PDA

View Full Version : Kiến trúc nhà thờ ở Istanbul


admin
20-09-2008, 08:26 AM
Kiến trúc nhà thờ ở Istanbul

Đền thờ Xanh, aya sofya (nhà thờ thánh sofia) và nhà hát ca múa nhạc Hippo-drome (trung tâm văn hóa và chính trị của nền văn minh byzantine) đều là “hàng xóm” với nhau. trong đó, Đền thờ Xanh do sedefkar Mehmet aga thiết kế cho sultan ahmet 1 là có niên đại gần đây nhất, khoảng giữa 1606 - 1616. tên đền thờ dễ khiến người ta lầm tưởng về màu sắc bên ngoài của nó, nhưng thực ra, chính nội thất đền thờ mới là thứ được trang hoàng bằng những viên gạch màu xanh sang quý. Vào lúc hoàng hôn, nếu nhìn ngược sáng, 6 ngôi tháp của đền thờ và hệ mái vòm xếp lớp quả là một cảnh tượng hùng vĩ. những sợi dây xích vắt vẻo chào đón du khách ở khu vực ngoại vi của tường bao. Chúng được thiết kế như để buộc các kỵ sĩ phải xuống ngựa trước khi vào chốn linh thiêng này. những du khách theo đạo Hồi sẽ vào theo cửa tây, còn khách thường thì vào qua cửa bắc. Ở chính giữa sân thờ có sadirvan hay còn gọi là giếng gột rửa, các tín đồ sử dụng trước khi vào nơi thờ tự. Kerena mô tả lại cách thức người ta phân chia thảm lót sàn thành vô số ô vuông chằn chặn, có kích cỡ bằng một tấm đệm để các tín đồ quỳ gối cầu nguyện. nhiều ô có chủ cố định.

Gần đó là thánh đường sofia (aya sofya), được xây dựng khoảng một thiên niên kỷ trước Đền thờ Xanh, khi Constantinople trở thành kinh đô của Đông la Mã. Hẳn hoàng đế la Mã Justinian từng ao ước khôi phục lại quyền lực ở phương đông bằng việc xây dựng một biểu tượng quyền lực. Kết quả là du khách quốc tế đến thăm aya sofya ca ngợi công trình của ông là một trong những kiến trúc cổ đẹp nhất thế giới. Công trình bao gồm rất nhiều hàng cột, mái vòm và vô số cửa sổ trổ trên tường, trên mái vòm đón ánh sáng soi rọi vào khảm sàn bên dưới. sau 5 năm xây dựng, năm 537, ngôi thánh đường tráng lệ này trở nên kiểu mẫu của nghệ thuật kiến trúc và xây dựng thời byzantine. thật vậy, khi hoàn tất, hoàng đế Justinian tự hào: “solomon, ta đã vượt trên ông!”. aya sofya giữ kỷ lục là ngôi thánh đường rộng lớn nhất thế giới cho đến khi thánh đường sevilla được xây dựng vào năm 1520.Công trình này là một minh chứng hùng hồn cho sự đính ước giữa các nền văn hóa, góp phần biến thổ nhĩ Kỳ trở thành một quốc gia thế tục, dung hòa như hiện tại. thật vậy, khi người Ottoman chiếm đất này vào năm 1453, phát hiện ra công trình trong tình trạng xuống cấp, họ đã cải tạo nó. bởi vì người Hồi giáo không được phép thờ tượng ảnh, nhiều đồ vật trang trí của người thiên Chúa giáo, bao gồm cả gian tượng thánh bằng bạc cao 50 feet ( 15,24 m), đã bị tháo dỡ. Họ còn khảm những hoa văn Hồi giáo lên trên tháp để chuyển chức năng của thánh đường thành một đền thờ Hồi giáo. Vào năm 1935, Mustafa Kemal ataturk, tổng thống đầu tiên và cũng là “người cha” của đất nước thổ nhĩ Kỳ thế tục (tách biệt rạch ròi giữa tôn giáo và nhà nước), tuyên bố công trình này là bảo tàng Đa Văn hóa. những tấm thảm, sơn tường và đồ trang trí được lột bỏ, để lộ những hoa văn chưa từng được nhìn thấy kể từ thời Marco Polo. Đền thờ Xanh, thật sự mà nói, là một âm vọng của kiến trúc aya sofya, ít nhiều vay mượn vẻ chói lọi của “người hàng xóm”, điều đó càng cho thấy tài hoa của những người thợ xây dựng 1500 năm về trước. Một hình ảnh quen thuộc khác trong khu phố cổ, phía bên ngoài không gian thờ tự là “teapot Men” (trà nhân). Rực rỡ trong trang phục đỏ và trắng truyền thống của thổ nhĩ Kỳ, những người đàn ông mang trên lưng những chiếc ấm to kiểu samovar và vì vậy mà thành ra những bình trà di động.

