi người. Do đó mà đối với từng cá nhân và các cộng đồng, sự tự do tuyên xưng và thực hành tôn giáo mình là một yếu tố thiết yếu của việc sống chung hoà bình giữa những con người. Hoà bình, được xây dựng và củng cố trên tất cả mức độ sống chung, cơ bản dựa trên sự tự do và sự mở rộng lương tâm đón chân lý. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1988, Nhập đề)

83. Tất cả những vấn đề nhân linh được tranh cãi nhiều nhất và được giải quyết một cách khác biệt nhau, đều gắn liền với một vấn đề trọng yếu, là vấn đề tự do của con người.
Chắn hẳn rằng thời đại chúng ta đã đạt tới một cảm nhận hết sức mãnh liệt và bén nhạy về tự do. "Thời nay, phẩm giá con người là đối tượng của một ý thức ngày càng mãnh liệt", theo như Công Đồng đã nhận định trong tuyên ngôn Dignitatis Humanae về tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae, n. 1) Do đó mới có vấn đề đòi lại cho con người quyền được "hành động dựa theo những lựa chọn riêng tư của mình và trong tinh thần trách nhiệm tự do thật sự, không phải dưới sức ép của một cưỡng bức, nhưng được huớng dẫn bởi ý thức về bổn phận của mình" (Dignitatis Humanae, n. 1). Cách riêng, quyền tự do tôn giáo và tôn trọng lương tâm trong hành trình tiến đến chân lý ngày càng được cảm nhận như là nền tảng của các quyền lợi con người xét trong toàn thể (x. Redemtoris Hominis, n. 17 ; Libertatis Conscientia, n. 19). (Veritatis Splendor, n. 31)

admin
02-07-2006, 06:34 AM
CHƯƠNG BA
GIA ĐÌNH



I. Cơ Chế Gia Đình

84. Bởi vì Đấng Tạo Hoá đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người, nên gia đình trở thành "tế bào đầu tiên và sống động của xã hội" (Apostolicam Actuositatem, n. 11 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/apost03.htm)).

Gia đình có những liên hệ chặc chẽ và sống động với xã hội vì nó làm thành nền tảng cho xã hội và không ngừng tiếp sức cho xã hội bằng việc phục vụ sự sống: chính giữa lòng gia đình đã sinh ra các công dân và chính trong gia đình mà các công dân ấy lần đầu tiên thực tập các nhân đức xã hội, là linh hồn cho sinh hoạt và sự phát triển xã hội.

Như thế, vì bản chất và ơn gọi của nó, thay vì đóng khung trên chính mình, gia đình rộng mở ra với những gia đình khác và với xã hội, và chu toàn vai trò xã hội của mình. (Familiaris Consortio, n. 42 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_03.htm#fc42))

85. Cấu trúc cơ bản đầu tiên đối với "một sinh thái học nhân bản" là gia đình, trong lòng gia đình con người nhận lấy những khái niệm quyết định liên quan tới chân lý và sự thiện, trong gia đình con người học biết thế nào là yêu và được yêu và, do đó, làm thành một nhân vị cụ thể có nghĩa gì. Ở đây nói tới gia đình xây dựng trên hôn nhân, nơi sự hiến thân hõ tương của người nam và người nữ tạo ra một môi trường sống, trong đó đứa trẻ có thể sinh ra và phát huy các khả năng của mình, ý thức được phẩm gia của mình và chuẩn bị đối phó với vận mạng độc nhất và không thể thay thế của mình. Ngược lại, thường xảy ra việc con người không muốn thực hiện những điều kiện đích thực về việc sinh sản loài người, và con người đi tới chỗ tự coi mình và coi chính mạng sống mình như là một tổng thể những cảm giác để hưởng thụ chớ không như một công trình phải hoàn thành. Từ đó phát sinh sự thiếu tự do, bắt phủ nhận nhiệm vụ ràn buộc mình cách vững bền với một người khác và nhiệm vụ sinh con, hoặc là đưa tới chỗ xem con cái như một trong những "sự " nhiều này mà người ta có thể có hay không có tuỳ theo sở thích của mình, lại còn cạnh tranh với những sự có thể khác. Phải xem lại gia đình như là cung thánh sự sống. Thật vậy, gia đìng là thánh thiêng, nó là nơi mà sự sống, hồng ân của Thiên Chúa, có thể được tiếp nhận cách xứng hợp và được bảo vệ khỏi nhiều cuộc tấn công nó phải chịu đựng, gia đình là nơi sự sống có thể phát triển theo những yêu sách thuộc sự lớn mạnh nhân bản đích thực. Đôi với điều người ta gọi là văn hoá sự chết, gia đình là nơi phát sinh văn hoá sự sống … (Centesimus Annus, n. 39)

86. Nhưng con người chỉ sống trong môi trường xã hội của mình, nơi gia đình giữ một vai trò chính. Vai trò này có thể thái quá, tuỳ những thời gian và không gian, khi nó được thực thi có hại cho những tự do cơ bản của nhân vị. Thường quá thẳng nhặc và kém tổ chức, những khung cảnh xã hội trong các xứ đang phát triển vẫn còn cần thiết trong một thời gian, tuy nhiên phải nới lỏng từ từ ảnh hưởng quá đáng của nó. Nhưng gia đình tự nhiên, một vợ một chồng và bền vững, như Thiên Chúa đã ấn định và kitô giáo đã thánh hoá, phải là "nơi gặp gỡ của nhiều thế hệ giúp nhau đạt được một sự khôn ngoan rộng lớn hơn và điều hoà các quyền nhân vị với những yêu sách khác thuộc đời sống xã hội" (GS nn 50-51 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01b.htm)) (Populorum progressio, n. 36)

87. Ở trong "dân của sự sống và vì sự sống", trách nhiệm của gia đình có tính quyết định: đóù là một trách nhiệm xuất phát từ chính bản tính của nó - là làm nên một cộmg đồng sự sống và tình yêu, xây dựng trên hôn nhân - và từ sứ vụ phải "giữ gìn, mặc khải và thông truyền tình yêu" (Familiaris Consortio, n. 17 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_03.htm#fc17)). Chính tình yêu của Thiên Chúa mà cha mẹ là những kẻ đuợc kêu mời hợp tác và giải thích qua sự truyền thông sự sống và trong việc giáo dục, theo ý định của Cha (x. GS n. 50 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01b.htm)) (Evangelium vitae, n. 92)

88. Là hạch nhân đầu tiên của xã hội, gia đình có quyền được hưởng mọi sự nâng đỡ của Nhà Nước để hoàn thành đầy đủ sứ vụ riêng của mình. Những luật pháp của Nhà Nước như thế, phải được diễn đạt cách nào để có thể khuyến khích những điều kiện sống tốt cho gia đình, giúp gia đình chu toàn những trách nhiệm riêng mình. Trước cơn cám dỗ ngày nay vẫn mãnh liệt để hợp thức hoá, như điều thay thế cho sự phối hợp hôn nhân, những hình thức phối hợp mà, do bản tính của chúng và đặc tính tạm bợ của chúng, không thể nào biểu lộ ý nghĩa gia đình cũng không bảo đảm lợi ích của nó, thì một trong những bổn phận đầu tiên của Nhà Nước là khuyến khích và bảo vệ qui chế gia đình đích thực, tôn trọng gương mặt tự nhiên cũng như những quyền bẩm sinh và không thể thay thế của nó. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1994, n. 5)

admin
02-07-2006, 06:43 AM
II. Hôn Nhân

89. Theo ý định của Thiên Chúa, hôn nhân là nền tảng cho một cộng đoàn rộng lớn hơn, tức là gia đình, vì chính cơ chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng đều qui hướng về việc truyền sinh và giáo dục con cái là triều thiên của cơ chế và tình yêu ấy x. GS n, 50 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01b.htm)) (Familiaris Consortio, n. 14 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_02.htm#fc14))

90. Theo ý định của Thiên Chúa, phái tính hướng về tình yêu vợ chồng. Trong hôn nhân, ái ân trở thành dấu chỉ và bảo đảm của sự hiệp thông tinh thần. Giữa hai tín hữu, dây liên kết hôn nhân được thánh hoá bằng bí tích.

"Nhờ khả năng tình dục, người nam và người nữ hiến thân cho nhau qua những hành vi dành riêng cho vợ chồng. Tình dục không chỉ là hành vi sinh lý, nhưng liên can đến những điều thâm sâu nhất của nhân vị. Tính dục chỉ thực sự xứng đáng với con người, khi nó là thành phần không thể thiếu của tình yêu giữa người nam và người nữ đã cam kết hiến thân cho nhau trọn vẹn suốt đời" (Familiaris Consortio, n. 11 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_02.htm#fc11))

Những hành vi thực hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của đôi vợ chồng đều cao quí và chính đáng. Được thi hành cách thật sự nhân linh, những hành vi ấy biểu hiện và khích lệ sự hiến thân cho nhau nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong hoan lạc và biết ơn (GS, n. 49 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01b.htm)). Khả năng sinh dục là nguồn vui và khoái lạc:

"Chính Đấng Sáng Tạo…. đã muốn rằng trong nhiệm vụ truyền sinh đôi vợ chồng cảm thấy một sự vui thú và thoả mãn nơi thân xác và tinh thần. Vì vậy vợ chồng chẳng làm điều gì xấu xa khi tìm kiếm và tận hưởng sự khoái lạc đó. Họ đón nhận những gì Đấng Sáng Tạo đã ban cho. Tuy nhiên, họ phải biết giữ tiết độ" (Piô XII, diễn văn 29 Oct 1951).

Nhờ sự kết hợp của vợ chồng, hai mục đích của hôn nhân được thực hiện: lợi ích của chính đôi vợ chồng và lưu truyền sự sống. Không thể tách rời hai ý nghĩa hoặc hai giá trị này của hôn nhân mà không làm biến chất đời sống tinh thần của vợ chồng cũng như phương hại đến lọi ích của hôn nhân và tương lai của gia đình. Như thế tình yêu vợ chồng đòi hỏi người nam và người nữ phải chung thuỷ vừa phải sẵn sàng đón nhận con cái. (CEC nn. 2360-2363)

91. Đấng Tạo Hoá đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung này được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại. Như vậy bởi một hanh vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa. Vì lợi ích của lứa đôi, của con cái và của xã hội, nên sợi dây liên kết thánh thiện này không lệ thuộc sở thích của con người. Chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau; những điều ấy hết sức quan trọng đối với sự tiếp nối nhân loại, sự phát triển cá nhân và phần rỗi đời đời của mỗi thành phần trong gia đình, quan trọng đối với phẩm giá, sự vững chắc, an bình và thịnh vượng của chính gia đình và của toàn thể xã hội loài người. Tự bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi qui hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh diễm phúc của hôn nhân. Như thế, bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ "không còn là hai, nhưng là một xương thịt" (Mt 19, 6), phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày đầy đủ hơn. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly. (Gaudium et Spes, n. 48 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01b.htm))

92. Một sự chia sẻ nào đó quyền lãnh chúa của Thiên Chúa cũng biểu lộ qua trách nhiệm riêng biệt được phó thác cho con người đối với sự sống thật sự nhân bản. Đó là một trách nhiệm đạt chóp đỉnh khi người nam và người nữ, trong hôn nhân, sinh ra sự sống, như Công đồng Vatican II nhắc nhở :"Chính Thiên Chúa đã phán " Người đàn ông ở một mình không tốt" (St 2,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18&FontSize=Txt10)) và ngay từ đầu Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ (Mt 19, 4), đã muốn cho phép con người tham gia đặt biệt trong công trình sáng tạo; nên Chúa đã chúc phúc người nam và người nữ: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều" (St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:28&FontSize=Txt10))" (GS n. 50 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01b.htm)). Khi nói tới "một sự chia sẻ đặt biệt của người nam và người nữ vào "công trình sáng tạo của Chúa, Công Đồng muốn nhấn mạnh rằng sinh ra một đứa con là một biến cố nhân linh sâu xa và có tính tôn giáo cao, bởi vì việc sinh ra đó bao hàm đôi vợ chồng đã trở thành một xương thịt" (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10)), và cùng một lúc, chính Chúa, qua sự hiện diện của Người. (Evangelium vitae, n. 43)

admin
02-07-2006, 06:46 AM
III. Con Cái và Cha Mẹ

93. Khi vợ chồng kết hợp sinh một con người mới, con người mói đó mang vào thế giới với mình một hình ảnh của Chúa và một sự giống đặc biệt với Chúa: trong sinh học về sự sinh sản có ghi chép gia phả của nhân vị.
Khi khẳng định rằng vợ chồng, vói tư cách là cha mẹ, là những cọng sự viên của Chúa Sáng Tạo trong việc thụ thai và sinh một hữu thể nhân linh mới, chúng ta không chỉ quy chiếu về những luật sinh học; nói đúng hơn, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng trong tình phụ tử và mẫu tử nhân linh, chính Chúa hiện diện theo một cách thức khác với điều gì xảy ra trong bất cứ việc sinh sản nào khác "trên trái đất". Thật vậy, chỉ từ Chúa mới có thể có "hình ảnh " này, sự "giống " này, là điều riêng biệt cho hữu thể nhân linh, như điều đó xảy ra trong việc sáng tạo. Sinh sản là sự tiếp tục sáng tạo. (Gratissimam Sane, n. 9 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/thugiadinh.htm))

