admin
10-07-2006, 07:23 PM
Thứ Tư ngày 26/03/1980
22. Chu</ST1:p kỳ nhận-biết-sinh-sản và viễn tượng về sự chết
<O:pNhư thế là chúng ta sắp chấm dứt loạt bài suy niệm mà qua đó chúng ta đã cố gắng lần theo lời mời gọi của Đức Kitô trong Tin Mừng theo thánh Matthêu 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10) và theo thánh Maccô 10,1-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10:1-12&FontSize=Txt10): “Các ngươi không đọc thấy câu này sao: ‘Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ’, và Người phán: ‘vì thế người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, cả hai sẽ thành một xương một thịt” (Mt 19,4-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:4-5&FontSize=Txt10)). Trong sách Sáng Thế, việc “ăn ở” vợ chồng được định nghĩa như là “nhận biết”: “Ađam nhận biết Evà vợ mình và bà đã thụ thai (…) Nhờ Đức Chúa, tôi đã được một người” (St 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10)). Trong những lần suy niệm trước đây, chúng ta đã cố gắng tìm hiểu rõ nội dung của sự nhận biết được đề cập tới trong Kinh Thánh. Bằng sự nhận biết, con người, nam và nữ, không những chỉ tự đặt tên cho mình, như đã đặt tên cho những sinh vật khác (animalia) mà đồng thời cũng có nghĩa là có quyền làm chủ trên chúng, nhưng con người còn nhận biết theo nghĩa của Sáng Thế 4,1 (và nhiều đoạn khác nữa trong Kinh Thánh). Nghĩa là, con người đã nhận thức được ý nghĩa của cái tên gọi “con người”. Con người cũng nhận thức được nhân tính trong một con người mới được sinh ra. Trên một bình diện nào đó, con người đã nhận thức chính mình như là một con-người-nhân-vị.
Và như thế, loạt bài suy niệm Kinh Thánh về “nhận-biết-sinh-sản” đã khép lại. Loạt bài suy niệm về nhận biết này được kết thành dựa trên sự hiệp nhất của các nhân vị trong tình yêu, một sự hiệp nhất mật thiết đến nỗi mà họ trở thành một thịt. Sáng Thế Ký đã bày tỏ trọn vẹn cho chúng ta chân lý của loạt bài suy niệm này. Nhờ “nhận biết” đã được nói trong Kinh Thánh, con người - nam và nữ - đã thai nghén và sinh ra một con người mới, giống như chính mình, mà con người đã đặt tên là “con người” (“Tôi đã được một người”). Và như thế, con người đã làm chủ hay nói đúng hơn là con người đã làm chủ lại được nhân tính của mình. Tuy nhiên, việc đó xảy ra không giống như lúc con người thực hiện quyền làm chủ mọi sinh vật khi con người đặt tên cho chúng. Lúc đó con người trở thành chủ của chúng. Con người bắt đầu đảm trách điều mà Đấng Tạo Hoá đã phán truyền: “Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” (St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:28&FontSize=Txt10))
Tuy nhiên, phần đầu của lệnh truyền “Hãy sinh sôi nảy nở cho thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất” hàm chứa một nội dung khác và cũng chỉ rõ một yếu tố khác. Trong “nhận biết” đó mà người nam và người nữ đã cho ra đời một người giống như họ. Và họ có thể nói về người đó rằng: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10)). Trong nhận biết đó, họ hầu như đều cùng “được phần thưởng”. Nhờ nhân tính, trong việc kết hiệp và việc nhận biết nhau, cả hai đều được làm chủ cái mà họ ước ao muốn tái thể hiện lại. Họ ước ao làm chủ cái đó lần nữa, cái mà họ đã cho xuất ra từ chính bản thân và nhân tính của họ. Họ đã phóng xuất cái đó ra từ sự trưởng thành diệu kỳ của phái tính nam và phái tính nữ của thân xác họ. Và sau cùng, qua suốt chuỗi thụ sinh và sinh sản ngay từ thuở ban đầu, họ đã cho cái đó xuất ra từ mầu nhiệm sáng tạo.
