PDA

View Full Version : Phần I. Bài 22. Chu kỳ nhận-biết-sinh-sản và viễn tượng về sự chết


admin
10-07-2006, 07:23 PM
Thứ Tư ngày 26/03/1980

22. Chu</ST1:p kỳ nhận-biết-sinh-sản và viễn tượng về sự chết

<O:pNhư thế là chúng ta sắp chấm dứt loạt bài suy niệm mà qua đó chúng ta đã cố gắng lần theo lời mời gọi của Đức Kitô trong Tin Mừng theo thánh Matthêu 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10) và theo thánh Maccô 10,1-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10:1-12&FontSize=Txt10): “Các ngươi không đọc thấy câu này sao: ‘Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ’, và Người phán: ‘vì thế người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, cả hai sẽ thành một xương một thịt” (Mt 19,4-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:4-5&FontSize=Txt10)). Trong sách Sáng Thế, việc “ăn ở” vợ chồng được định nghĩa như là “nhận biết”: “Ađam nhận biết Evà vợ mình và bà đã thụ thai (…) Nhờ Đức Chúa, tôi đã được một người” (St 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10)). Trong những lần suy niệm trước đây, chúng ta đã cố gắng tìm hiểu rõ nội dung của sự nhận biết được đề cập tới trong Kinh Thánh. Bằng sự nhận biết, con người, nam và nữ, không những chỉ tự đặt tên cho mình, như đã đặt tên cho những sinh vật khác (animalia) mà đồng thời cũng có nghĩa là có quyền làm chủ trên chúng, nhưng con người còn nhận biết theo nghĩa của Sáng Thế 4,1 (và nhiều đoạn khác nữa trong Kinh Thánh). Nghĩa là, con người đã nhận thức được ý nghĩa của cái tên gọi “con người”. Con người cũng nhận thức được nhân tính trong một con người mới được sinh ra. Trên một bình diện nào đó, con người đã nhận thức chính mình như là một con-người-nhân-vị.

Và như thế, loạt bài suy niệm Kinh Thánh về “nhận-biết-sinh-sản” đã khép lại. Loạt bài suy niệm về nhận biết này được kết thành dựa trên sự hiệp nhất của các nhân vị trong tình yêu, một sự hiệp nhất mật thiết đến nỗi mà họ trở thành một thịt. Sáng Thế Ký đã bày tỏ trọn vẹn cho chúng ta chân lý của loạt bài suy niệm này. Nhờ “nhận biết” đã được nói trong Kinh Thánh, con người - nam và nữ - đã thai nghén và sinh ra một con người mới, giống như chính mình, mà con người đã đặt tên là “con người” (“Tôi đã được một người”). Và như thế, con người đã làm chủ hay nói đúng hơn là con người đã làm chủ lại được nhân tính của mình. Tuy nhiên, việc đó xảy ra không giống như lúc con người thực hiện quyền làm chủ mọi sinh vật khi con người đặt tên cho chúng. Lúc đó con người trở thành chủ của chúng. Con người bắt đầu đảm trách điều mà Đấng Tạo Hoá đã phán truyền: “Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” (St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:28&FontSize=Txt10))

Tuy nhiên, phần đầu của lệnh truyền “Hãy sinh sôi nảy nở cho thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất” hàm chứa một nội dung khác và cũng chỉ rõ một yếu tố khác. Trong “nhận biết” đó mà người nam và người nữ đã cho ra đời một người giống như họ. Và họ có thể nói về người đó rằng: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10)). Trong nhận biết đó, họ hầu như đều cùng “được phần thưởng”. Nhờ nhân tính, trong việc kết hiệp và việc nhận biết nhau, cả hai đều được làm chủ cái mà họ ước ao muốn tái thể hiện lại. Họ ước ao làm chủ cái đó lần nữa, cái mà họ đã cho xuất ra từ chính bản thân và nhân tính của họ. Họ đã phóng xuất cái đó ra từ sự trưởng thành diệu kỳ của phái tính nam và phái tính nữ của thân xác họ. Và sau cùng, qua suốt chuỗi thụ sinh và sinh sản ngay từ thuở ban đầu, họ đã cho cái đó xuất ra từ mầu nhiệm sáng tạo.