admin
20-09-2008, 08:26 AM
Kerena và các giáo viên người adelaide từng dạy học ở thổ nhĩ Kỳ hồi thập niên 90 - sally Collins và Penny Jones, cũng trìu mến khi nói về Grand bazaar, ngôi chợ lớn và xưa nhất thế giới, nơi có khoảng 3000 gian hàng. Vài gian hàng có truyền thống rất lâu đời, chẳng hạn tiệm vải Egin có mặt từ 140 năm trước. tiệm này chuyên cung cấp khăn khố cho khách sạn 7 sao nổi tiếng braj-el-arab ở Dubai, thu hút khá nhiều khách quen là các nhà thiết kế nổi tiếng như Dulce Gab-bana và Rifat Ozbe. Ở đây cũng có rất nhiều hàng hóa tinh xaœo cuœa tây aÙ và Đông aÙ: áo cáp tan, vải vóc dệt thủ công, khăn vuông và khăn choàng nhiều màu sặc sỡ, đồ trang sức và các cổ vật đến từ khắp vùng miền đất nước. Đây không chỉ là một ngôi chợ mà còn là một kho lưu trữ, một kho tàng văn hóa, nơi bảo tồn nghề thủ công xưa và những nghề nghiệp đã thất truyền, như lời nhận xét của một du khách. trong một ghi chép thú vị, Kerena cho biết cô thấy tức cười vì một tấm biển gần khu chợ hương liệu và gia vị có ghi dòng chữ “Xin lỗi chúng tôi không đóng cửa”. Rõ là đề cao nghề buôn! Khu chợ này nằm kế cầu Galata bắc qua eo biển bosphorus dẫn tới “thành phố Mới”. Chợ cũng là một công trình lịch sử lớn, bày bán đủ thứ hương liệu quý, phong phú về màu sắc, hình thù, hương vị. Istanbul cũng có chợ trái cây rau quả lớn nhất, ngoài ra, du khách nào muốn có những con cá tươi ngon nhất thành phố thì đến chợ balik Pazari Fish bazaar. Istanbul cũng có các lớp dạy nấu ăn theo phong cách byzantine-armenian, học viên thường xuyên được đi chợ chọn mua nguyên vật liệu và tìm hiểu thêm về nền văn hóa ẩm thực thổ nhĩ Kỳ. từng du lịch dọc theo bờ biển Greco-turkish, tôi thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa hai phong cách ẩm thực nêu trên, nói chung cả hai đều rất tốt cho sức khỏe, dễ tiêu hóa, cân đối, giàu dinh dưỡng. Chỗ nghỉ trong khu phố cổ cũng rất đa dạng. Một số nơi được liệt vào hạng “những khách sạn quyến rũ”. Ở đó, người ta giữ lại các món vật dụng truyền thống, giữ nguyên bản tính hiếu khách địa phương, chỉ bổ sung thêm các tiện nghi hiện đại. Có thể tìm các khách sạn loại này ở Quảng trường sultanahmet gần Dinh topkapi, Đền thờ Xanh… Một ví dụ là Four seasons, trước kia là nhà tù, nay được bài trí với thảm thêu, các tấm thảm xưa, cẩm thạch và các đồ khảm quý giá. Gần đó còn có vô số nhà nghỉ khác, nhiều nơi từng là nhà ở của đế chế Ottoman xưa. Vài khách sạn có dấu ấn riêng biệt độc đáo - Kerena bỗng nhớ đến một nơi có các bậc thang trong phòng ngủ dẫn vào… hai chiếc tủ quần áo. Mở những cánh cửa ra sẽ thấy toilet một nơi, phòng tắm một nẻo! Còn đối với những ai ưa chốn tiếng tăm, Công nương Diana, chuỗi khách sạn Romance and Orient Express có lẽ sẽ gợi nhớ nhiều thứ… Vượt qua cầu ataturk, đặt chân tới “thành phố Mới” nằm bên rìa châu aÂu, bạn sẽ choáng ngợp bởi hàng loạt khu giải trí và mua sắm sôi động. trong số đó, khu beyogli cho ta cảm nhận rõ rệt nhất về chốn đô thành phù hoa Istanbul. sự phồn thịnh, đa sắc in dấu trên khắp 45 con đường trong thành phố, ở đó, những kiểu quần áo ra chiều thủ cựu cài lẫn với những bộ thời trang cáu cạnh. Các địa điểm vui chơi giải trí mọc như nấm ở chung quanh, nào là Fado Irish Pub, 360, le Caprice, sir Winston tea House… Xe điện tất tả đón trả khách trên các cung đường thời trang, quang cảnh hệt như ở Melbourne hay Hong Kong. trung tâm thời trang nisaantasi cũng diễn tả sinh động triết lý sống hiện đại của người thổ, nghĩa là, mang đậm phong thái Paris với những tòa lâu đài cổ nguy nga, những cửa hàng đắt đỏ và hàng quán cà phê dành cho khách bát phố thanh lịch. Khu Emporia thì có đầy đủ các nhãn hiệu danh tiếng như Valentino, louis Vuitton, Hugo boss, Robert Cavalli. Đại lộ abdi Ipekci, Đại lộ baghdad - nơi quân đội Ottoman tháo chạy khỏi Istanbul và vòm cung ‘Reasurans’ cũng là những địa chỉ dành cho khách du lịch có gu. trong danh sách những nơi “phải đến”, cần kể thêm nhà tắm Galatsaray, xây dựng năm 1715 theo phong cách cổ của thổ nhĩ Kỳ, bảo tàng Khảo cổ học Istanbul với quan tài đá của alexander Đại đế nằm giữa muôn vàn kho báu. Dinh tokapi (nằm trong phố cổ) lưu giữ vết tích của hậu cung ngày trước, các thánh tích bằng vàng và con dao găm tokapi, một trong những con dao nạm kim cương nổi tiếng nhất thế giới. Mới hơn là dinh Dolmabahce xây vào thế kỷ 19, tiếng reo cuối cùng của Đế chế Ottoman một thời huy hoàng một thời hoang phế, dinh có kích thước vĩ đại và mang đậm phong cách châu Âu. Phần nằm bên rìa Á của Istanbul cũng hứa hẹn mang lại cho du khách một cảm nghiệm khác hẳn. napoléon từng nói: “Constantinople tự thân là một đế chế. nó là nền móng quyền lực; bất kỳ ai sở hữu nơi này đều có thể thống trị thế giới”. Vì vậy, Istanbul hiện đại và cổ điển, nơi đông - tây chạm mặt, đoan chắc sẽ là một điểm đến đáng đồng tiền bát gạo.

Trích từ: http://www.dont-eat-the-cardboard.com/wp-content/uploads/2008/02/istanbul-saigon-city-life.pdf.

admin
20-09-2008, 08:32 AM
Thổ Nhỉ Kỳ Xưa Và Nay
Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay có tên chính thức là Nước Cộng Hòa Thổ Nhỉ Kỳ: có Tổng Thống (Ahmet Necdet Sezer), Thủ Tướng (Recep Tayyip Erdogan) và Quốc Hội. Thủ đô là Ankara. Theo tài liệu báo chí, dân số của Thồ Nhỉ Kỳ hiện nay khỏang 72 triệu; trong đó 80% là người Thổ, 20% là sắc dân Kurk. Ngoài ra còn có khoảng một triệu người di dân "tị nạn" từ các nước chung quanh đến. Ngôn ngữ chính là tiếng Thổ, nhưng cũng có sắc dân nói tiếng Kurk, tiếng Àrập, tiếng Armenia, và tiếng Hy Lạp. Về tôn giáo thì hầu hết là Hồi Giáo (99.80%) (đa số là phái Sunni); một số là Do Thái Giáo; Chính Thống Giáo có khỏang 5,000 tín hữu (có 150 triệu tín hữu Chính Thống Giáo trên tòan thế giới). Công Giáo có 32,000 tín hữu (phần nhiều sống tại Istanbul). Theo hiến pháp Thổ, quyền tự do tôn giáo được tôn trọng; tuy nhiên, theo báo chí, những sắc tộc và tôn giáo thiểu số thường gặp khó khăn trong sinh họat hàng ngày, và thực hành tín ngưởng của mình. Các người làm các công tác tôn giáo từ nước ngòai vào cũng gặp khó khăn khi xin Giấy Nhập Cảnh.
Thổ Nhỉ Kỳ có hình thể như một hình vuông. Diện tích tổng cộng là 814,578 km2; trong đó 790,200 km2 là thuộc Á Châu (phía Đông) và 24,378 km2 là thuộc Âu Châu (phía Tây). Nhìn trên Bản đồ Thế Giới, Thổ Nhỉ Kỳ nằm giữa ngã ba Á Châu và Âu Châu; băng qua biển Địa Trung Hải là Phi Châu. Phía Bắc là biển Hắc Hải; phía Nam là Địa Trung Hải. Phía Đông tiếp giáp Georgia (trước thuộc Liên Bang Sô Viết), Armenia, và Iran. Phía Tây giáp Bulgarie và Hy Lạp.
Thổ Nhỉ Kỳ đã có một lịch sử lâu dài từ khi còn nằm trong lãnh thổ của Đế Quốc Byzance. Trải qua những biến cố khác nhau của lịch sử, đến năm 1453, những người Thổ chiếm và thiết lập Đế Quốc Hồi Giáo Ottamans, thủ đô là Istanbul (đổi tên từ Constantinople). Đến năm 1923, cuộc cách mạng do Mustafa Kemal (1881-1938) lãnh đạo đã lật đổ chế độ Ottamans và thiết lập Cộng Hòa Thổ Nhỉ Kỳ và đã biến nước Thổ Nhỉ Kỳ trở nên có tính cách dân chủ và tự do hơn; đồng thời nhờ Ông mà cuộc cài tổ và tái thiết Thổ Nhỉ Kỳ được tiến rất nhanh. Vì thế ngày nay Thổ Nhỉ Kỳ tôn vinh Ông là "Người Cha của những người Thổ Nhỉ Kỳ". Thổ Nhỉ Kỳ đã được gia nhập Liên Hiệp Quốc từ năm 1945; là thành viên của NATO từ năm 1952; và đang hy vọng được gia nhập EU (Liên Hiệp Âu Châu). Ngày cách mạng 19/10/1923 là ngày chính thức thành lập nước Cộng Hòa Thổ Nhỉ Kỳ và được mừng là ngày Quốc Khánh.
Thổ Nhỉ Kỳ cũng nổi tiếng về công ngiệp làm thảm đẹp không kém gì thảm "Ba Tư". Có một thời Thổ Nhỉ Kỳ cũng nổi tiếng về có nhiều ngựa đẹp, nhất là ở vùng Cappadocia xưa. Chử Cappadocia có ngĩa "Đất ngựa đẹp". Nói đến ngựa chúng ta cũng nhớ đến câu chuyện "Ngựa Thành Troie". Troie là một thành cổ xưa cũng thuộc Thổ Nhỉ Kỳ.
Nói đến Thổ Nhỉ Kỳ, chúng ta cũng nhớ đến "Ông Già Noel". Ông Già Noel được gọi là "Santa Claus" chính là tên gọi của Thánh Nichola; vì trong tiếng Đức "Nichola" là "Klaus". Thánh Nichola sống vào thế kỷ IV và là Giám Mục thành Myra, nay thuộc Thổ Nhỉ Kỳ. Theo truyền thuyết Ngài là người hay làm "phép lạ" để cứu những người gặp hoàn cảnh khó khăn. Đến thế kỷ thứ IX, dân chúng người Đức đặt tên cho Ngài "Người Xuất Hiện Buổi Chiều trước Lễ Giáng Sinh!" có tên là "Santa Claus". Đến thế kỷ XI, dân chúng lại coi Ngài như một Ông Già chuyên môn đi phát kẹo cho trẻ em vào buổi chiều Đại Lễ Giáng Sinh.
Vì là điểm giao lưu thuận lợi giữa Đông và Tây, giữa Á Châu và Âu Châu, Thổ Nhỉ Kỳ đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử của Đế Quốc Rôma xưa, của lịch sử Thế Giới và của Giáo Hội Công Giáo. Thổ Nhỉ Kỳ đã được coi là cây cầu lịch sử nối liền Phương Đông và Phương Tây. Thánh Phaolồ đã từng đi qua và sống ở những vùng thuộc Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay; đặc biệt là hai thành phố Ephêsô và Capadocia.