Theo chiều hướng đó, có người đã giải thích sự “nhận biết” nói trong Kinh Thánh là “sự chiếm hữu”. Có phải chúng ta có thể cho rằng như thế là chúng ta thấy một vài điều nói trong Kinh Thánh hơi giống với eros? Thực ra, vấn đề đó thuộc về hai vòm quan niệm khác nhau, của hai ngôn ngữ khác nhau: Kinh Thánh và Platon. Và chúng ta phải rất thận trọng nếu muốn dùng hai ngôn ngữ đó để diễn đạt lẫn nhau.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Và hình như trong mặc khải nguyên thuỷ, ta không hề gặp ý tưởng người nữ chiếm hữu người nam hoặc người nam chiếm hữu người nữ như một vật thể. Mặt khác, chúng ta nhận biết rõ rằng vì mang lấy tính tội lỗi sau khi đã phạm nguyên tội, con người nam và nữ phải cố gắng kiên trì gầy dựng lại ý nghĩa của việc trao tặng cho nhau một cách vô vụ lợi. Ðó cũng là đề tài mà chúng ta sẽ phân tích sau này.
Mặc khải về thân xác trong Sáng Thế Ký, nhất là ở chương thứ 3, đã cho chúng ta thấy rất rõ về chu kỳ “nhận-biết-trợ-tạo”. Sáng Thế Ký đã cho thấy rõ cái chu kỳ đó đã được đâm rễ thật sâu vào trong tiềm lực của thân xác con người, mà sau khi phạm tội, tiềm lực thân xác đó phải tuân theo luật của khổ đau và của sự chết. Thiên Chúa Giavê đã nói với người nữ: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhiều khi thai nghén, ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con” (St 3,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:16&FontSize=Txt10)). Chân trời của sự chết đã mở rộng trước mặt con người cùng lúc với sự mặc khải về ý nghĩa của sự đồng sáng tạo của thân xác trong việc nhận biết giữa chồng và vợ. Con người đầu tiên đã gọi vợ mình là Evà “bởi vì bà là mẹ của chúng sinh” (St 3,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:20&FontSize=Txt10)), khi người nam đã nghe những lời của bản án định rõ toàn viễn ảnh của cuộc sống “trong” sự nhận biết điều lành và điều dữ. Viễn ảnh đó đã được xác định bằng những lời: “Ngươi phải trở về với đất vì từ đất người đã được lấy ra. Người là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất (St 3,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:19&FontSize=Txt10))
Tính cội rễ của bản kết án đó được xác định bằng tính hiển nhiên của những kinh nghiệm của toàn bộ lịch sử trần thế của con người. Chân trời của sự chết trải dài trên mọi viễn ảnh của sự sống con người trên trái đất, một sự sống đã được gắn vào trong chu kỳ kinh thánh nguyên thuỷ của sự “nhận-biết-sinh-sản”. Con người đã phá huỷ giao ước với đấng Tạo Hoá vì đã hái lấy trái trên cây biết điều lành điều dữ. Và con người đã bị Chúa Giavê tách biệt ra xa cây của sự sống: “Bây giờ đừng để nó giơ tay hái trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi” (St 3,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:21&FontSize=Txt10)). Và như thế, sự sống được ban cho con người trong mầu nhiệm sáng tạo, tuy không bị lấy mất đi nhưng phải được giới hạn trong việc thụ thai, sinh nở và cái chết, sự sống đó đã phải mang thêm mặc cảm tội lỗi nguyên thuỷ. Tuy nhiên, trên một bình diện nào đó, sự sống đã được trao ban lại cho họ trong một chu kỳ tái diễn không ngừng.
Câu “con người nhận biết Evà vợ mình, và bà thụ thai và sinh con...” (St 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10)) thì như một dấu ấn trong sự mặc khải nguyên thuỷ về thân xác từ “thuở ban đầu” của chính lịch sử con người trên trái đất. Từ thuở ban đầu, lịch sử đó đã được thành lập không ngừng nghỉ trong chiều kích căn bản nhất nhờ chính sự “nhận-biết-sinh-sản” mà Kinh Thánh đã đề cập.