94. Khi biểu lộ tình cha của Thiên Chúa và sống lại tình cha ấy trên mặt đất này (Ep 3, 15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep 3:15&FontSize=Txt10)), người nam được mời gọi đứng ra bảo đảm sự phát triển thống nhất của mọi thành phần trong gia đình. Để chu toàn trách vụ này, ông cần phải quảng đại lãnh lấy trách nhiệm đối với sự sống được thai nghén trong lòng người mẹ, canà phải chú tâm chia sẻ cố gắng giáo dục con cái với vợ mình (x. GS, n. 52 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01b.htm)), công việc ấy sẽ không bao giờ làm chia rẽ gia đình, nhưng làm cho gia đình được vững mạnh trong sự hiệp nhất và ổn định, nên một lời chứng về đời sống kitô hữu trưởng thành để hướng dẫn con cái vào trong kinh nghiệm sống động về Chúa Kitô và về Hộiä Thánh một cách hữu hiệu hơn. (Familiaris Consortio, n. 25 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_03.htm#fc25))

95. Chắc chắn rằng sự bình đẳng về phẩm giá và trách nhiệm giữa người nam và người nữ đủ biện minh cho người nữ dấn thân vào các vai trò xã hội. Đàng khác, muốn thật sự đề cao phẩm giá phụ nữ, thì cũng cần phải nhìn nhận rõ ràng vai trò làm mẹ và lo việc gia đình của phụ nữ có giá trị so với tất cả những vai trò công cộng và tất cả những chức nghiệp khác. Sau nữa cũng còn cần phải làm sao để tất cả những vai trò và những chức nghiệp ấy đuợc liên kết chặc chẽ với nhau, nếu người ta muốn cho sự phát triển xã hội và văn hoá được nhân bản thật sự và trọn vẹn. (Familiaris Consortio, n. 23 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_03.htm#fc23))

admin
02-07-2006, 07:13 AM
IV. Gia đình, Giáo dục và Văn hoá

96. Bổn phận giáo dục bắt nguồn từ trong ơn gọi đầu tiên của đời bạn là dự phần công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa: khi sinh ra một ngôi vị mới trong tình yêu và do tình yêu, một ngôi vị mang sẵn trong mình ơn gọi phải lớn lên và phát triển, bậc cha mẹ cũng từ đó mà lãnh nhận bổn phận phải giúp đỡ hữu hiệu cho ngôi vị ấy được sống một đời sống nhân bản trọn vẹn. Như Công đồng Vatican II đã nhắc lại: "Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng phải giáo dục chúng, và vì thế, họ phải đươc coi là những nhà giáo đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trị giáo dục này quan trọng đến nổi nếu thiếu sót sẽ khó lòng bổ khuyết được. Thật vậy chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đình một bầu khí thấm nhuần tình yêu cũng như lòng thành kính đối với Thiên Chúa va tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện của con cái họ trong đời sống cá nhân và xã hội được dễ dàng. Do đó gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội mà khơng một đoàn thể nào khác có thể vượt qua được." (Gravissimum Educationis, n. 3 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/education.htm)). Vì cha mẹ đã sinh ra con cái nên quyền và bổn phận giáo dục là một điều nằm trong yếu tính của họ; vì tương quan giữa họ với con cái là một tình yêu thương khơng thể thay thế được, nên quyền và bổn phận giáo dục của họ có tính cách độc đáo và cơ bản so với bổn phận giáo dục của những người khác, đó cũng là một cái gì không thể thay thế và không thể chuyển nhượng được, cho nên cũng khơng thể khoán trắng cho người khác hay bị người khác cưỡng đoạt. (Familiaris Consortio, n. 36 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_03.htm#fc36))

97. Cũng giống như xã hội dân sự, gia đình, Chúng tôi đã nói trên, là một xã hội thật sự, có uy quyền riêng, tức là uy quyền phụ tử. Cho nên, điều mãi chắc chắn là trong phạm vi do mục đích trực tiếp của nó quyết định, gia đình hưởng được những quyền ít ra bằng các quyền của xã hội dân sự, đối với sự lựa chọn và sử dụng tất cả những gì cần cho sự bảo tồn thân nó và cho việc thực thi một sự tự trị chính đáng. Ít ra bằng, chúng tôi nói, bởi vì xã hội gia đình so với xã hội dân sự chiếm một sự ưu tiên logic và một sự ưu tiên thực tế, cần cho các quyền lợi và các bổn phận của nó. Nếu các công dân, nếu các gia đình đi vào trong xã hội nhân linh mà gặp ở đó, thay vì một sự nâng đỡ, lại là một sự ngăn trở, thay vì một cuộc bảo vệ, lại là sự suy giảm các quyền của họ, thì xã hội đó đáng quăng đi hơn là tìm kiếm. (Rerum Novarum, n. 13 (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/tdnovumrerum.htm))

98. Vai trò xã hội của gia đình chắc chắn không thể giới hạn vào việc truyền sinh và giáo dục, cho dầu hai công việc này là hình thức đầu tiên không thể thay thế được để diễn tả vai trò ấy. Gia đình dầu biệt lập hay kết thành hiệp hội, đều có thể và phải dấn thân cho nhiều công cuộc phục vụ xã hội, cách riêng là lo cho những người nghèo, và trong mọi trường hợp lo cho những người và những tình cảnh mà các tổ chức từ thiện và cứu tế công cộng không thể lo hết được. Sự đóng góp xã hội của gia đình có cái độc đáo riêng mà càng ngày người ta càng thấy rõ và càng phải tích cực cổ võ nhiều hơn, nhất là khi con cái bắt đầu lớn dần, để làm cho tất cả mọi thành phần trong gia đình đều tham gia hết sức có thể. (Familiaris Consortio, n. 44 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_03.htm#fc44))

99. Đây là một sai lầm nghiêm trọng và tai hại khi quyền bính dân sự muốn tự tiện thâm nhập cho tới cung thánh gia đình. Chắc chắn, nếu có một gia đình lâm vào cảnh khốn đốn về vật chất và vì thiếu các nguồn lợi, gia đình ấy không thể nào tự mình thoát ra khỏi được, thì điều chính đáng là, trong những lúc tận số như vậy, công quyền phải ra tay giúp đỡ gia đình đó bởi vì mỗi gia đình là một thành phần xã hội. Cũng vậy, nếu một gia đình có phần nào là kịch trường diễn xuất những vi phạm nặng nề các quyền lẫn nhau, thì buộc công quyền tái lập ở đó quyền của mỗi người. Làm như vậy không phải giẫm chân trên các quyền người công dân, nhưng bảo đảm cho họ một sự bênh vực và một sự bảo vệ theo phép công bằng. Nhưng, tất cả những ai nắm giữ công quyền phải dừng lại tại đây; thiên nhiên cấm họ vượt quá những giới hạn này. (Rerum Novarum, n. 14 (http://www.gpnt.net/thuvien/hocthuyetxahoi/tdnovumrerum.htm))

admin
02-07-2006, 07:13 AM
100. Bên trong "dân của sự sống và vì sự sống", trách nhiệm của gia đình là quyết định; đó là một trách nhiệm xuất phát từ chính bản tính của nó - bản tính đó là làm nên một cộng đồng sự sống và tình yêu, xây dựng trên hôn nhân - và từ sứ vụ của nó là "giữ gìn, mặc khải và truyền thông tình yêu" (Familiaris Consortio, n. 17 (http://www.gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_03.htm#fc17)). Đây chính xác là chính tình yêu của Chúa, mà cha mẹ là những người cộng tác và giải thích trong việc truyền thông sự sống và trong việc giáo dục, theo chương trình của Cha (x. GS, n. 50 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes01b.htm)). Như vậy đó là một tình yêu cho nhưng không, đón nhận, hiến thân: trong gia đình, mỗi người được nhìn nhận, tôn trọng và kính nể bởi vì họ là một nhân vị, và, nếu có ai có những nhu cầu hơn, thì sự chú ý và những chăm sóc đối với họ phải nhiều hơn.

Gia đình đóng một vai trò bao lâu các thành phần của mình hiện hữu, từ lúc sinh ra cho đến chết. Gia đình thực sự là "cung thánh của sự sống, nơi mà sự sống, hồng ân Thiên Chúa, có thể được đón nhận và bảo vệ cách xứng hợp khỏi nhiều cuộc tấn công nó phải đương đầu, gia đình là nơi sự sống có thể phát triển theo các yêu sách của sự lớn lên nhân bản đích thực" (CA, n. 39). Do đó vai trị của gia đình có tính quyết định và không thể thay thế để xây dựng văn hoá sự sống.

Vì là Giáo Hội tại gia, gia đình có ơn gọi loan truyền, cử hành và phục vụ Tin Mừng sự sống. Đó là một sứ vụ liên can trước hết đến các đôi vợ chồng, được kêu gọi lưu truyền sự sống, luôn ý thức về ý nghĩa của sự sinh sản, bởi sự sống là một biến cố đặc biệt chúng tỏ sự sống nhân linh là một hồng ân đã được nhân lãnh thì tới phiên nó cũng phải được ban tặng. Trong việc tạo ra một sự sống mới, cha mẹ hiểu rằng đứa con, "nếu là hoa quả của việc họ tự dâng hiến cho nhau tình yêu, về phần nó, trở nên một hồng ân cho cả hai: một hồng ân phát sinh từ một hồng ân" (Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Hội Thảo của các Giám Mục Âu Châu, 1989, n. 5). (Evangelium Vitae, n. 92)

101. Tin Mừng sự sống nằm trong trung tâm sứ điệp của Chúa Giêsu. Được Giáo Hội đón nhận hằng ngày với tình yêu, Tin Mừng ấy phải được rao giảng với lòng can đảm và trung thành như là một Tin Mừng cho con người của mọi thời đại và mọi văn hoá.

Thời rạng đông của ơn cứu chuộc, một con trẻ sinh ra, sự sinh ra đó được loan báo như một Tin Mừng: "Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng là Tin Mừng cho toàn dân: hôm nay một Đấng Cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavid" (Lc 2,10-11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc 2:10-11&FontSize=Txt10)). Đã hẳn, cuộc hạ sinh của Đấng Cứu Thế đã giải ra "niềm vui lớn" này, ngày Noel, ý nghĩa đầy đủ của mọi sự sinh ra nhân linh cũng được mặc khải như vậy, và như thế niềm vui cứu thế xuất hiện như là nền tảng và sự viên mãn của niềm vui đi theo sự sinh ra của mọi đứa con (Ga 16,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 16:21&FontSize=Txt10)).

Chúa Giêsu biểu lộ điều ở tận trung tâm sứ vụ cứu chuộc của Người khi nói: "Phần tôi, tôi đến, để cho chiên được sống và sống dồi dào" (Ga 10, 10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga 10:10&FontSize=Txt10)). Trên thực tế, Chúa muốn nói về sự sống "mới" và "muôn đời", đó là sự hiệp thông với Chúa Cha, mọi người được kêu gọi sống sự hiệp thông đó nhờ ân sủng trong Chúa Con, bởi tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng Thánh Hoá. Chính xác trong sự sống này mà các phương diện và những giai đoạn sống của con người, tất cả đều đạt được sự viên mãn của chúng. (Evangelium Vitae, n. 1)

admin
02-07-2006, 07:21 AM
V. Đặc Tính Thánh Thiêng của Sự Sống Nhân Linh

102. Sự sống con người đến từ Thiên Chúa, đó là một hồng ân của Chúa, là hình ảnh và là dấu ấn, là sự chia sẻ hơi thở sống động của Người. Như vậy Thiên Chúa là Chúa duy nhất của sự sống này: con người không thể định đoạt nó. Chính Chúa đã lặp lại với ông Noê sau đại hồng thuỷ: "Nhưng Ta sẽ đòi mỗi người phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi: Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình" (St 9,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 9:5&FontSize=Txt10)). Và bản văn Kinh Thánh để ý nhấn mạnh rằng đặc tính thánh thiêng của sự sống có nền tảng trong Chúa và trong hành động sáng tạo của Người: "Vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa" (St 9,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 9:6&FontSize=Txt10)). (Evangelium Vitae, n. 39)

103. "Sự sống nhân linh là thánh thiêng bởi vì, ngay từ đầu, nó bao hàm "hành động sáng tạo của Chúa" và vẫn luôn giữ một sự quan hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hoá, cùng đích duy nhất của mình. Chỉ một mình Chúa là Chủ sự sống từ lúc nó khởi đầu cho đến lúc kết thúc; không ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào, có thể đòi cho mình quyền được trực tiếp huỷ diệt một hữu thể nhân bản vô tội". Bằng những lời nói đó, Huấn thị Donum Vitae (n. 7) trình bày nội dung trọng tâm mặc khải của Chúa về đặc tính thánh thiêng và về sự bất khả xâm phạm của sự sống con người. (Evangelium Vitae, n. 53)

104. Tính bất khả xâm phạm của ngôi vị phản ánh tính tuyệt đối bất khả xâm phạm của chính Thiên Chúa, được biểu lộ trước tiên và căn bản nơi bản tính bất khả xâm phạm cuộc sống con người. Dĩ nhiên, thật chính đáng khi nói đến những quyền của con người, chẳng hạn, quyền được khoẻ mạnh, quyền cư trú, quyền được lao động, có gia đình, được giáo dục … nhưng thật sai lầm, - ngày nay người ta thường lẫn lộn như thế - khi nói đến quyền con người mà lại không cương quyết bảo vệ quyền được sống như là quyền đầu tiên, nguồn gốc và là điều kiện của các quyền khác.

