admin
03-07-2006, 12:36 PM
Linh đạo và phụng vụ (http://www.maranatha-vietnam.net/doc/M04/linh_dao_4.htm)
Aloysius Pieris, S.J.
Trần Duy Nhiên dịch
Suốt 50 năm trước Vatican II, hai giải pháp song song được đề xuất qua các luận chứng đối ngược về linh đạo của Dòng Tên và Dòng Biển Đức mà ai cũng biết. Codex Juris Canonici (Giáo luật) năm 1917 đã nhấn mạnh đến những hành vi cụ thể trong việc thờ phượng Ki-tô giáo trên các lãnh vực nghi lễ, luật lệ, biểu hiện, phẩm trật. Những sách vở thần học sau đó đã đẩy khái niệm này đến những mức độ ngớ ngẩn, qua việc định nghĩa phụng vụ chỉ đơn thuần là phần nghi lễ bên ngoài, tô điểm cho việc thờ phượng của người Công giáo hoặc là một phương tiện hàng giáo sĩ dùng để kiểm soát kết quả việc thờ phượng của quần chúng.Ta hiểu vì sao Dòng Tên muốn bổ túc cho phụng vụ bằng một linh đạo cá nhân, hướng về chiêm niệm, để nhờ đó phụng vụ không chỉ là một mớ lễ nghi.
Trường phái Biển Đức, do Beauhiu lãnh đạo (nối gót Guéranger ở thế kỷ XIX), cố gắng cứu phụng vụ khỏi những nghi lễ rườm rà bằng cách định nghĩa lại: phụng vụ là việc Giáo hội (rõ ràng không phải chỉ là giáo sĩ) tiếp nối mầu nhiệm Đức Ki-tô. Tham dự vào mầu nhiệm này chính là linh đạo đích thực.
Khi phê bình linh thao của thánh I-nhã, một vài linh mục Biển Đức nhấn mạnh rằng một linh đạo mà không mang tính phụng vụ thì cũng không mang tính Giáo hội (và như thế làm sao có thể gọi là Ki-tô giáo?). Phụng vụ không gì khác hơn việc Đức Ki-tô toàn thể – với Đầu và các chi thể – thực thi chức vụ tư tế của mình. Do đó, linh đạo không phải là một khúc nhạc dạo hay nhạc đệm hoặc một cái gì đó bổ túc cho phụng vụ, nhưng nó hợp nhất với phụng vụ, nghĩa là với sự thờ phượng của Ki-tô hữu. Ta có thể nói rằng Dòng Tên đã nhấn mạnh việc tham gia cá nhân vào điều mà họ cho là nghi lễ ‘tập thể’, trong khi đó Dòng Biển Đức tháp nhập tính chất Giáo hội vào đường hướng ‘linh đạo’ cá nhân. Cuối cùng các linh mục Biển Đức đã thắng cuộc.
Cách hiểu mới về phụng vụ đã được đề cao trong Thông điệp Mediator Dei (1947). Từ đó, chỉ cần bước một bước là đến Hiến chế Phụng vụ của Vatican II; một phần nhờ vào các ‘cải tổ’ từ trên xuống và sự ‘canh tân’ từ dưới lên trong lòng Giáo hội. Vatican II không do dự khi tuyên bố rằng phụng vụ là ‘nguồn mạch và tuyệt đỉnh’ (fons et culmen) của đời sống Ki-tô hữu. Trước đó, chưa bao giờ Giáo hội liên kết linh đạo và phụng vụ một cách chặt chẽ như thế.
Vì vậy, khi Hiến chế Phụng vụ được chấp thuận một cách vẻ vang ở Công đồng, các nhà phụng vụ hy vọng tràn trề rằng cuộc canh tân phụng vụ sẽ kéo theo cuộc canh tân linh đạo trong Giáo hội. Nhưng sau 20 năm, Công đồng thành thật nhận định rằng kết quả đã không được như thế. Instructiones (các chỉ giáo) của Công đồng thường được tiếp thu và áp dụng với một não trạng tiền công đồng. Giáo Triều La Mã đã thất bại trong việc đưa ra một ‘thay đổi mẫu mực’ từ định nghĩa phụng vụ theo Giáo luật đến tinh thần Công đồng về việc thờ phượng. Và nhiều nhà canh tân đã năng nổ di chuyển bàn thờ, đưa ngôn ngữ địa phương vào, soạn những bài kinh và bài hát mới, đơn giản hoá y trang, nâng cao chất lượng các cử điệu v.v. Kết quả là phụng vụ nhiều khi trở thành một loạt lời nói và hành vi ngăn cản không cho Ngôi Lời lên tiếng và hoạt động dưới dạng bí tích bên trong cộng đoàn.