Và như thế, mỗi người đều mang trong mình mầu nhiệm thuở ban đầu, một mầu nhiệm gắn liền với ý thức về ý nghĩa của tính sinh sản của thân xác. Sáng Thế Ký 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10) hình như không đề cập tới quan hệ giữa ý nghĩa của sự sinh sản và ý nghĩa hôn nhân của thân xác. Tuy chưa phải là lúc và là nơi để làm sáng tỏ quan hệ đó, mặc dù những phân tích sau này về điều đó thì rất cần thiết. Thế thì chúng ta phải cần đặt thêm vấn đề là tại sao con người có sự xấu hổ, xấu hổ vì phái tính nam và vì phái tính nữ của mình mà trước đó con người không hề cảm nghiệm như thế. Nhưng lúc này đây, điều này không quan trọng lắm (vì chúng ta sẽ phân tích vào những lần tới)
Việc quan trọng bây giờ là việc “Ađam nhận biết Evà vợ mình, và bà đã thụ thai và sinh con...”. Và đó chính là ngưỡng cửa của lịch sử con người. Và cũng chính là thuở ban đầu trên trái đất. Trên ngưỡng cửa đó, con người, nam và nữ, đã mang lấy ý thức về ý nghĩa sinh sản của thân xác. Trong phái tính nam đã ẩn tàng việc làm cha, trong phái tính nữ đã ẩn tàng việc làm mẹ. Nhân danh ý nghĩa đó, vào ngày nọ, Đức Kitô đã trả lời dứt khoát cho những người Pharisêu (x. Mt 19, Mc 10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19 ; Mc 10:1-12&FontSize=Txt10)). Mặt khác, bằng cách đi vào nội dung câu trả lời này, chúng ta đã tìm cách đưa ra ánh sáng cái bổi cảnh thuở ban đầu mà đức Kitô đã căn cứ. Thần học thân xác đâm rễ sâu vào trong điều này.
Chúng ta đã thấy rằng ý thức về thân xác và ý nghĩa của việc sinh sản đã gặp nhau trong bản thân con người qua ý nghĩa về cái chết tức là qua cái viễn ảnh không ai có thể tránh mà mỗi người mang lấy trong mình. Tuy nhiên, chu kỳ “nhận-biết-sinh-sản” vẫn luôn trở lại trong lịch sử con người. Trong chu kỳ này, sự sống chiến đấu không ngưng nghỉ với viễn ảnh của sự chết và đã luôn thắng. Như thể là cái lý lẽ của việc sự sống luôn kiên trì chiến đấu được biểu lộ trong việc sinh sản vẫn luôn là sự nhận biết lẫn nhau. Qua sự nhận biết đó, con người đã vượt qua được sự cô đơn của chính mình và đồng thời cũng khẳng định được bản thể của mình trong con người “khác”. Và cả hai, nam và nữ, khẳng định điều đó trong một con người mới được sinh ra.
Khi khẳng định như thế, sự “nhận biết” được đề cập trong Kinh Thánh đã được nâng tới một chiều kích cao hơn. Ðiều này hình như được đặt trong “cái nhìn” của chính Thiên Chúa mà qua đó đã kết thúc chuyện kể về cuộc sáng tạo con người. Chuyện đã kể rằng nam và nữ đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)). Dù đã trải qua bao nhiêu kinh nghiệm trong cuộc sống, dù đã phải đau khổ, dù đã phải thất vọng về chính mình, dù đã tội lỗi và cho dù sự chết là viễn ảnh không thế tránh, con người vẫn luôn đặt sự “nhận biết” vào thuở ban đầu của việc sinh sản. Và như thế, con người đã tham dự vào “cái nhìn” đầu tiên của chính Thiên Chúa: Thiên Chúa Ðấng Sáng Tạo “thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp”. Và Thiên Chúa luôn tiếp tục xác định chân lý của những lời đó.
----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Theo Platon, Eros là tình yêu thèm khát cái Đẹp siêu việt, và Eros biểu đạt sự khát khao hướng về đối tượng vĩnh cửu của nó. Vì thế mà Eros luôn nâng những gì là con người lên tới thần thánh, mà chỉ có thần thánh mới thoả mãn được linh hồn đang bị giam hãm trong vật chất. Đó là một tình yêu không hề lùi bước trước nỗ lực lớn lao để có thể đạt tới xuất thần khi hiệp nhất. Và như thế, đó cũng là một tình yêu vị kỷ. Nó có ước muốn chiếm đoạt mặc dù nó hướng về những giá trị tuyệt vời (x. A. Nygren, Eros et Agape [Paris</ST1:p: 1951], vol. 11, pp. 9-10)...