Theo chiều hướng đó, có người đã giải thích sự “nhận biết” nói trong Kinh Thánh là “sự chiếm hữu”. Có phải chúng ta có thể cho rằng như thế là chúng ta thấy một vài điều nói trong Kinh Thánh hơi giống với eros? Thực ra, vấn đề đó thuộc về hai vòm quan niệm khác nhau, của hai ngôn ngữ khác nhau: Kinh Thánh và Platon. Và chúng ta phải rất thận trọng nếu muốn dùng hai ngôn ngữ đó để diễn đạt lẫn nhau.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Và hình như trong mặc khải nguyên thuỷ, ta không hề gặp ý tưởng người nữ chiếm hữu người nam hoặc người nam chiếm hữu người nữ như một vật thể. Mặt khác, chúng ta nhận biết rõ rằng vì mang lấy tính tội lỗi sau khi đã phạm nguyên tội, con người nam và nữ phải cố gắng kiên trì gầy dựng lại ý nghĩa của việc trao tặng cho nhau một cách vô vụ lợi. Ðó cũng là đề tài mà chúng ta sẽ phân tích sau này.

Mặc khải về thân xác trong Sáng Thế Ký, nhất là ở chương thứ 3, đã cho chúng ta thấy rất rõ về chu kỳ “nhận-biết-trợ-tạo”. Sáng Thế Ký đã cho thấy rõ cái chu kỳ đó đã được đâm rễ thật sâu vào trong tiềm lực của thân xác con người, mà sau khi phạm tội, tiềm lực thân xác đó phải tuân theo luật của khổ đau và của sự chết. Thiên Chúa Giavê đã nói với người nữ: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhiều khi thai nghén, ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con” (St 3,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:16&FontSize=Txt10)). Chân trời của sự chết đã mở rộng trước mặt con người cùng lúc với sự mặc khải về ý nghĩa của sự đồng sáng tạo của thân xác trong việc nhận biết giữa chồng và vợ. Con người đầu tiên đã gọi vợ mình là Evà “bởi vì bà là mẹ của chúng sinh” (St 3,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:20&FontSize=Txt10)), khi người nam đã nghe những lời của bản án định rõ toàn viễn ảnh của cuộc sống “trong” sự nhận biết điều lành và điều dữ. Viễn ảnh đó đã được xác định bằng những lời: “Ngươi phải trở về với đất vì từ đất người đã được lấy ra. Người là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất (St 3,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:19&FontSize=Txt10))

Tính cội rễ của bản kết án đó được xác định bằng tính hiển nhiên của những kinh nghiệm của toàn bộ lịch sử trần thế của con người. Chân trời của sự chết trải dài trên mọi viễn ảnh của sự sống con người trên trái đất, một sự sống đã được gắn vào trong chu kỳ kinh thánh nguyên thuỷ của sự “nhận-biết-sinh-sản”. Con người đã phá huỷ giao ước với đấng Tạo Hoá vì đã hái lấy trái trên cây biết điều lành điều dữ. Và con người đã bị Chúa Giavê tách biệt ra xa cây của sự sống: “Bây giờ đừng để nó giơ tay hái trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi” (St 3,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:21&FontSize=Txt10)). Và như thế, sự sống được ban cho con người trong mầu nhiệm sáng tạo, tuy không bị lấy mất đi nhưng phải được giới hạn trong việc thụ thai, sinh nở và cái chết, sự sống đó đã phải mang thêm mặc cảm tội lỗi nguyên thuỷ. Tuy nhiên, trên một bình diện nào đó, sự sống đã được trao ban lại cho họ trong một chu kỳ tái diễn không ngừng.