Ngược với lời giáo huấn Công đồng về phụng vụ, điều xảy ra thường là một sự thay đổi lễ nghi chứ không phải thay đổi đời sống. Và một khi nghi lễ mới mất đi tính chất mới mẻ, thì Giáo hội lại trở về vị trí cũ. Thế là linh đạo (= đời sống thiêng liêng) một lần nữa phải đi du nhập từ bên ngoài để tạo sức sống cho phụng vụ. Những canh tân bằng đặc sủng, những phương thức thần bí phương Đông tràn ngập vào Giáo hội phương Tây, làm nổi bật trở lại không những tính chất cá nhân mà còn cả tính chất phi chính trị truyền thống của cả linh đạo lẫn phụng vụ. Muốn có sự liên kết giữa phụng vụ và linh đạo, Giáo hội La-mã lại tuột về cái nhị nguyên cũ xưa. Trên bình diện này, trái với mọi chờ mong, tình trạng hậu Vatican II chỉ hơi khá hơn thời hậu Tridentino mà thôi, thời mà phụng vụ vẫn được bổ túc bằng bao nhiêu hành vi sùng kính và ‘các việc đạo đức’.
Vì sao chúng ta không ngừng đi vào vết xe cũ? Vì sao có vòng luẩn quẩn này? Theo thiển ý của người viết, lý do như sau: có một lúc nào đó trong quá trình lịch sử, Giáo hội La-mã đã hạ giá chiều kích cốt lõi của linh đạo - phụng vụ trong đời sống (= sống đạo), đây là nguồn mạch của mọi biểu hiện bí tích, vì đó là bối cảnh của cuộc gặp gỡ sống động và thường xuyên trong cuộc sống trần thế với Thiên Chúa trong Đức Ki-tô. Đời sống bí tích và đời sống thiêng liêng không thể nào được kết hợp trong bản thân mỗi người nếu cả hai đều bị bứng rễ khỏi môi trường tự nhiên của mình, nơi mà mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô đang tiếp diễn trong những cuộc đời (trần thế) và những cuộc đấu tranh, trong những cái chết và những chiến thắng của chi thể Người. Bởi lẽ Đức Ki-tô không phải đã chết trong đền thờ nơi cử hành phụng vụ truyền thống, nhưng chết ở ngoài đền thờ và Ubi Christus, Ibi Ecclesia (đâu có Đức Ki-tô, ở đấy có Giáo hội) chứ không phải là ngược lại. Ngày nay, bất cứ nơi nào mà mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành, ở đấy Đức Ki-tô hợp nhất với chi thể của Người; đấy là nơi Giáo hội đích thực được tập hợp; đấy là nơi mà phụng vụ đúng nghĩa được cử hành; đấy là nơi linh đạo chân chính được sống. Bởi lẽ Đức Ki-tô thực thi chức vụ tư tế của mình trong khi biến mình thành của lễ hiến tế.
Aloysius Pieris, S.J.
Trần Duy Nhiên dịch
Suốt 50 năm trước Vatican II, hai giải pháp song song được đề xuất qua các luận chứng đối ngược về linh đạo của Dòng Tên và Dòng Biển Đức mà ai cũng biết. Codex Juris Canonici (Giáo luật) năm 1917 đã nhấn mạnh đến những hành vi cụ thể trong việc thờ phượng Ki-tô giáo trên các lãnh vực nghi lễ, luật lệ, biểu hiện, phẩm trật. Những sách vở thần học sau đó đã đẩy khái niệm này đến những mức độ ngớ ngẩn, qua việc định nghĩa phụng vụ chỉ đơn thuần là phần nghi lễ bên ngoài, tô điểm cho việc thờ phượng của người Công giáo hoặc là một phương tiện hàng giáo sĩ dùng để kiểm soát kết quả việc thờ phượng của quần chúng.Ta hiểu vì sao Dòng Tên muốn bổ túc cho phụng vụ bằng một linh đạo cá nhân, hướng về chiêm niệm, để nhờ đó phụng vụ không chỉ là một mớ lễ nghi.
Trường phái Biển Đức, do Beauhiu lãnh đạo (nối gót Guéranger ở thế kỷ XIX), cố gắng cứu phụng vụ khỏi những nghi lễ rườm rà bằng cách định nghĩa lại: phụng vụ là việc Giáo hội (rõ ràng không phải chỉ là giáo sĩ) tiếp nối mầu nhiệm Đức Ki-tô. Tham dự vào mầu nhiệm này chính là linh đạo đích thực.
Khi phê bình linh thao của thánh I-nhã, một vài linh mục Biển Đức nhấn mạnh rằng một linh đạo mà không mang tính phụng vụ thì cũng không mang tính Giáo hội (và như thế làm sao có thể gọi là Ki-tô giáo?). Phụng vụ không gì khác hơn việc Đức Ki-tô toàn thể – với Đầu và các chi thể – thực thi chức vụ tư tế của mình. Do đó, linh đạo không phải là một khúc nhạc dạo hay nhạc đệm hoặc một cái gì đó bổ túc cho phụng vụ, nhưng nó hợp nhất với phụng vụ, nghĩa là với sự thờ phượng của Ki-tô hữu. Ta có thể nói rằng Dòng Tên đã nhấn mạnh việc tham gia cá nhân vào điều mà họ cho là nghi lễ ‘tập thể’, trong khi đó Dòng Biển Đức tháp nhập tính chất Giáo hội vào đường hướng ‘linh đạo’ cá nhân. Cuối cùng các linh mục Biển Đức đã thắng cuộc.