Qua nhiều thế kỷ và trải qua nhiều biến đổi, ý nghĩa của eros đã bị hạ thấp xuống và chỉ còn hàm ý tình dục. Điển hình nhất là việc mà trong văn bản của mình, P. Chauchard dường như chối bỏ những đặc tính của tình yêu con người nơi eros:
“Việc trí thức hoá tình dục thì không lệ thuộc vào những kỹ thuật buồn tẻ nhưng ở chỗ nhận biết tính linh thiêng của nó, bởi vì eros chỉ thuộc về nhân tính nếu được agape (tình yêu vị tha) làm cho linh động và bởi vì chính agape đòi nhập thể trong eros (P. Chauchard, Vices des vertus, vertus des vices, Paris 1963, p.147)
So sánh “nhận biết” của Kinh Thánh với eros của Platon đã cho ta thấy rõ những khác biệt giữa hai khái niệm đó. Khái niệm của Platon đặt nền tảng trên nỗi nhớ về cái Đẹp siêu việt và trên sự trốn thoát khỏi vật chất. Trái lại, khái niệm của Kinh Thánh lại hướng về thực tại cụ thể. Mặt khác, tính kép đôi linh hồn/vật chất cũng như sự chán ghét vật chất cách đặc biệt đó thì rất xa lạ với Kinh Thánh (“Và Đức Chúa thấy điều đó là tốt lành” St 1,10.12.18.21.25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:10,12,18,21,25&FontSize=Txt10))
Nếu khái niệm của Platon về eros đã vượt quá tầm của “nhận biết” trong Kinh Thánh thì khái niệm hiện đại hình như lại quá thu hẹp. Nhận biết của Kinh Thánh không chỉ thoả mãn bản năng và khoái lạc, mà nó còn là một hành động rất người, trực tiếp ý thức về việc trợ-tạo (sinh sản), và nó cũng là biểu đạt của tình yêu liên nhân vị (St 29,20 và 1 Sm 1,8 và 2 Sm 12,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 29:20 ; 1 Sm 1:8 ; 2 Sm 12:24&FontSize=Txt10))
Nhóm Tâm Biển
22. Chu</ST1:p kỳ nhận-biết-sinh-sản và viễn tượng về sự chết
<O:pNhư thế là chúng ta sắp chấm dứt loạt bài suy niệm mà qua đó chúng ta đã cố gắng lần theo lời mời gọi của Đức Kitô trong Tin Mừng theo thánh Matthêu 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:3-9&FontSize=Txt10) và theo thánh Maccô 10,1-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10:1-12&FontSize=Txt10): “Các ngươi không đọc thấy câu này sao: ‘Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ’, và Người phán: ‘vì thế người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, cả hai sẽ thành một xương một thịt” (Mt 19,4-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19:4-5&FontSize=Txt10)). Trong sách Sáng Thế, việc “ăn ở” vợ chồng được định nghĩa như là “nhận biết”: “Ađam nhận biết Evà vợ mình và bà đã thụ thai (…) Nhờ Đức Chúa, tôi đã được một người” (St 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10)). Trong những lần suy niệm trước đây, chúng ta đã cố gắng tìm hiểu rõ nội dung của sự nhận biết được đề cập tới trong Kinh Thánh. Bằng sự nhận biết, con người, nam và nữ, không những chỉ tự đặt tên cho mình, như đã đặt tên cho những sinh vật khác (animalia) mà đồng thời cũng có nghĩa là có quyền làm chủ trên chúng, nhưng con người còn nhận biết theo nghĩa của Sáng Thế 4,1 (và nhiều đoạn khác nữa trong Kinh Thánh). Nghĩa là, con người đã nhận thức được ý nghĩa của cái tên gọi “con người”. Con người cũng nhận thức được nhân tính trong một con người mới được sinh ra. Trên một bình diện nào đó, con người đã nhận thức chính mình như là một con-người-nhân-vị.
Và như thế, loạt bài suy niệm Kinh Thánh về “nhận-biết-sinh-sản” đã khép lại. Loạt bài suy niệm về nhận biết này được kết thành dựa trên sự hiệp nhất của các nhân vị trong tình yêu, một sự hiệp nhất mật thiết đến nỗi mà họ trở thành một thịt. Sáng Thế Ký đã bày tỏ trọn vẹn cho chúng ta chân lý của loạt bài suy niệm này. Nhờ “nhận biết” đã được nói trong Kinh Thánh, con người - nam và nữ - đã thai nghén và sinh ra một con người mới, giống như chính mình, mà con người đã đặt tên là “con người” (“Tôi đã được một người”). Và như thế, con người đã làm chủ hay nói đúng hơn là con người đã làm chủ lại được nhân tính của mình. Tuy nhiên, việc đó xảy ra không giống như lúc con người thực hiện quyền làm chủ mọi sinh vật khi con người đặt tên cho chúng. Lúc đó con người trở thành chủ của chúng. Con người bắt đầu đảm trách điều mà Đấng Tạo Hoá đã phán truyền: “Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” (St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:28&FontSize=Txt10))
Tuy nhiên, phần đầu của lệnh truyền “Hãy sinh sôi nảy nở cho thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất” hàm chứa một nội dung khác và cũng chỉ rõ một yếu tố khác. Trong “nhận biết” đó mà người nam và người nữ đã cho ra đời một người giống như họ. Và họ có thể nói về người đó rằng: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10)). Trong nhận biết đó, họ hầu như đều cùng “được phần thưởng”. Nhờ nhân tính, trong việc kết hiệp và việc nhận biết nhau, cả hai đều được làm chủ cái mà họ ước ao muốn tái thể hiện lại. Họ ước ao làm chủ cái đó lần nữa, cái mà họ đã cho xuất ra từ chính bản thân và nhân tính của họ. Họ đã phóng xuất cái đó ra từ sự trưởng thành diệu kỳ của phái tính nam và phái tính nữ của thân xác họ. Và sau cùng, qua suốt chuỗi thụ sinh và sinh sản ngay từ thuở ban đầu, họ đã cho cái đó xuất ra từ mầu nhiệm sáng tạo.
Theo chiều hướng đó, có người đã giải thích sự “nhận biết” nói trong Kinh Thánh là “sự chiếm hữu”. Có phải chúng ta có thể cho rằng như thế là chúng ta thấy một vài điều nói trong Kinh Thánh hơi giống với eros? Thực ra, vấn đề đó thuộc về hai vòm quan niệm khác nhau, của hai ngôn ngữ khác nhau: Kinh Thánh và Platon. Và chúng ta phải rất thận trọng nếu muốn dùng hai ngôn ngữ đó để diễn đạt lẫn nhau.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Và hình như trong mặc khải nguyên thuỷ, ta không hề gặp ý tưởng người nữ chiếm hữu người nam hoặc người nam chiếm hữu người nữ như một vật thể. Mặt khác, chúng ta nhận biết rõ rằng vì mang lấy tính tội lỗi sau khi đã phạm nguyên tội, con người nam và nữ phải cố gắng kiên trì gầy dựng lại ý nghĩa của việc trao tặng cho nhau một cách vô vụ lợi. Ðó cũng là đề tài mà chúng ta sẽ phân tích sau này.
Mặc khải về thân xác trong Sáng Thế Ký, nhất là ở chương thứ 3, đã cho chúng ta thấy rất rõ về chu kỳ “nhận-biết-trợ-tạo”. Sáng Thế Ký đã cho thấy rõ cái chu kỳ đó đã được đâm rễ thật sâu vào trong tiềm lực của thân xác con người, mà sau khi phạm tội, tiềm lực thân xác đó phải tuân theo luật của khổ đau và của sự chết. Thiên Chúa Giavê đã nói với người nữ: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhiều khi thai nghén, ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con” (St 3,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:16&FontSize=Txt10)). Chân trời của sự chết đã mở rộng trước mặt con người cùng lúc với sự mặc khải về ý nghĩa của sự đồng sáng tạo của thân xác trong việc nhận biết giữa chồng và vợ. Con người đầu tiên đã gọi vợ mình là Evà “bởi vì bà là mẹ của chúng sinh” (St 3,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:20&FontSize=Txt10)), khi người nam đã nghe những lời của bản án định rõ toàn viễn ảnh của cuộc sống “trong” sự nhận biết điều lành và điều dữ. Viễn ảnh đó đã được xác định bằng những lời: “Ngươi phải trở về với đất vì từ đất người đã được lấy ra. Người là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất (St 3,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:19&FontSize=Txt10))
Tính cội rễ của bản kết án đó được xác định bằng tính hiển nhiên của những kinh nghiệm của toàn bộ lịch sử trần thế của con người. Chân trời của sự chết trải dài trên mọi viễn ảnh của sự sống con người trên trái đất, một sự sống đã được gắn vào trong chu kỳ kinh thánh nguyên thuỷ của sự “nhận-biết-sinh-sản”. Con người đã phá huỷ giao ước với đấng Tạo Hoá vì đã hái lấy trái trên cây biết điều lành điều dữ. Và con người đã bị Chúa Giavê tách biệt ra xa cây của sự sống: “Bây giờ đừng để nó giơ tay hái trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi” (St 3,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 3:21&FontSize=Txt10)). Và như thế, sự sống được ban cho con người trong mầu nhiệm sáng tạo, tuy không bị lấy mất đi nhưng phải được giới hạn trong việc thụ thai, sinh nở và cái chết, sự sống đó đã phải mang thêm mặc cảm tội lỗi nguyên thuỷ. Tuy nhiên, trên một bình diện nào đó, sự sống đã được trao ban lại cho họ trong một chu kỳ tái diễn không ngừng.