Giáo Hội không bao giờ chấp nhận những vi phạm quyền sống là quyền của mọi người, quyền này đã và đang bị xúc phạm do tư nhân hay do chính các nhà cầm quyền. Chủ thể của quyền này là con người, trong suốt quá trình phát triển của nó, từ khi hình thành trong bào thai cho đến khi chết theo tự nhiên, và trong mọi tình trạng, dù đau yếu hay mạnh khoẻ, què quặt hay bình thường, giàu có hay nghèo khổ. (Christifideles Laici, n. 38 (http://gpphucuong.net/vankien/tonghuan.htm))

105. Khi ưu ái và quảng đại đón nhận sự sống, nhất là khi sự sống đó yếu ớt và bịnh tật, Giáo Hội đang sống một giai đoạn trọng đại trong sứ vụ của mình, còn cần thiết hơn nữa khi nền "văn hoá sự chết" đang lan tràn. Thật vậy Giáo Hội tin tưởng chắc chắn rằng sự sống con người, dù có yếu ớt hay đầy đau khổ, vẫn luôn luôn là một hồng ân của Thiên Chúa tốt lành. Chống lại sự bi quan và ích kỷ đang che mờ thế giới, Giáo Hội ủng hộ sự sống, và trong mỗi sự sống con người Giáo Hội biết khám phá nét cao đẹp của tiếng "Vâng", của tiếng "Amen" là Đức Kitô (x. 2 Cr 1,19; Kh 3,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=2 Cr 1:19 ; Kh 3:14&FontSize=Txt10)). Đối nghịch với tiếng "không" đang tràn ngập và làm cho thế giới ảm đạm, Giáo Hội đưa ra tiếng "Vâng" sống động, bênh vực cho con người và thế giới chống lại những kẻ đang đe doạ và làm tổn thương đến cuộc sống (Familiaris Consortio, n. 30 (http://gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/familiarisconsortio_03.htm#fc30)). Người giáo dân do ơn gọi hay do nghề nghiệp có trách nhiệm trực tiếp hơn phải đón nhận sự sống, cụ thể hoá và hữu hiệu hoá tiếng "Vâng" của Giáo Hội đối với sự sống con người. (Christifideles Laici, n. 38 (http://gpphucuong.net/vankien/tonghuan.htm))

106. Lý trí chứng thực rằng có thể có những đối tượng của hành vi nhân linh mà xem ra "không thể phối trí để hướng về" Thiên Chúa, bởi vi tự căn rễ chúng mâu thuẫn với sự thiện của con người xét như là được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Đó chính là những hành vi mà, trong truyền thống luân lý của giáo Hội, người ta gọi là "xấu xa tự bên trong" (intrinsece malum): chúng là xấu luôn luôn và do tự nơi chúng, nghĩa là do chính đối tượng của chúng, không tuỳ thuộc vào những ý hướng về sau của người hành động và của hoàn cảnh. Do bởi sự kiện này, dầu không hề phủ nhận tầm ảnh hưởng của hoàn cảnh và nhất là do ý hướng, Giáo Hội luôn dạy rằng "có những hành vi luôn luôn là không được phép, do chính chúng và tự nơi chúng, chớ không tuỳ thuộc hoàn cảnh, mà là không được phép một cách nghiêm trọng, do bởi đối tượng của chúng" (Reconciliatio et Paenitentia, n. 17). Trong khuôn khổ của sự tôn trọng nhân vị, Công Đồng Vatican II đã khai triển một cách rộng rãi về vấn đề các hành vi này: "Tất cả những gì đối chọi lại với chính sự sống, ví dụ như mọi hành vi giết người, diệt chủng, phá thai, giết chết êm dịu và kể cả tự tử có suy tính; tất cả những gì xâm phạm đến sự toàn vẹn của ngôi vị con người, như cắt bỏ một phần cơ thể, tra tấn thể lý hoặc tinh thần, cưỡng bức tâm lý; tất cả những gì xúc phạm đến phẩm giá của con người, như những điều kiện sống thấp kém, giam cầm vô cớ, đày ải, nô lệ, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em; hoặc còn như những điều kiện lao động tồi tệ hạ thấp các công nhân xuống ngang hàng với công cụ đổi chác, không coi trọng nhân cách tự do và hữu trách của họ: tất cả những việc thực hành ấy và những việc thực hành tương tự khác hiểu theo nghĩa loại suy đều thật sự là vô luân. Chẳng những làm băng hoại nền văn minh, những thực hành ấy còn làm mất danh giá của những kẻ chủ động hơn là của những người nhận chịu, chúng lăng mạ một cách trầm trọng phẩm vị của Tạo Hoá" (GS n. 27 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/spes02.htm)). (Veritatis Splendor, n. 80)

admin
02-07-2006, 07:24 AM
VI. Nạn Phá Thai và Làm Chết Êm Dịu

107. Sự sống nhân linh nằm trong hoàn cảnh hết sức bất ổn khi nó đi vào trong thế giới và khi nó ra ngoài thời gian để đi vào cõi đời đời. Lời Chúa không thiếu những sự mời mọc phải chăm sóc và tôn trọng sự sống, nhất là đối với sự sống mang bệnh hoạn và già yếu. Nếu không có những sự mời trực tiếp và minh nhiên phải bảo toàn sự sống từ đầu, cách riêng sự sống chưa sinh ra, cũng như sự sống sắp chấm dứt, thì điều đó được giải thích dễ dàng vì cả đến khả năng xúc phạm, tấn công, hay, tệ hơn, phủ định sự sống trong những hoàn cảnh thể ấy, vẫn là xa lạ đối với những viễn tượng tôn giáo và văn hoá của dân Chúa' (Evangelium Vitae, n. 44).

108. "Không có gì cũng không có ai có thể cho phép giết một hữu thể nhân linh vô tội, thai nhi hay phôi thai, trẻ em hay người lớn, người già, người bịnh bất trị hay đang hấp hối. Không ai có thể van nài cử chỉ giết người này cho mình hay cho một kẻ khác được giao phó cho mình chăm sóc, cũng không nên nghĩ tới điều đó, cách minh nhiên hay không. Không một quyền bính nào có thể áp đặt cách hợp pháp việc giết người hay ban phép đi nữa. (Jura et Bona, n. 2)

109. Do đó, với thẩm quyền Chúa Kitô ban cho Phêrô và những kẻ Kế Vị ngài, trong sự hiệp thông với tất cả các Giám Mục Giáo Hội Công Giáo, tôi khẳng định rằng giết trực tiếp và hữu ý một hữu thể nhân linh vô tội, là việc làm phi luân luôn luôn trầm trọng. Giáo lý này, dựa trên luật pháp không viết ra, nhưng tất cả mọi người khám phá ra nó trong tâm lòng mình dưới ánh sáng của lý trí (x. Rm 2,14-15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm 2:14-15&FontSize=Txt10)), giáo lý đó được xác nhận lại bởi Kinh Thánh, được truyền thông qua Truyền Thống Giáo Hội và được răn dạy bởi Huấn Giáo thông thường và phổ quát. (Evangelium Vitae, n. 57)

110. Tôi muốn gởi một tư tưởng cách riêng đến các chị em, những phụ nữ phải cậy đến sự phá thai. Giáo Hội biết có nhiều nguyên nhân đã có thể đè nặng trên quyết định của các chị em, và Giáo Hội không nghi ngờ rằng, trong nhiều trường hợp, quyết định đó gây nên đau đớn và có khi bi đát. Có lẽ vết thương trong linh hồn các chị em chưa lành lặn. Trên thực tế, điều đã xảy ra đã là và vẫn là bất chính cách sâu xa. Nhưng chị em đừng có ngã lòng và đừng mất hy vọng. Chị em nên hiểu biết điều gì đã xảy ra và giải thích điều đó theo chân lý thì hơn. Nếu chị em chưa làm, thì chị em nên lấy lòng khiêm nhượng và tin cậy mà sám hối: Người Cha giàu lòng thương xót đợi chờ chị em để tha thứ chị em và ban bình an cho chị em trong bí tích Hoà Giải. Chị em sẽ thấy rằng không gì bị mất mát và chị em cũng có thể xin lỗi đứa con của chị em từ nay sống trong Chúa. Với sự trợ giúp của những lời khuyên bảo và của những bạn bè kinh nghiệm hiện diện, chị em có thể là thành viên của những người bênh vực xác tín nhất về quyền của mọi người đối với sự sống, bằng chứng từ đau đớn của chị em. Qua sự cam kết của chị em phò sự sống, hoặc bằng cách chấp nhận sinh ra những đứa con khác, hoặc bằng cách tiếp nhận và chăm sóc những ai đang cần kíp có người ở gần họ, chị em sẽ cố gắng thiết lập một cách thức mới mẻ giúp quí trọng sự sống con người. (Evangelium Vitae, n. 99)

admin
02-07-2006, 07:26 AM
VII. Án Tử Hình

111. "Tự vệ chính đáng không những là một quyền, nhưng còn là một trọng trách đối với người có trách nhiệm bảo vệ mạng sống kẻ khác. Việc bảo vệ công ích đòi phải đặt kẻ xâm phạm bất chính vào tình trạng không thể tác hại. Vì lý do này, những nhà chức trách hợp pháp có quyền sử dụng cả đến vũ khí để ngăn chận những kẻ xâm phạm đến cộng đồng dân sự được uỷ thác cho mình" (Saint Thomas d' Aquin, STh, II-II, 64, 7).

Bổn phận bảo vệ ích chung đòi buộc Nhà Nước phải nỗ lực ngăn chận các vi phạm về nhân quyền và về những quy tắc cơ bản cho cuộc sống chung của công dân khỏi lan tràn, đáp ứng bổn phận bảo vệ ích chung đòi hỏi. Nhà hữu trách hợp pháp có quyền và bổn phận đề ra hình phạt cân xứng với tội phạm. Mục đích đầu tiên của hình phạt là đền bù lại những thiệt hại do lỗi lầm gây ra. Nếu phạm nhân tự nguyện chấp nhận thì hình phạt có giá trị đền tội. Ngoài việc bảo vệ trật tự công cộng và an ninh cho mọi người, hình phạt còn có mục đích chữa trị: trong mức độ có thể được, hình phạt phải góp phần cải hoá phạm nhân (CEC nn 2265-2266)

112. Trong viễn ảnh này, cũng phải đặt ra vấn đề án tử, đối với án tử người ta ghi nhận, trong Giáo Hội cũng như trong xã hội dân sự, một khuynh hướng ngày càng tăng là phải áp dụng án này rất hạn chế, có khi đòi phải bỏ hẳn. Phải đặt vấn đề này trở lại trong khuôn khổ một bản án hình sự luôn luôn xứng hơn với phẩm giá con người và như vậy, xét cho cùng, hợp với ý định của Chúa đối với con người và xã hội. Trên thực tế, hình phạt xã hội tuyên phạt "phải sinh hiệu quả trước tiên là đền bù thiệt hại do tội mang vào" (CEC, n. 2266).

Những công quyền phải mạnh tay trước sự vi phạm các quyền nhân vị và xã hội, bằng cách bắt người có tội phải đền bù tương xứng với tội, điều kiện để được nhận lại cho hưởng quyền tự do. Theo chiều hướng này, quyền bính cũng đạt được chủ đích là bảo vệ trật tự công cộng và sự an ninh cho nhân vị, "còn mang lại cho kẻ tội phạm một kích thích và một sự giúp đỡ để sửa mình và cải hoá" (CEC, n. 2266).