Câu “con người nhận biết Evà vợ mình, và bà thụ thai và sinh con...” (St 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10)) thì như một dấu ấn trong sự mặc khải nguyên thuỷ về thân xác từ “thuở ban đầu” của chính lịch sử con người trên trái đất. Từ thuở ban đầu, lịch sử đó đã được thành lập không ngừng nghỉ trong chiều kích căn bản nhất nhờ chính sự “nhận-biết-sinh-sản” mà Kinh Thánh đã đề cập.
Và như thế, mỗi người đều mang trong mình mầu nhiệm thuở ban đầu, một mầu nhiệm gắn liền với ý thức về ý nghĩa của tính sinh sản của thân xác. Sáng Thế Ký 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10) hình như không đề cập tới quan hệ giữa ý nghĩa của sự sinh sản và ý nghĩa hôn nhân của thân xác. Tuy chưa phải là lúc và là nơi để làm sáng tỏ quan hệ đó, mặc dù những phân tích sau này về điều đó thì rất cần thiết. Thế thì chúng ta phải cần đặt thêm vấn đề là tại sao con người có sự xấu hổ, xấu hổ vì phái tính nam và vì phái tính nữ của mình mà trước đó con người không hề cảm nghiệm như thế. Nhưng lúc này đây, điều này không quan trọng lắm (vì chúng ta sẽ phân tích vào những lần tới)

Việc quan trọng bây giờ là việc “Ađam nhận biết Evà vợ mình, và bà đã thụ thai và sinh con...”. Và đó chính là ngưỡng cửa của lịch sử con người. Và cũng chính là thuở ban đầu trên trái đất. Trên ngưỡng cửa đó, con người, nam và nữ, đã mang lấy ý thức về ý nghĩa sinh sản của thân xác. Trong phái tính nam đã ẩn tàng việc làm cha, trong phái tính nữ đã ẩn tàng việc làm mẹ. Nhân danh ý nghĩa đó, vào ngày nọ, Đức Kitô đã trả lời dứt khoát cho những người Pharisêu (x. Mt 19, Mc 10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19 ; Mc 10:1-12&FontSize=Txt10)). Mặt khác, bằng cách đi vào nội dung câu trả lời này, chúng ta đã tìm cách đưa ra ánh sáng cái bổi cảnh thuở ban đầu mà đức Kitô đã căn cứ. Thần học thân xác đâm rễ sâu vào trong điều này.

Chúng ta đã thấy rằng ý thức về thân xác và ý nghĩa của việc sinh sản đã gặp nhau trong bản thân con người qua ý nghĩa về cái chết tức là qua cái viễn ảnh không ai có thể tránh mà mỗi người mang lấy trong mình. Tuy nhiên, chu kỳ “nhận-biết-sinh-sản” vẫn luôn trở lại trong lịch sử con người. Trong chu kỳ này, sự sống chiến đấu không ngưng nghỉ với viễn ảnh của sự chết và đã luôn thắng. Như thể là cái lý lẽ của việc sự sống luôn kiên trì chiến đấu được biểu lộ trong việc sinh sản vẫn luôn là sự nhận biết lẫn nhau. Qua sự nhận biết đó, con người đã vượt qua được sự cô đơn của chính mình và đồng thời cũng khẳng định được bản thể của mình trong con người “khác”. Và cả hai, nam và nữ, khẳng định điều đó trong một con người mới được sinh ra.

Khi khẳng định như thế, sự “nhận biết” được đề cập trong Kinh Thánh đã được nâng tới một chiều kích cao hơn. Ðiều này hình như được đặt trong “cái nhìn” của chính Thiên Chúa mà qua đó đã kết thúc chuyện kể về cuộc sáng tạo con người. Chuyện đã kể rằng nam và nữ đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)). Dù đã trải qua bao nhiêu kinh nghiệm trong cuộc sống, dù đã phải đau khổ, dù đã phải thất vọng về chính mình, dù đã tội lỗi và cho dù sự chết là viễn ảnh không thế tránh, con người vẫn luôn đặt sự “nhận biết” vào thuở ban đầu của việc sinh sản. Và như thế, con người đã tham dự vào “cái nhìn” đầu tiên của chính Thiên Chúa: Thiên Chúa Ðấng Sáng Tạo “thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp”. Và Thiên Chúa luôn tiếp tục xác định chân lý của những lời đó.

----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Theo Platon, Eros là tình yêu thèm khát cái Đẹp siêu việt, và Eros biểu đạt sự khát khao hướng về đối tượng vĩnh cửu của nó. Vì thế mà Eros luôn nâng những gì là con người lên tới thần thánh, mà chỉ có thần thánh mới thoả mãn được linh hồn đang bị giam hãm trong vật chất. Đó là một tình yêu không hề lùi bước trước nỗ lực lớn lao để có thể đạt tới xuất thần khi hiệp nhất. Và như thế, đó cũng là một tình yêu vị kỷ. Nó có ước muốn chiếm đoạt mặc dù nó hướng về những giá trị tuyệt vời (x. A. Nygren, Eros et Agape [Paris</ST1:p: 1951], vol. 11, pp. 9-10)...