Câu “con người nhận biết Evà vợ mình, và bà thụ thai và sinh con...” (St 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1&FontSize=Txt10)) thì như một dấu ấn trong sự mặc khải nguyên thuỷ về thân xác từ “thuở ban đầu” của chính lịch sử con người trên trái đất. Từ thuở ban đầu, lịch sử đó đã được thành lập không ngừng nghỉ trong chiều kích căn bản nhất nhờ chính sự “nhận-biết-sinh-sản” mà Kinh Thánh đã đề cập.
Và như thế, mỗi người đều mang trong mình mầu nhiệm thuở ban đầu, một mầu nhiệm gắn liền với ý thức về ý nghĩa của tính sinh sản của thân xác. Sáng Thế Ký 4,1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 4:1-2&FontSize=Txt10) hình như không đề cập tới quan hệ giữa ý nghĩa của sự sinh sản và ý nghĩa hôn nhân của thân xác. Tuy chưa phải là lúc và là nơi để làm sáng tỏ quan hệ đó, mặc dù những phân tích sau này về điều đó thì rất cần thiết. Thế thì chúng ta phải cần đặt thêm vấn đề là tại sao con người có sự xấu hổ, xấu hổ vì phái tính nam và vì phái tính nữ của mình mà trước đó con người không hề cảm nghiệm như thế. Nhưng lúc này đây, điều này không quan trọng lắm (vì chúng ta sẽ phân tích vào những lần tới)
Việc quan trọng bây giờ là việc “Ađam nhận biết Evà vợ mình, và bà đã thụ thai và sinh con...”. Và đó chính là ngưỡng cửa của lịch sử con người. Và cũng chính là thuở ban đầu trên trái đất. Trên ngưỡng cửa đó, con người, nam và nữ, đã mang lấy ý thức về ý nghĩa sinh sản của thân xác. Trong phái tính nam đã ẩn tàng việc làm cha, trong phái tính nữ đã ẩn tàng việc làm mẹ. Nhân danh ý nghĩa đó, vào ngày nọ, Đức Kitô đã trả lời dứt khoát cho những người Pharisêu (x. Mt 19, Mc 10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19 ; Mc 10:1-12&FontSize=Txt10)). Mặt khác, bằng cách đi vào nội dung câu trả lời này, chúng ta đã tìm cách đưa ra ánh sáng cái bổi cảnh thuở ban đầu mà đức Kitô đã căn cứ. Thần học thân xác đâm rễ sâu vào trong điều này.
Chúng ta đã thấy rằng ý thức về thân xác và ý nghĩa của việc sinh sản đã gặp nhau trong bản thân con người qua ý nghĩa về cái chết tức là qua cái viễn ảnh không ai có thể tránh mà mỗi người mang lấy trong mình. Tuy nhiên, chu kỳ “nhận-biết-sinh-sản” vẫn luôn trở lại trong lịch sử con người. Trong chu kỳ này, sự sống chiến đấu không ngưng nghỉ với viễn ảnh của sự chết và đã luôn thắng. Như thể là cái lý lẽ của việc sự sống luôn kiên trì chiến đấu được biểu lộ trong việc sinh sản vẫn luôn là sự nhận biết lẫn nhau. Qua sự nhận biết đó, con người đã vượt qua được sự cô đơn của chính mình và đồng thời cũng khẳng định được bản thể của mình trong con người “khác”. Và cả hai, nam và nữ, khẳng định điều đó trong một con người mới được sinh ra.