Chính vì để đạt được tất cả những cứu cánh này, điều rõ ràng là mức độ và tính chất hình phạt phải được lượng giá và quyết định kỹ càng, và không nên đưa tới biện pháp tột cùng là tiểu trừ tội phạm, nếu không phải là gặp trường hợp cần thiết tuyệt đối, khi việc bảo vệ xã hội không thể cho phép làm khác hơn. Nhưng, ngày nay, vì chế độ hình sự được tổ chức luôn luôn hiệu nghiệm hơn, nên những trường hợp này khá hiếm, nếu không phải là không hiện hữu trên thực tế. (Evangelium Vitae, n. 56)

113. Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh không loại trừ án tử hình, khi đã xác minh đầy đủ căn tính và trách nhiệm của phạm nhân, nếu đây là biện pháp khả thi duy nhất để bảo vệ hữu hiệu mạng sống con người khỏi bị xâm phạm bất chính. Tuy nhiên, nếu các phương tiện nhân đạo hơn cũng đủ để bảo vệ an ninh con người khỏi bị xâm phạm, nhà cầm quyền phải dùng những phương tiện này, vì đáp ứng hơn với những hoàn cảnh cụ thể của công ích và phù hợp hơn với phẩm giá con người. Thực ra, ngày nay, vì Nhà Nước có nhiều cách để chế ngự hữu hiệu tội ác, làm cho kẻ đã phạm tội không còn khả năng tác hại, không dứt khoát tước đoạt khả năng hối cải của họ, nên những trường hợp tuyệt đối phải khử trừ phạm nhân "từ nay khá hoạ hiếm, nếu không muốn nói là thực tế không còn nữa". (CEC, n. 2267)

admin
02-07-2006, 07:32 AM
VIII. Phẩm Giá Người Nữ

114. Chắc chắn còn nhiều việc phải làm để cho hoàn cảnh của người nữ và của người mẹ không sinh ra một kỳ thị nào, Điều khẩn cấp là phải đạt cho được ở khắp nơi sự bình đẳng hữu hiệu các quyền của nhân vị và do đó, sự đồng đều mức lương cho một việc làm ngang nhau, việc bảo vệ các bà mẹ lao động, một sự thăng tiến công bằng trong nghề, sự bình đẳng vợ chồng trong quyền gia đình, việc công nhận tất cả những gì liên hệ với các quyền và các bổn phận của người công dân trong một chế độ dân chủ. Đó là một hành vi công bằng, mà cũng là cần thiết. Trong chính sách cho tương lai, người nữ sẽ luôn luôn dính líu trong các vấn đề trầm trọng đang bàn cãi ngày nay; thời gian rảnh rỗi, bản chất của sự sống, những cuộc di dân, những dịch vụ xã hội, sự làm chết êm dịu, ma tuý, sức khoẻ và những chăm sóc, sinh thái học, v.v... trong tất cả những lãnh vực này, sự hiện diện xã hội đầy nghị lực hơn của người nữ tỏ ra là quí giá, vì sự hiện diện đó góp phần biểu lộ những mâu thuẫn của một xã hội tổ chức chỉ theo những tiêu chuẩn của hiệu lực và sản xuất, mà còn bắt phải tái xác định những hệ thống, có lợi cho những diễn tiến của sự nhân đạo hoá, đặc điểm của "nền văn minh tình yêu". (Thư gởi các Phụ nữ, n. 4 (http://gpnt.net/thuvien/camnanggiadinh/thugoiphunu.htm))

115. Một phần của cử chỉ anh hùng này là chứng từ thinh lặng, nhưng phong phú và hùng biện biết bao của "tất cả những người mẹ can đảm tự hiến mình hoàn toàn cho gia đình mình, những người mẹ chịu đau đớn khi sinh con, rồi sau đó sẵn sàng chịu đựng tất cả những mệt nhọc, đương đầu với tất cả những hy sinh, để truyền thông cho chúng những gì là tuyệt hảo nơi họ" (Gioan Phaolô II, Bài giảng phong thánh, 1994). Để hoàn thành sứ vụ mình, "các người mẹ anh hùng này không luôn gặp được một sự nâng đỡ nơi những người xung quanh. Ngược lại, những kiểu văn minh, thường được các phương tiện truyền thông xã hội cổ động và phổ biến, không yểm trợ tình mẫu tử. Nhân danh nền phát triển và tính hợp thời, người ta trình bày như từ nay đã lỗi thời, những giá trị của lòng trung tín, của đức khiết tịnh và hy sinh, những đức tính mà một số người vợ và người mẹ Kitô giáo đã làm vẻ vang và còn tiếp tục làm vẻ vang … Hỡi các người mẹ can đảm, chúng tôi cám ơn chị em, vì tình yêu không thể nói được của chị em! Chúng tôi cám ơn chị em vì chị em đặt niềm tin dũng cảm vào Chúa và vào tình yêu của Người. Chúng tôi cám ơn chị em vì sự hy sinh cuộc đời của chị em … Trong mầu nhiệm Phục Sinh, Chúa Kitô trả lại chị em ân huệ mà chị em đã làm. Thật vậy Chúa Kitô có quyền phép trả lại chị em mạng sống mà chị em đã mang đến cho Người làm của lễ" (Gioan Phaolô II, Bài giảng phong thánh, 1994). (Evangelium Vitae, n. 86)

116. "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ" (St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10)). Đoạn văn vắn tắt này chứa đựng những chân lý cơ bản về nhân chủng học: con người là chóp đỉnh của tất cả trật tự sáng tạo trong thế giới hữu hình; loài người, khởi sự chính lúc người nam và người nữ được kêu mời hiện hữu, kết thúc tất cả công trình sáng tạo; cả hai là những hữu thể nhân linh. Người nam và người nữ cùng một cấp bậc bình đẳng, cả hai được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Hình ảnh này, giống hình ảnh Chúa, thiết yếu đối với hữu thể nhân linh, được người nam và người nữ, trong tư cách là cha là mẹ, truyền thông cho con cái: "hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất" (St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:28&FontSize=Txt10)). Đấng Tạo hoá giao phó quyền"thống trị mặt đất" cho loài người, cho tất cả mọi nhân vị, cho tất cả mọi người nam và người nữ, là những kẻ múc lấy phẩm giá và ơn gọi mình trong "nguồn gốc" chung của họ. (Mulieris Dignitatem, n. 6)

117. Muốn biến đổi nền văn hoá có lợi cho sự sống, thì ý tưởng và hành động của các người nữ đóng một vai trò độc đáo và chắc chắn quyết định: họ có trách nhiệm cổ võ một "chủ nghĩa nữ quyền mới", chủ nghĩa này không ngã dưới sức cám dỗ đi theo những kiểu cách nam giới, nhưng biết nhìn nhận và diễn tả thiên tài nữ giới trong tất cả những biểu lộ của sự sống trong xã hội, cố gắng vượt qua tất cả mọi hình thức kỳ thị, bạo loạn và khai thác. Lấy lại sứ điệp cuối cùng của Công Đồng Vatican II, tôi cũng gởi tới các người nữ lời kêu gọi khẩn thiết này: "Hãy giao hoà con người với sự sống" (Sứ điệp cuối cùng Công Đồng (1965) gởi cho phụ nữ). Các chị em phụ nữ được kêu gọi chứng minh cho ý nghĩa của tình yêu đích thực, của sự hiến mình và tiếp nhận kẻ khác được thực hiện cách riêng biệt trong quan hệ vợ chồng, nhưng cũng phải linh hoạt tất cả những tương quan liên vị khác nữa. Kinh nghiệm của tình mẫu tử làm cho chị em ý thức sâu sắc đối với nhân vị của kẻ khác và đồng thời trao cho chị em một trách nhiệm đặc biệt: "Tình mẫu tử bao hàm một sự hiệp thông đặc biệt với mầu nhiệm sự sống đang chín muồi trong dạ người nữ … Loại tiếp xúc duy nhất này với hữu thể nhân linh mới đang mang thai, tới phiên nó, tạo ra một thái độ đối với con người - không những đối với đứa con riêng mình nhưng đối với con người nói chung - điều đó đánh dấu sâu xa tất cả nhân tính người nữ" (Mulieris Dignitatem, n. 18). Thật vậy, người mẹ đón rước và mang trong mình một người khác, bà cho phép nó lớn lên trong lòng bà, bà cho nó một chỗ dành riêng cho nó nhưng vẫn tôn trọng sự khác biệt của nó. Như vậy, người nữ cảm thấy và dạy rằng những tương quan nhân bản là đích thực, nếu chúng mở ra đón nhận nhân vị của kẻ khác, nhân vị được nhìn nhận và yêu thương vì phẩm giá phát sinh từ sự kiện làm một nhân vị, chớ không phải do những yếu tố khác như sự hữu dụng, sức mạnh, lý trí, vẻ đẹp, sức khoẻ. Đó là sự đóng góp cơ bản mà Giáo Hội và nhân loại chờ đợi ở người nữ. Đó là điều tiên quyết cần thiết cho việc thay đổi văn hoá đích thực này. (Evangelium Vitae, n. 99)

admin
08-07-2006, 07:40 AM
Sưu tập những bản văn của huấn quyền về học thuyết xã hội Công Giáo

Chương IV: TRẬT TỰ XÃ HỘI



I. Chỗ Ðứng Trung Tâm của Nhân Vị

118. Theo nguyên tắc cơ bản của quan niệm này - như thấy từ những gì chúng tôi đã nói cho tới đây - những hữu thể nhân linh là và phải là nền tảng, mục đích và chủ thể của tất cả mọi cơ chế biểu lộ sự sống xã hội. Mỗi một hữu thể nhân linh, vì là cái gì nó là, phải được xem xét theo bản tính xã hội từ thực chất (intrinsèque) và trên bình diện quan phòng nó được cất lên trật tự siêu nhiên. (Mater et Magistra, n. 219)

119. Ngay trong đời sống kinh tế và xã hội, phẩm giá cũng như ơn gọi toàn diện của con người và lợi ích của toàn thể xã hội cũng phải được tôn trọng và thăng tiến. Vì con người là tác giả, là tâm điểm và là cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội. (Gaudium et Spes n. 63)

120. Con người, đúng theo sự cởi mở từ bên trong trí tuệ và cũng theo biết bao nhiêu nhu cầu khác biệt của thân xác và cuộc sống tại thế, vẫn viết nên lịch sử riêng tư kia qua rất nhiều liên hệ, tiếp xúc, hoàn cảnh, cơ cấu xã hội kết mình với những người khác; và con người làm điều ấy từ giây phút đầu tiên hiện hữu trên trái đất, từ giây phút thành thai và sinh ra. Con người, trong chân lý đầy đủ của cuộc sống mình, của bản thể riêng mình, và đồng thời là của bản thể cộng đồng và xã hội của mình - trong phạm vi gia đình, bên trong những xã hội và những cảnh ngộ khác biệt, trong khuôn khổ quốc gia hay dân tộc của mình, (và có lẽ còn hơn nữa là trong khuôn khổ bộ lạc hay sắc tộc của mình), ngay cả trong khuôn khổ toàn thể nhân loại- con người đó là con đường trước tiên mà Giáo Hội phải đi qua khi thực hiện sứ mệnh của mình, con người đó là con đường trước tiên và cơ bản của Giáo Hội, con đường đã do chính Ðức Kitô vạch ra, con đường đi ngang qua, một cách bất biến, mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Ðộ. (Redemptor Hominis, n. 14 -43)

121. Nhân vị là nền tảng và là cùng đích của trật tự xã hội, bởi vì nhân vị là chủ thể những quyền bất khả nhượng nó không nhận từ bên ngoài, nhưng những quyền đó phát xuất từ bản tính của nó: không có gì cũng không có ai có thể phá huỷ những quyền đó, không một cưỡng bức nào bên ngoài có thể tiêu diệt chúng, bởi vì chúng đâm rễ sâu trong phần nhân bản nhất của nhân vị. Tương tự như thế, nhân vị không hạn định trong những yếu tố xã hội, văn hoá, và lịch sử của nó, bởi vì đặc tính của con người có một linh hồn thiêng liêng, là hướng về một cùng đích vượt xa những hoàn cảnh hay thay đổi của đời sống mình. Không một quyền lực nhân bản nào có thể chống lại sự phát triển của con người xét như là nhân vị. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1988, n. 1)

admin
08-07-2006, 07:42 AM
II. Một Xã Hội Xây Dựng Trên Chân Lý

122. Ðó là lý do tại sao một xã hội chỉ được chỉnh đốn đúng mức, mang phúc lợi, biết tôn trọng nhân vị, nếu nó được xây dựng trên chân lý, theo lời cảnh cáo của thánh Phaolô: "Anh em hãy cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận, vì chúng ta là phần thân thể của nhau" (Ep 4, 25). Ðiều đó giả thiết rằng người ta thành thật nhìn nhận các quyền và bổn phận của nhau. (Pacem in Terris, n. 35)