Qua nhiều thế kỷ và trải qua nhiều biến đổi, ý nghĩa của eros đã bị hạ thấp xuống và chỉ còn hàm ý tình dục. Điển hình nhất là việc mà trong văn bản của mình, P. Chauchard dường như chối bỏ những đặc tính của tình yêu con người nơi eros:

“Việc trí thức hoá tình dục thì không lệ thuộc vào những kỹ thuật buồn tẻ nhưng ở chỗ nhận biết tính linh thiêng của nó, bởi vì eros chỉ thuộc về nhân tính nếu được agape (tình yêu vị tha) làm cho linh động và bởi vì chính agape đòi nhập thể trong eros (P. Chauchard, Vices des vertus, vertus des vices, Paris 1963, p.147)

So sánh “nhận biết” của Kinh Thánh với eros của Platon đã cho ta thấy rõ những khác biệt giữa hai khái niệm đó. Khái niệm của Platon đặt nền tảng trên nỗi nhớ về cái Đẹp siêu việt và trên sự trốn thoát khỏi vật chất. Trái lại, khái niệm của Kinh Thánh lại hướng về thực tại cụ thể. Mặt khác, tính kép đôi linh hồn/vật chất cũng như sự chán ghét vật chất cách đặc biệt đó thì rất xa lạ với Kinh Thánh (“Và Đức Chúa thấy điều đó là tốt lành” St 1,10.12.18.21.25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:10,12,18,21,25&FontSize=Txt10))

Nếu khái niệm của Platon về eros đã vượt quá tầm của “nhận biết” trong Kinh Thánh thì khái niệm hiện đại hình như lại quá thu hẹp. Nhận biết của Kinh Thánh không chỉ thoả mãn bản năng và khoái lạc, mà nó còn là một hành động rất người, trực tiếp ý thức về việc trợ-tạo (sinh sản), và nó cũng là biểu đạt của tình yêu liên nhân vị (St 29,20 và 1 Sm 1,8 và 2 Sm 12,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 29:20 ; 1 Sm 1:8 ; 2 Sm 12:24&FontSize=Txt10))


Nhóm Tâm Biển

admin
26-11-2009, 08:41 PM
XXII

CHU KÌ BIẾT-SINH HẠ VÀ VIỄN TƯỢNG SỰ CHẾT

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac22.jpg1. Chúng ta đang đến hồi kết thúc phần suy tư trong đó chúng ta đã cố theo đuổi tiếng gọi của Đức Kitô gởi đến chúng ta qua Matthêu (19,3-9) và Marcô (10,1-12): «Các ông không đọc thấy điều này sao : “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ”, và Người đã phán: “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt” ?» (Mt 19,4-5). Sự kết hợp vợ chồng theo Sách Sáng thế được định nghĩa như là hành động «biết»: «Ađam ăn ở với Evà, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra... và nói : “Tôi đã được một người nhờ Đức Chúa”» (St 4,1). Trong những suy tư trước chúng ta đã cố gắng làm rõ nội dung của cái «biết» Thánh kinh đó. Với cái «biết» đó, con người nam cũng như nữ, không chỉ đặt tên riêng cho mình như đã làm khi đặt tên cho các sinh vật khác (animalia) và bởi đó con người sở hữu chúng, nhưng còn «biết» theo nghĩa của đoạn St 4,1 (và cả những đoạn Kinh thánh khác). Điều đó có nghĩa là con người thực hiện điều mà danh xưng «con người» muốn diễn tả: đó là thực hiện nhân tính trong con người mới được sinh ra. Bởi thế, theo nghĩa nào đó con người thực hiện chính mình, tức là, con người – nhân vị.