Khi khẳng định như thế, sự “nhận biết” được đề cập trong Kinh Thánh đã được nâng tới một chiều kích cao hơn. Ðiều này hình như được đặt trong “cái nhìn” của chính Thiên Chúa mà qua đó đã kết thúc chuyện kể về cuộc sáng tạo con người. Chuyện đã kể rằng nam và nữ đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)). Dù đã trải qua bao nhiêu kinh nghiệm trong cuộc sống, dù đã phải đau khổ, dù đã phải thất vọng về chính mình, dù đã tội lỗi và cho dù sự chết là viễn ảnh không thế tránh, con người vẫn luôn đặt sự “nhận biết” vào thuở ban đầu của việc sinh sản. Và như thế, con người đã tham dự vào “cái nhìn” đầu tiên của chính Thiên Chúa: Thiên Chúa Ðấng Sáng Tạo “thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp”. Và Thiên Chúa luôn tiếp tục xác định chân lý của những lời đó.
----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Theo Platon, Eros là tình yêu thèm khát cái Đẹp siêu việt, và Eros biểu đạt sự khát khao hướng về đối tượng vĩnh cửu của nó. Vì thế mà Eros luôn nâng những gì là con người lên tới thần thánh, mà chỉ có thần thánh mới thoả mãn được linh hồn đang bị giam hãm trong vật chất. Đó là một tình yêu không hề lùi bước trước nỗ lực lớn lao để có thể đạt tới xuất thần khi hiệp nhất. Và như thế, đó cũng là một tình yêu vị kỷ. Nó có ước muốn chiếm đoạt mặc dù nó hướng về những giá trị tuyệt vời (x. A. Nygren, Eros et Agape [Paris</ST1:p: 1951], vol. 11, pp. 9-10)...
Qua nhiều thế kỷ và trải qua nhiều biến đổi, ý nghĩa của eros đã bị hạ thấp xuống và chỉ còn hàm ý tình dục. Điển hình nhất là việc mà trong văn bản của mình, P. Chauchard dường như chối bỏ những đặc tính của tình yêu con người nơi eros:
“Việc trí thức hoá tình dục thì không lệ thuộc vào những kỹ thuật buồn tẻ nhưng ở chỗ nhận biết tính linh thiêng của nó, bởi vì eros chỉ thuộc về nhân tính nếu được agape (tình yêu vị tha) làm cho linh động và bởi vì chính agape đòi nhập thể trong eros (P. Chauchard, Vices des vertus, vertus des vices, Paris 1963, p.147)
So sánh “nhận biết” của Kinh Thánh với eros của Platon đã cho ta thấy rõ những khác biệt giữa hai khái niệm đó. Khái niệm của Platon đặt nền tảng trên nỗi nhớ về cái Đẹp siêu việt và trên sự trốn thoát khỏi vật chất. Trái lại, khái niệm của Kinh Thánh lại hướng về thực tại cụ thể. Mặt khác, tính kép đôi linh hồn/vật chất cũng như sự chán ghét vật chất cách đặc biệt đó thì rất xa lạ với Kinh Thánh (“Và Đức Chúa thấy điều đó là tốt lành” St 1,10.12.18.21.25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:10,12,18,21,25&FontSize=Txt10))
Nếu khái niệm của Platon về eros đã vượt quá tầm của “nhận biết” trong Kinh Thánh thì khái niệm hiện đại hình như lại quá thu hẹp. Nhận biết của Kinh Thánh không chỉ thoả mãn bản năng và khoái lạc, mà nó còn là một hành động rất người, trực tiếp ý thức về việc trợ-tạo (sinh sản), và nó cũng là biểu đạt của tình yêu liên nhân vị (St 29,20 và 1 Sm 1,8 và 2 Sm 12,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 29:20 ; 1 Sm 1:8 ; 2 Sm 12:24&FontSize=Txt10))
Nhóm Tâm Biển