123. Chỉ một mình Thiên Chúa, Sự Thiện tối thượng, mới là nền tảng bất khả chuyển lay và là điều kiện bất khả thay thế của đời sống luân lý, tức của các giới răn và đặc biệt của các giới răn tiêu cực vốn luôn luôn và trong mọi trường hợp ngăn cấm những hành vi bất khả dung hợp với phẩm giá của mỗi một con người. Như thế Sự Thiện tối thượng và điều thiện luân lý giao nhau trong chân lý, chân lý của Thiên Chúa Tạo Hoá và Cứu Chuộc, chân lý của con người được Chúa tạo dựng và được Thiên Chúa cứu chuộc. Chỉ trên chân lý ấy mới có thể xây dựng một xã hội đổi mới và mới giải quyết được những vấn đề phức tạp và gay cấn đang làm cho xã hội lung lay mà vấn đề số một là làm sao thắng vượt các thứ hình thức chuyên chế chủ nghĩa dị biệt để mở lối cho tự do đích thực của con người. "Chủ nghĩa chuyên chế phát sinh từ hành động phủ nhận chân lý hiểu theo nghĩa khách quan: nếu không có chân lý siêu việt mà nhờ tuân phục nó con người có thể đạt tới căn tính tròn đầy của mình, thì trong những tình cảnh này không tài nào có được một nguyên lý vững chắc để bảo đảm cho những mối quan hệ công bằng giữa con người với nhau. Những lợi ích của họ xét theo giai cấp, theo nhóm hoặc theo quốc gia không thể nào không đưa họ đến chỗ đối nghịch với nhau (CA, n. 44). (Veritatis Splendor, n. 99)

124. Những tương quan giữa các cộng đồng chính trị phải theo chân lý. Chân lý đòi hỏi trước hết là người ta phải loại trừ tất cả dấu vết kỳ thị chủng tộc trong các tương quan này; và sau đó người ta phải thi hành nguyên tắc là tất cả mọi cộng đồng chính trị đều bình đẳng trong phẩm giá nguyên thuỷ. Mỗi một cộng đồng có quyền sống, quyền phát triển, quyền chiếm hữu những phương tiện cần thiết để thực hiện điều đó, quyền lãnh trách nhiệm ưu tiên để vận dụng chúng; và mỗi cộng đồng có thể xin cách hợp lý được hưởng tiếng tốt và nhận lấy những danh dự xứng đáng cho mình. (Pacem in Terris, 86)

125. Dưới ánh sáng đức tin, sự liên đới không chấm dứt ở nơi mình nhưng tiến xa hơn, đạt tới những chiều kích đặc thù của Kitô giáo, đó là tính hoàn toàn nhưng không, sự tha thứ và hoà giải. Lúc đó người lân cận không còn chỉ là một người có những quyền lợi và được bình đẳng trên cơ bản với mọi người, mà y trở thành hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được Máu Chúa Kitô cứu chuộc và là đối tượng của hành động không ngừng của Chúa Thánh Thần. Vì vậy người đó phải được yêu mến, ngay cả khi người ấy là một thù địch, với tình yêu mà Chúa yêu y, và người ta phải sẵn sàng hy sinh cho y ngay cả mạng sống: "Hy sinh mạng sống cho anh em mình" (x. 1 Ga 3, 16).

Lúc đó, ý thức về Chúa là Cha chung, về mọi người là anh em trong Chúa Kitô, "những người con trong người Con", về sự hiện diện và về hành động ban sự sống của Chúa Thánh Thần, làm cho cái nhìn của chúng ta trên thế giới như có một tiêu chuẩn mới để giải thích. Xa hơn những liên lạc máu mủ và tự nhiên, vốn đã mạnh và chặt chẽ biết bao dưới ánh sáng của đức tin, còn hiện ra một mẫu hiệp nhất nhân loại mới mà cuối cùng sự liên đới phải dựa theo. Cái mẫu hiệp nhất tối thượng đó, phản ảnh đời sống thân mật Ba Ngôi Thiên Chúa, là cái mà chúng ta, Kitô hũu, gọi là hiệp thông. Sự hiệp thông đặc thù Kitô đó, được bảo vệ kỹ càng, trải rộng và phong phú hoá nhờ ơn Chúa, là linh hồn của ơn gọi Giáo Hội phải nên "bí tích" theo nghĩa đã trình bày. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 40)

admin
08-07-2006, 07:44 AM
III. Tình Liên Ðới

126. Liên đới không phải là một tình cảm động lòng thương mơ hồ hay xúc động hời hợt, trước những đau khổ của bao nhiêu người xa gần. Trái lại, đó là cái quyết tâm bền vững lo cho công ích, nghĩa là cho ích lợi của tất cả và của từng người, bởi vì tất cả chúng ta đều thực sự có trách nhiệm về tất cả mọi người. Một quyết tâm như vậy dựa trên xác tín vững chắc rằng việc phát triển đầy đủ bị ngăn trở bởi lòng ham hố lợi nhuận và lòng thèm khát quyền bính nói ở trên. Những thái độ và những "cơ cấu tội lỗi" này, chỉ có thể thắng được - dĩ nhiên với ơn Chúa - nhờ một thái độ hoàn toàn đối nghịch: dấn thân lo cho lợi ích tha nhân cách sẵn sàng, theo nghĩa Tin Mừng nói, "chết đi" cho người khác thay vì khai thác, phục vụ thay vì đàn áp để mưu lợi riêng. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 38)

127. Trong tinh thần liên đới và với những phương tiện đối thoại, chúng ta sẽ học: lòng tôn trọng tất cả mọi nhân vị; lòng tôn trọng các giá trị chính hiệu và những nền văn hoá nơi kẻ khác; lòng tôn trọng quyền tự trị chính đáng và quyền tự quyết của những kẻ khác; chúng ta sẽ học: nhìn xa hơn bản thân chúng ta, để hiểu và nâng đỡ những gì tốt nơi kẻ khác; hiến những nguồn lợi riêng chúng ta trong sự liên đới xã hội giúp phát triển và tăng trưởng, dựa trên đức công bình và chân lý; thiết lập những cơ cấu biến sự liên đới xã hội và sự đối thoại trở nên những đặc tính bền vững cho thế giới chúng ta đang sống. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1986, n. 5)

128. Liên đới không phải chỉ là bổ? phận giữa người với người, mà còn là bổn phận giữa các dân tộc với dân tộc: Các dân tộc đã phát triển có bổn phận rất khẩn cấp là phải giúp các dân tộc đang phát triển" (GS, n. 86). Phải áp dụng lời giáo huấn Công Ðồng này. Ðành rằng một dân tộc có quyền hưởng dụng ưu tiên tài nguyên thiên nhiên cũng như của cải do chính mình làm ra. Nhưng không phải vì thế mà dân tộc đó giữ lấy tài sản cho một mình mình hưởng dụng. Mỗi dân tộc đều phải sản xuất nhiều hơn và khá hơn, để cho mọi người dân trong nước đó được một mức sống xứng với phẩm giá con người và đồng thời để giúp nhân loại cùng phát triển. Khi còn có nhiều nước kém phát triển mỗi ngày một đau khổ, thì phải coi là chuyện thường, nếu một nước giàu đem nhường một phần tài sản của mình để giúp các nước đó; cũng là chuyện thường khi một nước tiên tiến đào tạo giáo sư, kỹ sư, chuyên viên, bác học để cho họ đem hiểu biết và kinh nghiệm phục vụ các nước đó. (Populorum Progressio, n, 48)

129. Ðể vượt qua đầu óc cá nhân chủ nghĩa đang lan tràn vào thời nay, cần có sự dấn thân cụ thể trong công tác liên đới và bác ái, khởi sự ngay từ trong gia đình với việc vợ chồng nâng đỡ nhau và các thế hệ săn sóc cho nhau. Theo đó gia đình cũng có thể được gọi là một cộng đồng lao động và liên đới. (Centesimuc Annus, n. 49)

130. Trên con đường ấy, tất cả mọi người chúng ta đều liên đới. Do đó, Chúng tôi thấy có bổn phận nhắc nhở mọi người về thảm trạng lớn lao ấy và về công cuộc phải cấp bách thể hiện. Giờ hành động bây giờ đã điểm: sự sống của bao trẻ em vô tội, hy vọng của bao nhiêu gia đình ước muốn được một điều kiện sống nhân bản, hoà bình thế giới, văn minh nhân loại đang bị đe doạ. Hết thảy mọi người và hết thảy mọi dân tộc đề? phải lãnh lấy trách nhiệm. (Populorum Progressio, n. 80)

131. Việc thực hiện liên đới bên trong mọi xã hội là một cái gì có thể chấp nhận được, khi các thành phần nhìn nhận nhau như những nhân vị. Những ai có thế lực hơn vì có nhiều của cải và hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn, phải thấy có trách nhiệm đối với những người yếu kém hơn và phải sẵn sàng chia sẻ với họ những gì mình có. Về phần mình, những người yế? kém hơn, trong cùng một hướng liên đới, không nên có một thái độ thuần tuý tiêu cực hoặc phá hoại xã hội, nhưng làm những gì thuộc phần mình vì ích lợi của mọi người, trong khi vẫn bênh vực những quyền chính đáng của mình. Các nhóm trung gian, về phần mình, không được chỉ quan tâm cách ích kỷ tới những quyền lợi riêng của mình, nhưng phải tôn trọng quyền lợi kẻ khác. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 39)

132. Như vậy, nguyên tắc liên đới, như người ta nói hôm nay, mà tôi đã nhắc tới trong thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (x. nn. 38-40), vừa có giá trị trong trật tự nội bộ của mỗi quốc gia và cả trong trật tự quốc tế, được coi như một trong những nguyên tắc cơ bản trong quan điểm của Kitô giáo về tổ chức xã hội và chính trị. Nguyên tắc này nhiều lần được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII nói tới, dưới danh từ "thân hữu" mà chúng ta đã gặp trong triết lý Hy Lạp. Ðức Giáo Hoàng Piô XI nhắc tới điều này bằng một danh từ không kém ý nghĩa hơn là "bác ái xã hội", đang khi Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI nới rộng ý niệm này chuyển biến theo nhiều chiều kích mới trong vấn đề xã hội, đã nói về một nền "văn minh tình thương" (x. RN, n. 25; QA, n. 3; Paul VI, Bài giảng bế mạc Năm Thánh, 1975). (Centesimus Annus, n. 10)

133. Sự liên đới giúp chúng ta thấy "tha nhân - người, dân tộc hay quốc gia - không phải như một dụng cụ tầm thường mà người ta không tốn bao nhiêu để khai thác khả năng lao động và sức mạnh thể xác, và vứt bỏ khi không dùng nữa, nhưng như một kẻ "giống mình", một trợ tá (x. St 2, 18- 20), mà người ta phải cho tham dự, ngang hàng với chúng ta, vào tiệc sống Thiên Chúa dọn cho tất cả mọi người như nhau. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 39)

admin
08-07-2006, 07:45 AM
IV. Tương Trợ

134. Giáo lý của Giáo Hội đã đề ra nguyên tắc tương trợ. Theo nguyên tắc này, "một xã hội cấp cao không được can thiệp vào nội bộ xã hội cấp thấp đến độ tước mất thẩm quyền của nó, nhưng đúng hơn phải nâng đỡ nó khi cần thiết, và giúp nó phối hợp hoạt động với những xã hội khác, để mưu cầu công ích. (CA, n. 48; x. QA, nn. 184-186).

Thiên Chúa không muốn dành cho riêng mình việc thực thi mọi quyền hành. Người trao lại cho mỗi thụ tạo những phần vụ nó có thể thi hành theo khả năng của bản tính riêng. Xã hội loài người phải bắt chước cách lãnh đạo này. Cách Thiên Chúa cai trị thế giới cho thấy Người rất tôn trọng quyền tự do của con người. Ðó phải là đường hướng chỉ đạo cho những ai cầm quyền trong các cộng đồng nhân loại. Họ phải xử sự như những thừa tác viên của Chúa Quan Phòng.

Nguyên tắc hỗ trợ nghịch với mọi hình thức duy tập thể, xác định giới hạn cho việc can thiệp của Nhà Nước, hoà hợp các tương quan giữa cá nhân và xã hội, hướng tới việc thiết lập một trật tự quốc tế đích thực.
(GLHTCG, nn. 1883-1885)

135. Cũng như bên trong mỗi một cộng đồng chính trị, những tương quan giữa các công quyền với những công dân, những gia đình và những đoàn thể trung gian, phải được chi phối và quân bình bởi nguyên tắc hỗ trợ, thì cũng một nguyên tắc đó phải chi phối những tương quan giữa thẩm quyền công quốc tế với những thẩm quyền công của mỗi quốc gia. Vai trò của thẩm quyền quốc tế là khám xét và giải quyết những vấn đề công ích quốc tế đặt ra trong lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị hay văn hoá. Chính tính phức tạp, tầm rộ?g và tính khẩn cấp của những vấn đề này, không cho phép những người cai trị của mỗi cộng đồng chính trị được giải quyết chúng tuỳ ý. Như vậy thẩm quyền quốc tế này không có quyền hạn chế hay đòi dành cho mình những hành vi thuộc riêng thẩm quyền của những cộng đồng chính trị khác. Ngược lại thẩm quyền quốc tế đó phải ra sức khơi dậy trên toàn thể thế giới một tình trạng, trong đó không những thẩm quyền của mỗi quốc gia, mà còn những cá nhân, và những đoàn thể trung gian, có thể an tâm hơn trong việc hoàn thành nhiệm vụ mình, chu toàn những bổn phận mình và thi hành những quyền hành của mình. (Pacem in Terris, nn. 140-141)

136. Cần đồng ý trước hết là: lãnh vực kinh tế phải do sáng kiến tư nhân đìều khiển, hoặc họ hoạt động riêng biệt, hoặc họ hoạt động thành từng tổ hợp đeo đuổi theo một mối lợi chung. (Mater et Magistra, n. 51)

137. Nhưng phải luôn nhớ nguyên tắc này: sự hiện diện của Nhà Nước trong lãnh vực kinh tế, dầu có tính sâu rộng và xâm nhập đến mấy, cũng không có mục đích ngày càng giảm thiểu phạm vi tự do của sáng kiến cá nhân riêng tư, nhưng hoàn toàn ngược lại nó có mục đích bảo đảm cho phạm vi hoạt động này có tầm rộng bao la nhất nếu có thể, nhờ có sự bảo vệ hữu hiệu những quyền cốt yếu của nhân vị, cho tất cả và cho mỗi một người. Và phải ghi nhận giữa những quyền này cái quyền thuộc về mỗi một nhân vị là và vẫn còn thông thường là người có trách nhiệm đầu tiên về sự nuôi sống mình và gia đình mình. Ðiều đó bao hàm, trong tất cả mọi hệ thống kinh tế, việc cho phép và làm dễ dàng sự thi hành tự do những sinh hoạt sản xuất. (Mater et Magistra, n. 55)

138. Về phương diện này, Rerum Novarum đề ra một đườ?g lối đem tới những cải tổ chính đáng hầu có thể tái lập giá trị của lao động như là một hoạt động tự do của con người. Những cải tổ này bao hàm việc xã hội và quốc gia đều có trách nhiệm, đặc biệt là để bảo vệ giới thợ thuyền tránh khỏi nỗi kinh hoàng bị thất nghiệp. Xét về phương diện lịch sử, việc này đã xảy ra theo hai cách cùng đi về một đường hướng: hoặc qua các chính sách kinh tế nhằm bảo đảm mức phát triển và toàn dụng; hoặc qua việc bảo hiểm về thất nghiệp và những chương trình huấn nghệ có khả năng bảo đảm một sự hoán chuyển êm thắm công nhân từ các khu vực gặp khủng hoảng sang những khu vực đang phát triển.

Nhà Nước phải góp phần một cách trực tiếp lẫn gián việc thực hiện những mục tiêu này. Một cách gián tiếp và phù hợp với nguyên tắc tương trợ, bằng cách tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc tự do thực hiện sinh hoạt kinh tế, đem lại những cơ hội làm việc và những nguồn tài nguyên dồi dào. Một cách trực tiếp và phù hợp với? nguyên tắc liên đới, bằng cách bảo vệ những kẻ yếu kém nhất qua việc đặt ra một số những giới hạn về tự trị của các phần tử có quyền ấn định các điều kiện làm việc và bằng cách bảo đảm trong mọi trường hợp một sự trợ giúp tối thiểu cho công nhân bị thất nghiệp. (Centesimus Annus, n. 15)

admin
08-07-2006, 07:47 AM
V. Tham Gia

139. Sự mong ước được bình đẳng và tham gia, muốn cổ võ một kiểu xã hội dân chủ. Người ta đề ra nhiều kiểu, thử nghiệm một số khác; nhưng không kiểu nào thoả mãn hoàn toàn và sự nghiên cứu vấn đề vẫn rộng mở giữa các khuynh hướng ý thức hệ và thực nghiệm. Người Kitô hữu có bổn phận tham gia vào việc nghiên cứu này và vào tổ chức như vào sự sống xã hội chính trị. Là một hữu thể có tính xã hội, con người xây dựng vận mệnh mình trong một loạt những nhóm riêng, để cho mình được hoàn thành và để nên điều kiện cần thiết cho mình phát triển, thì những nhóm đó kêu gọi thiết lập một xã hội rộng rãi hơn, có tính quốc tế, tức là xã hội chính trị. Tất cả sinh hoạt riêng phải được đặt lại trong xã hội mở rộng này và, qua chính sự đó, mang lấy chiều kích của công ích. (Octogesima Adveniens, n. 24)

140. Ðiều cốt yếu đối với tất cả hữu thể nhân bản là ý thức mình tham gia và chia sẻ cách hữu hiệu những quyết định và những cố gắng rèn nên vận mạng thế giới. Trong quá khứ, bạo loạn và bất công thường bị khích động trước hình thành sự sống mình. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1985, n. 9)

141. Ðó là nhiệm vụ nghiêm túc về công bằng và chân lý không cho phép các nhu cầu cơ bản của con người tiếp tục không được thoả mãn và không cho phép để chết những người đau khổ vì thiếu những nhu cầu ấy. Vả lại, cần giúp đỡ những người yếu kém có được khả năng chuyên môn, được nhập vào những mạng lưới tương quan, được phát triển những tư cách mình để làm tăng giá trị các khả năng và những tài nguyên cá nhân mình. (Centesimus Annus, n. 34)

142. Thiết lập những cơ cấu chính trị pháp lý là điều phù hợp với bản tính con người, vì nhờ đó tất cả mọi công dân, không phân biệt ai, có thể mỗi ngày một có cơ hội tham gia cách tự do và tích cực vào việc thiết lập nền tảng pháp lý của cộng đoàn chính trị, tham gia vào việc điều hành quốc gia và xác định mục tiêu và phạm vi của những cơ quan khác nhau, cũng như tham gia vào việc lựa chọn người cầm quyền.

Chính quyền không nên ngăn cản những hiệp hội có tính cách gia đình, xã hội hay văn hoá, những đoàn thể hay tổ chức trung gian, cũng không nên cấm chế những hoạt động hữu hiệu và chính đáng của các tổ chức ấy; nhưng tốt hơn nên sẵn sàng cổ võ, trong trật tự. Về phía người công dân, cá nhân hay đoàn thể, không nên trao cho chính quyền một quyền hành quá lớn, cũng đừng đòi hỏi ở chính quyền những giúp dỡ cũng như những đặc ân quá đáng không phải lúc, vì như thế là làm giảm trách nhiệm của cá nhân, gia đình và cả các đoàn thể xã hội. (Gaudium et Spes, n. 75)

143. Tất cả mọi công dân có quyền tham gia vào đời sống của Cộng Ðồng mình: đó là một xác tín được chia sẻ cách chung. Nhưng, quyền nầy trở nên vô hiệu khi tiến trình dân chủ bị mất nghị lực do chế độ ưu đãi và những hiện tượng tham nhũng, không những ngăn trở sự tham gia hợp pháp vào việc xử lý quyền bính, mà còn ngăn cấm việc sử dụng chính đáng những lợi ích và những dịch vụ công cộng. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1999, n. 6.)

144. Cùng một lúc với sự phát triển khoa học và kỹ thuật tiếp tục đảo lộn hoàn cảnh của con người, những kiểu hiểu biết, lao động, hưởng thụ và các tương quan của con người, thì luôn luôn trong những bối cảnh mớ? này, phát biểu một lòng mong ước kép sinh động hơn theo nhịp phát triển sự thông tin và sự giáo dục của con người: mong ước được bình đẳng, mong ước được tham gia, hai hình thức biểu lộ phẩm giá và sự tự do của con người. (Octogesima Adveniens n. 22)

145. Phẩm giá con người kéo theo quyền tham gia tích cực vào đời sống công cộng và quyền góp phần cá nhân vào thiện ích chung. "Con người, với tư cách con người, thay vì là đối tượng và là một yếu tố tiêu cực của đời sống xã hội, thì là và phải là, vẫn là chủ thể, nền tảng và cùng đích của đời sống xã hội" (Sứ điệp truyền thanh Giáng Sinh, 1994) (Pacem in Terris, n. 26)

admin
08-07-2006, 07:48 AM
VI. Sự Tha Hoá Và Sự Gạt Ra Bên Lề

146. Chủ nghĩa Mác-xít chỉ trích các xã hội tư bản trưởng giả, cho là đã tạo ra sự đánh mất sự sống con người và biến nó thành một món hàng. Lời kết án này dĩ nhiên dựa trên tư tưởng sai lầm và không chính đáng về sự tha hoá, phát xuất từ lãnh vực các mối tương quan giữa sản xuất và sở hữu, nghĩa là đặt nó trên cơ sở vật chất và, hơn nữa, chối bỏ tính cách hợp pháp và giá trị tích cực của các tương quan thị trường ngay cả trong lãnh vực của nó . (Nhưng) sự tha hoá với sự mất ý nghĩa đích thực của cuộc đời, cũng là một thực tế xảy ra tại các xã hội phương Tây. Người ta nhận ra sự kiện này qua mức độ tiêu thụ, khi sự tiêu thụ làm người ta vướng vào mạng lưới các thoả mãn giả tạo và sai lầm, hơn là giúp con người có kinh nghiệm đích thực và cụ thể về nhân tính của mình. Sự tha hoá cũng thấy trong việc làm, khi được tổ chức nhằm bào đảm những thu hoạch và lợi nhuận tối đa mà không quan tâm tới việc người thợ, qua lao động của họ, có được thăng tiến nhiều hay ít trong tính nhân bản của mình, tuỳ theo cường độ gia tăng của sự con người tham gia vào một cộng đồng liên đới thật sự, hay là sự cô lập con người thêm trầm trọng trong một khối liên hệ gồm có sự cạnh tranh thái quá và những loại trừ lẫn nhau, trong đó con người chỉ được coi như một phương tiện chớ không phải là mục đích. Ý niệm tha hoá cần được xích gần tới cái nhìn về thực tại của Kitô giáo, để vạch trần ở đó sự đảo ngược giữa những phương tiện và mục đích; khi con người không thừa nhận phẩm giá và nét cao quý của nhân vị trong mình hay nơi kẻ khác, thì con người đã tước bỏ khả năng hưởng dụng chính đáng nhân tính của mình và khả năng thiết lập mối tương quan liên đới và hiệp thông với những người khác mà vì họ Chúa đã dựng nên con người đó. (Centesimus Annus, 41)

147. Con người thời nay xem như luôn bị đe doạ bởi cái mình làm ra, tức là bởi thành quả của công lao bàn tay mình, và hơn nữa, của công lao trí óc mình, của các xu hướng thuộc ý chí mình. Một cách quá nhanh chóng và nhiều khi bất ngờ, các thành quả của hoạt động đa dạng kia của con người, không chỉ là và không hẵn là đối tượng cho sự "tha hoá", nghĩa là đơn thuần bị cướp mất khỏi tay kẻ đã làm ra chúng; nhưng ít ra một phần nào, trong hướng có khi gián tiếp của những hiệu quả, các thành quả kia quay lại chống con người. (Redemptor Hominis, n. 15)

148. Vấn nạn luân lý đã nhận được lời giải đáp của Ðưc Kitô, không thể loại trừ vấn nạn về tự do, nhưng đặt vấn đề tự do vào ngay giữa trung tâm, bởi lẽ không có luân lý nếu không có tự do. "Con người quay vê điều thiện luôn luôn trong tình trạng tự do" (GS, n. 17). Nhưng tự do nào ? Những con người đương thời với chúng ta "rất ư đề cao" tự do và "hăng say đeo đuổi tự do", nhưng lại thường "cưng chiều tự do một cách thiếu ngay thẳng", coi tự do như là quyền được làm bất cứ điều gì, miễn sao tạo được thoả thích, kể cả điều xấu". Ðố? lại với họ, Công Ðồng trình bày sự "tự do thật" như sau: "Tự do thật là dấu chỉ đãi ngộ nơi con người chứng tỏ con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để cho con người tự bàn hỏi với chính mình (Hc 15, 14) ngõ hầu con người có thể tự mình tìm kiếm Ðấng Tạo Hoá và nhờ gắn bó với Ngài một cách tự do mà đạt mức thành toàn trong một tình trạng viên mãn chân phúc" (GS, n. 17). Nếu trong hành trình truy tầm chân lý, mình có quyền dược tôn trọng, thì trước đó mọi người có luật buộc luân lý nghiêm trọng là tìm kiếm chân lý và, một khi đã nhận biết chân lý, phải gắn bó với chân lý (x. Dignitatis Humanae, n. 2). (Veritatis Splendor, n. 34)

149. Không những người ta không có quyền coi thường, xét theo quan điểm đạo đức, bản chất con người được tạo dựng để hưởng tự do, nhưng trên thực tế điều đó không thể thực hiện được. Bất cứ nơi nào mà xã hội được tổ chức bằng cách giảm bớt cách độc đoán hay có khi bãi bỏ lãnh vực cần để sự tự do được thực thi cách hợp pháp, thì sẽ đưa tới kết quả là cuộc sống xã hội sẽ dần dần tan rã và đi tới chỗ suy đồi. (Centesimus Annus, n. 25)