2. Bằng cách đó chu kì «biết-sinh hạ» của Kinh thánh khép lại. Chu kì «biết» đó được tạo thành bởi sự kết hợp các ngôi vị trong tình yêu thương, kết hợp với nhau mật thiết đến nỗi nên một xương một thịt. Sách Sáng thế vén tỏ cho chúng ta biết đầy đủ sự thật về chu kì này. Con người, nam và nữ, theo Kinh thánh nhờ «biết» nhau mà thụ thai và sinh con. Sinh linh mới đó giống con người và có thể được mang danh xưng «con người» («tôi đã được một người»). Như thế, con người, có thể nói được là, đã chiếm hữu được chính nhân tính, hay đúng hơn, chiếm lại được nhân tính. Thế nhưng, việc ấy xảy ra cách khác so với cách con người đã chiếm hữu các sinh vật khác (animali) khi đặt tên chúng. Thật vậy, khi đó con người đã trở thành chúa tể của các loài, đã bắt đầu thực hiện nội dung của mệnh lệnh Đấng Tạo Hóa: «Hãy chinh phục và thống trị mặt đất» (x. St 1,28).

3. Tuy nhiên, phần đầu của cũng mệnh lệnh ấy lại nói: «Hãy sinh sôi nẩy nở và nên đầy dẫy trên mặt đất» (St 1,28), nó mang một nội dung khác và chỉ một yếu tố khác. Trong hành động «biết» này, người đàn ông và người phụ nữ cho chào đời một hữu thể giống như họ, và có thể cùng nhau nói: «Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi» (St 2,24). Trong cái «biết» này cả hai người như «ngây ngất». Cả hai người như cùng bị mê dại vì cái nhân tính mà họ muốn diễn tả lại trong sự kết hợp và «biết» nhau, muốn sở hữu nó một cách mới mẻ. Cái nhân tính ấy được chào đời từ chính họ, từ chính nhân tính của họ, từ thân xác của người đàn ông và người đàn bà đã chín muồi cách kì diệu nơi họ. Và sau cùng, qua những chuỗi thụ thai và sinh hạ liên tiếp vốn đã có từ thuở ban đầu ấy, họ nhận được nhân tính ấy từ chính mầu nhiệm sáng tạo.

4. Theo nghĩa này, cái «biết» của Kinh thánh có thể được hiểu là «sở hữu». Có thể nhìn thấy ở đây một điều gì của Kinh thánh tương tự với «eros» hay chăng? Thật ra đây là hai lãnh vực ý niệm, hai thứ ngôn ngữ khác nhau: một của Kinh thánh và một của Platon. Phải thật thận trọng nếu chúng được dùng để giải thích cho nhau [1]. Thế nhưng, dường như trong mạc khải nguyên thủy không có ý tưởng người đàn ông sở hữu người phụ nữ, và ngược lại, như một thứ đồ vật. Nhưng đàng khác, ai cũng biết rằng do hậu quả của tội nhiễm sau khi tổ tông phạm tội, con người (đàn ông và đàn bà) phải xây dựng lại, dẫu rất khó nhọc, ý nghĩa của quà tặng trao hiến cho nhau cách vô vị lợi. Đây sẽ là chủ đề của chúng ta trong những phân tích sắp tới.

5. Mạc khải về thân xác, ở trong Sách Sáng thế và nhất là trong chương 3, tỏ lộ cách rõ ràng và ấn tượng rằng chu kì «biết-sinh hạ», vốn bén rễ sâu xa từ trong tiềm thể của thân xác con người, được đặt bên dưới qui luật của đau khổ và sự chết, sau khi tổ tông phạm tội. Thiên Chúa Giavê nói vời người đàn bà: «Ta sẽ làm cho ngươi đau đớn thật nhiều khi thai nghén; trong đau đớn, ngươi sẽ sinh con đẻ cái» (St 3,16). Ở chân trời cái chết xuất hiện trước mắt con người, cùng với mạc khải ý nghĩa sinh sản của thân xác trong hành vi của đôi vợ chồng «biết» nhau. Người đàn ông đầu tiên đặt tên cho vợ mình là Evà, «vì bà là mẹ của chúng sinh» (St 3,20), khi ông đã nghe được lời tuyên án xác định toàn bộ cái viễn ảnh của cuộc sống con người «từ bên trong» của cái biết thiện biết ác. Viễn ảnh này được xác nhận bởi những lời sau đây: «Ngươi sẽ về lại bụi đất, vì tự đất ngươi đã được rút ra. Bởi ngươi là bụi đất ngươi sẽ trở về đất bụi» (St 3,19).

