PDA

View Full Version : Maria VALTORTA (Vân Tước Tử)


admin
12-01-2006, 03:01 AM
MARIA VALTORTA
Maria Vân Tước Tử

http://seigneurjesus.free.fr/mariavaltortaenfance_fichiers/image001.jpgMaria Valtorta sinh tại Caserta, Ý, ngày 14 tháng Ba năm 1897 và mất ngày 12 tháng 10 năm 1961 năm Bà 64 tuổi. Cha bà là lính chuyên nghiệp, nên gia đình thuyên chuyển thường xuyên khắp đất Ý.

Năm 1920, trong khi đi bên mẹ, bà bị một tên vô lại đánh một thanh sắt vào lưng, khiến bà liệt giường ba tháng. Vết thương ảnh hưởng bà suốt đời.

Năm 1924, gia đình định cư vĩnh viễn tại Viareggio, miền Toscane.

Ngày 1 tháng Bẩy năm 1931 bà dâng mình cho Chúa như một hy tế đền tội nhân loại. Từ đó sức khoẻ bà suy kém rất nhanh . Từ muà xuân năm 1931, bà liệt giường và chịu đau đớn triền miên cho đến lúc chết .

Bà để lại 122 cuốn tập, gần 15000 trang giấy chép tay, ghi lại những thị kiến và mạc khải bà nhận được từ năm 1943 cho đến năm 1951 .

Tác phẩm quan trọng nhất là bộ "Le Poème de L'Homme-Dieu", xuất bản bằng tiếng Pháp, gồm 10 tập, mang tựa đề "L'Evangile, tel qu'il m'a été révélé".

Những tác phẩm khác không liên quan tới Phúc Âm. được phát hành tuần tự bằng tiếng Ý theo năm phát hành như sau : Quaderni del 1943, Quaderni del 1944 et Quaderni dal 1945 al 1950.

Bộ sách 10 cuốn «L'Evangile tel qu'il m'a été révélé» không chỉ là một tác phẩm luôn gây nhiều thích thú mà còn là nguồn suy niệm dồi dào để thấu hiểu hơn tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Đức Piô XII đã khuyến khích phát hành tác phẩm ấy. Đó là toàn thể những thị kiến về những cảnh sinh hoạt trong cuộc đời trần thế cuả Chúa Giêsu, từ thời thơ ấu của Đức Mẹ Maria cho đến những ngày đầu Giáo Hội phát sinh .

Tác phẩm cho thấy người viết biết tường tận cặn kẽ về thảo mộc địa phương, về văn hóa, phong tục, tập quán, về địa hình địa vật của xứ Palestine. Đó là những chi tiết mà Maria Valtorta, một bệnh nhân liệt giường, hoàn toàn không thế có kinh nghiệm thực địa . Bà chỉ có cuốn Phúc Âm trong tay, ngay tại giường nằm.

Bà như một nhân chứng, đứng giữa biến cố mà mục kích tận mắt biến cố đang xảy ra, y hệt như một môn đệ. Bà ngửi được mùi hương. Bà cảm được nhiệt độ nóng lạnh lúc ấy. Bà quay lại sau để nhìn người đang đến sau lưng mình.

Hơn nữa tâm lý các nhân vật Bà ghi lại rất phức tạp. Bà ghi rõ ràng các đặc thù của các Tông đồ . Bà theo sát những cố gắng của Chúa Giêsu dành cho Giuda. Bà suy niệm cặn kẽ vai trò của Mẹ Maria, thái độ của các nhóm Do Thái ...
Xin đọc bản văn giới thiệu các công trình dịch thuật ra tiếng Việt này do chính dịch giả, linh mục Nguyễn Phương, viết từ năm 1992:

“Đức Trinh Nữ Trong Di Bút của Chị Maria Vân Tước Tử. Đây là một tập sách tuyệt tác của một linh mục người Ý Gabriel M. Roschini, một tác giả đã suốt đời nghiên cứu về Đức Mẹ, và đã viết 920 mục về đề tài này. Trong số các đề tài vừa nói, có 123 đề tài là nhan đề của những bộ sách hoặc những tập sách lớn về Thánh Mẫu Học. Nhưng theo ý của Roschini cũng như theo ý của những ai đã đọc người, tập “Đức Trinh Nữ...” nói đây là tuyệt tác của tất cả văn nghiệp người. Chính người, sau khi đã đọc hàng ngàn thứ sách báo về Đức Mẹ, cũng so sánh, nói: “So sánh Đức Trinh Nữ do tôi cùng các đồng liêu của tôi trình bày, với Đức Trinh Nữ của Chị Maria Vân Tước Tử trình bày, dường như có một sự cách biệt tương tự sự cách biệt giữa một pho tượng đắp bằng bột giấy với chính Đức Maria đang sống, hay giữa một Đức Trinh Nữ được phác họa bằng những nét chỗ đậm chỗ nhạt lộn xộn với một bức họa Đức Trinh Nữ hoàn hảo về mọi phương diện, về mọi khía cạnh”.

Chính Đức Maria sống này, chính bức họa Đức Trinh Nữ hoàn hảo về mọi phương diện, về mọi khía cạnh này, đang được Cha Roschini trình diện chúng ta qua lời của Chị Maria Vân Tước Tử. Và lời của Vân Tước Tử là chính lời của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su, hoặc đã cho Chị ta thấy những thị kiến về cuộc đời Người và đời Đức Mẹ, hoặc đã đọc cho Chị ta chép những ý nghĩ của Người. Không lạ gì những điều Chị ta viết ra đều là những nét thần tình hoặc là những tư tưởng kỳ diệu. Chẳng những về Đức Mẹ, như chúng ta thấy trong tập sách này, mà còn là về các tông đồ, về giáo hội sơ khởi, nhất là về Chúa Giê-su. Linh động biết bao, thân thế của những người như Lazaro và người em gái thống hối của ông ta, Maria Magdalena!

Chính việc đọc sách này của Cha Roschini đã thúc đẩy chúng tôi đến việc phiên dịch toàn bộ Il Poema Dell’Uomo-Dio (Người Thần Chuyện Thánh) 49 của Chị Vân Tước Tử. Đây là một bộ sách chúng tôi sắp xuất bản bằng Việt ngữ. Thật là một bộ sách đồ sộ, đồ sôï cả về lượng, cả về phẩm. Về lượng, trong tiếng Việt, nó sẽ gồm 14 quyển dày ít ra bằng quyển Đức Mẹ này. Về phẩm, thì nó phải nằm ngay ở chót vót đỉnh giá trị của văn chương Công Giáo sau Phúc Âm. Đồ sộ, nhưng dễ đọc, bởi lẽ nó được làm thành bởi những chuyện thánh, có chuyện ngắn, có chuyện dài, nhưng chuyện nào hầu như cũng đầy đủ ý nghĩa cho chuyện đó. Nói về Thánh gia có 72 chuyện, về năm thứ nhất đời công Chúa Giê-su 107 chuyện, về năm thứ hai 178 chuyện, về năm thứ ba 309 chuyện, và 38 chuyện nữa ăn về thời vinh hiển kể từ khi Chúa Giê-su sống lại cho đến khi Đức Mẹ Linh Hồn và Xác được rước về Trời. Như thế là gồm 704 chuyện, trừ các chuyện được đọc cho chép, hầu như chuyện nào cũng chứa đầy dẫy những chi tiết về vị trí mặt trăng, vị trí mặt trời, về thời tiết, về ngày trong tuần. Theo dõi các chi tiết thời gian trước sau ăn khớp nhau một cách lạ lùng, một việc mà các chuyên gia về thời ký cũng không thể nào làm được suốt một tác phẩm dài, nói về một chuyện hai mươi thế kỷ về trước, và phức tạp như thế. Dựa trên sự thủy chung lạ lùng này, Jean Aulagnier đã có thể lập lại từng ngày, ngày này rồi ngày khác, các hoạt động Chúa Giê-su suốt ba năm của cuộc đời công, kết quả là tập sách Avec Jésus, Au Jour Le Jour (Nhật Ký Chúa Giê-Su) mà chúng tôi cũng đã dịch và sẽ xuất bản sau tập sách của Roschini.