150. Sự tự do là thước đo phẩm giá và vẻ cao cả của con người. Ðối với những cá nhân và các dân tộc, sống tự do là một thách đố lớn cho sự tiến triển thiêng liêng con người và cho sức mạnh luân lý các quốc gia.
(Diễn văn tại cuộc Họp Khoáng đại lần 5 LHQ, 1995, n. 12)

151. Sự tự do không những là vắng bóng nền độc tài hay đàn áp, cũng không phải là được phép làm gì thì làm. Sự tự do có một "logique" nội tại định tính chất và nâng cao phẩm giá của nó: nó được hướng về chân lý và nó tự thực hiện trong sự tìm kiến và thực hành chân lý. Tách rời khỏi chân lý của nhân vị, thì nó biến thành sự vô kỷ luật trong đời sống cá nhân và, trong đời sống chính trị, thành quyền chuyên chế của những kẻ mạnh nhất hay thành thái độ kiêu ngạo của quyền bính. (Diễn văn tại cuộc họp Khoáng đại lần 5 LHQ, 1995, n. 12)

admin
08-07-2006, 07:49 AM
VII. Tự Do Xã Hội

152. Vì không phải là một ý thức hệ, đức tin Kitô giáo không chủ trương giam hãm các thực tại xã hội và chính trị đổi thay vào một khuôn khổ cứng nhắc, và nhìn nhận rằng cuộc sống con người thể hiện trong lịch sử qua những điều kiện khác biệt và bất toàn. Hơn nữa, Giáo Hội, qua việc luôn luôn xác nhận giá trị siêu việt của con người, lấy việc tôn trọng tự do làm phương châm hành động của mình. (Centesimus Annus, n. 46)

153. Những tương quan giũa các cộng đồng chính trị phải được xử lý trong tự do. Ðiều này có nghĩa là không một nước nào có quyền làm bất cứ gì để uy hiếp cách bất công những nước khác, hay là để xen cách quá đáng vào những công việc của các nước đó. Ngược lại, tất cả các nước phải đề ra cho mình việc góp phần, cho các nước khác, làm phát triển ý nghĩa những trách nhiệm, khuyến khích những sáng kiến mới và hữu ích, biết tự mình làm thăng tiến sự lớn mạnh của mình trong tất cả các lãnh vực. (Pacem in Terris, n. 120)

154. Chính vì thế mối liên kết không thể tách lìa giữa chân lý và tự do - là phản ảnh của mối liên kết thiết yếu giữa sự khôn ngoan và thánh ý của Thiên Chúa- mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người trong khuôn khổ xã hội - kinh tế và xã hội - chính trị. (Veritatis Splendor, n. 99)

admin
08-07-2006, 07:50 AM
VIII. Văn Hoá

155. Giữa sứ điệp cứu độ và văn hoá nhân loại có nhiều mối liên hệ. Thực vậy, khi tự mặc khải cùng dân Ngài cho tới khi tỏ mình đầy đủ trong Chúa Con nhập thể, Thiên Chúa đã nói theo văn hoá của từng thời đại. Cũng vậy, trải qua các thế kỷ sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, Giáo Hội đã sử dụng những tài nguyên của các nền văn hoá khác biệt để phổ biến và giải thích cho muôn dân sứ điệp của Chúa Kitô trong khi rao giảng, để tìm tòi và thấu hiểu sâu xa hơn, đễ diễn tả sứ điệp ấy cách tốt đẹp hơn trong các lễ nghi phụng vụ và trong cuộc sống muôn mặt của cộng đoàn các tín hữu. Nhưng đồng thời, Giáo Hội không bị ràng buộc cách độc quyền và bất khả phân ly với một chủng tộc hay quốc gia, với một lối sống đặc thù hoặc một tập tục cũ hay mới nào, vì Giáo Hội được sai đến với mọi dân tộc thuộc mọi nơi và mọi thời. Trung thành với truyền thống riêng và đồng thời ý thức sứ mệnh phổ quát của mình, Giáo Hội có thể hoà mình với nhiều hình thức văn hoá khác nhau. Nhờ đó, chính Giáo Hội cũng như các nền văn hoá ấy đều được phong phú hơn. Tin Mừng của Chúa Kitô không ngừng đổi mới cuộc sống và văn hoá của con người đã sa ngã, chống đối và khử trừ các sai lầm và tai hoạ phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi luôn luôn đe doạ. Tin Mừng không ngừng tinh luyện và nâng cao văn hoá các dân tộc. Những đức tính của mọi thời được Tin Mừng làm cho phong phú như từ bên trong, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Chúa Kitô nhờ những ân huệ bởi trời. Như thế trong khi chu toàn bổn phận riêng, Giáo Hội cũng đồng thời thúc đẩy và góp phần vào công cuộc phát triển văn hoá nhân loại; và nhờ hoạt động của mình, ngay cả trong các nghi lễ phụng vụ, Giáo Hội giáo dục cho con người đạt tới tự do nội tâm. (Gaudium et Spes, n. 58)

156. Mọi hoạt động của con người đều có mặt trong một nền văn hoá và tương giao với nền văn hoá đó. Việc hình thành tốt đẹp một nền văn hoá, đòi hỏi sự đóng góp của mọi người bằng óc sáng tạo, trí thông minh và sự thông hiểu về thế giới và con người. Hơn nữa, con người phải biết tự chế, hy sinh, đoàn kết và sẵn sàng cổ võ cho công ích. Như vậy nhiệm vụ trước tiên và quan trọng nhất cần thực hiện ngay trong trái tim con người, và cách thức con người nỗ lực để tạo dựng tương lai của chính mình tuỳ thuộc vào sự hiểu biết về chính con người của mình và định mệnh của mình. (Centesimus Annus n. 51)

157. Giàu hay nghèo, mỗi đất nước đều có một nền văn minh do tiền nhân để lại: đó là những cơ cấu cần có cho đời sống vật chất và những biểu tỏ cao thượng của đời sống tinh thần như nghệ thuật, trí thức và tôn giáo. Nếu những sinh hoạt tinh thần có hàm chứa những giá trị nhân bản đích thực, thì thực là một lầm lẫn lớn, khi bỏ nó để chỉ tìm những thể hiện vật chất kia. Một dân tộc mà làm như thế là bỏ mất cái gì quí giá nhất của mình, và như thế là sống mà bỏ mất lý do của cuộc sống. Lời dạy dỗ sau đây của Chúa Kitô cũng áp dụng cho các dân tộc: "Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì" ? (Mt 16, 26) (Populorum Progressio, n. 40)

158. Văn hoá là môi trường sinh động có tính cách quyết định, trong đó con người đến gặp Tin Mừng diện đối diện. Cũng như văn hoá là kết quả xuất phát từ cuộc sống và sinh hoạt của một tập thể nhân loại, thì đối lại cũng chính tập thể nhân loại này lại được khuôn đúc trong một phạm vi rộng bởi chính môi trường văn hoá mà họ đang sinh sống. Nếu con người và xã hội thay đổi, văn hoá cũng sẽ thay đổi theo. Ngược lại, nếu văn hoá đổi thay thì con người và xã hội cũng được văn hoá ấy biến đổi theo. Nhìn trong viễn tượng ấy, ta càng thấy rõ hơn tại sao Phúc Âm hoá và hội nhập văn hoá có liên quan mật thiết và tự nhiên với nhau. Tin Mừng và việc Phúc Âm hoá tất nhiên không đồng nhất với văn hoá; chúng độc lập với văn hoá. Nhưng Nước Thiên Chúa lại đến với những con người đã có liên hệ sâu xa với một nền văn hoá, và không thể xây dựng Nước Thiên Chúa mà không vay mượn một số yếu tố lấy từ các nền văn hoá nhân loại. (Ecclesia in Asia, n. 21)

159. Khi thi hành sinh hoạt truyền giáo của mình giữa các dân tộc, Giáo Hội tiếp xúc với những nền văn hoá khác biệt và tham gia vào tiến trình đối thoại . Giáo Hội truyền thông cho họ các giá trị của mình, đồng thời nhận lấy những gì tốt đẹp trong các nền văn hoá đó và đổi mới chúng từ bên trong. (Redemptoris missio, n. 52)

160. Không thể hiểu về con người theo phương diện kinh tế mà thôi, không thể định nghĩa con người mà chỉ dựa vào sự kiện nó thuộc một giai cấp nào. Người ta hiểu con người cách đầy đủ hơn, nếu người ta đặt nó trong bối cảnh văn hoá của nó, xét tiếng nói, lịch sử của nó, những quan điểm nó tán thành trước các biến cố căn bản của đời sống như sự sinh đẻ, yêu đương, lao động và sự chết. Trung tâm mọi nền văn hoá là thái độ của con người đối với bí mật lớn lao nhất; bí mật về Thiên Chúa. Kỳ thực, nền văn hoá của các nước khác nhau là bao nhiêu cách bàn đến vấn đề ý nghĩa của sự sống nhân vị: khi người ta loại bỏ vấn đề này, văn hoá và đời sống luân lý cùa các quốc gia sẽ bị băng hoại. (Centesimus Annus, n. 24)

admin
08-07-2006, 07:52 AM
IX. Sự Phát triển Nhân bản Ðích thực

161. Ðối với dân tộc cũng như đối với một cá nhân, có thêm nhiều của cải hơn không phải là mục đích tối hậu. Mỗi một sự thăng tiến đề? có hai mặt. Tuy cần thiết để con người nên người hơn, nhưng nó cũng giam hãm con người như trong ngục thất một khi nó trở thành giá trị lớn nhất ngăn cản nhìn lên trời. Lúc đó, lòng người trở thành chai đá và tinh thần khép kín lại, con người không còn đến với nhau vì tình nghĩa, nhưng chỉ vì lợi lộc, sớm làm cho con người chống đối nhau và chia rẽ nhau. Sự tìm kiếm của cải mà thôi bấy giờ sẽ ngăn trở sự phát triển con người và phản lại sự cao cả bẩm sinh của con người: đối với những quốc gia cũng như đối với những con người, tội tham lam là một hình thức lộ liễu nhất của tình trạng luân lý thấp kém. (Populorum Progressio, n. 9)

162. Tóm lại, ngày nay, tình trạng chậm tiến không phải là chậm tiến về mặt kinh tế; nó cũng là chậm tiến về văn hoá, về chính trị và về mặt nhân bản chỉ thế thôi, như Thông điệp Populorum Progressio đã nêu lên cách đây 20 năm. Ở đây phải tự hỏi thực tại buồn thảm ngày nay có phải là hậu quả, ít ra một phần, của một quan điểm rất eo hẹp, tức là quan niệm chủ ý nhắm tới sự phát triển kinh tế trước tiên mà thôi. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 15)

163. Sự phát triển nhân bản trọn vẹn - phát triển của mọi người và của trọn vẹn con người, cách riêng những người nghèo nhất và xấu số nhất của cộng đồng - nằm tại chính trung tâm của việc Phúc Âm hoá. Giữa việc Phúc Âm hoá và việc thăng tiến con người - sự phát triển, sự giải phóng -có những liên hệ sâu xa. Ðó là những liên hệ thuộc trật tự nhân chủng học, bởi vì con người phải được Phúc Âm hoá không phải là một hữu thể trừu tượng, nhưng nó có liên quan tới các vấn đề xã hội và kinh tế. (Ecclesis in Africa, n. 68)

164. Sự phát triển kỹ thuật và sự phát triển văn minh thời đại chúng ta được đánh dấu bằng sự ưu thắng của kỹ thuật, đòi hỏi một sự phát triển cân đối giữa sự sống luân lý và nền đạo đức. Sự phát triển thứ hai xem ra, vô phúc thay, tụt hậu luôn luôn. Chắc chắn sự phát triển này là tuyệt vời và khó mà không thấy trong nó những dấu chỉ đích thực về sự cao cả của con người, mà năng lực sáng tạo được mặc khải manh nha trong những trang sách Sáng Thế, khởi từ sự diễn tả việc sáng tạo ra nó, nhưng cũng chính sự phát triển này không thể không sinh ra nhiều âu lo. Âu lo thứ nhất liên can tới vấn đề thiết yếu và cơ bản: sự phát triển này mà con người là tác giả vừa là người bảo vệ, có làm cho đời sống con người trên mặt đất này ra "con người hơn" về mọi phương diện không ? Có làm cho sự sống xứng với "con người" hơn không" ? Người ta không thể nghi ngờ có như vậy dưới một vài khía cạnh. Nhưng câu hỏi đó nhất quyết quay lại trên cái điều thiết yếu: con người, với tư cách con người, trong bối cảnh của sự phát triển này, có thật sự tốt hơn không, nghĩa là trưởng thành hơn về mặt thiêng liêng, ý thức hơn về phẩm giá của nhân tính mình, có trách nhiệm hơn, cởi mở hơn với kẻ khác, đặc biệt với những kẻ tay không nhất và những kẻ yếu kém nhất, có sẵn sàng cho và giúp đỡ mọi người không? (Redemptor Hominis, n. 15)

165. Nhưng đồng thời cái quan niệm "kinh tế" hay "vụ kinh tế", đi kèm với từ "phát triển", cũng bị khủng hoảng. Thật vậy, ngày nay người ta hiểu rõ hơn rằng việc tích trữ thuần tuý các của cải và dịch vụ, dẫu cho rằng vì lợi ích của đa số, cũng không đủ để làm cho người ta được hạnh phúc. Do đó, sự có sẵn những lợi lộc thực mà khoa học và kỹ thuật, kể cả tin học, đem lại trong thời gian vừa qua, cũng không đưa tới sự giải phóng mọi hình thức nô lệ. Kinh nghiệm những năm gần đây, chứ?g minh ngược lại rằng, nếu cái khối tài nguyên và khả năng được vào tay con người, mà không được sử dụng theo một ý định đạo đức và một chiều hướng nhằm ích lợi đích thực của nhân loại, thì nó sẽ dễ dàng quay ngược lại chống con người đễ đàn áp con người. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 28)

166. Nếu để xúc tiến việc phát triển, cần phải có những chuyên viên ngày càng nhiều, thì càng cần phải có nhiều hơn nữa những nhà hiền triết biết suy nghĩ sâu xa để tìm kiếm một thuyết nhân bản mói, nhờ đó con người hiện đại tìm được lại chính mình, bằng cách tự nhận ra những giá trị cao quí của tình yêu, tình bạn, cầu nguyện và chiêm ngắm. Như vậy sẽ hoàn thành sự phát triển đích thực, sự phát triển đó, đối với mỗi người và tất cả mọi người, đi từ những điều kiện ít xứng đáng với con người tới những điều kiện xứng đáng với con người hơn. (Populorum Progressio, n. 20)

admin
08-07-2006, 07:53 AM
X. Công Ích

167. Phải hiểu công ích là "toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn (GS, n. 26; x. GS, n. 74). Công ích liên quan đến đời sống của mọi người, đòi hỏi mỗi người phải thận trọng, nhất là những ai đang cầm quyền. Công ích gồm ba yếu tố căn bản:

Trước hết công ích phải tôn trọng con người với tư cách là người. Nhân danh công ích, chính quyền có bổn phận tôn trọng các quyền căn bản và bất khả nhượng của con người. Xã hội phải giúp cho các thành viên thực hiện ơn gọi của mình. Ðặc biệt công ích cho con người thực thi các quyền tự do tự nhiên không thể thiếu để phát triển ơn gọi làm người: như: quyền hành động theo qui tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời tư và quyền được tự do chính đáng, cả trong phạm vi tôn giáo nữa "(GS, n. 26).

Kế đến, công ích phải bước đến sự an lạc xã hội và sự phát triển của chính tập thể. Mọi bổn phận xã hội đều quy về sự phát triển. Nhân danh công ích, nhà cầm quyền có nhiệm vụ làm trọng tài giữa các quyền lợi riêng tư khác nhau; phải giúp mỗi người có được những gì cần thiết để sống đúng với phẩm giá "con người": lương thực, áo quần, sức khoẻ, việc làm, giáo dục và văn hoá, được thông tin đầy đủ, quyền xây dựng một gia đình, v.v... (x. GS, n. 26)

Sau hết, công ích còn phải kiến tạo hoà bình, bảo tồn một trật tự đứng đắn được lâu bền và ổn định. Ðiều này giả thiết rằng quyền bính phải bảo đảm an ninh cho xã hội và cho các thành viên của xã hội bằng những phương thế liêm chính. Công ích đặt nền tảng cho quyền tự vệ chính đáng của cá nhân và tập thể. (GLHTCG, nn. 1906-1909).

168. Sự lệ thuộc nhau một ngày một chặt chẽ hơn và dần dần lan rộng trên toàn thể thế giới, vì thế công ích - tức là toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tơi?sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn - ngày nay mỗi lúc một nới rộng tầm phổ quát hơn và do đó bao hàm những quyền lợi và nghĩa vụ của toàn thể nhân loại. Bất cứ tập thể nào cũng phải tôn trọng nhu cầu và những nguyện vọng chính đáng của các tập thể khác; hơn thế nữa, phải tôn trọng công ích của toàn thể gia đình nhân loại.

Trật tự này phải phát triển mỗi ngày một hơn, phải đặt nền tảng trên chân lý, xây dựng trong công bình, nuôi dưỡng nhờ tình yêu; phải dần dần tìm được trong tự do sự quân bình mỗi ngày mỗi hợp với nhân bản hơn. Ðể chu toàn được những điều trên, phải có sự đỗi mới tâm thức và những sự thay đổi sâu rộng trong xã hội. Thánh Thần Chúa, Ðấng điều khiển những biến chuyể? thời gian và canh tân bộ mặt trái đất với sự quan phòng kỳ diệu, đang hiện diện trong cuộc tiến hoá này. Men Tin Mừng đã và đang làm dậy lên trong lòng con người sự đòi hỏi phải có nhân phẩm, một đòi hỏi không thể cưỡng chế được. (Gaudium et Spes, n. 26)

169. Quyền bính chỉ được hành xử hợp pháp khi mưu cầu công ích cho tập thể liên hệ và đạt tới mục đích ấy bằng các phương thế mà luân lý cho phép. Nếu các nhà lãnh đạo đưa ra những luật bất công hay sử dụng những biện pháp trái luân lý, lương tâm không buộc phải tuân theo. "Trong những trường hợp này, quyền bính không còn là quyền bính nữa mà thoái hoá thành áp bức" (PT, n. 51). (GLHTCG, n. 1903)

170. Nếu người ta xem xét kỹ lưỡng khái niệm nội tại của công ích, một bên, và bên kia, bản chất và nhiệm vụ của quyền bính, không ai mà không thấy chúng liên kết với nhau bằng một sự cân xứng cần thiết. Thật vậy trật tự xã hội, khi thỉnh cầu có một quyền bính để khuyến khích công ích trong xã hội dân sự, đồng thời cũng đòi hỏi quyền bính có thể thực hiện điều đó cách hiệu nghiệm. Do đó, những cơ chế dân sự - trong đó, quyền bính hình thành, thực thi và đạt mục đích - phải có một hình thức và một hiệu năng nhờ đó chúng có thể đưa tới công ích qua những con đường và những phương tiện đáp ứng xứng hợp với những thời gian khác biệt của sự vật. (Pacem in Terris, n. 136)

171. Phải cứu xét những yêu sách của công ích trên bình diện quốc gia: tìm việc làm cho một số công nhân nhiều nhất; tránh đào tạo những hạng ưu tiên, dầu trong số những người này; duy trì một sự cân đối công bình giữa tiền lương và vật giá; cho một số lớn - hết sức có thể - công dân hưởng dụng các của cải và dịch vụ; loại trừ hay giảm thiểu những mất quân bình giữa các khu vực: canh nông, kỹ nghệ, dịch vụ; quân bình sự lan rộng kinh tế với sự phát triển những dịch vụ công cô?g thiết yếu; thích nghi, trong mức độ có thể, những cơ cấu sản xuất với những tiến bộ khoa học và kỹ thuật; tiết chế mức sống đã cải thiện của các thế hệ hiện nay bằng cách lưu ý đến một tương lai tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau.

Hơn nữa công ích có những yêu sách trên bình diện quốc tế: tránh tất cả hình thức cạnh tranh bất chính giữa các nền kinh tế của những nước khác nhau ; tán thưởng, qua những thoả thuận phong phú, sự hợp tác giứa những những nền kinh tế quốc gia; hợp tác làm phát triển kinh tế của những cộng đồng chính trị còn lạc hậu. (Mater et Magistra, nn. 79-80)

172. Bởi vì ở thời đại chúng ta người ta coi công ích hệ tại hơn hết trong việc bảo vệ những quyền và những bổn phận của con người, nên những người chăm lo việc công phải bận tâm cách riêng về việc bảo đảm sự công nhận và tôn trọng những quyền này, sự dung hoà chúng với nhau, bênh vực chúng và khích lệ chúng, để cho mỗi người có thể chu toàn dễ dàng hơn các bổn phận mình. Bởi vì "sứ vụ chính của mọi quyền bính là bảo vệ những quyền bất khả xâm phạm riêng của con người, và làm thế nào cho mỗi người chu toàn dễ dàng hơn các nhiệm vụ mình". (Pacem in Terris, n. 60)

173. Trong mục đích này, những người nắm giữ quyền bính phải được linh hứng bằng một quan niệm lành mạnh về công ích. Công ích bao gồm tổng thể những điều kiện xã hội cho phép và tán thưởng, trong con người, sự phát triển nguyên vẹn nhân vị của mình. Vả lại, Chúng tôi cho là cần thiết việc những tổ chức trung gian và những sáng kiến xã hội khác nhau, mà qua đó người ta diễn tả và thực hiện việc "xã hội hoá", hưởng được một nền tự trị hiệu nghiệm trước các quyền bính, đeo đuổi những ích lợi riêng của họ trong những tương quan về sự hợp tác liêm chính giữa họ và về sự tùng phục những yêu sách của công ích. Ðiều không ít cần hơn là những tổ chúc xã hội đó lấy hình thức cộng đồng thực sự; điều đó có nghĩa là các thành phần của các tổ chức đó đươc coi và được xử sự như những nhân vị, được khuyến khích tham gia tích cực vào sự sống của chúng.

Những tổ chức trong xã hội hiện đại được phát triển và trật tự ở đó được thực hiện ngày càng hơn, nhờ có một sự quân bình đổi mới: một bên là yêu sách hợp tác tự trị về phía mọi người, cá nhân và tập thể; một bên là sự phối hợp trong lúc thuận tiện và sự hướng dẫn từ các quyền bính.
(Mater et Magistra, n. nn. 65-66)

174. Lợi ích chung cũng đòi hỏi các quyền dân sự phải thực tâm cố gắng để đạt được một hoàn cảnh trong đó các công dân có thể thi hành dễ dàng những quyền của mình và đeo đuổi những bổn phận của mình. Kinh nghiệm dạy chúng ta rằng, nếu các quyền hành này không có những biện pháp xứng hợp cho các vấn đề kinh tế, chính trị và văn hoá, những bất đồng giữa các công dân có khuynh hướng trở nên ngày càng ưu thắng, nhất là trong khuôn khổ thế giới hiện đại, và, do đó, các quyền con người trở thành vô hiệu cách tuyệt đối. (Pacem in Terris, n. 63)

admin
08-07-2006, 07:55 AM
XI.Tội Xã Hội

175. Tuy nhiên cần phải tố cáo những cơ cấu kinh tế, tài chánh và xã hội, mặc dầu do ý muốn của con người điều khiển, thường hoạt động một cách dường như máy móc, làm nổi bật sự khác biệt giữa tình trạng giàu có của người này và tình trạng nghèo khổ của người kia. Các cơ chế đó, do các nước mở mang hơn điều khiển trực tiếp hay gián tiếp, do chính cách thức chúng hoạt động, củng cố quyền lợi của những nước điều khiển, nhưng cuối cùng bóp nghẹt hay điều kiện hoá kinh tế các nước kém mở mang. Sau đây, chúng ta phải phân tích kỹ những cơ chế đó, dưới khía cạnh đạo đức và luân lý. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 16)

176. Nói tội xã hội có nghĩa là, trước hết, công nhận rằng, do một sự liên đới nhân bản cũng mầu nhiệm và vô hình như thật sự và cụ thể, tội một người phản xạ cách nào đó trên những kẻ khác ... Tuy nhiên có?những tội, do chính đối tượng của nó, là một sự công kích trực tiếp đối với kẻ khác và - cách chính xác hơn, nếu người ta hiểu theo ngôn ngữ Tin Mừng - đối với anh em. Những tội đó xúc phạm tới Thiên Chúa, bởi vì nó xúc phạm tới tha nhân. Thường thường người ta chỉ rõ những tội đó bằng tính từ "xã hội" và đó là nghĩa thứ hai của từ ngữ... Cũng gọi là tội xã hội tất cả tội nghịch cùng đức công bình trong các tương quan hoặc giữa người với người, hoặc giữa người với cộng đồng, hoặc là giữa cộng đồng với người.. Là tội xã hội tất cả tội nghịch cùng công ích và những yêu sách của nó, trong tất cả lãnh vực rộng lớn của các quyền và bổn phận người công dân. (Reconciliatio et Paenitentia, n. 16)

177. Nếu tình trạng hiện nay lệ thuộc vào những khó khăn đủ loại, không phải vô ích nếu nói tới những "cơ cấu tội lỗi", những cơ cấu này như tôi đã cho thấy trong Tông Huấn Reconciliatio et Paenitentia, bắt nguồn từ tội cá nhân và do đó, không luôn được liên kết với hành vi cụ thể của những con người làm nẩy sinh ra chúng, củng cố chúng và gây trở ngại cho việc diệt trừ chúng. Như vậy những cơ cấu ấy củng cố lẫn nhau, lan tràn và trở thành nguồn gốc của những tội ác và chúng điều kiện hoá cách ăn ở của người ta. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 36)