Thành phố cổ Ephêsô đã đổ nát và nay là một trong những nơi khảo cổ nổi tiếng nhất thế giới. Thời Đế Quốc Rôma, Ephêsô là một thành phố đông dân cư và là trung tâm thương mại rất thịnh vượng, nằm trên bờ biển Egée; cũng là nơi có một Cộng Đòan tín hữu Công Giáo rất thịnh vượng. Có nhiều người Hy Lạp và Do Thái cư ngụ ở đây. Thánh Phaolô trong cuộc hành trình truyền giáo III đã đi qua đây và ở lại khoảng 2 năm (theo Sách Công Vụ Tông Đồ 19, 10) hoặc 3 năm (CVTĐ 20, 31) (khoảng năm 54-57) và thành lập Giáo Đòan Ephêsô; sau đó Ngài từ giã Giáo Đòan Ephêsô vào dịp Lễ Ngủ Tuần (1Côrintô 16,8) vì phải lên đường trở về Giêrusalem (CVTĐ 19,21 và 20, 17-22). Trong thời gian cư ngụ tại Ephêsô, Thánh Phaolô đã viết "Thư I gửi Tín Hữu Corintô" (I Cor 16, 8). Thánh Phaolô cũng viết một lá thơ "Gửi Tín Hữu Ephêsô" mà theo truyền thống thì Ngài đã viết thơ này khi bị giam giữ tại Rôma (61-63). Tại Ephêsô, Thánh Phaolô gặp một tín hữu Do Thái là Ông Apôlô. Là một người có tài hùng biện và thông thạo Kinh Thánh, Ông đã cộng tác nhiệt thành với Thánh Phaolô trong việc rao giảng Đạo Thánh Chúa (CVTĐ 18, 24).
Theo truyền thống, thì Thánh Gioan Tông Đồ Thánh Sử cũng sống những năm vào cuối đời tại Ephêsô (Đảo Patmos) và qua đời và được an táng ở đây (khoảng năm 100). Cũng theo truyền thống, Ngài đã viết Sách Tin Mừng IV tại đây (theo Thánh Irênê). Sách Khải Huyền cũng được viết tại Ephêsô do Thánh Gioan hoặc do nhóm môn đệ của Ngài, và Thành Ephêsô là thành phố đầu tiên được nêu lên trong 7 thành đã được nói đến trong Sách Khải Huyền (Kh 2, 1). Căn cứ vào lời Chúa Giêsu trên Thánh Giá đã trao phó Mẹ Maria cho Thánh Gioan (Tin Mừng Gioan 19, 27), nên cũng theo truyền thống thì Mẹ Maria đã theo Thánh Gioan và sống những năm cuối đời tại Ephêsô. Êphêsô cũng là một trong những trung tâm sinh hoạt Kytô giáo rất mạnh trong các thế kỷ đầu của Giáo Hội. Một Công Đồng Chung quan trọng của Giáo Hội đã họp tại đây vào năm 431. Các Đức Giám Mục trên toàn thế giới về đây để họp Công đồng tại Vương Cung Thánh Đường Đức Trinh Nữ Maria, chống lại bè rối Nestorie và đã cùng tuyên xưng Tín Điều "Đức Mẹ Mẹ Thiên Chúa". Hoàng Đế Justinian (527-565) đã xây một Nhà Thờ vĩ đại ở đây, gọi là Nhà Thờ Chính Tòa Thánh Gioan Tông Đồ, trên một địa điểm mà lúc đó đã được các tín hữu coi là nơi an táng Thánh Gioan Tông Đồ, và là nơi hành hương rất phồn thịnh suốt thời thượng cổ. Ngày nay Thánh đường cũng đả bị đổ nát và vẫn được các nhà khảo cổ đến khảo sát.

admin
20-09-2008, 08:32 AM
Hai thành phố Galat và Cappadocia đều là những thành phố cổ, cũng đã đổ nát, ngày nay thuộc miền Đông Thổ Nhỉ Kỳ, và cũng là những địa điểm khảo cổ quan trọng. Thánh Phaolô trong những cuộc hành trình truyền giáo cũng đã đi qua Galát (TDCV 18,23). Thánh Phaolô đã thành lập Giáo Đoàn Galat và viết lá thư "Gửi Tín Hữu Galat". Cappadocia cũng là trung tâm hoạt động mạnh của Giáo Hội các thế kỷ đầu; thời đó Cappadocia đã là nơi có nhiều tín hữu và sinh họat Đạo Thánh Chúa rất mạnh. Bây giờ còn ghi lại dấu vết rất nhiều những Nhà Dòng, nhà Nguyện làm sâu vào các hốc đá. Rải rác khắp các thung lũng ở đây có tới 200 Nhà Thờ cổ chạm trổ nghệ thật rất đẹp. Nơi đây các nhà khảo cổ cũng khám phá ra những "đường hầm trú ẩn" sâu dưới đất; đó là nơi các tín hữu đã trú ẩn trong thời gian bị bách hại. Cappadocia cũng là quê hương của nhiều vị Thánh. Đặc biệt là Thánh Basilio Cả (Basil the Great) và Thánh Gregorio Nazian, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh. Cả hai đều sống vào thế kỷ thứ IV. Thánh Basiliô qua đời vào năm 379, là vị Thánh đã có công rất nhiều để bảo vệ Đức tin, nhất là về Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và Mầu Nhiệm Nhập Thể chống lại Bè rối Arians. Ngài cũng nổi tiếng về sự can đảm để bảo vệ những người nghèo khó và bảo vệ tính cách độc lập của Giáo Hội đối với thế quyền. Thánh Gregorio Nazian cũng nổi tiếng là nhà Thần học lớn và cũng họat động nhiều trong công cuộc cải tổ xã hội để giúp nâng cao đời sống của dân nghèo. Ngài đã từng là Tổng Giám Mục Constantinople vào thời kỳ Giáo hội đang phải chống lại Giáo Lý sai lầm của bè rối Arians, Ngài đã được bầu làm chủ tọa Công Đồng Constantinople I (381). Thánh Gregorio Nazian qua đời vào khoảng năm 390.
Constantinople là một thành phố có từ thế kỷ VII (trước Công nguyên) và có tên là Byzance đã được Hòang Đế Constantin I xây dựng lại từ năm 324-330, thiết lập Hoàng Cung và đổi tên là Constantinople và là thủ đô của Đế Quốc Byzance. Đây cũng là một hải cảng phồn thịnh, nằm trên bờ biển Hắc Hải, và là nơi giao lưu văn hóa quan trọng giữa Đông và Tây. Rồi trở thành một trung tâm hoạt động chính trị, thương mại, văn hóa và tôn giáo rất mạnh mẽ. Ngày nay Hải Cảng này (nay đã được đổi tên là Istanbul) vẫn rất phồn thịnh và vẫn là nơi giao lưu văn hóa giữa hai luồng Văn hóa Á Châu và Âu Châu. Constantinople cũng là trung tâm hoạt động lớn của Giáo Hội Công Giáo. Đã có 4 Công Đồng Chung họp ở đây: Constantinople I (381), II (553), III (68o-81), IV (869-70). Constantinople đã ghi dấu vết cuộc sống của nhiều Thánh lớn của Giáo Hội. Thánh Gregorio Nazian đã từng làm Tổng Gíam Mục ở đây vào thế kỷ IV. Thánh Gioan Kim Khẩu (344-407) Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh, cũng đã từng làm Tổng Giám Mục ở đây cho đến khi triều đình lúc đó bắt đi lưu đày vào năm 403. Nổi tiếng là một nhà giảng thuyết đạo đức và tài ba nên được đặt tên là "Kim khẩu". Ngài cũng thẳng thắn chống lại sự xa hoa của thời đại và bênh vực người nghèo khó nên bị triều đình lúc đó ghét và bắt đi lưu đày. Thánh Gregoro Nazian cũng là Tổng Gíam Mục Constantinople (như đã nói ở trên). Nơi đây cũng ghi dấu Đức Giáo Hoàng Benedictô XV (sinh năm 1854, làm Giáo Hòang từ 1914-1922), là vị Giáo Hòang nổi tiếng về những họat động cho Hòa Bình Thế Giới. Người Thổ Nhỉ Kỳ rất mến thương Ngài, vì Ngài đã làm nhiều nhà thương cho Thổ Nhỉ Kỳ và trong Thế Chiến thứ I, Ngài đã dùng đường lối ngoại giao để cứu những tù nhân người Thổ Nhỉ Kỳ. Năm 1921, khi khánh thành bức tượng lớn của Ngài tại Istanbul, rất nhiều người Hồi Giáo đã đến tham dự. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (sinh năm 1881; làm Giáo Hòang từ 1958 cho đến khi qua đời 1963), người đã có công hiện đại hóa Giáo Hội và mở Cộng Đồng Vatican II (1962-1965), đã từng làm Sứ Thần Tòa Thánh tại Thổ Nhỉ Kỳ 10 năm, và rất được nhiều ngừơi Thổ Nhỉ Kỳ thương mến, nên được gọi là "người bạn tốt của Thổ Nhỉ Kỳ". Khi Hồi Giáo chiếm Thổ Nhỉ Kỳ vào năm 1453 và thiết lập Đế Quốc Hồi Giáo Ottomans, liền đổi tên Constantinople thành Istanbul và trở thành Thủ Đô của Đế Quốc Ottomans. Đến năm 1923, khi nhà cách mạng Mustafa Kemal thiết lập chính thể Cộng Hòa Thổ Nhỉ Kỳ, ông rời thủ đô về Ankara như hiện nay. Tuy nhiên, Istanbul vẫn là một hải cảng phồn thịnh, một trung tâm thương mại quan trọng, nơi sinh họat mạnh mẽ về văn hóa, tôn giáo; cũng vẫn là nơi nối kết hai nền văn minh Á Châu và Âu Châu.
Một vài địa điểm khác đáng lưu ý: Viện Bảo Tàng Hagia Sophia: trước là Vương Cung Thánh Đường Hagia Sophia (Holy Wisdom) được xây dựng do Hòang Đế Justinian vào năm 537. Là một Thánh Đường được coi là một kiến trúc đồ sộ và đẹp nhất của Đế Quốc Byzantine; vòm Thánh Đường rất đồ sộ, chiều cao vươn lên gần 200 feet và rộng 102 feet. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến viếng nơi này khi Ngài thăm viếng Thổ Nhỉ Kỳ vào năm 1979. Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêdicto XVI cũng đến thăm nơi này trong chuyến viếng thăm Thổ Nhỉ Kỳ vào tháng 11 năm 2006. Khi người Hồi Giáo chiếm Thổ Nhỉ Kỳ vào thế kỷ XV đã đổi thành Hội Đường Hồi Giáo. Sau cuộc Cách Mạng do Mustapha Kemal lãnh đạo, chính quyền Thổ Nhỉ Kỳ đã lấy lại ngôi đền này và đổi thành Viện Bảo Tàng từ năm 1935.
Ngôi Nhà Đức Mẹ Maria: ở gần Ephesus, thuộc miền núi, là một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ, trên chân đồi, có nhiều cây cối che khuất, được dân chúng tin là nơi Mẹ Maria đã sống những năm cuối đời dưới sự săn sóc của Thánh Gioan Tông Đồ; vì khi bị treo trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đã trao phó Mẹ Maria cho Thánh Gioan (PÂ Gioan 16, 27). Ngày nay "Ngôi Nhà Đức Maria" mỗi năm được hàng ngàn người đến kính viếng và cầu nguyện; ngoài các tín hữu Công Giáo còn có đông người Hồi Giáo, Chính Thống Giáo và khách du lịch ở các nơi đến thăm; cũng có những người Việt Nam khi đi du ngoạn bằng tàu (cruise), khi ghé qua Ephesus, cũng đến kính viếng "Nhà Đức Mẹ". Địa điểm này đã được tìm ra từ cuối thế kỷ 19 căn cứ vào những "thị kiến" của Chân phứơc Anne Catherine Emmerich mà đã được Thi sĩ Clemens Brentano ghi lại trong những cuốn sách ông đã xuất bản sau khi bà đã qua đời (năm 1824). Dù ông Clemens nói là chỉ làm việc như một thư ký để ghi lại nhửng thị kiến đó; nhưng Giáo Hội không công nhận tính cách đích thực của những điều ghi trong những cuốn sách đó vì có nhiều nghi vấn. Hơn nữa, nữ tu đã được tuyên phong "Chân Phứơc" vì căn cứ vào đời sống thánh thiện chứ không phải vào những thị kiến đã được kể lại. Theo tường thuật thì Chân phước Catherine là người Đức, thường ốm đau nằm liệt dường, hầu như không "biết chữ", và chưa bao giờ ra khỏi nước Đức (Hy vọng có dịp chúng tôi sẽ viết đầy đủ hơn về điểm này).

Trích từ: http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vntaiwan2/06news/6news431.htm