Cũng như tập sách của Roschini, tác phẩm của Aulagnier là một bằng chứng không sao chối cãi về nguồn gốc phi thường của bộ Người Thần Chuyện Thánh. Tác giả của bộ này, Chị Maria Vân Tước Tử, chỉ là một học sinh tốt nghiệp trung học, khi viết, lại là một người tàn tật liệt giường, không thể giúp mình được cái gì, đến cả việc lấy một quyển sách cách chỗ Chị ta ngồi hơn một mét, nghĩa là ngoài tầm tay của Chị ta, vì thân thể Chị ta bất động. Đó là chưa nói đến năm bảy thứ bệnh đang hoành hành Chị ta, làm cho Chị ta đau đớn mình mẩy, choáng váng đầu óc.

Phần chúng tôi, chính vì nhận thấy tính cách phi thường được minh chứng rõ ràng trong các tập sách các tác giả Roschini và Aulagnier nên đã bắt tay dịch tất cả bộ Người Thần Chuyện Thánh. Cũng vì đó mà nay, trước khi cho in bộ sách vừa nói, chúng tôi xuất bản bản dịch của các tập sách Cha Roschini và Aulagnier để dọn đường. Chúng tôi đinh ninh rằng quý vị cũng sẽ có những cảm nghĩ như chúng tôi khi tiến dần trên đường tầm đạo với Maria Vân Tước Tử.”

Nguyễn đức Cung
(trích SỬ GIA NGUYỄN PHƯƠNG (1921-1993) VÀ NỖ LỰC KHAI PHÁ
HƯỚNG BIÊN KHẢO MỚI TRONG NGÀNH SỬ HỌC VIỆT NAM.
tạp chí ĐV số 38 )

KaTy

admin
03-02-2011, 08:44 PM
THÂN PHỤ TÔI .. CÔNG CHÍNH VÀ THÁNH THIỆN

Cô Maria Valtorta là tín hữu Công Giáo đạo đức người Ý. Cô chào đời ngày 14-3-1897 tại Caserta (Nam Ý) và qua đời ngày 12-10-1961 tại Viareggio. Maria là ái nữ của ông Giuseppe Valtorta và bà Iside Fioravanzi.

Là con gái duy nhất nhưng Maria không có diễm phúc được mẹ nuông chìu như bao trường hợp con một và giàu có khác. Trái lại, bà Iside rất nghiêm khắc và gần như nhẫn-tâm hành hạ con gái triền miên. Bù lại, Maria được cha hiền thương yêu vô kể.

Sau 2 vụ hôn nhân bất thành vì bị chính mẹ ruột cản ngăn và phá vỡ, cô Maria bị bệnh và từ năm 1934 - 37 tuổi - cô phải nằm liệt giường. Thời gian này cô được Cha Romualdo Maria Migliorini, Linh Mục dòng ”Tôi Tớ Đức Mẹ MARIA” hướng dẫn về đường thiêng liêng. Nhận thấy cô có tâm hồn đạo đức đặc biệt, Cha truyền cho cô phải viết tự thuật. Vâng lời Cha Linh Hướng, cô viết lại cuộc đời mình như kể chuyện một cánh hoa tím, ẩn khuất, bé bỏng và khiêm tốn. Trong quyển tự thuật, cô Maria viết rất nhiều về người cha dấu ái, ông Giuse Valtorta (1862-1935).

Bên cạnh người mẹ quá nghiêm khắc và ác độc, Ba tôi là tất cả đối với tôi: che chở, cảm thông và làm cho tôi được hạnh phúc. THIÊN CHÚA cho tôi trí nhớ thật sớm. Nhờ đó mà tôi nhớ rất rõ những chi tiết xảy ra từ thời thơ ấu.

Từ năm lên 3 tuổi, vào giờ rãnh và nhất là vào ngày Chúa Nhật, Ba đưa tôi đi dạo chơi với người. Đây là lúc tôi thỏ thẻ thổ lộ cùng Ba tất cả và hỏi Ba nhiều điều. Trong khi đó thì Ba thật hiền từ, nhẫn nhục, chăm chú lắng nghe và giải thích cho tôi biết. Mặc dầu còn nhỏ tuổi nhưng tôi tỏ ra là cô bé thông minh, biết quan sát, biết tìm hiểu và có tâm hồn chiêm niệm. Trước các khả năng này, Ba trả lời các câu hỏi của tôi cách nghiêm chỉnh. Người không coi tôi như đứa con nít nhưng người cư xử với tôi như người lớn có óc thông minh bén nhậy. Tôi học nơi Ba không biết bao nhiêu đức tính cao đẹp. Ngoài ra, các môn học như sử ký địa lý, dầu khô khan khó nhớ thế nào nhưng khi Ba giải thích liền trở thành dễ nhớ và dễ hiểu.

Đối diện với cô học trò thông minh, Ba tôi là vị thầy tốt lành bao la. Tôi cảm thấy an toàn, vững dạ khi ở bên cạnh Ba và hoàn toàn tín thác nơi tình thương yêu, sự bao bọc, chở che cảm thông của Ba.

Hình ảnh từ-ái nhân hậu của thân phụ giúp tôi ngay từ thời thơ bé hiểu sâu xa ý nghĩa câu nói: ”THIÊN CHÚA là CHA”. Chỉ cần nhìn Ba đủ giúp tôi hiểu tình phụ tử của THIÊN CHÚA đối với con cái loài người. Mức độ nhân lành, sự khôn ngoan, Tình Yêu THIÊN CHÚA - CHA Trên Trời - tất cả những đức tính này, tôi cảm nhận, đo lường được qua tình yêu của người cha trần thế của tôi. Và tôi yêu mến THIÊN CHÚA thật, vì tôi kinh nghiệm thế nào là yêu mến một Người Cha!

Giờ đây, khi tôi viết những dòng chữ này thân phụ tôi đã là người quá cố. Người được Chúa gọi về, sau khi trải qua không biết bao nhiêu đau thương thử thách. Nhưng đối với tôi, tôi vẫn tiếp tục yêu thương Ba. Hạnh phúc thay và êm ái thay, mỗi khi ngước mắt nhìn trời cao, tôi có thể nói với cha hiền đang chiêm ngưỡng thánh nhan THIÊN CHÚA trên thiên quốc:
- Ba yêu dấu, nơi trần gian này, con đã không bao giờ làm cho Ba phải buồn, phải khóc!

Giờ đây, có hai tên gọi thật thâm sâu, thật dấu ái đối với tôi. Đó là danh thánh ”Đức Chúa GIÊSU” và tiếng kêu ”Ba ơi!” Đó cũng là hai mối tình đậm đà và trung tín nhất đời tôi.

Ngày thân phụ tôi qua đời, gương mặt người bỗng trở lại nét đẹp nguyên vẹn của thời trai trẻ, thông minh và tuấn tú. Hình ảnh này an ủi tâm hồn tôi rất nhiều, vì tôi hiểu rằng:
- Ba tôi là người công chính và thánh thiện!

... ”Người bôn ba hiểu rộng biết nhiều. Kẻ giàu kinh nghiệm phát biểu thật thông minh. Ai không từng trải thì hiểu biết nông cạn, còn người bôn ba thì lanh lợi, tháo vát. Trong những chuyến du hành, tôi đã được thấy nhiều chuyện, đã hiểu nhiều điều mà không thể nói hết. Đã nhiều lần tính mạng tôi lâm nguy, nhưng nhờ kinh nghiệm, tôi đã thoát chết. Những người kính sợ THIÊN CHÚA sẽ được sống lâu dài, vì họ cậy trông vào Đấng cứu thoát họ. Ai kính sợ THIÊN CHÚA thì không sợ hãi gì, họ không run rẩy, vì chính nơi Người, họ hằng cậy trông. Phúc thay tâm hồn kẻ kính sợ THIÊN CHÚA! Họ nương tựa vào ai? Và ai nâng đỡ họ? THIÊN CHÚA để mắt trông nom những ai yêu mến Ngài. Ngài là khiên mộc vững chắc, là sức mạnh đỡ nâng, là tàn che gió nóng, là bóng mát giữa trưa. Ngài giữ gìn cho khỏi vấp ngã, và bảo vệ cho khỏi té nhào. Ngài nâng cao tâm hồn, sáng soi con mắt. Ngài ban sức khoẻ, sự sống và phúc lành” (Sách Huấn Ca 34,9-17).

(Maria Valtorta, ”AUTOBIOGRAFIA”, Tipografia Editrice M.Pisani, 1991, trang 16-21)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
http://www.oecumene.radiovaticana.org/vie/Articolo.asp?c=459381