Tính chất căn bản của bản án đó được xác nhận bởi chứng cớ kinh nghiệm của toàn thể lịch sử của con người trên trái đất này. Chân trời sự chết mở rộng ra trên toàn thể viễn ảnh cuộc sống con người trên trái đất, một cuộc sống vốn đã được cắm vào trong chu kì «biết-sinh hạ» nguyên thủy của Kinh thánh. Con người đã phá vỡ Giao ước với Đấng Tạo Hóa, khi hái trái cây biết thiện biết ác thì bị Thiên Chúa Giavê tách lìa khỏi cây sự sống: «Bây giờ phải làm sao cho nó đừng giương tay hái cả cây sự sống nữa mà ăn, hầu được sống mãi mãi» (St 3,22). Bằng cách đó, sự sống đã được ban cho con người trong mầu nhiệm tạo dựng không bị lấy đi. Nhưng sự sống ấy bị hạn chế ở trong biên giới của sự thụ thai, sinh nở và sự chết, và trầm trọng hơn, bị giam hãm trong viễn ảnh của tội lỗi di truyền. Tuy nhiên, sự sống ấy lại được ban cho con người, theo nghĩa nào đó, như một nhiệm vụ trong cùng chu kì luôn tái diễn. Câu nói: «Ađam ăn ở với («biết») Evà vợ mình, bà đã mang thai và sinh con» (St 4,1) giống như một dấu ấn in vào mạc khải nguyên thủy của thân xác ngay từ thuở ban đầu của lịch sử con người trên trái đất. Lịch sử này luôn được hình thành mới mẻ trong chiều kích căn bản nhất của nó gần như từ thuở «ban đầu», nhờ chính hành động «biết-sinh hạ» ấy, điều mà Sách Sáng thế đã nói tới.

6. Bởi thế, mỗi người mang trên mình mầu nhiệm của «thuở ban đầu» của mình, được nối kết chặt chẽ với ý thức vế ý nghĩa sinh sản của thân xác. Xem ra St 4,1-2 không nói về đề tài mối tương quan giữa ý nghĩa sinh sản và hôn phối của thân xác. Có lẽ ở đây chưa tới lúc, cũng không phải là nơi, giải thích mối tương quan này mặc dù trong những phân tích kế tiếp điếu ấy có vẻ rất cần thiết. Sẽ cần phải đặt lại những câu hỏi liên hệ tới sự biểu hiện xấu hổ nơi con người, xấu hổ của người nam và của người nữ, mà trước đó con người không hề kinh nghiệm. Nhưng giờ đây, chúng ta chưa để ý đến điều đó. Điều đáng chú ý vẫn còn là sự kiện «Ađam ăn ở với («biết») Evà vợ mình, bà đã mang thai và sinh con». Đây chính là ngưỡng cửa của dòng lịch sử của con người. Đây là «thuở ban đầu» của con người trên trái đất. Đứng ở ngưỡng cửa này người nam và người nữ ý thức ý nghĩa sinh sản của thân xác mình: nam tính ẩn chứa trong mình ý nghĩa của phụ tính và nữ tính ẩn chứa ý nghĩa của mẫu tính. Nhân danh ý nghĩa đó, một ngày kia Đức Kitô sẽ đưa ra một câu trả lời minh bạch cho vấn đề được đặt ra bởi những người Pharisêu (x. Mt 19; Mc 10). Mặt khác, khi đi sâu vào nội dung đơn sơ của câu trả lời ấy, chúng ta cũng đồng thời cố làm sáng tỏ bối cảnh của cái «thuở ban đầu» mà Đức Kitô tham chiếu tới. Thần học thân xác có gốc rễ từ nơi đó.