Cách hiểu mới về phụng vụ đã được đề cao trong Thông điệp Mediator Dei (1947). Từ đó, chỉ cần bước một bước là đến Hiến chế Phụng vụ của Vatican II; một phần nhờ vào các ‘cải tổ’ từ trên xuống và sự ‘canh tân’ từ dưới lên trong lòng Giáo hội. Vatican II không do dự khi tuyên bố rằng phụng vụ là ‘nguồn mạch và tuyệt đỉnh’ (fons et culmen) của đời sống Ki-tô hữu. Trước đó, chưa bao giờ Giáo hội liên kết linh đạo và phụng vụ một cách chặt chẽ như thế.
Vì vậy, khi Hiến chế Phụng vụ được chấp thuận một cách vẻ vang ở Công đồng, các nhà phụng vụ hy vọng tràn trề rằng cuộc canh tân phụng vụ sẽ kéo theo cuộc canh tân linh đạo trong Giáo hội. Nhưng sau 20 năm, Công đồng thành thật nhận định rằng kết quả đã không được như thế. Instructiones (các chỉ giáo) của Công đồng thường được tiếp thu và áp dụng với một não trạng tiền công đồng. Giáo Triều La Mã đã thất bại trong việc đưa ra một ‘thay đổi mẫu mực’ từ định nghĩa phụng vụ theo Giáo luật đến tinh thần Công đồng về việc thờ phượng. Và nhiều nhà canh tân đã năng nổ di chuyển bàn thờ, đưa ngôn ngữ địa phương vào, soạn những bài kinh và bài hát mới, đơn giản hoá y trang, nâng cao chất lượng các cử điệu v.v. Kết quả là phụng vụ nhiều khi trở thành một loạt lời nói và hành vi ngăn cản không cho Ngôi Lời lên tiếng và hoạt động dưới dạng bí tích bên trong cộng đoàn.
Ngược với lời giáo huấn Công đồng về phụng vụ, điều xảy ra thường là một sự thay đổi lễ nghi chứ không phải thay đổi đời sống. Và một khi nghi lễ mới mất đi tính chất mới mẻ, thì Giáo hội lại trở về vị trí cũ. Thế là linh đạo (= đời sống thiêng liêng) một lần nữa phải đi du nhập từ bên ngoài để tạo sức sống cho phụng vụ. Những canh tân bằng đặc sủng, những phương thức thần bí phương Đông tràn ngập vào Giáo hội phương Tây, làm nổi bật trở lại không những tính chất cá nhân mà còn cả tính chất phi chính trị truyền thống của cả linh đạo lẫn phụng vụ. Muốn có sự liên kết giữa phụng vụ và linh đạo, Giáo hội La-mã lại tuột về cái nhị nguyên cũ xưa. Trên bình diện này, trái với mọi chờ mong, tình trạng hậu Vatican II chỉ hơi khá hơn thời hậu Tridentino mà thôi, thời mà phụng vụ vẫn được bổ túc bằng bao nhiêu hành vi sùng kính và ‘các việc đạo đức’.
Vì sao chúng ta không ngừng đi vào vết xe cũ? Vì sao có vòng luẩn quẩn này? Theo thiển ý của người viết, lý do như sau: có một lúc nào đó trong quá trình lịch sử, Giáo hội La-mã đã hạ giá chiều kích cốt lõi của linh đạo - phụng vụ trong đời sống (= sống đạo), đây là nguồn mạch của mọi biểu hiện bí tích, vì đó là bối cảnh của cuộc gặp gỡ sống động và thường xuyên trong cuộc sống trần thế với Thiên Chúa trong Đức Ki-tô. Đời sống bí tích và đời sống thiêng liêng không thể nào được kết hợp trong bản thân mỗi người nếu cả hai đều bị bứng rễ khỏi môi trường tự nhiên của mình, nơi mà mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô đang tiếp diễn trong những cuộc đời (trần thế) và những cuộc đấu tranh, trong những cái chết và những chiến thắng của chi thể Người. Bởi lẽ Đức Ki-tô không phải đã chết trong đền thờ nơi cử hành phụng vụ truyền thống, nhưng chết ở ngoài đền thờ và Ubi Christus, Ibi Ecclesia (đâu có Đức Ki-tô, ở đấy có Giáo hội) chứ không phải là ngược lại. Ngày nay, bất cứ nơi nào mà mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành, ở đấy Đức Ki-tô hợp nhất với chi thể của Người; đấy là nơi Giáo hội đích thực được tập hợp; đấy là nơi mà phụng vụ đúng nghĩa được cử hành; đấy là nơi linh đạo chân chính được sống. Bởi lẽ Đức Ki-tô thực thi chức vụ tư tế của mình trong khi biến mình thành của lễ hiến tế.