7. Trong con người, ý thức về ý nghĩa của thân xác và ý thức về ý nghĩa sinh sản của thân xác gặp gỡ ý thức về sự chết, có thể nói đó là viễn cảnh chắc chắn nằm sẵn nơi chúng. Tuy nhiên, chu trình «biết-sinh sản» luôn trở lại trong lịch sử con người. Trong đó, sự sống luôn đấu tranh không ngơi nghỉ với cái viễn ảnh lạnh lùng của sự chết, và luôn chiến thắng. Điều đó giống như cái lí do sự sống – vốn biểu lộ ra qua «sinh sản» - không bao giờ đầu hàng bao giờ cũng là bởi cái «biết» ấy. Với cái biết ấy, con người vượt qua nỗi cô độc của mình và lại quyết định tự khẳng định mình trong một «tha nhân». Cả hai, người nam và người nữ, khẳng định điều đó trong một con người thứ ba mới được sinh hạ. Trong sự khẳng định này, «cái biết» trong Kinh thánh xem ra có được một tầm vóc còn lớn hơn. Dường như nó có một chỗ ở trong «thị kiến» của chính Thiên Chúa, với thị kiến đó trình thuật tạo dựng con người thứ nhất (người «nam» và người «nữ» được tạo dựng «theo hình ảnh của Thiên Chúa») kết thúc. «Thiên Chúa thấy mọi sự mình đã làm ra ... thật là tốt đẹp» (St 1,31). Dẫu con người có hết mọi kinh nghiệm cuộc sống của mình, dẫu chịu nhiều đau khổ, thất vọng về chính bản thân mình, dẫu sống trong tình trạng tội lỗi, và sau cùng dẫu sống dật dờ trong viễn cảnh sự chết, nhưng «cái biết» luôn được đặt ở «khởi đầu» của cuộc «sinh hạ». Như thế, xem ra con người được tham dự vào «thị kiến» của chính Thiên Chúa : Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa «thấy ... quả thật, điều ấy rất tốt đẹp». Ngài luôn xác nhận lại sự thật của những lời này.

------------------------------------

[1] Theo Platon, «eros» là tình yêu khao khát cái Đẹp siêu việt và bộc lộ sự khao khát vô độ hướng đến đối tượng vĩnh cửu của nó. Bởi thế, eros luôn nâng những gì thuộc phạm trù nhân bản hướng đến cảnh vực thần linh, nơi duy nhất có thể thỏa mãn nỗi hoài niệm của linh hồn vốn bị giam hãm trong vật chất. Đó là một tình yêu không lùi bước trước sức mạnh lớn lao nhất, hầu đạt tới được sự xuất thần ngất ngây của kết hợp. Do đó, đó là một tình yêu qui ngã (egocentrico), là dục vọng thèm khát dẫu nó hướng đến những giá trị cao cả (x. A. Nygren, Erôs et Agapé, vol. II, Paris 1951, pp. 9-10).

Qua các thế kỉ, qua nhiều biến đổi, ý nghĩa của «eros» đã bị hạ thấp giá trị chỉ còn mang ý nghĩa thuần túy về dục tình. Đoạn văn sau đây của P. Chauchard có vẻ thậm chí như khước từ những đặc tính về tình yêu nhân văn nơi «eros»: «Phát triển tính dục không hệ tại ở những mánh khóe kĩ thuật nhạt nhẽo, nhưng ở sự nhìn nhận đầy đủ tính tâm linh của nó, bởi lẽ eros chỉ mang tính nhân văn khi nó được Agapé ban sức sống và Agapé đòi hỏi phải được nhập thể trong Erôs» (P. Chauchard, Vices des vertus, vertus des vices, Paris 1963, p. 147).

So sánh cái «biết» của Kinh thánh và «eros» của Platon người ta thấy sự khác biệt giữa hai quan niệm này. Khái niệm của Platon dựa trên cơ sở là sự hoài niệm cái Đẹp siêu việt và sự trốn thoát khỏi thế giới vật chất. Ngược lại, Kinh thánh hướng tới thực tại cụ thể, và xa lạ đối với não trạng nhị nguyên phân biệt giữa tinh thần và vật chất cũng như không hề biết tới thái độ thù nghịch đặc biệt đối với vật chất («Và Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp»: St 1,10.12.18.21.25).

Trong khi quan niệm của Platon về eros vượt quá ranh giới của cái «biết» nhân văn trong Kinh thánh, quan niệm hiện nay thì lại xem ra quá chật hẹp. Cái «biết» Kinh thánh không giới hạn ở sự thỏa mãn bản năng hay hưởng thụ khoái lạc, nhưng đó hoàn toàn là một hành vi nhân văn, có ý hướng sinh sản, và cũng là sự biểu lộ của tình yêu liên vị (x. St 29,20; 1Sm 1,8; 2Sm 12,24).

Lm. Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch